Giáo trình Cây đậu tương - Trần Văn Điền

Chia sẻ: asrichle

Đậu tương là một cây công nghiệp và th ực phẩm đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam và đặc biệt tà các tỉnh miền núi phía Bắc. Cây đậu tương được đưa vào chương trình giảng dạy h ệ đạ i học thuộc các ngành trồng trọt, khuyên nông và phát triển nông thôn. Để đáp ứng nhu cầu về tư liệu học tập và nghiên cứ u cho sinh viên và cán bộ giảng dạy, tác giả xin gửi đến bạn đọc cuốn sách "Giáo trình cây đậu tương"....

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Giáo trình Cây đậu tương - Trần Văn Điền

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


TRẦN VĂN ĐIỀN




GIÁO TRÌNH
CÂY ĐẬU
TƯƠNG




NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI – 2007
LỜI NÓI ĐẦU



Đậu tương là một cây công nghiệp và th ực phẩm đóng vai trò quan trọng
trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam và đặc biệt tà các tỉnh miền núi
phía Bắc. Cây đậu tương được đưa vào chương trình giảng dạy h ệ đạ i học
thuộc các ngành trồng trọt, khuyên nông và phát triển nông thôn. Để đáp ứng nhu
cầu về tư liệu học tập và nghiên cứ u cho sinh viên và cán bộ giảng dạy, tác giả xin
gửi đến bạn đọc cuốn sách "Giáo trình cây đậu tương". Cuốn sách này đã tổng
hợp và hệ thông lại kết quả của các công trình nghiên cứu về đậu tương trong và
ngoài nước. Chúng tôi hy vọng rằng tài liệu sẽ giúp ích cho học tập và nghiên cứu
của sinh viên và các cán bộ nghiên cứu về đậu tương. Mặc dù với sự cố gắng cao
trong quá trình biên soạn và được nhiều ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp,
nhưng lần xuất bản đầu tiên này chắc chắn sẽ còn nhiều hạ n chế. Tác giả rất
mong nhận được những đóng góp của bạn đọc để giáo trình ngày càng hoàn thiện.
Xin trân trọng cám ơn !
Tác giả
Chương I
GIÁ TRỊ KINH TẾ, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT,
NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI ĐẬU TƯƠNG


1. GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÂY ĐẬU TƯƠNG
Đậu tương (Glycine max (L) Merr.) còn gọ i là đậu nành là một cây trồ ng cạn
ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Khó có thể có tìm thấy một cây trồng nào có tác dụng
nhiều mặt như cây đậu tương. Sản phẩm của nó làm thự c phẩm cho con người, thức
ăn cho gia súc nguyên liệu cho công nghiệp, hàng xuất khẩu và là cây cải tạo
đất tố t. Vì thế cây đậu tương được gọi là "Ông Hoàng trong các loạ i cây h ọ đậu
". Sở dĩ cây đậu tương được đánh giá như vậy bởi lẽ cây đậu tương có giá trị rất
toàn diện.
Giá trị về mặt thực phẩm


Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng prôtein trung bình
kho ảng từ 35,5 - 40%. Trong khi đó hàm lượng prôtein trong gạo chỉ 6,2 - 12%;
ngô: 9,8 - 13,2% thịt bò: 21%; thịt gà: 20%; cá: 17 - 20% và trứng: 13 - 14,8%, lipit từ
15-20%, hyđrát các bon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng
cho sự sống (Nguyễn Thị Hiền và Vũ Thi Thư, 2004). Hạt đậu tương là loại thực
phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng th ời cả prôtit và lipit. Prôtein
của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong số các prôtein có nguồn g ốc thực vật.
Hàm lượng prôtein trong hạt đậu tương cao hơn cả hàm lượng prôtein có trong cá,
thịt và cao gấp 2 lần so với các loại đậu đỗ khác.
Hàm lượng axít quan có chứ a lưu huỳnh như methionin và sixtin của đậu
tượng cao g ần b ằng hàm lượng các ch ất này có trong trứng gà. Hàm lượng cazein,
đặc biệt li sin cao gần gấp rưỡi lần chất này có trong trứng. Vì thế mà khi nói v ề
giá trị của prôtein trong hạt đậu tương là nói đến hàm lượng prôtein cao và sự cân
đối của các loại axít amin cần thiết. Prôtein của đậu tương dễ tiêu hoá hơn thịt và
không có các thành ph ần tạo colesteron. Ngày nay người ta mớ i biết thêm hạt đậu
tương có chứa lexithin, có tác dụng làm cho cơ thể trẻ lâu, tăng thêm trí nhớ, tái tạo
các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể.
Hạt đậu tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên
đượ c coi là cây cung cấp dầu thực vật quan trọ ng. Lipit củ a đậu tương chứ a
một tỉ lệ cao các axít béo chưa no (khoảng 60-70%) có hệ số đồng hoá cao, mùi vị
thơm như axit linoleic chiếm 52-65%, oleic từ 25-36%, linolenolic khoảng 2- 3%
(Ngô Thê Dân và cs, 1999). Dùng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh
được xơ mỡ động mạch.
Trong hạt đậu tương có khá nhiều loại vitamin, đặc biệt là hàm lượng vitamin
B1 và B2 ngoài ra còn có các loại vitamin PP, A, E, K, D, C,v.v.... Đặc biệt trong hạt
đậu tương đang nảy mầm hàm lượng vitamin tăng lên nhiều, đặc biệt là vitamin C.
Phân tích thành phần sinh hoá cho thấy trong hạt đậu tương đang nảy mầm, ngoài
hàm lượng vitamin C cao, còn có các thành phần khác như: vitamin PP, và nhiều
chất khoáng khác như Ca, P, Fe v.v...Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy
nên đậu tương có khả năng cung cấp năng lượng khá cao khoảng 4700 cal/kg
(Nguyễn Danh Đông, 1982). Hiện nay, từ hạt đậu tương người ta đã chế biến ra
đượ c trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đ ó có hơn 300 loại làm thực phẩm được
chế biến bằng cả phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại dướ i dạng tươ i,
khô và lên men vv... như làm giá, đậu phụ, tương, xì dầu vv... đến các sản phẩm
cao cấp khác như cà phê đậu tương, bánh kẹo và thịt nhân tạo vv... Đậu tương còn
là vị thuốc để chữ a bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen, có tác dụng tốt cho tim,
gan, thận, dạ dày và ruột. Đậu tương là thức ăn tốt cho những người bị bệnh đái
đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và suy dinh dưỡng.
Giá trị về mặt công nghiệp


Đậu tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như: chế
biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất d ẻo, tơ nhân tạo, chất đốt lỏng,
dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đậu tương được dùng để ép d
ầu. Hiện nay trên thế giới đậu tương là cây đứng đầu về cung cấp nguyên liệu cho
ép dầu, dầu đậu tương chiếm 50% tổng lượng dầu thực vật. Đặc điểm của dầu
đậu tương: khô chậm, chỉ số iốt cao : 120- 127 ; ngưng tụ ở nhiệt độ : - 15 đến -
18oC. Từ dầu này người ta chế ra hàng trăm sản phẩm công nghiệp khác như: làm
nến, xà phòng, ni lông v.v...
Giá trị về mặt nông nghiệp


- Làm thức ăn cho gia súc: Đậu tương là nguồn thức ăn tốt cho gia súc 1 kg
hạt đậu tương đương với 1,38 đơn vị thức ăn chăn nuôi. Toàn cây đậu tương
(thân, lá, quả, hạt) có hàm lượng đạm khá cao cho nên các sản phẩm phụ như thân
lá tươi có thể làm thức ăn cho gia súc rất tốt, hoặc nghiền khô làm thức ăn tổng
hợp của gia súc. Sản phẩm phụ công nghiệp như khô dầu có thành phần dinh
dưỡng khá cao: N: 6,2%, P2O5: 0,7%, K2O: 2,4%, vì thế làm thức ăn cho gia súc rất
tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
- Cải tạo đất: Đậu tương là cây luân canh cải tạo đất tốt. 1 ha trồng đậu
tương nếu sinh trưởng phát triển tốt để lại trong đất từ 30-60 kg N (Phạm Gia
Thiều, 2000). Trong hệ thống luân canh, nếu bố trí cây đậu tương vào cơ cấu cây
trồng hợp lý sẽ có tác dụng tốt đối với cây trồng sau, góp phần tăng năng suất cả
hệ thống cây trồng mà giảm chi phí cho việc bón N. Thân lá đậu tương dùng bón
ruộng thay phân hữu cơ rất tốt bởi hàm lượng N trong thân chiếm 0,05%, trong lá:
0,19% (Nguyễn Danh Đông, 1982).
2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU TƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG
NƯỚC

2.1. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương là cây trồng lấy hạt, cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế giới,
đứng hàng thứ 4 sau cây lúa mì, lúa nước và ngô. Do khả n ăng thích ứng rộng nên
nó đã được trồng ở khắp năm châu lụ c, nh ưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ
trên 70%, tiếp đến là châu Á. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong
những năm gần đây được thê hiện trong bảng




Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy diện tích gieo trồng và sản lượng đậu tương trên
thế giới tăng rất nhanh trong vòng 5 năm qua. Hàng năm trên thế giớ i trồng
khoảng hơn 91 triệu ha với nang suất bình quân khá cao 22-23 tạ!ha đã tạo ra một
sản lượng đậu tương gấp h ơn 2 lần so v ới 20 năm về trước. Các nước trồng đậu
tươ ng đứng hàng đầu trên thế giới về diện tích gieo trồng và sản lượng là Mỹ,
Braxin, Achentina và Trung Quốc (bảng l.2)




2.2. Tình hình sản xuất đậu tương ở trong nước
Mộ t số tài liệu cho rằng cây đậu tương được đưa vào trồng nước ta từ thời vua
Hùng và xác định rằng nhân dân ta trồng cây đậu tương trước cây đậu xanh và cây
đậu đen (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Ngày nay đậu tương đã trở nên quen thuộc với
nhân dân ta. Các món ăn chế từ đậu tương trở thành những món ăn phổ biến
thường ngày. Tuy nhiên đậu tương trồng ở nước ta chủ yếu là sử dụng làm th ực
phẩm mang tính tự cung tự cấp. Trong những năm gần đây, cây đậu tương đã phát
triển khá nhanh cả về diện tích và n ăng suất góp phần tạo ra mặt hàng tiêu dùng
nộ i địa quan trọng. Tình hình sản xuất đậu tương trong nước mấy năm gần đây
được trình bày trong bảng 1.3.




