Giáo Trình Bệnh Truyền Nhiễm Thú Y - Chương 5

Chia sẻ: Tra Sua Nguyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:29

0
154
lượt xem
89
download

Giáo Trình Bệnh Truyền Nhiễm Thú Y - Chương 5

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương 5 ĐIỀU TRỊ BỆNH TRUYỀN NHIỄM Điều trị (chữa) bệnh truyền nhiễm là một biện pháp tích cực vì có tác dụng bao vây tiêu diệt nguồn bệnh (mỗi súc vật bệnh được coi là một nguồn bệnh) đồng thời làm con vật hồi phục nhanh chóng và hoàn toàn không trở thành con vật mang trùng nên hạn chế dịch lây lan.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo Trình Bệnh Truyền Nhiễm Thú Y - Chương 5

  1. 1 Chương 5 ĐIỀU TRỊ BỆNH TRUYỀN NHIỄM Điều trị (chữa) bệnh truyền nhiễm là một biện pháp tích cực vì có tác dụng bao vây tiêu diệt nguồn bệnh (mỗi súc vật bệnh được coi là một nguồn bệnh) đồng thời làm con vật hồi phục nhanh chóng và hoàn toàn không trở thành con vật mang trùng nên hạn chế dịch lây lan. Chữa bệnh kịp thời là một yêu cầu cấp bách của sản xuất làm giảm thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi. Việc hạn chế tác hại tiến tới tiêu diệt bệnh dịch phải trên cơ sở kết hợp công tác phòng bệnh và chữa bệnh. Chữa bệnh cũng chính là một phương pháp phòng bệnh dịch. Phòng bệnh là tích cực, là chủ động, chữa bệnh có phần nào bị động nhưng có ý nghĩa tích cực, là vì chữa cho con bệnh cũng tức là phòng cho con khỏe, nên không thể tách rời phòng và chữa bệnh. Vậy chữa bệnh là rất cần thiết, phải kịp thời và kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh. Chữa bệnh truyền nhiễm cần tuân thủ các nguyên tắc sau: - Chữa toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp điều trị: hộ lý, dinh dưỡng và dùng thuốc gồm các thuốc tác động tiêu diệt mầm bệnh (chất kháng sinh đối với vi khuẩn, interferon,... đối với virut) lẫn những thuốc tăng cường cơ năng của cơ thể (vitamin, máu, thuốc giảm đau, thuốc hạ sốt,...). - Chữa sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh tức xác định đúng tính mẫn cảm của mầm bệnh, đồng thời phải tính đến khả năng xâm nhập tổ chức ổ bệnh khi chọn những thuốc trong số các thuốc có hiệu quả tiêu diệt mầm bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế bệnh lây lan. - Diệt căn bệnh là chủ yếu, kết hợp chữa triệu chứng. - Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Làm cho cơ thể tự chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền. Một số thuốc tuy tiêu diệt được mầm bệnh nhưng ít nhiều có hại cho cơ thể nên ta phải chú ý ảnh hưởng của thuốc đến cơ thể. - Với động vật được chăn nuôi vì mục đích kinh tế khi chữa bệnh động vật cần chú ý đến tiên lượng bệnh cần điều trị để bảo đảm hiệu quả kinh tế của việc chăn nuôi. Cho nên chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức cày kéo và khả năng cho sản phẩm. Nếu
  2. 2 chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa (giết mổ tuân theo các quy định tránh làm lây lan mầm bệnh). - Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa đặc hiệu, hoặc những bệnh phát triển thành thể mãn tính khó điều trị thì không nên chữa. Khi đó giết hủy hoặc giết mổ lấy thịt (những bệnh súc mà thịt bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm) là những giải pháp cần lựa chọn. - Động vật nuôi nhốt tập trung thường phát bệnh đồng loạt gây thiệt hại lớn do sự xâm nhập mầm bệnh từ bên ngoài vào chuồng trại với khả năng cao, những động vật này lại có tính đề kháng bệnh thấp, nhiều trường hợp bệnh vi khuẩn và nguyên trùng chưa có vacxin phòng bệnh, khi một bộ phận động vật phát bệnh thì phần còn lại của quần thể cũng thường đồng thời cảm nhiễm và ủ bệnh nên không thể chỉ áp dụng biện pháp điều trị cá thể. Trong trường hợp bệnh truyền nhiễm xuất hiện thường nên bổ sung thuốc vào thức ăn và nước uống cho cả đàn để "trừ khử căn bệnh". Hơn nữa, trong trại chăn nuôi tập trung thường sẵn có mầm bệnh hoặc mầm bệnh xâm nhập vào theo động vật mới nhập trại cho nên rất nhiều khả năng động vật bị cảm nhiễm trong thời kỳ nuôi dưỡng. Chẳng hạn, bệnh hô hấp do Mycoplasma và Bordetella, bệnh tiêu hóa do Serpulina (Treponema) hyodysenteriae và E. coli ở lợn, bệnh hô hấp do Mycoplasma và Haemophilus, bệnh tiêu hóa do E. coli và Coccidia ở gà,... Để phòng cũng như để điều trị các bệnh này khi xuất hiện bệnh, trong những thời kỳ nuôi dưỡng nhất định cần vận dụng phương pháp bổ sung một số thuốc hữu hiệu nhất đối với các loại mầm bệnh là vi khuẩn và nguyên trùng. Cần áp dụng đồng thời nhiều phương pháp chữa bệnh. Bên cạnh các phương pháp chữa bệnh bằng thuốc, hộ lý là một nhiệm vụ chữa bệnh rất quan trọng, vì tạo điều kiện cho bệnh chóng khỏi, hạn chế biến chứng, hạn chế lây lan. Nội dung hộ lý gồm: cho gia súc bệnh nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng, mát, sạch sẽ, yên tĩnh), theo dõi nhiệt độ, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để đối phó kịp thời, cho ăn uống tốt và phù hợp với tính chất bệnh, khi cần giúp cho gia súc ăn, trở mình,... I. Liệu pháp miễn dịch Trong số các liệu pháp miễn dịch có liệu pháp huyết thanh, liệu pháp gamma-globulin miễn dịch và liệu pháp vacxin. Trong đó liệu pháp vacxin có thể áp dụng trong điều trị một số bệnh mãn tính do nhiễm khuẩn ký sinh nội bào và là phương pháp điều trị được áp dụng rất hạn chế. Có thể chữa một số bệnh truyền nhiễm bằng vacxin, nhất là dùng vacxin chế từ mầm bệnh phân lập được ở súc vật mắc bệnh, vì là kháng nguyên kích
  3. 3 thích sản sinh kháng thể đặc hiệu, các tế bào T miễn dịch (trong đó có tế bào gây độc tế bào hay Tc), nhờ đó hoạt hóa các tế bào thực bào thực bào và đồng thời cũng là một nguồn protein nên kích thích cơ thể làm tính phản ứng của cơ thể biến đổi, làm tăng cường cơ năng phòng ngự của cơ thể. Tác động kích thích thực bào và làm tăng miễn dịch tế bào (tăng hoạt tính tế bào Tc đặc hiệu) là yếu tố quan trọng trong quá trình chống các vi khuẩn ký sinh nội bào (Salmonella, Brucella, Mycobacterium,...). Vacxin (thường là vacxin chết) phải tiêm nhiều lần với liều tăng dần trong da, dưới da hoặc bắp thịt dùng chữa các bệnh kéo dài. Trong thú y, vacxin đã được chữa một số bệnh như bệnh sẩy thai truyền nhiễm ở ngựa, bệnh viêm hệ lâm ba truyền nhiễm, bệnh uốn ván. Tuy vậy, đây là liệu pháp ít sử dụng so với liệu pháp huyết thanh. 1. Liệu pháp huyết thanh miễn dịch Huyết thanh miễn dịch hay kháng huyết thanh là huyết thanh thu được từ động vật được gây miễn dịch cao độ (tối miễn dịch) bằng mầm bệnh hoặc các độc tố do chúng sản sinh ra. Tiêm kháng huyết thanh cho động vật là tạo miễn dịch thụ động cho nó, thường được sử dụng để điều trị sớm hoặc phòng bệnh lúc nguy cấp (dịch nguy hiểm đe dọa, đưa đến nơi triển lãm,...). Kháng huyết thanh chủ yếu dùng chữa bệnh, vì vậy thường được dùng trong ổ dịch để chữa cho gia súc đã mắc bệnh. Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể có trong huyết thanh có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc trung hòa độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc). Ngoài ra, trong huyết thanh còn có chứa muối khoáng, protein và phức hợp của chúng là những thành phần không đặc hiệu có tác dụng kích thích và tăng cường sức đề kháng cơ thể. Kháng huyết thanh còn được dùng dưới dạng truyền máu (tiêm máu hoặc tiêm huyết thanh của con vật lành bệnh và đã hồi phục cho con bệnh). Có nhiều loại kháng huyết thanh. Hiệu quả điều trị của từng loại không giống nhau. Các loại mầm bệnh có kháng nguyên trung hòa trên bề mặt thì hiệu quả điều trị bằng kháng huyết thanh thường cao. Cần lưu ý rằng cho đến nay nhiều loại kháng huyết thanh chữa các bệnh truyền nhiễm vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn. Hiện nay, trên thế giới và trong nước để điều trị bệnh truyền nhiễm cho động vật đã vận dụng và thường xuyên dự phòng kháng độc tố uốn ván. Bên cạnh đó còn có kháng huyết thanh nhiệt thán, kháng huyết thanh Gumboro và kháng huyết thanh phó thương hàn ngựa. Trong đó kháng huyết thanh uốn ván là chế phẩm trung hòa độc tố uốn ván, cho nên luôn phải dùng thêm thuốc kháng sinh và khi cần thiết cần áp dụng thêm điều trị triệu chứng.
  4. 4 Khi dùng kháng huyết thanh cần chú ý những điểm sau: -Dùng trong trường hợp đã chẩn đoán đúng bệnh. -Dùng trong trường hợp các bệnh truyền nhiễm cấp tính. Có thể dùng trong trường hợp bệnh mãn tính nhưng phải kết hợp với nhiều phương pháp chữa khác. -Dùng càng sớm càng tốt. Khi bệnh đã có triệu chứng lâm sàng rõ rệt hoặc đã chuyển sang thể mãn tính thì tác dụng của kháng huyết thanh bị hạn chế. -Dùng liều cao ngay từ đầu. Nói chung liều chữa bệnh gấp đôi liều phòng bệnh, có khi dùng liều cao gấp nhiều lần tiêm phòng. Khi dùng liều cao nên tiêm vào nhiều điểm trên cơ thể con vật. Nếu bệnh chưa chuyển thì có thể tiêm lần thứ hai cách lần thứ nhất sau 12 - 24 giờ. Nếu bệnh nặng có thể dùng kết hợp kháng huyết thanh với kháng sinh. -Đường tiêm dưới da hay bắp thịt. Khi cần thiết (bệnh nặng) có thể tiêm tĩnh mạch để có tác dụng nhanh, nhưng phải là huyết thanh cùng loài với gia súc bệnh cần điều trị. - Theo dõi