Về mặt diện tích: Diện tích gieo trồng đậu tương của nước ta mớ i chiếm tỉ
lệ nhỏ trong tổng diện tích gieo trồng (khoảng l,5-l,6%). Xét về tốc độ thì tăng rất
nhanh nếu lấy năm 1980 làm mốc thì đến năm 2004 diện tích đã tăng gấp 3,6 lần.
Về năng su ất: Năng su ất đậu tương bình quân của nướ c ta rất thấp chỉ đạt
kho ảng trên 50% so với năng suất bình quân trên thế giớ i. Tuy nhiên, nhờ những
nỗ lực rất lớn của các nhà khoa học trong công tác nghiên cứu chọn tạo giống và
các biện pháp canh tác, năng suất đậu tương trong 5 năm gần đây đã có mộ t bước
nhảy vọt quân trọng, năng suất tăng 1,8 lần so với năm 1980 (Trần Đình Long và
Andrew, 2001).
Hiện nay, cả nước đ ã hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương: vùng Đông Nam
bộ có diện tích lớ n nhất (26,2% diện tích đậu tương cả n ước), miền núi Bắc bộ
24,7%, đồng bằng sông Hồng 17,5%, đồng bằng sông Cửu Long 12,4% (Ngô Thế
Dân và cs, 1999). Tổng diện tích 4 vùng này chiếm 80% diện tích trồng đậu tương
cả nước, còn lại là đồng bằng ven biển miền Trung và Tây Nguyên.
Đậu tương được trồng ở vụ xuân chiếm 14,2% diện tích, vụ hè là 2,68%, vụ hè
thu 31,3%, vụ thu đông 22,1% và vụ đông xuân 29,7% (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
Tuỳ theo điều kiện sinh thái của từng vùng mà đậu tương được gieo trồng
trong các v ụ chính khác nhau. Ví dụ ở các tỉnh miền núi phía Bắc đậu tương được
gieo trồng chính trong vụ hè thu, những năm gần đây đậu tương cũng được phát
triển mạnh trong vụ xuân.
Về sản lượng, vùng đồng bằng sông Hồng, Đ ông Nam bộ và đồng bằng sông
Cửu Long chiếm hơn 60% sản lượng đậu tương cả nước. Đặc biệt vùng Đồng
bằng sông Cửu Long chỉ chiếm kho ảng 12% diện tích nhưng năng suất bình quân
cao nhất cả nước đạt trên 20 tạ/ha (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
Hiện nay cùng với nh ịp độ tăng dân số và việc thay đổi tập quán tiêu dùng
dầu thực vật thay mỡ động vật, thì nhu cầu d ầu thực v ật đặc biệt là dầu đậu
tương sẽ tăng lên, như vậy sẽ tạo ra một cơ hội rất lớn cho việc phát triển sản
xuất đậu tương trong nước.

3. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI

3.1. Nguồn gốc
Đậu tương là một trong những lo ại cây trồng mà loài người đã biết sử dụng
và trồng trọt từ lâu đời, vì vậy nguồn gố c của cây đậu tương cũng sớm được xác
minh. Những bằng chứ ng về lịch sử, địa lý và khảo cổ học đều công nhận rằng
đậu tương có nguyên sản ở châu Á và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cây đậu tương
được thuần hoá ở Trung Quốc qua nhiều triều đại tiền phong kiến và được đưa
vào trồng trọt và khảo sát có thể trong triều đại Shang (n ăm 1700-1100 B.C) trước
công nguyên. Những thông tin về nguồn gốc đậu tương được trình bày chi tiết
trong tài liệu của trong Ngô Thế Dân và cs (1999).

3.2. Phân loại
Đậu tương thuộc chi Glycine, họ đậu Leguminosae, họ phụ cánh bướm
Papilionoideae và bộ Phaseoleae. Đậu tương có tên khoa học là Glycine Max (L)
Merr.
Do xuất phát từ những yêu cầu, căn cứ và tiêu chí phân loại khác nhau nên
cũng có nhiều cách phân loại khác nhau. Nhưng đến nay, hệ thống phân loại căn cứ
vào đặc điểm về hình thái, phân bố địa lý và số lượng nhiễm sắc thể được nhiều
người sử dụng.
Hệ thống phân loại căn cứ vào đặc điểm về hình thái, sự phân bố địa lý và số
lượng nhiễm sắc thể do Hymowit và Newell (1984) xây dựng. Theo hệ thống này
ngoài chi Glycine còn có thêm chi phụ Soja. Chi Glycine đượ c chia ra thành 7 loài
hoang dại lâu năm, và chi phụ Soja được chia ra làm 2 loài: loài đậu tương trồng
Gtycine (L) Merr và loài hoang dại hàng năm G. Soja Sieb và Zucc (bảng 1.4).
Chương II

ĐẶC TÍNH SINH VẬT HỌC CỦA CÂY ĐẬU TƯƠNG

1. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC

1.1. Rễ
Rễ cây đậu tương khác với rễ cây hoà thảo là có rễ chính và rễ phụ. Rễ chính
có th ể ăn sâu 30-50cm và có thể trên 1m. Trên rễ chính mọc ra nhiều rễ phụ, rễ phụ
cấp 2, cấp 3 tập trung nhiều ở tầng đất 7-8 cm rộng 30-40 cm2 (Nguyễn Danh Đ ông,
1982). Trên rễ chính và rễ phụ có nhiều nố t sần. Bộ rễ phân bố nông sâu, rộng hẹp,
số lượng nốt sần ít hay nhiều phụ thuộc vào giống, đất đai, khí hậu và kỹ thuật
trồng.
Quá trình phát triển của bộ rễ có thể phân ra làm 2 thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất: Phát triển lớp rễ đầu tiên, thời kỳ này rễ cái và rễ phụ
đầu tiên phát triển mạnh kéo dài ra và sinh nhiều rễ con. Thời kỳ này thường kéo
dài từ 30-40 ngày sau mọc.
Thời k ỳ thứ hai: Lớp rễ đầu tiên phát triển ch ậm dần, rễ con không nhú ra
nữa th ậm chí có mộ t số rễ con khô đi. Lúc này gốc thân gần cổ rễ các rễ phụ nhỏ
kéo dài ra và phát triển cho tới khi gần thu hoạch. Số lượng có thể 30-40 rễ phụ ăn
ở phía gần mặt đất. Lớp rễ này có nhiệm vụ cung cấp đấy đủ chất dinh dưỡng
cho sự phát triển của thân, lá và làm quả. Trong kỹ thuật trồng nên chú ý thời kỳ
này, cần vun đất sao cho lớp rễ này phát triển mạnh.
Một đặc điểm h ết sức quan trọng cần lưu ý là trên bộ rễ của cây đậu tương
có rất nhiều nốt sần. Đó là các u bướu nhỏ bám vào các rễ. N ốt sần là kết quả
cộng sinh của một số lo ại vi sinh vật có tên khoa học là Rhizobium Japonicum với
rễ cây đậu tương. Trong một nốt sần có khoảng 3 -4 tỷ vi sinh vật, mà ta ch ỉ có
thể nhìn thấy chúng qua kính hiển vi phóng đại 600 - 1000 lần (Ngô Thế Dân và cs,
1999). Vi sinh vật thường có dạng hình cầu hoặc hình que.
* Đặc điểm của nốt sần
Nốt sần ở rễ đậu tương thường tập trung ở tầng đất 0-20cm, từ 20-30cm nốt
sần ít dần và nếu sâu hơn nữa thì có ít hoặc không có.
Nốt sần đóng vai trò chính trong quá trình cố định đạm khí trời cung cấp cho
cây.
Lượng đạm cung cấp cho cây khá lớn khoảng 30-60 kg/ha (Nguyễn Danh
Đông, 1982).
Nốt sần có thể dài lcm, đường kính 5 -6 mm, mới hình thành có màu trắng sữa,
khi tốt nhất có màu hồng (màu globulin có cấu tạo gần giống Hemoglobin trong
máu có Fe).
* Quá trình hình thành của nốt sần
Trong đất luôn luôn có nhiều loại vi sinh v ật thường tập trung xung quanh bộ
rễ (để sử dụ ng các chất thải ra làm thức ăn), mặt khác xung quanh rễ do canh tác
tạo điều kiện đất đai thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Có loại cộng sinh, có loại
hoại sinh, ký sinh trong đó có loại có lợi có loại có hại với rễ. Cây họ đậu đều tiết
ra các chất như gluxit, đườ ng galacto v.v.. đã hấp dẫn các loại vi sinh vật trong đó
có vi sinh vật nốt sần. Có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình xâm nhập của vi
sinh vật nốt sần vào rễ cây họ đậu.
Có quan đ iểm cho rằng khi sống vi khuẩn Rhirobium Japonicum tiết ra chất
axit andol 3 axêtic. Khi vi khu ẩn tiếp xúc với lông hút dưới tác dụng củ a axit làm
cho điểm đó trên lông hút khô cong lên, tạo nên khe hở làm cho vi sinh vật đi sâu
vào lông hút.
Quan điểm khác l ại cho rằng vi sinh vật tiết ra men xelluoza phân huỷ tế bào
lông hút để đ i vào lông hút. Khi đi vào đầu lông hút vi sinh vật tiết ra chất nhầy, từ
tổ chức biểu bì của đầu lông hút tạo thành tuyến xâm nh ập hình dải. Sau một thời
gian xâm nhập vào tế bào biểu bì, vào nội bì và sinh sản tại đó. Vi khuẩn chiết ra
chất kích thích làm cho tế bào phân chia không bình thường và hình thành nốt sần.
Nốt sần phát triển đến một giai đoạn nhất định thì cố định đạm. Bản thân
nốt sần hút N còn vi sinh vật như mộ t ch ất xúc tác. Khi cây già vi sinh vật đi ra
ngoài. Quá trình hình thành nốt sần kéo dài 16-21 ngày. Trường h ợp bình thường
nốt sần bắt đầu xuất hiện sau mọc 14-15 ngày, phát triển nhiều và mạnh nhất vào
lúc đậu tương ra hoa và làm quả tập trung nhiều nhất ở lớp rễ thứ nhất.
Số lượng nốt sần nhiều hay ừ phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện đất trồng,
các chất dinh dưỡng đối với đậu tương. Trồng đậu tương trên đất đã trồng đậu
tương, thì nốt sần hình thành sớm h ơn và nhiều hơn. Đất chua quá hoặc kiềm quá
nốt sần hình thành kém. pH thích hợp cho sự hình thành của nốt sần là 6-7, vì v ậy
việc lựa chọn đất trồng đậu tương thích hợp rất quan trọng. Điều kiện dinh d
ưỡng cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nốt sần. Nhìn chung bón đầy
đủ NPK thì nốt sần phát triển mạnh, bón P2O5 Có tác dụng thúc đẩy sự phát triển
của nốt sần, còn hiệu quả kali không rõ lắm (Trần V ăn Điền, 2001). Bón đạm
không thích hợp ức chế sự hình thành và phát triển của nốt sần.
Quan hệ giữa vi sinh vật nốt sần với cây đậu tương là mối quan hệ cộ ng
sinh: cây cung cấp chất dinh dưỡng cho vi khuẩn hoạt động, ngược lại vi khuẩn lại
tổng hợp nitơ tự do của không khí chuyển sang dạng đạm hữu cơ cây có thể sử
dụng được. Cây đậu tương cung cấp càng nhiều chất dinh dưỡng cho vi sinh vật
ho ạt động thì vi sinh vật càng phát triển và tích luỹ đạm được càng nhiều cho cây
làm cho cây sinh trưởng và phát triển tốt.
1.2. Thân
• Hình thái và màu sắc của thân