chặt chẽ súc vật sau khi tiêm, vì dùng kháng huyết thanh để gây hiện tượng choáng và bệnh huyết thanh, có thể làm súc vật chết nếu không can thiệp kịp thời. Bệnh huyết thanh là bệnh do tiêm kháng huyết thanh thường là kháng huyết thanh của động vật khác loài cho động vật bệnh, nhất là những kháng huyết thanh chứa nhiều tạp chất. Bệnh này có hai biểu hiện: choáng huyết thanh và bệnh huyết thanh chính thức (hay thực chất). Choáng huyết thanh thường xảy ra sau khi tiêm kháng huyết thanh lần thứ hai hoặc tiêm vào tĩnh mạch. Triệu chứng xuất hiện ngay sau tiêm. Con vật khó thở, nổi mẩn đỏ, huyết áp giảm, thân nhiệt giảm, sau đó các cơ co giật, con vật vật vã dãy dụa, vãi đái, vãi phân, cuối cùng là hôn mê, thở nhanh, có thể chết ngay nếu không xử trí kịp thời. Bệnh huyết thanh chính thức ít nguy hiểm hơn choáng huyết thanh, xảy ra từ 9 - 12 ngày sau khi tiêm. Thoạt tiên thân nhiệt giảm, nơi tiêm sưng phù. Sau đó thân nhiệt tăng. Hạch lâm ba sưng. Con vật nổi ban, ngứa ngáy, mạch nhanh, khớp bị sưng đau. Có trường hợp bệnh chỉ biểu hiện cục bộ tại nơi tiêm huyết thanh, bệnh kéo dài từ vài giờ đến 1 - 2 tuần, tiên lượng thường tốt. Bệnh có thể khỏi nếu không có biến chứng. Cấp cứu choáng huyết thanh bằng cách đặt gia súc nơi thoáng, yên tĩnh, chườm nóng chân, tắm nước ấm cho con vật, dùng thuốc cấp cứu:
  5. 5 calci chlorid, caffein, ephedrin. Khi cần xử trí bệnh huyết thanh cần dùng cortisol, nếu suy tim mạch thì dùng caffein, ephedrin. Để phòng choáng huyết thanh cần sản xuất huyết thanh tinh khiết, loại trừ các chất đạm lạ, hâm nóng huyết thanh 58 °C trước khi dùng; tiêm huyết thanh lần thứ hai không để cách lần tiêm trước quá từ 3 - 4 ngày, nếu để quá 5 ngày thì trước khi tiêm phải giải mẫn theo phương pháp Betret (tiêm dưới da 1/10 - 1/20 toàn liều cần dùng, tiêm phần còn lại sau 30 - 60 phút). 2. Điều trị bằng globulin miễn dịch Việc sử dụng kháng huyết thanh tiêm vào cơ thể vật bệnh cũng là tạo miễn dịch thụ động. Chế sẵn gamma-globulin tinh khiết chống lại nhiều loại mầm bệnh một lúc là phương thức phòng trị bệnh khá phổ biến trong y học để chữa bệnh ở người khi nguy cơ dịch, trong trường hợp suy giảm miễn dịch hoặc mất miễn dịch bẩm sinh. Trong lĩnh vực thú y, việc chế sẵn gamma-globulin cho mục đích điều trị còn hạn chế. Nhiều nước chế và sử dụng gamma-globulin ngựa đông khô. Ở nước ta đã có gamma- globulin kháng Gumboro dùng trị bệnh Gumboro ở gà, kháng thể dịch tả vịt dùng chữa bệnh dịch tả vịt,... II. Thuốc trị cảm nhiễm vi khuẩn Phần lớn các hóa dược dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân bệnh vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh, trong khi không hoặc ít gây hại cơ thể. Các chất tác động đến mầm bệnh có thể đưa vào cơ thể động vật và người để điều trị bệnh được gọi chung là yếu tố hóa trị liệu hay thuốc hóa trị liệu (chemotherapeutic agent). Các hóa dược này có tác dụng tiêu diệt mầm bệnh đồng thời làm giúp cho cơ thể sản sinh kháng thể nhanh chóng, làm dung giải vi khuẩn, giải phóng nội độc tố. Tuy nhiên, lượng nội độc tố giải phóng ồ ạt khi vi khuẩn bị dung giải dưới tác động của yếu tố hóa trị liệu có thể làm tình trạng bệnh trầm trọng. Thuốc trị cảm nhiễm vi khuẩn (hay thuốc kháng vi khuẩn) có thể chia thành hai nhóm là thuốc kháng sinh (antibiotics) và thuốc hóa trị liệu tổng hợp (synthetic chemotherapeutics). Tên "chất kháng sinh - antibiotics" được hình thành từ kết quả (Waksman, 1941) nghiên cứu tác động qua lại của các vi sinh vật trong tự nhiên và để chỉ các yếu tố vật chất chủ yếu tạo nên mối quan hệ kháng sinh (antibiosis, đối lập với cộng sinh - symbiosis) giữa chúng, tức là "hiện tượng một số loại sinh vật sản sinh và bài xuất ra môi trường những chất gây hại cho sinh vật khác nhằm giành
  6. 6 chiếm thức ăn và chỗ cư trú". Tuy nhiên, nhờ khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều chất kháng sinh được phân tích xác định công thức hóa học và được chế tạo hoàn toàn bằng con đường tổng hợp hóa học nên ranh giới giữa thuốc kháng sinh và thuốc hóa trị liệu tổng hợp không còn. Vì vậy, ta thường có định nghĩa chất kháng sinh theo nghĩa hẹp gồm các chất có nguồn gốc sinh học và chất kháng sinh theo nghĩa rộng bao gồm cả các chất kháng sinh có nguồn gốc sinh học lẫn các thuốc hóa trị liệu tổng hợp, chủ yếu để phân định chúng với các chất chống khuẩn khác (các chất sát trùng: chất khử khuẩn, chất tẩy uế). 