Thân cây đậu tương thuộc thân thảo, có hình tròn, trên thân có nhiều lông nhỏ.
Thân khi còn non có màu xanh hoặc màu tím khi về già chuyển sang màu nâu nhạt,
màu sắc của thân khi còn non có liên quan chặt chẽ với màu sắc của hoa sau này.
Nếu thân lúc còn non màu xanh thì hoa màu trắng và nếu khi còn non thân có màu
tím thì hoa có màu tím đỏ.
Thân có trung bình 14-15 lóng, các lóng ở phía d ưới thườ ng ngắn, các lóng ở
phía trên thường dài (vì những lóng phía trên phát triển từ ngày 35-40 trở đi vào lúc
cây đang sinh trưởng nhanh nên lóng thường dài). Tuỳ theo giống và thờ i vụ gieo
mà chiều dài lóng có sự khác nhau thường biến động từ 3 - 10 cm. Cây đậu tương
trong vụ hè thường có lóng dài hơn vụ xuân và vụ đông. Chiều dài của lóng góp
phần quyết định chiều cao củ a thân. Thân cây đậu tương thường cao từ 0,3 m - 1,0
m. Giống đậu tương dại cao 2-3 m. Những giống thân nhỏ lóng dài dễ bị đổ hay
mọc bò thường làm thức ăn cho gia súc. Những giống thân to thường là thân đứng
và có nhiều hạt và chống được gió bão. Toàn thân có một lớp lông tơ ngắn, mọc
dày bao phủ từ gốc lên đến ngọn, đến cả cuống lá. Thự c tế cũng có giống không
có lông tơ. Những giống có mật độ lông tơ dày, màu sẫm có sức kháng bệnh, chịu
hạn và chịu rét khoẻ. Ngược lại những giống không có lông tơ thường sinh trưởng
không bình thường, sức ch ống chịu kém. Thân có lông tơ nhiều ít dài ngắn, dày
thưa là một đặc điểm phân biệt giữa các giống với nhau.
• Tập tính sinh trưởng của thân
Căn cứ vào tập tính sinh trưởng và đặc điểm của thân người ta chia ra làm 4
loại:
- Loại mọc thẳng: thân cứng, đường kính thân lớn, thân không cao lắm, đốt
ngắn, quả nhiều tập trung thường là giống ra hoa hữu hạn.
- Loại bò: thân chính phân cành rất nhỏ, mềm, phủ trên mặt đất thành đám
dây, thân rất dài, đốt dài, quả nhỏ phân tán.
- Loại nửa bò: là loại trung gian giữa 2 loại mọc thẳng và mọc bò trên.
- Loại mọc leo: thân nhỏ rất dài, mọc bò dưới đất hoặc leo lên giá thể khác.
• Tập tính phân cành của thân


Thân đậu tương có khả năng phân cành ngay từ nách lá đơn hoặc kép. Những
cành trên thân chính phân ra gọi là cành cấp 1, trên cành cấp 1 có thể phân ra cành cấp
2. Số lượng cành trên một cây nhiều hay ít thay đổi theo giống, thời vụ, mật độ gieo
trồng và đ iều kiện canh tác. Trung bình trên 1 cây thường có 2-5 cành, có một số
giống trong điều kiện sinh trưởng tốt có thể có trên 10 cành. Thường sau mọc kho
ảng 20-25 ngày thì cây đậu tương bắt đầu phân cành. V ị trí phân cành phù hợp là cao
trên 15cm, nếu thấp quá không có lợi cho việc cơ giới hoá. Giống đậu tương có góc
độ phân cành càng hẹp thì càng tốt cho việc tăng mật độ. Căn cứ vào tập tính
sinh trưởng của thân cành và đặc điểm ra hoa người ta chia các giống đậu tương ra
làm 2 loại:
+ Sinh trưởng hữu hạn: khi ngọn thân hoặc ngọn cành đã ra hoa, thì không tiếp
tục sinh trưởng nữa hay cành không cao lên nữa, loại này thường trồng lấy hạt.
+ Sinh trưởng vô hạn: khi đậu tương ra hoa kết quả và cả khi sắp chín thân
cành vẫn tiếp tục sinh trưởng, thường là loại mọc bò được trồng làm thức ăn cho
gia súc.
• Quá trình phát triển của thân:
- Từ lúc mọc đến khi cây có 5 lá thật (3 lá kép) khoảng 25-30 ngày sau khi
gieo, thân sinh trưởng với tốc độ bình thường.
- Khi cây đã có 6-7 lá thật (4-5 lá kép) thân bắt đầu phát triển mạnh, tốc độ
mạnh nhất vào lúc ra hoa rộ.
Sự khác biệt của cây đậu tương với cây trồng khác là khi cây ra hoa rộ lại là
lúc thân cành phát triển mạnh nhất. Đây là giai đoạn 2 quá trình sinh trưởng sinh
dưỡng và sinh trưởng sinh thực cạnh tranh nhau d ẫn đến kh ủng hoảng thiếu dinh
dưỡng, cho nên cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng trước khi vào thời kỳ này và
tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển thuận lợi. Trong kỹ thuật chăm sóc ta phải xới
vun kết hợp với bón thúc phân cho đậu tương vào giai đoạn 3-5 lá kép, lúc cây có
đầy đủ hoa thì sinh trưởng chậm dần rồi dừng hẳn.

1.3. Lá
Cây đậu tương có 3 loại lá:
Lá mầm (lá tử diệp): Lá mầm mới mọc có màu vàng hay xanh lục, khi tiếp
xúc với ánh sáng thì chuyển sang màu xanh. Hạt giống to thì lá mầm chứa nhiều
dinh dưỡng nuôi cây mầm, khi hết chất dinh dưỡng lá mầm khô héo đi, cho nên
trong kỹ thuật trồng đậu tương nên làm đất tơi nhỏ và chọn hạt to cây sẽ mọc
khoẻ, sinh trưởng tốt.
Lá nguyên (lá đơn): Lá nguyên xu ất hiện sau khi cây mọc từ 2-3 ngày và mọc
phía trên lá mầm. Lá đơn mọc đối xứng nhau. Lá đơn to màu xanh bóng là biểu hiện
cây sinh trưởng tốt. Lá đơn to xanh đậm biểu hiện củ a một giống có khả năng chịu
rét. Lá đơn nhọn gợn sóng là biểu hiện cây sinh trưởng không bình thường.
Lá kép: Mỗi lá kép có 3 lá chét, có khi 4-5 lá chét. Lá kép mọ c-so le, lá kép
thường có màu xanh tươi khi già biến thành màu vàng nâu. Cũng có giống khi quả
chín lá vẫn giữ được màu xanh, những giống này thích hợp trồng làm thức ăn gia
súc. Phần lớn trên lá có nhiều lông tơ . Lá có nhiều hình dạng khác nhau tuỳ theo
giống, những giống lá nhỏ và dài chịu hạn khoẻ nhưng th ường cho năng suất thấp.
Những giống lá to chống ch ịu hạn kém nhưng thường cho năng suất cao hơn. Nếu
2 lá kép đầu to và dày thường biểu hiện giống có khả năng chố ng ch ịu rét. Số
lượng lá kép nhiều hay ít, diện tích lá to hay nhỏ chi phối rất lớn đến năng suất và
phụ thuộc vào thời vụ gieo trồng. Các lá nằm cạnh chùm hoa nào giữ vai trò chủ
chủ yếu cung cấp dinh dưỡng cho chùm hoa ấy. Nếu vì điều kiện nào đó làm cho lá
bị úa vàng thì quả ở vị trí đó thường bị rụng hoặc lép.
Các nhà chọn giống đậu tương đưa ra cơ sở để nâng cao năng suất
đậu tương là
tăng cường quá trình quang hợp và muốn quang hợp với hiệu quả cao thì phải chọn
những cây có bộ lá nhỏ, dày, thế lá đứng và lá có dạng hình trứng.
Số lá nhiều to khoẻ nhất vào thờ i kỳ đang ra hoa rộ. Khi phiến lá phát triển
to, rộng, mỏng, phẳng, có màu xanh tươi là biểu hiện cây sinh trưởng khoẻ có khả
năng cho năng suất cao.

1.4. Hoa
• Hình thái và cấu tạo


Hoa đậu tươ ng nhỏ, không hương vị, thuộc loại cánh bướ m. Màu sắc của hoa
thay đổi tuỳ theo giống và thường có màu tím, tím nhạt hoặc trắng. Đa phần các
giống có hoa màu tím và tím nhạt. Các giống đậu tương có hoa màu trắng thường có
tỷ lệ dầu cao hơn các giống màu tím. Hoa phát sinh ở nách lá, đầu cành và đầu thân.
Hoa mọc thành từng chùm, mỗi chùm có từ 1-10 hoa và th ường có 3-5 hoa. Hoa đậu
tương ra nhiều nhưng tỷ lệ rụng rất cao khoảng 30% có khi lên tới 80%.
Hoa đậu tương thuộc loại hoa đồng chu lưỡng tính trong hoa có nhị và nhụy,
mỗi hoa gồm 5 lá đài, 5 cánh hoa có 10 nhị và 1 nhụy.
Đài hoa có màu xanh, nhiều bông.
Cánh hoa: Một cánh to gọi là cánh cờ, 2 cánh bướm và 2 cánh thìa:
Nhị đực: 9 nhị đực cuốn thành ống ôm lấy vòi nhuỵ cái và 1 nhị riêng lẻ.
Nhụy cái: Bầu thượng, tử phòng một ngăn có 1-4 tâm bì (noãn) nên thường
quả đậu tương có 2-3 hạt.
Các cánh hoa vươn ra khỏi lá đài từ ngày hôm trước và việc thụ phấn x ẩy ra
vào sáng ngày hôm sau lúc 8-9 giờ sáng trước khi nụ hoặc hoa chưa nở hoàn toàn.
Mùa hè hoa thường nở sớm hơn mùa đông và thờ i gian nở hoa rất ngắn sáng nở
chiều tàn. Hoa đậu tương thường thụ phấn trướ c khi hoa nở và là cây tự thụ phấn,
tỷ lệ giao phấn rất thấp chiếm trung bình 0,5 - 1% (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
• Đặc điểm của sự nở hoa đậu tương


Thời gian bắt đầu ra hoa sớm hay muộn, dài hay ngắn tuỳ thu ộc vào giống và
thời tiết khác nhau. Giống chín sớ m sau mọc trên dưới 30 ngày đã ra hoa và giống
chín muộn 45-50 ngày mới ra hoa. Thời gian ra hoa dài hay ngắn theo giống và theo
thời vụ. Có những giống thời gian ra hoa chỉ kéo dài 10-15 ngày. Kết quả nghiên
cứu cho thấy thời kỳ hoa rộ thường từ ngày thứ 5 đến ngày thứ 10 sau khi hoa bắt
đầu nở. Hoa trong đợt rộ mớ i tạo quả nhiều, còn trước và sau đợt hoa rộ thì tỷ lệ
đậu quả thấp. Điều kiện thích hợp cho sự nở hoa là ở nhiệt độ 25-28oC, ẩm độ
không khí 75-80%, ẩm độ đất 70-80%. Căn cứ vào phương thức ra hoa người ta
chia các giống đậu tương làm 2 nhóm:
Nhóm ra hoa hữu hạn: Thuộc những giống sinh trưởng hữu hạn, hướng ra hoa
theo trình tự từ trên xuống dưới và từ ngoài vào trong. Những giống này thường cây
thấp ra hoa tập trung, quả và hạt đồng đều.
Nhóm ra hoa vô hạn: Thuộc những giống sinh trưởng vô hạn, có hướng ra hoa
theo trình tự từ dưới lên trên và từ trong ra ngoài. Những giống này thường ra hoa
rất phân tán, quả chín không tập trung và phẩm chất hạt không đồng đều.
Trong thực tế, những giống hoa tập trung n ếu gặp điều kiện bất thuận, hoa
sẽ rụng nhiều nên thất thu nặng. Còn những giống thời gian ra hoa dài tuy quả chín
không tập trung nhưng nếu bị rụng vào một đợt thì hoa sẽ ra tiếp đợt sau nên không
thất thu nặng.
Một hoa có từ 1800-6800 hạt phấn tuỳ theo giống khác nhau, giống hạt to thì
có bao phấn to và nhiều hạt phấn. Hạt phấn thường hình tròn, số lượng và kích
thước hạt ph ấn tuỳ giống khác nhau, giống hạt to thường có hạt phấn to và nhiều
hơn so với giống có hạt nhỏ. Hạt phấn n ảy mầm tốt trong điều kiện nhiệt độ 18-
23oC. Hạt phấn đậu tương được chia ra làm 2 loại:
Loại có khả năng thụ tinh chiếm 87%, hạt phấn thường có màu sẫm, chất
nguyên sinh dễ nhuộm màu, hạt phấn tròn đều và to.
Loại không có khả năng thụ tinh chiếm khoảng 13%, thường nhỏ, màng mỏng
và chất nguyên sinh không nhuộm màu.