1. Chất kháng sinh Thuốc kháng sinh là các chất (thường do vi sinh vật sản sinh ra: chất kháng sinh nghĩa hẹp) có tác dụng diệt khuẩn (làm chết vi khuẩn) hoặc chế khuẩn (ức chế sự phát triển của vi khuẩn) ở liều thấp (tức ở mức phân tử) một cách đặc hiệu vào một hoặc một số chu trình chuyển hóa thiết yếu của vi khuẩn. Thuốc kháng sinh có tính đặc hiệu nghĩa là nó có tác dụng ngăn cản sự sinh sản hoặc tiêu diệt vi khuẩn nhóm này mà không có tác dụng đối với vi khuẩn nhóm khác. Ngoài tác dụng chữa bệnh, kháng sinh còn dùng để phòng bệnh và kích thích sinh trưởng của động vật. Bên cạnh các chất kháng sinh có nguồn gốc vi sinh vật, dùng trong điều trị bệnh cảm nhiễm vi khuẩn còn có các hợp chất hóa học tổng hợp, trong đó có các sulfamid, nhóm nitrofuran,... Sulfamid được phát hiện bởi Domagk vào năm 1935, là một trong những yếu tố hóa trị liệu quan trọng, được dùng khá rộng rãi và từ khi xuất hiện đã thay thế các chất có tính độc cao như các hợp chất của arsen (thạch tín) và các kim loại nặng khác trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn. Các sulfamid cũng có cơ chế tác động cạnh tranh trung tâm hoạt động của enzym ở tầm phân tử một cách chọn lọc và tương tự các chất kháng sinh chiết xuất từ các sinh vật. Do đó, chất hóa tổng hợp này cũng còn được coi như những chất kháng sinh theo nghĩa rộng vì có cơ chế tác động tương tự, còn về mặt nguồn gốc thì chúng không khác các chất kháng sinh trước đây thu được từ vi sinh vật nhưng nay được sản xuất hoàn toàn bằng con đường hóa học (chloramphenicol,...). Các chất kháng sinh (nghĩa hẹp) được dùng phổ biến để chữa bệnh ở nước ta là penicillin, streptomycin, tetracyclin, oreomycin,... Thời gian gần đây các thuốc nhóm cephalosporin và neoquinolon được sử dụng ngày càng rộng rãi. 2. Cơ chế tác động và điểm tác động của chất kháng sinh
  7. 7 2.1. Cơ chế tác động Các chất kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn hoặc chế khuẩn đều nhờ có cấu trúc không gian tương tự với cấu trúc không gian của cơ chất nào đó của quá trình chuyển hóa. Bình thường cơ chất này đều được chuyển hóa thành sản phẩm tương ứng nhờ phản ứng sinh hóa có sự xúc tác của một enzym hoặc một chuỗi các enzym. Mặc dù các enzym không thay đổi thành phần hóa học sau phản ứng, nhưng trong một thời gian nhất định của phản ứng thành phần của chúng có sự thay đổi, chúng là những vật mang tạm thời các nhóm chức khác nhau phân cắt ra khỏi cơ chất mà sau đó tham gia vào phản ứng với nhóm chức khác cũng trong trung tâm hoạt động của chúng để tạo thành sản phẩm mới. Enzym có những tác dụng xúc tác là nhờ có phân tử lượng lớn và có khu vực có cấu trúc không gian tương thích với cấu trúc không gian (của cả hoặc chỉ một khu vực) của cơ chất. Vùng phân tử enzym mà cơ chất gắn kết tạm thời trong quá trình phản ứng gọi là trung tâm hoạt động của enzym. Trung tâm này tuy chiếm một phần rất nhỏ thể tích của phân tử enzym nhưng là miền trọng yếu của nó quyết định phản ứng có thể bắt đầu hay không (hoạt hóa hay vô hoạt) cũng như quy định tính đặc hiệu của phản ứng. Một khi trung tâm hoạt động của enzym không được hoạt hóa hoặc không ở trạng thái tự do thì enzym mất luôn khả năng xúc tác phản ứng vốn có của nó. Thuộc tính xúc tác của enzym có những cơ chế sinh hóa khác nhau nhưng trước hết trung tâm hoạt động của chúng phải ở trạng thái tự do và được hoạt hóa. Các chất kháng sinh tác động làm mất tính tự do của enzym. Phụ thuộc vào tính thuận nghịch hay không của sự kết hợp chất kháng sinh với trung tâm hoạt động của enzym mà ta có cơ chế cạnh tranh hay cơ chế che phủ. Về bản chất, hai cơ chế này tương tự nhau. Tuy nhiên, trong cơ chế cạnh tranh chất kháng sinh kết hợp một cách thuận nghịch với trung tâm hoạt động của enzym tương ứng, vì vậy chúng có tác dụng khi nồng độ khá cao và dễ bị mất tác dụng khi cơ chất chuyển hóa có nồng độ cao một cách áp đảo. Tuy vậy, do các enzym trong cơ thể thường được thay đổi thế hệ liên tục nên tính thuận nghịch của phản ứng kết hợp này giúp chất kháng sinh không bị đào thải cùng với enzym bị lão hóa mà được giải phóng và duy trì tác động trong thời gian kéo dài hơn với enzym mới được tổng hợp. Ngược lại, trong cơ chế che phủ chất kháng sinh kết hợp không thuận nghịch với trung tâm hoạt động của enzym làm phản ứng sinh hóa trên enzym đó không thể xảy ra cả khi hàm lượng chất kháng sinh thấp. Tuy vậy, khi cơ thể vi khuẩn tiếp tục tổng hợp enzym khác thay thế enzym lão hóa thì tác dụng của chất kháng sinh bị hạn chế. Khi đó ngoài yếu tố nồng độ khá cao thì chất kháng sinh muốn có tác dụng đối với vi khuẩn phải được bổ sung mới thường xuyên.
  8. 8 2.2. Điểm tác động Cơ chất cần chuyển hóa trong cơ thể vi khuẩn nói chung có nhiều loại cũng như số lượng chủng loại enzym là rất phong phú. Tuy nhiên có thể chia các phản ứng sinh hóa đó thành bốn điểm chính: vách tế bào, màng tế bào chất, bộ máy di truyền và bộ máy tổng hợp protein. Các chất kháng sinh vì vậy cũng có các điểm tác động ở các vùng tương ứng nêu trên. Như vậy các điểm tác động của chất kháng sinh có thể là vách tế bào, màng tế bào chất, cấu trúc nhân và ribosom. Các chất kháng sinh tác động đến vách tế bào (như penicillin) có đích tác động là enzym xúc tác quá trình kết nối các mạch hở của phân tử peptidoglycan là thành phần chính của vách tế bào (đặc biệt vi khuẩn Gram dương). Mạch hở này là kết quả tất yếu cần thiết cho sự phát triển về thể tích của vi khuẩn khi quá trình sinh trưởng xảy ra. Mối liên kết giữa các monomer của peptidoglycan liên tục được tháo ra bởi một enzym và ráp thêm monomer mới nhờ enzym khác. Khi enzym tái lắp ráp không hoạt động các mạch hở vách tế bào hình thành ngày càng nhiều làm vách tế bào không thể duy trì được tế bào chất ở bên trong. Màng tế bào chất khi đó bị vỡ dẫn đến việc dung giải tế bào vi khuẩn. Do ở các vi khuẩn Gram âm vách tế bào cấu tạo từ lớp peptidoglycan mỏng được bổ sung thêm màng
  9. 9 ngoài cấu tạo từ lipopolysaccharid (LPS) và protein nên nói chung chúng thường ít mẫn cảm với các chất kháng sinh nhóm này. 3. Chủng loại kháng sinh và hoạt phổ kháng sinh 3.1. Phân loại kháng sinh Kháng sinh có thể phân loại theo nhiều cách: theo nguồn gốc, theo tính chất chữa bệnh, theo hiệu quả tác động, theo cơ chế tác động và theo họ (theo bản chất hóa học). Phân loại theo nguồn gốc: theo nguồn gốc các chất kháng sinh có thể là kháng sinh lấy từ nguyên liệu vi sinh vật (kháng sinh tự nhiên), kháng sinh sản xuất theo con đường tổng hợp hóa học hoàn toàn (kháng sinh hóa tổng hợp) và kháng sinh bán tổng hợp. Các loại sinh vật khác nhau (vi khuẩn gồm cả xạ khuẩn, các loại nấm men, nấm sợi, thực vật và động vật) đều có thể sản sinh ra chất kháng sinh. Khởi đầu, khái niệm của chất kháng sinh bắt nguồn từ sự nghiên cứu hiện tượng kháng sinh, vì vậy yếu tố "do các sinh vật, chủ yếu là vi sinh vật, sản sinh ra" là yếu tố xác định nghĩa hẹp của khái niệm chất kháng sinh. Nhưng do nhiều chất kháng sinh được tổng hợp bằng con đường hóa học hoàn toàn (như chloramphenicol) nên quan niệm chất kháng sinh thay đổi và bao gồm tất cả các chất có thuộc tính diệt khuẩn hoặc chế khuẩn ở tầm phân tử (hay liều thấp) một cách đặc hiệu vào một hoặc một số quá trình chuyển hóa của vi khuẩn. Những chất kháng sinh bán tổng hợp là những chất thu từ nguyên liệu vi sinh vật nhưng sau đó được cải biến cấu trúc hóa học bằng con đường hóa học. Phân loại theo tính chất chữa bệnh: các chất kháng sinh có thể chia thành hai nhóm: các chất kháng sinh thông dụng (như penicillin, streptomycin, ampicillin,... và các chất kháng sinh không thông dụng. Phân loại theo hiệu quả tác động lên tế bào vi khuẩn: chất kháng sinh có thể là chế khuẩn (kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn) hoặc diệt khuẩn (phá hủy tế bào). Việc phân loại này có ý nghĩa lớn trong điều trị các bệnh cảm nhiễm vi khuẩn. Trường hợp bệnh nặng thì nên dùng các chất kháng sinh diệt khuẩn vào kỳ đầu của bệnh, sau đó sử dụng các chất kháng sinh chế khuẩn. Các thuốc kháng sinh diệt khuẩn như penicillin và
  10. 10 dẫn xuất, oxacyclin, ampicillin, carbenicillin, xeporin, gentamycin, ristomycin,... Các thuốc kháng sinh chế khuẩn bao gồm erythromycin, oleandomycin, lincomycin, furidin, tetracyclin, morfocyclin, levomycetin (chloramphenicol),... Phân loại theo cơ chế tác động: nghĩa là xác định chính xác phần gen chịu tác động hoặc khâu nào đó trong quá trình chuyển hóa của tế bào vi khuẩn chịu tác động. Theo cách này có thể chia các chất kháng sinh thành 4 nhóm: - Các chất kháng sinh kìm hãm tổng hợp vách tế bào vi khuẩn: penicillin, bacitracin, vancomycin,... - Các chất kháng sinh làm tăng thẩm thấu màng tế bào chất: streptomycin, polymyxin,... Hai nhóm trên có hiệu quả diệt khuẩn. - Các chất kháng sinh kìm hãm tổng hợp protein: chủ yếu gồm các chất kháng sinh tác động lên ribosom (chủ yếu) hoặc kìm hãm sự tổng hợp ARN. Thuộc nhóm này có chloramphenicol, streptomycin, kanamycin, tetracyclin,... - Các chất kháng sinh tác động lên di truyền: là những chất có tính ái lực cao đối với ADN hai sợi và ngăn trở quá trình tách đôi của chuỗi xoắn kép hoặc phong tỏa hệ thống enzym tham gia quá trình tổng hợp ADN. Ví dụ, actinomycin, novobiocin,... Hai nhóm sau có hiệu quả chế khuẩn. Phân loại theo họ: Cách sắp xếp này được coi là hợp lý hơn cả. Các chất kháng sinh tùy thuộc chủ yếu vào bản chất hóa học được chia thành các họ khác nhau. - Họ aminosid: gồm streptomycin, kanamycin, gentamycin, neomycin, framycetin, paromycin. - Họ tetracyclin: gồm tetracyclin, oxytetracyclin, chlortetracyclin, domycyclin, dimethylchlortetracyclin,... - Nhóm các chloramphenicol: chloramphenicol (chlorocid, levomycetin), thiamphenicol, synthomycin, eulevomycin,... được sản xuất chủ yếu bằng con đường hóa tổng hợp, ngày nay chloramphenicol cấm dùng trong thủy sản và thú y vì vấn đề dư lượng kháng sinh gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng (tuy vẫn sử dụng trong nhân y). - Các sulfamid: là họ gồm nhiều hợp chất khác nhau, những chất ban đầu có hoạt phổ rộng nhưng càng ngày càng phát hiện ra những chất có hoạt phổ hẹp.