1. 5. Quả và hạt
Số quả biến động từ 2 đến 20 quả ở mỗ i chùm hoa và có thể đạt tới 400 quả
trên một cây Một quả chứa từ 1 tới 5 hạt, nhưng hầu h ết các giống quả thường từ 2
đến 3 hạt. Quả đậu tương th ẳng hoặc hơi cong, có chiều dài từ 2 tới 7 cm ho ặc h
ơn. Quả có màu sắc biến động từ vàng trắng tới vàng sẫm, nâu hoặc đen. Màu sắc qu
ả phụ .thuộc vào sắc tố caroten, xanthophyll, màu sắc của lông, sự có mặt của các
sắc tố antocyanin. Lúc quả non có màu xanh nhiều lông (có khả năng quang hợp do có
diệp lục) khi chín có màu nâu. Hoa đậu tương ra nhiều nhưng tỷ lệ đậu quả thấp 20-
30%. Ví dụ trong vụ xuân 1 cây có thể có 120 hoa nhưng chỉ đậu 30-40 quả là cao,
trên một chùm 5-8 hoa chỉ đậu 2- 3 quả. Những đốt ở phía gốc thường quả ít hoặc
không có quả, từ đốt thứ 5-6 trở lên tỷ lệ đậu quả cao và quả chắc nhiều. Trên cành
thường từ đốt 2-3 trở lên mới có quả ch ắc, những quả trên đầu cành thường lép
nhiều. Sau khi hoa nở được 2 ngày thì cánh hoa héo và rụng, ngày thứ 3 đến ngày thứ
5 sau hoa nở đã hình thành quả và 7 -8 ngày sau là thấy nhân quả xuất hiện. Trong 18
ngày đầu quả lớn rất nhanh sau đó chậm dần, vỏ dày lên và chuyển từ màu xanh sang
màu vàng. Hạt lớn nhanh trong vòng 30-35 ngày sau khi hình thành quả.
Hạt có nhiều hình dạng khác nhau: Hình tròn, hình bầu d ục, tròn dẹt vv...
Giống có màu vàng giá trị th ương phẩm cao. Trong hạt, phôi thường chiếm 2%, 2
lá tử điệp chiếm 90% và vỏ hạt 8% tổng khối lượng h ạt. Hạt to nhỏ khác nhau tuỳ
theo giống, khối lượng một nghìn hạt (M1000 hạt) thay đổi từ 20-400g trung bình
từ l00g-200g. Rốn hạt của các giống khác nhau thì có màu sắc và hình dạng khác
nhau, đây là một biểu hiện đặc trưng của các giống.
2. CÁC THỜI KỲ SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương tạm phân ra làm 2 giai
đoạn chính:

2.1. Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng
2.1.1. Thời kỳ nảy mầm
Giai đoạn này được tính từ khi gieo hạt giống xuống đất, hạt hút ẩm trương
lên, rễ mọ c ra, thân vươn lên đội hai lá mầm lên khỏ i mặt đất, lá mầ m xoè ra. Thời
kỳ này 2 lá nguyên bắt đầu mọc đối xứng trên v ị trí 2 lá mầm, thân mầm tiếp tục
phát triển thành thân chính. Nảy mầm là giai đoạn đầu tiên trong quá trình sinh trưở
ng và phát triển của cây đậu tương yêu cầu giai đoạn này phải có đủ nước, nhiệt độ
và oxy.
Nước: Hạt đậu tương hút nhiều nước hơn so với các cây trồng khác. Hạt phải
hút một lượng nước trên 50% trong lượng hạt thì hạt mới nảy mầm, trong khi đó
các cây trồng khác như lúa chỉ hút 26%; ngô 44% v.v...
Nhiệt độ: Quá trình nảy mầm rất mẫn cảm đối với nhiệt độ. Nhiệt độ từ 15-
30oC là thích hợp nhất quá trình nảy mầm của hạt đậu tương. Trong khoảng nhiệt
độ này, chỉ sau gieo 3-7 ngày là hạt đã nảy mầm. Nếu nhiệt độ nhỏ hơn 10oC hạt
nảy mầm kéo dài 12-15 ngày mới mọc. Nếu cao trên 30oC hạt nảy mầm nhanh
nhưng mầm yếu.
Hàm lượng O2: có liên quan tới ẩm độ đất, nếu ẩm độ đất trên 90% thì không
đủ O2 để hạt nảy mầm. Khi có đủ nước, oxy, nhiệt độ thì hạt sẽ hút nước trương
lên, các men prôteinaza, amyloaza v.v... chứa trong hạt bắt đầu hoạt động chuyển các
chất dự trữ ở dạng phức tạp sang đơn giản về nuôi phôi và hình thành bộ phận mới.
Trong kỹ thuật cần chú ý:
Bảo quản hạt giống tốt đảm bảo ẩm độ hạt dưới 10% và làm đất phải nhỏ
để hạt dễ hút nước và hút được nhanh và đảm bảo tơ i xốp để đủ O2. Trong sản
xuất vụ xuân có khí 10-12 ngày mới mọc còn vụ hè thu 4-5 ngày đã mọc.
2.1.2. Thời kỳ phân cành và sinh trưởng thân lá
Thời kỳ này được tính từ khi cây có 1- 2 lá kép và căn bản k ết thúc lúc bắt đầu
nở hoa. Tốc độ sinh trưởng thân lá trong thời gian đầu củ a thời kỳ này tương đối
chậm chỉ tớ i khi bắt đầu xuất hiện lớp rễ thứ 2 và sắp ra nụ ra hoa mới bắt đầu
tăng nhanh. Đây là thời kỳ mầm hoa bắt đầu phân hoá. Thời kỳ này rất quan trọng,
chỉ trên cơ sở thân lá sinh trưởng tốt, cành phát triển nhiều, sinh trưởng nhanh thì
mầm hoa mới phân hoá được nhiều Nh ưng nếu thân lá sinh trưởng quá mạnh lại ức
chế mầm hoa phân hoá chậm lại. Thời kỳ này nốt sần b ắt đầu được hình thành. Sau
mọc được khoảng 15 ngày cây có lá kép đầu tiên thì nố t sần được hình thành và khả
năng cố định N dần dần được tăng lên. Điều kiện ngoại cảnh thích hợp cho th ời kỳ
này là nhiệt độ: 22-25oC, ẩm độ đất: 70-80% và yêu cầu ánh sáng đầy đủ để cây sinh
trưởng và phát triển khỏe. Có thể nói đây là thời kỳ mấu ch ốt để có cây đậu tương
thân to, đốt ngắn, rễ ăn sâu và mầm hoa nhiều Trong kỹ thuật cần chú ý:
+ Phải bón lót đủ phân và vun xới sớ m để bộ rễ phát triể n thuận lợ i. Để
tạo điều kiện cho nốt sần phát triển tốt nên bón đủ lân, kali và một số loại phân vi
lượng như Mo, Bo, Mg vv...
+ Nếu mật độ cây dày quá phải tỉa sớm và làm cỏ kịp thờ i để các lá phía
dưới có đủ ánh sáng. Cần phải điều tiết sự sinh trưởng của cây không cho sinh
trưởng sinh dưỡ ng quá mạnh, nhưng cây cũng ph ải tích luỹ được nhiều chất hữu
cơ để chuẩn bị cho việc hình thành các cơ quan sinh sản về sau. Thực tế thì
vu.xuân và vụ đông cần tạo điều kiện cây sinh trưởng tốt và có diện tích lá lớn. Vụ
hè và xuân muộn và vụ 1 ở Nam Bộ cần ức chế sự sinh trưởng sinh dưỡng.