  11. 11 - Các nitrofuran: furagin, furazolidon,... Các chất này gần đây bị cấm sử dụng trong thú y vì dư lượng của chúng trong thực phẩm gây tác hại đối với sức khỏe người tiêu dùng. - Họ beta-lactam gồm một số nhóm, như sau: Nhóm penicillin G (benzylpenicillin) và các phân tử gần gũi là những chất có tác dụng lên vi khuẩn Gram dương và dễ bị phân hủy bởi enzym penicillinaza do các vi khuẩn tiết ra. Nhóm methicillin - oxacillin và dẫn xuất là những chất có cấu trúc phân tử gần giống các penicillin nêu trên nhưng không bị penicillinaza phân hủy. Ampicillin là dẫn xuất penicillin có hoạt phổ rộng, tác động lên tất cả các vi khuẩn Gram dương. Cũng giống penicillin chất kháng sinh này cũng bị một số penicllinaza phân hủy. Cephalosporin có chung ba nhóm nhân beta-lactam, có hoạt phổ rộng như penicillin nhưng ít nhạy cảm với các penicillinaza. - Các dẫn xuất của axit izonicotinic: izoniazid (rimifon), etionamid,... Hoạt phổ hẹp (hoạt phổ chọn lọc) và có tác động lên các Mycobacterium. - Họ các macrolid có tác động lên các vi khuẩn Gram dương và một số vi khuẩn Gram âm thuộc họ Parvobacteriaceae (họ cũ, gồm Pasteurella, Brucella, Bordetella, Francisella, Malleomyces (Burkholderia)). Họ này gồm erythromycin, oleandomycin, spiramycin, lincomycin, katazamycin,... - Họ các synergistin gồm pristinamycin, verginiamycin,... - Họ các polymyxin gồm các chất có cấu trúc hóa học là polypeptid vòng, thường chỉ tác động lên vi khuẩn Gram âm: colistin, polymyxin,... - Nhóm các chất tác động lên vi khuẩn Gram dương có bản chất hóa học khác nhau: bacitracin, novobiocin, axit furidic, vancomycin, rifamycin SV,... - Nhóm các chất kháng sinh chỉ tác động lên vi khuẩn Gram âm: axit nalidixic,... - Các chất kháng sinh chống nấm: gồm nhiều loại, có bản chất hóa học khác nhau (xem kháng sinh chống nấm), thường dùng nistatin, griseofulvin, các azol.
  12. 12 3.2. Hoạt phổ của các loại chất kháng sinh Tác động của các thuốc kháng sinh có tính chọn lọc hay có tính đặc hiệu, cũng nhờ vậy mà chúng có tính độc thấp đối với động vật trong khi tác động mạnh đến những loại vi sinh vật nhất định. Thuốc kháng sinh có tính đặc hiệu nghĩa là nó có tác dụng ngăn cản sự sinh sản hoặc tiêu diệt vi khuẩn nhóm này mà không có tác dụng đối với vi khuẩn nhóm khác. Tính đặc hiệu của một thuốc kháng sinh càng cao thì hoạt phổ của nó càng hẹp. Hoạt phổ của một chất kháng sinh được hiểu là tỷ lệ giữa các vi khuẩn mẫn cảm với chất kháng sinh đó so với toàn bộ giới vi khuẩn hay vi sinh vật. Các kháng sinh hoạt phổ rộng có tác dụng đối với cả vi khuẩn Gram âm lẫn vi khuẩn Gram dương, trong khi các kháng sinh có hoạt phổ hẹp chỉ tác động lên một số ít nhóm vi khuẩn. Chất kháng sinh có hoạt phổ càng rộng thì thường có độc tính càng cao đối với động vật do tính chọn lọc thấp. Nhờ độc tính chọn lọc thuốc kháng sinh có tính độc đối với vi khuẩn (vi sinh vật) mà không có tính độc đối với động vật và đây là điểm khác biệt cơ bản với các chất sát trùng (có tính độc với cả hai phía và tác động toàn bộ). Bảng dưới đây nêu hoạt phổ của một số kháng sinh đối với các vi khuẩn mầm bệnh cảm nhiễm tiêu biểu ở gia súc, gia cầm.
  13. 13 Bảng: Hoạt phổ của một số kháng sinh chủ yếu đối với một số vi khuẩn mầm bệnh tiêu biểu ở gia súc, gia cầm Mầm bệnh Pseudomonas pyogenes Bacillus anthracis Clostridium tetani Corynebacterium Escherichia coli Staphylococcus Actinobacillus Erysipelothrix Streptococcus Haemophilus Mycoplasma Pasteurella Salmonella Chlamydia Leptospira Bordetella Klebsiella Rickettsia Serpulina Proteus Hóa dược Nấm Các chất kháng sinh (nghĩa hẹp) Nhóm penicillin Penicillin G 2 2 2 2 2 2 1 1 1 2 Benzyl penicillin procain 2 2 2 2 2 2 1 1 2 Dichloxysacillin 1 1 1 Nafcillin 1 1 1 Ampicillin 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 1 2 Amoxicillin 1 1 1 1 1 1 Mesilinam 1 2 Aspoxicillin 1 1 Nhóm cephalosporin Cephalonium 1 1 1 1 1 2 Cephazolin 1 1 1 1 1 2 Cefloxim 1 1 1 1 1 2 Linkomycin 1 1
  14. 14 Colistin 1 1 2 1 1 2 Nhóm aminoglycosid(e) Streptomycin 1 1 1 1 1 1 1 1 2 Dihydrostreptomycin 1 1 1 1 1 1 1 1 2 Kanamycin 1 1 1 1 1 2 1 2 2 1 Fladiomycin 1 1 1 1 1 1 Gentamycin 1 2 1 1 1 2 Spectinomycin 1 1 1 Aplamycin 1 Nhóm macrolid(e) Erythromycin 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 Oleandomycin 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 Kitasamycin 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 Mypolamycin 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 Spiramycin 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 Tylosin 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 Zusamycin 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 Tirmycosin 1 1 1 Chloramphenicol 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 1 1 1 1 Nhóm tetracyclin Tetracyclin 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 Oxytetracyclin 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 Chlortetracyclin 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 Doxicyclin 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 Terdecamycin 2 1 Phosphomycin 1 1 1 1 1
  15. 15 Tiamulin 1 1 1 1 1 2 2 Vicosamycin 1 1 Các chất kháng sinh chống nấm Siccanin 1 Nanaomycin 1 Các chất hóa trị liệu tổng hợp Nhóm nitrofuran Furazolidon 1 1 Diflazon 1 1 Nhóm sulfamid(e) Sulfothiazin 1 1 1 1 1 Sulfamethoxin 1 1 1 1 1 Nhóm neoquinolon(e) Ofloxacin 1 1 1 1 1 1 1 Enrofloxacin 1 1 1 1 1 1 1 Danofloxacin 1 1 1 1 1 1 1 Venofloxacin 1 1 1 1 1 1 1 Orbifloxacin 1 1 1 1 1 1 1 Các thuốc hóa trị liệu tổng hợp khác Carbadox 1 1 2 Axit oxolinic 1 1 1 1 1 1 1 Thiamphenicol 1 1 1 1 1 1 1 1 Florphenicol 1 Ghi chú: Các số 1 và 2 chỉ mức độ tác dụng của các chất kháng sinh với mầm bệnh tương ứng; 1, tác dụng tốt; 2, tác dụng rất tốt, là kháng sinh cần chọn thứ nhất trong điều trị bệnh tương ứng.