2.2. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực
Sau giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, cây chuyển sang giai đoạn sinh thực.
Trong giai đoạn này, những nụ ở nách lá chính phát triển thành những chùm hoa.
Đối v ới giống có tập tính sinh trưởng vô hạn, cây vẫn tiếp tục sinh trưởng sinh
dưỡng hầu như trong suố t vụ trồng. Số quả thường thưa và phân bố đều ở tất cả
các cành, về phía ngọn thân quả thường ít h ơn. Đôi khi trên ngọn thân có chùm hoa
ngọn, nhưng thực tế nó là chùm hoa nách tập trung ở trên ngọn thân. Đối với giống có
tập tính sinh trưởng hữu hạn, cây ngừng sinh trưởng khi ra hoa. Loại này có cả chùm
hoa ngọn và nách, quả phân bố đều dọc theo thân và phía trên ngọn.
2.2.1. Sự phát triển của hoa
Các bộ phận của hoa hình thành như sau: trước tiên là vòi đài, trong đ ó có cánh
đài phía trước hình thành đầu tiên sau đó là 2 cánh đài bên và cuối cùng là 2 cánh sau.
Sau khi đài hoa hình thành, tiếp đến là tràng hoa. Ở tràng hoa có 2 cánh thìa hình thành
trước sau đó đến 2 cánh bên cạnh và cuối cùng là cánh cờ, mầm cánh hoa phát triển
chậm và chẳng bao lâu nhụy vượ t lên. Đầu tiên, vòng ngoài gồm 5 nhị hoa xuất hiện,
nằm ngay phía trong mầm cánh hoa và xen kẽ với chúng. Trướ c khi nhị cuối cùng
của vòng 1 xuất hiện, nhị vòng 2 xuất hiện vào phía trong và xen kẽ với vòng 1
. Do sự sinh trưởng củ a những mô bên dưới, 2 vòng nhị liên kết vớ i nhau rất nhanh
thành 1 vòng bao gồm 9 nhị. Các nhị ra trước xen kẽ với nhị ra sau bao quanh nhụy
đang phát triển. Chiếc nh ị tự do là cái xuất hiện sau cùng, nằm giữa cánh hoa cờ và
đường nối của phần bụng của nhụy.
Mầm nhụy xuất hiện cùng lúc với sự hình thành vòng 2 của nhị và lúc đầu có
dạng hình ch ữ U. Đường nối chỗ mở của chữ U (hoặc phần bụng) quay về phía sau
của hoa. Tất cả các bộ phận của hoa phát tri ển nhanh từ cánh hoa cho tới khi bao
phấn phát triển hoàn chỉnh. Bó nhị, nhị tự do và vòi nhụy phát triển với tố c độ như
nhau. Vì vậy, khi bao phấn trưởng thành thì bao phấn đã bao quanh nhụy. Lúc này
cánh hoa phát triển rất nhanh, vượt ra khỏi đài hoa, nhị và nhụy để lộ ra khi hoa nở.
Trước khi mép của nhụy nối với nhau, có từ 2 tới 4 mầm noãn đượ c sinh ra
một cách xen k ẽ và phát triển đồ ng thời cùng một lúc trên giá noãn. Noãn có hình
cong và với đầu lỗ hướng về nhụy. Khoảng 10 ngày trước khi hoa nở, tuyến mật
xuất hiện như một vành mô nằm giữa đáy của nhị và nhụy.
2.2.2. Nhị hoa, sự hình thành và phát triển của hạt phấn
Mầm của vòng nh ị hoa đầu tiên xuất hiện ngay sau khi hình thành mầm cánh
hoa và tiếp ngay sau đó là mầm của vòng nhị thứ hai. Các bước phát triển của 2 vòng
nhị nh ư nhau. Mỗi mầm nh ị có chứa một khối tế bào tươ ng đối đồng đều, được
bao quanh bởi lớ p vỏ phân sinh ngọn. Khi nh ị phát triển, trên đầu của nó hình thành
một bao phấn xẻ bốn thuỳ và một sợi ngắn. Mỗi thuỳ bao phấn bao gồm phần giữa là
nguyên bào phân tử (sinh bào tử đầu tiên) và bên ngoài là 4 đến 6 lớp tế bào được
sinh ra bởi sự phân chia của v ỏ phân sinh ngọn. Về sau, những lớp này sinh ra biểu
bì, vách trong bao phấn gọi là lớp nách và tầng nuôi. Về phía giữa bao phấn, nguyên
bào phân tử được bao quanh bởi các mô và trong đó có một bó nhị, ở một bao phấn
những nguyên bào tử sinh ra từ 25 tới 50 tế bào mẹ hạt phấn sắp xếp thành 2 tới 3
cột.
M ỗi tế bào mẹ hạt phấn sinh ra một lớp vỏ bao quanh nằm giữa v ỏ tế bào và
vỏ nguyên sinh chất. Tế bào tầng nuôi có một nhân hoặc mộ t và hai nhân. Khi tế
bào mẹ hạt ph ấn bắt đầu phân bào giảm nhiễm, tế bào tầng nuôi nới rộng ra và có
màu sẫm. Màng trong của nó bắt đầu rố i lo ạn và đến cu ối của giai đ oạn hình
thành hạt phấn, chỉ có màng ngoài của nó tồn tại. Sau đó chất nguyên sinh được bao
quanh bởi một màng nguyên sinh.
Tầng nuôi trưởng thành không bào nhiều hơn, với chất nhiễm sắc lan toả và
nhân của nó thường xẻ thuỳ. Màng nguyên sinh vẫn nguyên vẹn cho tới khi bao
phấn mở mặc dù hầu hết tế bào tầng nuôi đã bị thoái hoá. Những tế bào của 2 lớp
vách.phía trong cũng bị rối loạn và xẹp xu ống. Lớp tế bào ngay phía dưới biểu bì
bắt đầu kéo dài ra và trở thành vách trong bao phấn.
Trong quá trình phân bào giảm nhiễm củ a tế bào mẹ hạt ph ấn, nhân co lại,
mỗi tế bào mẹ h ạt phấn trải qua 2 lần phân chia và tạo thành 4 tế bào đơn bội (4 h
ạt phấn hoặc bào tử đực). Bào tử đực trải qua 2 lần phân bào nữa tạo thành thể giao
tử đực.
Trong quá trình phát triển hạt phấn, 2 lớp vách của bao phấn bị vỡ nát. Tường
vách trong bao phấn phát triển hình thành hình chữ U. Vách trong phát triển tốt ở vỏ
ngoài của bao phấn nhưng không phát triển ở đường ngăn giữa túi phấn của bao
phấn. Khi hạt phấn trưởng thành, bức ngăn sẽ tách bao phấn ra làm hai.
2.2.3. Sự phát triển của noãn
Noãn ở đậu tương có 2 lớp vỏ. Noãn và bao phôi, cả hai đều cong về phía sau.
Ban đầu nhiều nhất có 4 noãn xu ất hiện như khối mô nhỏ trên giá noãn. Những tế
bào của mâm noãn có kích thước như nhau và được che phủ bở i 1 lớp v ỏ phân sinh
kho ảng từ 1 đến 2 ngày sau khi noãn hình thành, mộ t số nguyên bào tử ở dưới vỏ
trở nên to hơn so v ới những tế bào bên cạnh và có chất nguyên sinh cho màu thẫm
hơn. Chẳng bao lâu, một trong những nguyên bào tử đó vượt hẳn kích thước của
những nguyên bào tử khác Và trở thành tế bào mẹ của bào tử cái. Những tế bào bên
cạnh dần dần bé lại và trở về kích thước bình thường nh ư những tế bào khác ở
trong noãn non. Sự phân chia tế bào ở vùng v ỏ dưới sinh ra 2 lớp phôi tâm
(nucellus) nằm giữa tế bào mẹ bào tử cái và biểu bì của noãn.
Tế bào mẹ bào tử cái trải qua phân bào giảm nhiễm tạo thành 4 bào tử cái,
trong đó mộ t bào tử ở đầu cu ống noãn (đối diện với đầu lỗ noãn) tiếp tục lớn,
còn lại 3 bào tử kia bị teo đ i. Bào tử đó lại trải qua 3 lần phân bào nguyên nhiễm
sẽ sinh ra một túi phôi thể giao tử cái với 8 nhân, 4 nhân ở đầu cuống noãn và 4
nhân ở đầu lỗ noãn. Tiếp sau đó là mỗi nhân ở 2 đầu di chuyển về tâm và 1 màng
tế bào được hình thành. Như vậy một túi phôi trưởng thành gồ m 7 tế bào, 3 tế bào
ở đầu cuống noãn gọi là tế bào đối cực Một trứng và hai ở đầu lỗ noãn, tất cả
những tế bào này nằm trong một tế bào lớn với 2 nhân giữa.
Trước khi thụ phấn, 2 nhân giữa hoà lẫn với nhau tạo thành 1
nhân với 2n
nhiễm sắc thể. Tinh bột bắt đầu tích luỹ ở nguyên sinh ở tế bào lớn. Sau khi thụ
phấn, tinh bột bắt đầu giảm và thường tiêu biến đi từ 1 tớ i 2 ngày. Khi noãn
trưởng thành, tế bào đối cực thoái hoá và biến mất, t ế bào lớn bị đầy ứ tinh bột, ở
mỗi trợ bào có dạng hình sợi. Khi tế bào mẹ bào tử cái xuất hiện, vỏ noãn được
hình thành từ biểu bì của noãn. Vỏ trong hình thành trước, ngay sau đó tới lớp vỏ
ngoài. Lớp vỏ ngoài tham gia vào sự hình thành lỗ noãn. Lỗ noãn tiếp xúc rất gần
với giá noãn và có dạng Y ngược.
Sự sinh trưởng nhanh của lớp vỏ ngoài noãn dẫn đến đỉnh của phôi tâm tiếp
xúc trực tiếp vớ i tâm biểu bì của vỏ ngoài noãn. Lớp vỏ trong của noãn không tham
gia vào sự hình thành lỗ noãn.
Trong quá trình phát triển noãn và túi phôi, phôi tâm phát triển về bề dầy, tiếp
xúc với túi phôi, tế bào của phôi tâm trở nên dẹt và không phân biệt. Ở đầu lỗ noãn
tới sự thoái hoá của vỏ noãn trông rất rõ và càng rõ khi tế bào mẹ bào tử kéo dài.
2.2.4. Sự thụ phấn và thụ tinh kép
Đến th ời điểm th ụ phấn xảy ra, hai bó chỉ nhị đượ c kéo dài ra và tạo thành
một vòng quanh nhụy. Hạt phấn rơi thẳng xuống nhụy, dẫn đến tỷ lệ tự thụ phấn
rất cao. Người ta thấy rằng sự thụ phấn có thể xẩy ra một ngày và thường từ 5 - 10
giờ trước khi hoa nở (thụ phấn trong nụ).
Trên nhụy vòi nhụy có nhiều rãnh tiết dịch. Chất dịch này cung cấp dinh
dưỡng cho ống phấn sinh trưở ng. Ở phần đáy nh ụy (giữa nhụy và vòi nhụy),
phần giữa của vòi nhụy tiết dịch ngày càng nhiều ở giữa các tế bào. Những tế bào
này là tế bào vận chuyển, chúng tiết ra d ịch tương tự như dịch ở nhụy dọc theo
trục của nó, như vậy chúng sẽ tạo thành ống dẫn và ống phấn sinh trưởng ở đó.
H ạt phấn thường nảy mầm ở trên bề mặt nhụy, nhưng đôi khi chúng cũng
nảy mầm ở vòng gai thịt bên dưới nhưng ống phấn v ẫn đi vào nhụy trướ c khi
xuống vòi nhụy. Mặc d ầu có nhiều hạt phấn rơi xuống mặt nhụy, h ầu hết phấn
đó n ảy mầm đi vào nhụy và phần trên vòi nhụy, nhưng có khoảng 90% s ố ống
phấn teo và chết đi trướ c khi vào tới bầu. Chỉ có một vài ố ng phấn sống sót đi vào
bầu và cạnh tranh thụ tinh với noãn. ống đi qua các mô vận chuyển củ a vòi nhụy.
Mô vận chuyển tiết ra một ch ất dịch gọi là dịch nút lỗ noãn, qua đó ống phấn đi
vào noãn. Dịch đó có tính keo nó kiểm tra hướng đi của ống phấn.
Trong quá trình ống phấn đ i vào noãn, nhân sinh sản phân chia và sinh ra hai
giao tử đự c Cuối cùng, ống phấn đi vào lỗ noãn, tại đ ây đầu ống phấn vỡ ra và
giải phóng hai giao tử đực. Trong đ ó 1 giao tử kết hợp với trứng tạo thành hợp tử,
tế bào đầu tiên của phôi. Giao tử thứ hai kết hợ p vớ i nhân lưỡng bội (2n) sinh ra
nộ i nhũ. Thời gian từ lúc ph ấn rơi tới lúc th ụ tinh mất 8 tới 10 giờ. Như vậy,
ngày hoa nở là ngày thụ tinh hoặc ngày hôm sau. Sau khi thụ tinh, ở xung quanh lỗ
noãn có một vùng mà màng tế bào phát triển nhiều về phía trong tạo nên nếp nhăn
bao quanh và tăng sự vận chuyển dinh dưỡng vào cho phôi và nội nhũ.
2.2.5. Sự phát triển của phôi
Khoảng 32 giờ sau khi thụ phấn không bào củ a hợp tử hoàn toàn biến đi và sự
phân chia tế bào bắt đầu. Tế bào ở đầu sẽ trở thành phôi, tế bào ở đầu lỗ noãn sẽ trở
thành cuống noãn. Cuống noãn giúp giữ phôi ở trong túi phôi và sau đó thoái hoá hoặc
phát triển thành chóp rễ. Sau 3 ngày thụ tinh, tiền phôi sinh ra từ tế bào ở đầu
(phôi non) hình thành cấu và sau 5 ngày thì vỏ phân sinh ngọn xuất hiện trong phôi
non. Sau 6 đến 7 ngày, lá mầm xuất hiện ngay dưới vỏ phân sinh ngọn. Lá mầm ở
phía đầu xuất hiện trước, sau đó tớ i lá thứ hai, lá này sinh trưởng mạnh, chẳng bao
lâu nó đạt tới kích thước của lá thứ nhất. Trong quá trình phát triển, phôi cùng vớ i
lá mầm quay đi một góc 90o và lá mầm sẽ quay tới vị trí như quan sát thấy ở trong
hạt phát triển đầy đủ.
Ở giai đoạn này, lá mầm có hình tròn nhưng do sự phát tri ển nhanh đặc biệt
về hướng đầu của noãn đã tạo ra lá mầm hình quả thận, khoảng 10 đến 12 ngày
sau khi thụ tinh, trụ mầm dưới xuất hiện.
Trụ mầm trên xuất hiện cùng một lúc vớ i sự xuất hiện củ a hai lá mầm vào
kho ảng 14 ngày sau khi thụ tinh, trụ mầm hình thành mầm của 2 lá đơn vuông góc
với điểm tiếp xúc của 2 lá mầm. Khoảng 30 ngày sau khi thụ tinh, nó đạt tới kích
thước lớn nhất xếp chồng lên nhau cùng chiều. Khoảng 30 ngày sau khi thụ tinh,
mầm lá có 3 lá chét được phân hoá và không phát triển cho tới khi hạt nảy mầm.
2.2.6. Sự phát triển của nội nhũ
Nhân của nội nhũ phân chia ngay sau khi thụ tinh xảy ra cho tới khi hợp tử bắt
đầu phân chia. Nội nhũ đã có một vài nhân tự do. Trong chất nguyên sinh, những
nhân này cách đều nhau, khoảng 5 ngày,sau khi thụ tinh những tế bào nội nhũ bắt
đầu bao quanh phôi và khoảng 8 ngày sau, một phôi hình trái tim nằm sâu trong tế
bào nội nhũ. Màng tế bào nội nhũ ngày càng phát triển tới bầu của túi phôi và vào
khoảng 14 ngày sau khi thụ tinh, chúng phát triển tới đầu của noãn.
Trong quá trình phát triển noãn, phôi và nội nhũ sinh trưởng ở cùng một tố c
độ cho nên vào khoảng 14 ngày sau khi thụ tinh, tỷ lệ mô phôi và nội nhũ như nhau.
Sau khi quay xong, lá mầm bắt đầu tích luỹ chất d ự trữ, chất đó được cung cấp từ
nội nhũ. Khoảng 18 đến 20 ngày sau khi thụ tinh, chỉ còn lại những hạt nội nhũ ở
hạt trưởng thành, dấu vết của nội nhũ chỉ là một lớp mỏng và một ít tế bào nội nhũ
đã tan rã.
2.2.7. Sự phát triển của vỏ hạt
thời điểm thụ tinh xảy ra, vỏ trong noãn bao gồm từ 2 đến 3 tế bào. Sau khi
thụ tinh tế bào bắt đầu phân chia, đặc biệt tế bào nằm ở đầu dẫn đến tăng bề mặt
dày của vỏ trong noãn tới khoảng 10 tế bào. Khoảng 10 đến 14 ngày sau khi thụ
tinh, vỏ noãn trong trở nên thẫm màu và phân hoá thành vách trong hoặc tầng nuôi
vỏ với nhiệm vụ cung cấp chất dinh dưỡng.
thời điểm thụ phấn, lớp vỏ noãn ngoài bao gồm 2 đến 4 lớp tế bào vỏ dày, ở
vùng lỗ noãn và rốn vỏ có phần dày hơn. Sau khi thụ tinh, do tế bào phân chia, lớp
vỏ noãn trong trở nên dày hơn vào khoảng 12 đến 15 lớp tế bào. Biểu bì của vỏ
ngoài noãn bao gồm những tế bào có cùng đường kính. Trong quá trình hạt trưởng
thành, những tế bào này kéo dài về phía trong, đặc biệt vùng rốn hạt tế bào biểu bì
của cuống noãn ở vùng rốn cũng kéo dài như vậy. Cho nên ở rốn hạt có hai lớp
biểu bì vỏ dày.
Chiều dài rốn ngắn, tế bào biểu bì ở dải giữa rốn có vỏ mỏng và tách ra trong
điều kiện khô hạn. Ngay bên dưới chỗ rốn võng, một số tế bào vỏ ngoài noãn phân
hoá thành những tế bào có lỗ khí giống như tế bào ố ng (quản bào). Những tế bào này
tạo thành một cái ống gọi là thanh quản bào của hạt trưởng thành. Những tế bào ống
này nằm dưới với trụ c dọc của nó vuông góc với rốn hạt và giúp cho sự trao đổi
khí giữa rốn hạt và thanh quản bào.
2.2.8. Sự trưởng thành của hạt
hạt đậu tương cũng như hạt của nhiều loại họ đậu khác, không có nội nhũ
mà chỉ có 1 lớp vỏ bao quanh phôi lớn. Tuỳ theo giống, hình dạng của hạt có thể
biến đổi từ hình cầu, dẹt, dài và hầu hết có hình ô van. Ở hạt trưởng thành ở một
đầu của rốn là lỗ noãn, lỗ này được bao phủ một lớp màng. Đỉnh của trục trụ
mầm dưới nằm ngay dưới lỗ noãn.
đầu kia của rốn là rãnh nhỏ, nó đi tới chỗ mà vỏ noãn gắn với noãn. Ở một
số giống sự tách ra của cuống noãn từ hạt tạo thành rốn nhẵn với rãnh nhỏ ở giữa.
Ở một vài giống khác, cuống noãn dính với rốn. Khi cuống noãn rụng ra, rốn có bề
mặt ráp và có vết sẹo trắng ở giữa.
Vỏ hạt đậu tương có 3 lớp rõ ràng: biểu bì, hạ bì và lớp nhu mô bên trong. Biểu
bì bao gồm những tế bào mô d ậu vỏ dày. Nhữ ng tế bào này có chiều dài 30-70 µm
nằm vuông góc với bề mặt hạt, lớ p màng ngoài có nhiều lỗ. Bên ngoài lớp mô dậu là
lớp màng cutin. Cũng như những cây họ đậu khác, ở lớp vỏ ngoài của tế bào lớn có
một vùng cứng có tính khúc xạ ánh sáng mạnh hơn các ph ần màng khác. Đặc điểm
này thường thấy ở loài hoang dại, còn ở đậu tương trồng thì không rõ lắm.
Hạ bì bao gồm một lớp tế bào cứng, dài và có khoảng trống lớn ở giữa chúng.
Nhữ ng tế bào này có chiều dài 30-l00µm. Vỏ của tế bào có độ dày không
đều, ở đầu màng mỏng ở giữa màng dày hơn.
Nhu mô bên trong bao gồm từ 6 đến 8 lớp tế bào dẹt, trống rỗng màng mỏng.
Lớp nhu mô này đồng đều ở khắp cỏ h ạt trừ rốn hạt, nơi mà có 3 lớp rõ ràng: lớp
ngoài gồm tế bào dạng sao với khoảng trống giữa chúng; lớp giữa gồm tế bào dẹt,
nhỏ và chứa nhiều bó dẫn nhỏ, bó dẫn đó phân nhánh ra xung quanh rốn hạt, lớp
trong bao gồm những tế bào đặc trưng cho nhu mô.
Do vỏ của lớp tế bào nhu mô dậu có lớp cuốn che phủ, sự trao đổi khí không
thể xảy ra, con đường duy nhất cho sự trao đổi khí giữa phôi và môi trường là qua
rốn h ạt. Vì vậy cấu trúc của rốn ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất và lượ ng
nước trong phôi. Những mảnh của nộ i nhũ b ị ép chặt vào vỏ h ạt. Lớp ngoài của
nội nhũ gọi là lớp aleurone gồm những tế bào hình lập phương, nhỏ, chứa đầy
đạm. Bên trong lớp này là một vài lớ p tế bào nội nhũ bị chèn ép bởi sự sinh trưởng
của phôi. Ở một số giống không có lớp aleurone.
Gần đây, qua nghiên cứu bề mặt hạt đậu tương Wolf và cộ ng sự (1981), Hill
và West (1982) cho rằng, ở nhiều giống đậu tương trên vỏ h ạt có nhiều lỗ (có tới
277 lỗ/mm2) trong khi đó một vài hạt vỏ cứng có lỗ, một vài hạt khác không có
(trong Ngô Thế Dân và cs, 1999). Hình dạng lỗ có thể là tròn với đường kính 15 =>
25µm, hoặc dài với kích thước 4 x 40µm. Những lỗ này đ i sâu vào tới 20-35% độ
dài của lớp mô dậu. Bên dưới lỗ có khoảng nhỏ hình ô van kéo dài tới lớp mô cứng
(hạ bì). Những lỗ này tạo đ iều kiện thuận lợi cho những sợi nấm đi vào và nó có
thể giúp cho hấp thụ nước trong quá trình nảy mầm.
Phôi trưởng thành bao gồm 2 lá mầm, một chồi mầm, 2 lá đơn bao quanh mầm
lá có ba lá chét và một trụ mầm dưới rễ. Đầu rễ được bảo v ệ bởi vỏ hạt. Mầm chồi
dài khoảng 2mm và có hai lá đơn n ằm đố i diện nhau, mỗi lá đơn có một cặp lá kèm
theo ở phần gốc. Hệ th ống ống dẫn của lá đơn bao gồm g ỗ sơ cấp và thứ cấp non
và một số mô libe trưởng thành. Trước khi hạt trưởng thành, tế bào ở thể này phân
chia và tạo thành mầm của lá có 3 lá chét. Trụ c mầm d ưới (rễ) dài khoảng 5 mm,
tiếp xúc vớ i vỏ h ạt và ở mặt trong bị ép chặt vào lá mầm. Khi phôi ngủ nghỉ, sự
chuyển tiếp từ rễ tới trụ d ưới mầm không có sự thay đổ i v ề giải phẫu học rõ ràng.
Ở trong trụ mầm dưới, hệ thống mô bao gồm: biểu bì, vỏ và trung trụ.
Hạt đậu tương có màu sắc khác nhau: vàng, xanh, nâu, đen, có thể một màu, 2
màu hoặc nhiều màu. Sắc tố vỏ hạt ch ủ yếu nằm ở mô dậu, nó bao gồm: sắc tố
nằm ở không bào, diệp lục nằm ở lạp thể và hợp chất của nhữ ng y ếu tố này. Cả
mô dậu và nhu mô trung trụ thường có sắc tố ở vùng rốn, như vậy rốn có màu sắc
đậm hơn. Lá mầm của phôi trưởng thành thường có màu xanh, vàng hoặc vàng
trắng, nhưng ở hầu hết các giống nó có màu vàng.
2.2.9. Sự phát triển của quả
Từ thời điểm thụ tinh, bầu noãn bắt đầu phát triển thành quả, nhụy và vòi
nhụy khô. Đ ài tồn tại trong quá trình phát triển hạt, mảnh cánh hoa có thể tồn tại
khi quả trưở ng thành. Quả đậu tương cũng như quả của nhiều cây họ đậu khác,
nó gồ m 2 nửa một lá noãn nố i với nhau ở phần bụng và lưng. Trên cả hai đường
nối biểu bì của quả cong vào phía trong tạo nên một lớp nhu mô thẳng đứng, lớp
nhu mô này tách mô dẫn thành 2 vùng và giúp quả tách ra.
Vỏ củ a lớp quả non gồm nhiều lông, hệ thống ống dẫn nằm trong mô và một
lớp nhu mô mỏng nằm bên trong, sau đó trở thành lớp vỏ trong.
Ở quả già, tế bào biểu bì phát triển mạnh, v ới vỏ dày và bên ngoài còn được
bảo vệ bởi một lớp cuốn. Trên bề mặt củ a biểu bì có nhiều khí khổng thông với
ph ần nhu mô của quả. Những lông dạng chùy tiêu biến, những lông có ria cứng tồn
tại tới lúc quả già.
Bên ngoài biểu bì là một lớp hạ bì, nó gồm những tế bào ngắn, vỏ dầy và
nhiều lỗ. Nhu mô bên dưới hạ bì, gồm nhiều tế bào to, màng mỏng có đường kính
như nhau. Trong nhu mô, mạng ống d ẫn nối v ới những bó d ẫn ở đường nối phần
bụng, sau lưng quả Bên d ưới nhu mô là một lớp dày những tế bào dài, vỏ dày, tế
bào của lớp này nằm vuông góc với tế bào của hạ bì. Lớp vỏ trong quả gồm tế bào
nhu mô dẹt.
Khi quả mở, chỉ có lớp mô cứng bên trong tham gia vào việc này. Nghiên cứu
tiết diện cắt dọ c lớp mô cứng này, người ta thấy lớp này gồm 2 lớp tế bào. Lớp
ngoài gần phía trung tâm nhu mô gồm tế bào ngắn, đầu tù, màng có nhiều lỗ và nằm
ngang. Lớp phía trong gồm những tế bào dài hơn, bé hơn, đầu nhọn và nằm dọc.
Trước khi quả mở ra, ở trên hai đường nối xuất hiện vết nứt, sau đó 2 nử a quả
bong ra và xoăn lại theo đường trục của nó - tức là song song hướng của những sợi
tế bào nằm trong lớp nhu mô cứng. S ự mở ra của quả liên quan trực tiếp tới sự
chênh lệch sức căng của tế bào ở lớp mô cứng do h ậu quả của việc mất nước.
Trong quá trình phơ i khô lớp tế bào trong cùng củ a mô cứng có nhiều hơn lớp tế bào
ở bên ngoài nó. Như vậy, quả bị cong lại do sự biến đổi chênh lệch về chiều dài tế
bào lớp
mô cứng. Bởi vì những sợi tế bào của mô cứng có vị trí nghiêng với trục quả cho
nên hai nửa vỏ quả xoăn lại. Các lớp nhu mô, hạ bì, biểu bì không tham gia vào sự
mở của quả.
Độ dài lớn nh ất của quả đạt được sau khi hoa nở từ 20-25 ngày. Ở giai
đoạn này, hạt ch ỉ đạt 4% trọng lượng khô của nó, khoảng 30 ngày sau khi hoa nở,
bề rộng, bề dày của quả đạt giá trị lớn nhất và hạt cũng tới mức lớn nhất. Trọng
lượng tươi và kích thước hạt lớn nhất đạt vào khoảng 5-15 ngày sau. Lúc hạt
trưởng thành, nó mất nước và chuyển từ dạng thon dài tới ô van hoặc hình cầu.
Chương III

YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY ĐẬU TƯƠNG
Những yếu tố sinh thái có thể chia thành các nhóm ảnh hưởng như các yếu tố
khí hậu, dinh dưỡng khoáng trong đất và các sinh vật sống cạnh tranh khác. Những
yếu tố khí hậu bao gồm ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí và nồng độ CO2.
Những yếu tố sống cạnh tranh bao gồm cỏ và những cây trồng khác, sâu bệnh và
tuyến trùng. Tất cả những yếu tố sinh thái này có thể làm giảm năng suất thông qua
việc làm rối loạn sinh lý trong cây. Trong chương này chỉ đề cập đến ảnh hưởng
do nhiệt độ, nướ c, ánh sáng, nồng độ CO2, một số nguyên tố dinh dưỡng đa
lượng, vi lượng và độc hại do kim loại.

1. ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ Khí HẬU

1.1 Nhiệt độ
Trong quá trình sinh trưởng của cây đậu tương, nếu nhiệt độ biến động trên
hoặc dưới mức thích hợp quá nhiều, có thể gây thiệt hại đối với cây trồng. Khả
năng thiệt hại do nhiệt độ tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây.
Đậu tương được trồng rải ở nhiều nước trên thế giớ i có thể trồng tới 47o vĩ
bắc (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Đậu tương có nguyên sản ở Trung Quốc nên nói
chung đậu tương là một loại cây ưa nhiệt độ ấm. Nhiều tài liệ u nghiên cứu cho
rằng muốn trồng cây đậu tương phải có nhiệt độ đầy đủ trong các thời kì sinh
trưởng hay tổng tích ôn không nhỏ quá 2400oC (Nguy ễn Danh Đông, 1982). Đậu
tương có thể trồng được trong những vùng nào nhiệt độ trong suất th ời gian sinh
trưởng lừ 1700 đến 2900oC và nhiệt độ ban đêm không thấp dưới 15oC (Lawn,
1982). Cây đậu tương ưa nhiệt độ cao nhưng tuỳ theo thời kỳ sinh trưởng khác
nhau mà yêu cấu nhiệt độ khác nhau.
1.1.1 Nảy mần của hạt
Đậu tương thường nảy mần ở biên độ nhiệt độ từ 10 đến 400C. Hạt của
những giống chịu lạnh có thể nảy mần ở 6 - 8oC. Đậu tương có th ể nảy mặn ở điều
kiện nhiệt độ từ 2 - 4oC (Lawn và William, 1987). Sự nảy mầ m có sự tương tác giữa
nhiệt độ, giống và độ sâu lấp hạt, cây mọc nhanh nhất ở nhiệt độ 25 - 30oC, nhiệt
độ thấp, hạt nảy mầm chậm và cây con mọc chậm (Lawn và William, 1987).
Thông tin về cơ sở sinh lý của nảy mần ở nhiệt độ thấp rất ít. Nó có thể do
enzim tham gia vào quá trình hô hấp, thuỷ phân các chất dự trữ y ếu và tốc độ vận
chuyển các chất ở nhiệt độ thấp rất chậm. Ở nhiệt độ thấp màng tế bào dễ b ị tổn
thương, đó cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự nảy mần và sinh trưởng
kém của đậu tương ở đất lạnh
2. Sinh trưởng sinh dưỡng
nhiệt độ - 4oC cây con không chết, nhưng đối với một số giống, cây con có thể
chết ở -60C trong thời gian ngắn (Lawn và William, 1987). Nhiều kết quả nghiên cứu
với các cây trồng vùng nhiệt đới, kể cả đậu tương cho thấy cây trồng có thể bị tổn
thương khi gặp nhiệt độ l0-15oC. Mức độ tổn thương tuỳ thuộc vào thời gian và sự
nghiêm trọng của nhiệt độ thấp. Thân cây bị lạnh có ảnh hưởng nhiều hơn so với
khi rễ bị lạnh. Khi vùng rễ nhiệt độ giữ ở 250c, Xử lý lạnh cây đậu tương hai tuần
tuổi ở 10oC trong một tu ần đ ã dẫn đến việc giảm thế nước trong lá, tốc độ kéo
dài của lá, tỷ lệ ra lá và mức hấp thụ CO2 (Bảng 3.l). Tất cả những biểu hiện này
trở lại bình thường sau khi tăng nhiệt độ. Rễ bị lạnh có ảnh h ưởng tới sinh trưở
ng ít hơn khi thân bị lạnh và khi cả thân, rễ bị lạnh thì tổn thương vẫn không nhiều
hơn khi mỗi thân bị lạnh.