  16. 16 4. Ứng dụng khả năng kháng khuẩn của các chất kháng sinh 4.1. Các thuốc kháng sinh thông dụng Thuốc kháng sinh có nhiều loại. Dưới đây trình bày một số chất kháng sinh thông dụng. Penicillin được lấy từ một số nấm sợi Penicillum rotatum và Penicillum crysogenum. Có nhiều loại penicillin (F, G, X, K), trong đó penicillin G là tốt nhất. Các dạng penicillin về thực chất khác nhau ở cấu trúc nhóm bên còn nhóm chức tác dụng diệt khuẩn đều là vòng beta- lactam. Các dạng khác nhau có tính chất vật lý, hóa học khác nhau, do đó tính diệt khuẩn, tính tiện dụng, bảo quản và khả năng duy trì nồng độ điều trị trong cơ thể khác nhau. Ở liều thấp penicillin kìm hãm vi khuẩn, liều cao làm dung giải vi khuẩn. Tác dụng tốt đối với các vi khuẩn Gram dương (liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn, vi khuẩn uốn ván, đóng dấu lợn, nhiệt thán,...). Tuy nhiên chất kháng sinh này có tác dụng yếu đối với vi khuẩn tụ huyết trùng và không có tác dụng đối với vi khuẩn lao, sẩy thai truyền nhiễm (các Brucella), phó thương hàn và các virut. Khi tiêm vào bắp thịt, penicillin G thấm rất nhanh vào máu, duy trì lâu được hàng giờ trong các tổ chức, tuy nhiên khó thấm vào các khớp, màng phổi, màng tim, phúc mạc, không thấm vào dịch não - tủy, hầu hết bài tiết qua thận. Trong khi đó, penicillin V nhờ tính thấm tốt qua niêm mạc ruột và đề kháng với axit dạ dày nên có thể áp dụng cho người và động vật dạ dày đơn qua đường miệng (cho uống). Penicillin gây rối loạn sự quá trình tổng hợp peptidoglycan của vách tế bào vi khuẩn nên làm cho tế bào vi khuẩn bị vỡ trong quá trình tế bào tăng trưởng thể tích. Vì vậy, các penicillin có tác dụng tốt đối với vi khuẩn đang phát triển mạnh (thường trong bệnh cấp tính) nhưng tác dụng rất hạn chế đối với vi khuẩn phát triển chậm (trong bệnh mãn tính). Các thuốc kháng sinh làm chậm quá trình tăng trưởng của vi khuẩn (như nhóm tetracyclin,...) có tác động làm giảm hiệu quả điều trị của penicillin. Penicillin thường gây hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc, còn ở người có thể gây dị ứng nặng. Streptomycin: được chiết xuất từ vi khuẩn dạng sợi Streptomyces griseus. Chất kháng sinh này có tác dụng rộng rãi đối với vi khuẩn Gram âm (tụ huyết trùng, Brucella, các trực khuẩn đường ruột,...), các vi khuẩn gram dương (tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn,...), vi khuẩn lao và xạ khuẩn. Chất kháng sinh này có thể dùng tiêm hoặc cho uống do thuốc ít bị phá hủy ở ruột và thải trừ ra ngoài theo phân, còn nếu tiêm bắp thịt thuốc vào
  17. 17 máu rất nhanh, thấm dễ dàng vào các tổ chức, thấm cả vào bào thai, thấm không đều vào dịch não - tủy, màng phổi, phúc mạc. Streptomycin thải trừ ra ngoài chậm hơn penicillin, chủ yếu bài tiết qua thận, một phần nhỏ theo mật bài tiết ra ngoài. Streptomycin cũng dễ gây hiện tượng vi trùng kháng thuốc, nên khi dùng phải phối hợp các loại kháng sinh khác. Kháng sinh này cũng gây nên hiện tượng dị ứng, làm tổn thương dây thần kinh số VIII (phổ biến nhất ở người, gây điếc), dễ gây ngộ độc nặng và có khi làm chết gia cầm. Nhóm tetracyclin: Nhóm này gồm có ba chất thường dùng là chlortetracyclin, tetracyclin, oxytetracyclin, có tính chất dược lý giống nhau. Chúng có tác dụng đối với nhiều loài mầm bệnh: vi khuẩn gram dương, vi khuẩn gram âm, trực khuẩn lao, Rickettsia và Chlamydia, cũng như một số virut có kích thước lớn,... Ngoài tác dụng chữa bệnh nhóm kháng sinh này trước đây còn được dùng bổ sung vào thức ăn để phòng bệnh và kích thích sinh trưởng gia súc non. Chlortetracyclin (oreomycin, biomycin) được sản xuất từ vi khuẩn dạng sợi Streptomyces aureofaciens, có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều loại vi khuẩn Gram dương và Gram âm, với một số virut có kích thước lớn (nhóm virut đậu), rickettsia, chlamydia và nhiều loại nguyên trùng (Coccidia hay Eimeria). Khi uống, ở ruột thuốc không bị phá hủy, dễ hấp thụ và phân phối đều trong cơ thể. Đậm độ thuốc trong vẫn cao sau khi uống 8 giờ. Thuốc này dùng chữa các bệnh nhiệt thán, ung khí thán, nhất là các bệnh viêm phổi, bệnh bạch lỵ, phó thương hàn, tụ huyết trùng, bệnh cầu trùng ở gà và các động vật khác, có tác dụng cả đối với cả những bệnh mà mầm bệnh đã kháng penicillin và streptomycin. Oxytetracyclin (teramycin, tetran) được sản xuất từ vi khuẩn dạng sợi Streptomyces grimosus, có tác dụng kháng khuẩn rộng tương tự chlortetracyclin, nhưng ít độc và có tác dụng kéo dài hơn. Tetracyclin (ambromycin, achromycin, tetracin, mediacyclin,...) là chất kháng sinh giữ được đậm độ trong máu lâu hơn các loại kháng sinh cùng nhóm, hoạt phổ rộng, kìm hãm vi khuẩn (chế khuẩn), với nhiều cầu trùng, các vi khuẩn Gram dương và Gram âm, xoắn khuẩn, rickettsia và một số virut lớn nhưng hiện nay đã xuất hiện nhiều chủng kháng thuốc. Thuốc được chỉ định điều trị các bệnh cảm nhiễm Pasteurella, Haemophilus, Rickettsia, Chlamydia, Mycoplasma, Brucella, lậu cầu, xoắn khuẩn, phẩy khuẩn tả (ở người),... các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, sinh dục, tiết niệu, mắt, tai - mũi - họng. Kháng sinh này có tác dụng kích thích sinh trưởng gia súc non cho nên trước đây thường được phối chế vào
  18. 18 thức ăn gia súc, nhưng cũng vì vậy mà dẫn đến hiện tượng phát sinh nhiều chủng kháng thuốc, đồng thời dư lượng kháng sinh trong sản phẩm động vật gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng. Các loại sulfamid được dùng hiện nay ở nước ta là sulfathiazol, sulfadiazin, sulfamerazin, sulfadimethoxin,... Chúng có tác dụng kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn do làm rối loạn trao đổi chất của tế bào vi khuẩn, tác dụng mạnh đối với các loại cầu khuẩn, một số vi khuẩn Gram âm, một số virut và các vi khuẩn đường ruột. Đại đa số sulfamid được hấp thụ tốt qua ruột. Tiêm bắp thịt, thuốc thấm nhanh vào máu, khuyếch tán vào khắp cơ thể, dịch thể và thải ra ngoài chủ yếu qua thận nhanh chóng. Dùng sulfamid cũng có thể gây tai biến, vi khuẩn có thể quen thuốc và kháng thuốc, nên phải dùng liều lượng cao ngay từ đầu, tránh ngừng dùng quá sớm, cho uống nhiều nước khi dùng hoặc uống natri bicarbonat (NaHCO3) để tránh sulfamid kết tủa trong thận. Cần phối hợp nhiều loại sulfamid với chất kháng sinh khác (penicillin, streptomycin). 4.2. Phối hợp thuốc Chất kháng sinh thường được sử dụng đơn độc nhưng nhiều khi cần phối hợp hai thuốc trong việc điều trị bệnh cảm nhiễm. Mục đích của việc phối hợp thuốc là để 1) tăng cường năng lực diệt khuẩn, 2) mở rộng hoạt phổ kháng khuẩn, 3) ức chế xuất hiện vi khuẩn kháng thuốc và 4) giảm tác dụng phụ bất lợi đối với cơ thể,... Hiệu quả tác dụng tăng cường diệt khuẩn thường thấy khi phối hợp trimethoprim (hay thuốc cùng nhóm) với thuốc sulfamid, đặc biệt trong điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn, tác dụng tăng cường diệt khuẩn và mở rộng hoạt phổ kháng khuẩn thu được nhờ phối hợp penicillin G với streptomycin. Phối hợp thuốc mở rộng hoạt phổ kháng khuẩn có ý nghĩa lớn khi chưa kịp phân lập và đồng định (giám biệt) mầm bệnh, khi cảm nhiễm vi khuẩn hỗn hợp như bệnh đường hô hấp hay viêm vú,... Cần lưu ý rằng phối hợp thuốc chứ không phải pha trộn thuốc, mặc dù trong nhiều trường hợp có thể pha trộn các thuốc kháng sinh với thuốc kháng sinh khác cũng như các thuốc kháng sinh với các thuốc khác. Hiệu quả phối hợp một số thuốc kháng sinh thông dụng được trình bày ở bảng sau.
  19. 19 Bảng: Tương tác của một số thuốc kháng sinh khi sử dụng phối hợp để điều trị bệnh cảm nhiễm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Gentamycin sulfat(e) Chất kháng sinh Nhóm streptomycin Nhóm penicillin Các sulfamid(e) Cephalosporin Levomycetin* Erythromycin Fusadin natri Monomycin Lincomycin Novobiocin Ristomycin Kanamycin Tetracyclin Polymyxin Ampicillin Rifamycin Oxacillin Nístatin 1 x 2 2+ x 3 2+ 2+ x 4 2+ 2+ 2+ x 5 ± ± ± ± x 6 ± ± ± ± 2+ x 7 ± ± ± ± 2+ 2+ x 8 ± ± ± ± 2+ 2+ 2+ x 9 ± ± ± ± 2+ 2+ 2+ 2+ x 10 ± ± ± ± 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ x 11 3+ 3+ 3+ 3+ ± ± ± ± + + x 12 3+ 3+ 3+ 3+ ± ± ± ± + + - x 13 3+ 3+ 3+ 3+ ± ± ± ± + + - - x
  20. 20 14 3+ 3+ 3+ 3+ ± ± ± ± + + - - - x 15 ± ± ± ± 3+ 2+ 2+ 2+ - 2+ + + + + x 16 ± ± ± ± 3+ 2+ 3+ 2+ 2+ 2+ + + + + 2+ x 17 2+ 2+ 2+ 2+ 3+ 3+ 3+ 3+ - + + + + + - 3+ x 18 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ 2+ x 19 2+ 2+ 2+ 2+ + + + 2+ + + - - - - + + - 3+ x 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 Gentamycin sulfat(e) Nhóm streptomycin Nhóm penicillin Các sulfamid(e) Cephalosporin Levomycetin* Erythromycin Fusadin natri Monomycin Lincomycin Novobiocin Ristomycin Kanamycin Tetracyclin Polymyxin Ampicillin Rifamycin Oxacillin Nístatin Ghi chú: 3+, tác dụng hợp đồng; 2+,tác dụng cộng; +, phối hợp không phát huy tác dụng; ±, đôi khi biểu hiện đối kháng; -, đối kháng; gạch chân, phối hợp không hợp lý đôi khi tăng tính độc của thuốc; x, phối hợp gây độc; *chloramphenicol là thuốc kháng sinh đã bị cấm dùng trong thú y và thủy sản nhưng vẫn dùng trong điều trị bệnh nhiễm khuẩn ở người.
Đồng bộ tài khoản