Quan niệm nhiệt độ ban đêm thấp hơn ban ngày thuận lợi với sự sinh trưởng vẫn còn
nhiều tranh luận. Sinh trưở ng của cây đậu tương ở nhiệt độ trung bình hàng ngày
23oC ít b ị thay đổi nếu như nhiệt độ trung bình giữ a ngày/đêm khoảng 26/20oC hoặc
29/17oC, hoặc 23/23oC (Lawn và Hume, 1985). Rõ ràng nhiệt độ không thay đổ i ban
ngày và ban đêm gần với nhiệt độ cho sinh trưởng của cây, thì ngày nóng và đêm
lạnh không tăng thêm sinh trưởng của cây. Tuy nhiên, nếu quang hợp trong thời gian
ban ngày bị hạn chế do nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn mứ c thích hợp, thì nhiệt độ
lạnh hơn vào ban đêm có thể phần nào bù vào tỷ lệ CO2 h ấp thụ giảm thông qua
việc giảm hô hấp. Mối quan hệ này phức tạp hơn trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực.
Sự sinh trưởng của cây đậu tương gồm nhiều quá trình khác nhau yêu cầu
nhiệt độ thích hợp khác nhau. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng toàn cây có thể
rất khác nhau so với nhiệt độ của từng quá trình từng bộ phận. Chẳng hạn, quang
hợp của mỗi lá đậu tương tăng vớ i sự tăng với nhiệt độ từ 35 đến 40oC và sau đó
lại bắt đầu giảm. Trong khi đó hô hấp thường tăng với nhiệt độ cao hơn mức thích
hợp cho quang hợp. Những sự tích luỹ chất khô trong cây bắt đầu giảm khi nhiệt
độ không khí trên 30oC (Lawn và Hume, 1985).
Nhiệt độ thấp giảm sự vận chuyển sản phẩm quang hợp vào hạt qua việc
giảm các chất vào vỏ hạt và giảm sinh trưởng của phôi. Nhiều k ết qu ả thí nghiệm
cho thấy: nhiệt độ rễ 250C thì sự sinh trưở ng của cây và nốt sần đạt mức tối đa, ở
nhiệt độ thấp nốt sần hình thành chậm và hoạt động yếu.
Nhiệt độ rễ thấp làm giảm sự hút nước của nó và gây ra thiếu n ước, giảm
tốc độ ra lá. ở nhiệt độ 20oC và 14,50C dòng nước tương ứng đi qua rễ chỉ đạt 60%
và 30% so với nhiệt độ 250C (Lawn và William, 1987). Như vậy, sự hấp thụ của
các ion mà nó phụ thuộc vào dòng nước đến mặt rễ sẽ giảm.
1.1.3. Sinh trưởng sinh thực
Nhìn chung người ta chú ý đến ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự ra hoa, làm quả,
phát triển hạt hơn so với ảnh hưởng của quang chu kỳ. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu
cho thấy tầm quan trọng củ a sự tương tác giữ a hai yếu tố tớ i ra hoa và làm quả.
Thomas và Raper (1977) thí nghiệm trên giống Ransom, trồng ở nhiệt độ ngày/đêm
26/220C và 22/180C cho hoa và quả nhiều hơn ở nhiệt độ 30/260C và 18/140C. Ở nhiệt
độ 18/140C và 30/260C quả hình thành ít mặc dù hoa ra rất nhiều, chứng tỏ nhiệt độ
cao và thấp đã dẫn đến rụng hoa nhiều (trong Ngô Th ế Dân và cs, 1999). Ở nhiệt độ
trung bình, cây có nhiều đốt hoa và số quả trên đốt. Tương tự, giống cảm quang ra
hoa chậm cũng sinh nhiều đốt, cành, tăng số quả và năng suất.
Đối với nhiều giống đậu tương, ở nhiệt độ thấp hơn 150C không hình thành
quả mặc dù có một số giống có thể cho qu ả ở nhiệt độ 10oC. Dựa vào k ết qu ả
nghiên cứu 10 năm, Lawn và Hume (1985) công bố nhiệt độ thích hợp cho ra hoa,
đậu quả của đậu tương là 170C.
Nhiệt độ tối ưu cho đậu chín là 250C ban ngày và 150C ban đêm. Nhiệt độ quá
cao trong thời gian quả chín làm giảm chất lượng nảy mần của hạt, và điều này giải
thích cho sự biến động về tính nảy mần và sự sống của cây con từ năm này qua năm
khác. S ương mù xuất hiện trong thời gian quả chín gây tổn thương hạt. Nguy cơ tổn
thương do sương mù giảm khi hàm lượng nướ c trong h ạt giảm. Ở quả xanh hàm
lượng nướ c trong hạt chiếm khoảng 65% và hạt sẽ bị tổn thương nếu gặp nhiệt độ
- 20C, trong khi đó vỏ quả vẫn chuyển sang màu quả chín. Khi hàm lượng nước trong
hạt khoảng 35% thì hạt không bị tổn thương mặc dù nhiệt độ có thể xuống tới -
120C.

1.2. Nước
Trong cả vụ, nhu cầu nước đối với cây đậu tương dao động từ khoảng 350
tới 800mm (Mayer và cs, 1992). Như ng nhu cầu nước phụ thuộ c vào độ dài thời
gian sinh trưởng, tốc độ phát triển của cây trước khi phủ kín đất và lượng nước
sẵn có trong đất. Trong suốt thờ i gian sinh trưởng, nhu cầu nước của cây không
đồng đều qua các giai đo ạn. Ở giai đoạn nảy mần và cây con, tỷ lệ sử dụng nước
th ấp do tán cây còn nhỏ và phần lớn số nướ c mất đi do bay hơ i trên mặt đất. Nhu
cầu nước của cây đậu tương tăng dần khi cây ở giai đo ạn từ 3-5 lá kép, tăng
nhanh và cao nhất ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực từ khi cây ra hoa đến khi qu ả
vào chắc. Giai đoạn quả bắt đầu chín, nhu cầu nước lại giảm đ i cùng với sự tàn
của lá và lượng nước bay hơi giảm. Ảnh hưở ng của nước có thể do thừa nước gây
tổn thương bộ rễ do thiếu không khí hoặc có thể do thiếu nước dẫn đến cây bị héo.
Nước ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây bao gồm về cả sinh lý, sinh hoá, hình
thái và giải phẫu của cây dẫn đến làm giảm năng suất.
1 2.1. Nảy mần của hạt
Quá trình nảy mần củ a hạt yêu cầu hút nước và hô hấp. Trong trường hợp
thừa nước, lượng CO2 trong đất ít nó ảnh h ưởng đến hô hấp của hạt. Đất lạnh
kết h ợp với dư thừa nước ảnh hưởng xấu đến nảy mần và mọ c của hạt, màng tế
bào cũng b ị tổn thương. Tỷ lệ nảy mần của hạt ở đất khô bị giảm nhiều hơn so
với đất ướt. Để đảm bảo nảy mần, hàm lượng nước trong hạt phải đạt 50%.
1.2.2. Sinh trưởng sinh dưỡng
Sinh trưởng của cây ph ụ thuộc vào cường độ quang hợp, hiệu su ất quang hợp,
tổng diện tích lá và thế năng quang hợp (thời gian lá xanh). Tất cả các quá trình này
bị ảnh hưởng nếu thiếu nước. Tổng sản phẩm quang hợ p của cây bị thiếu nước sẽ
giảm so v ới tỷ lệ CO2 hấp thụ trên một đơn vị diện tích lá giảm và diện tích quang
hợp giảm do sự phát triển của lá kém và chóng tàn (Lawn, 1982). Đồng thời sức d ẫn
qua khí không, cường độ quang hợp và bốc hơ i cũng giảm. Khi thế nướ c trong lá
xuống thấp hơn -0,5MPa, nó ảnh hưởng tới sự hình thành diệp lục. Khi thế nước
trong lá ở kho ảng -l,0MPa gây ra rối loạn cấu trúc h ạt diệp lục (Mayer và cs, 1991a).
Nó làm giảm sự vận chuyển điện tử trong quang Photphoryl hoá vòng và không vòng,
hoạt tính của enzim ribulose (RUBP) và những enzim khác tham gia vào quá trình
đồng hoá cacbon. Cường độ quang h ợp giảm nhanh khi thế nước trong lá tiếp tục
giảm tới - 1 ,8 MPa và sau đó giảm đều nếu thế nước tiếp tục giảm.
Hô h ấp cũng giảm với sự giảm của thế nước lá nhưng ở mức độ khác.
Cường độ hô hấp giảm khi thế nước giảm từ -0,6 tới - 1 ,6 MPa sau đó không đổi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khi thiếu nướ c quang hợp bị giảm nhiều hơn so với
hô hấp và nhiệt độ cao ảnh hưởng đến hô hấp mạnh hơn so với thiếu nước.
Sự vận chuyển các chất vẫn tiếp tục khi thế nước giảm tới mức hạn chế
quang hợp. Nhiều nghiên cứu cho rằng tố c độ vận chuyển các chất không bị giảm
nhiều cho tới lúc thế nước giảm tới -2,0; -3,0 MPa (Lawn, 1982).
Sinh trưở ng của tế bào và lá nhạy cảm với thiếu nước hơn so với
quang hợp. Thự c ra tốc độ phát triển lá giảm thường là dấu hiệu đầu tiên
phát hiện ra với trường hợp thiếu nướ c. Như vậy khi thế nước ở -2, - 0,8
MPa, nó chưa ảnh hưởng tới quang hợp nhưng có ảnh hưởng tới sinh
trưởng của cây, đặc biệt nếu nó xảy ra ở giai đoạn
đầu.
Sự phát triển của tế bào có tương quan với sức căng cần thiết cho sự lớn của tế
bào. Tuy nhiên, trên ng ưỡng của nó, sự lớn củ a tế bào không còn tươ ng quan với sự
căng nữa và mối tương quan của nó với trạng thái nước trong cây là quá trình phức
tạp. Sự lớ n của tế bào phụ thuộc vào những y ếu tố sinh hoá ảnh hưởng tớ i sự co
dãn của thành tế bào và những yếu tố lý học kiểm tra sự phân tán của nước đi vào tế
bào. Thân cây sinh trưởng ban đêm mạnh hơn ban ngày, nhưng rễ sinh trưở ng ban
ngày mạnh hơn, bởi vì rễ ít tiếp xúc với những bất lợi xảy ra ban ngày. Ban ngày, rễ
giữ sức căng cao hơn lá. Như vậy, ban ngày sự phát triển của lá do thiếu nước giảm,
những sản phẩm quang hợp được chuyển về rễ. Ban đêm, khí khổng đó đóng d ẫn
đến sức căng tăng, tế bào phát triển mạnh hơn và trở thành cơ quan chứa nhiều
carbonhydrate hơn rễ và như vậy rễ sinh trưởng kém hơn.
Ở điều kiện thiếu nước, quá trình cố định đạm giảm một phần do lượng sản
phẩm quang h ợp chuyển về rễ giảm, một ph ấn do ảnh hưởng trực tiếp của thế
nướ c ở trong nốt sần. Huang và cộng sự (1975) cho thấy ho ạt động cố định đạm
giảm khi thế nước giảm và ngừng hoạt động khi trọng lượng nốt sần giảm dưới
80% so với khi đủ nước (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
1 2.3. Sinh trưởng sinh thực
Giai đoạn sinh trưởng sinh thự c, cây rất nhạy cảm với thiếu nước. Ph ần lớn
biến động về năng suất là do biến động về lượng nước cho cây trong thời kỳ ra hoa
đậu quả. Sự thiếu nước dẫn đến rụng hoa, quả và giảm kích th ước hạt. Trong thời
gian xảy ra thiếu nước, quang hợp giảm. Nếu thiếu nước xảy ra trước giai đoạn hạt
phát triển, sau đó đủ nướ c thì quang hợp có thể hồi phục, sinh trưởng có thể trở lại
bình thường và hạt có thể phát triển tới kích thước bình thường.
1 3. Ánh sáng
Ánh sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng chủ yếu qua quang hợp và
quang tạo hình.
1 3.1. Bức xạ hoạt tính quang hợp
Toàn bộ năng lượng đi vào cây trồng phụ thuộc một phần vào cường
độ quang hợp tối đa trên đơn vị diện tích lá và một phần vào sự hấp thụ bức
xạ hoạt tính quang hợp (PAR - photosynthetically active radiation) củ a toàn
b ộ diện tích lá. Cường độ quang h ợp tối đa phụ thuộc vào tuổi và hàm
lượng N ở lá, trạng thái nước, nhiệt độ và nồng độ CO2. S ự hấp thụ bức
xạ ho ạt tính quang hợp (PAR) bị ảnh hưởng bởi mật độ bức xạ trên tán cây
và sự phân bổ của nó trong tán cây. Ở điều kiện ngoài đồng ruộng, hầu h ết
bức xạ được tiếp nhận bởi những lá nằm ở bề ngoài của tán cây. Hướng
đứng của lá tăng sự hấp thụ bức xạ của ch ỉ số diện tích lá > 3, sự tích luỹ
chất khô của đậu tương trồng ngoài đồng ruộng đạt tối đa khi chỉ số diện
tích lá (LAI) tiến gần 4,0. Chỉ số diện tích lá > 4 thường xảy ra vào cuối giai
đoạn sinh trưở ng sinh dưỡng. Trong giai đo ạn sinh trưởng, sinh dưỡng,
quang hợp có thể bị hạn chế do th ời gian chiếu sáng giảm và bất lợi về
nhiệt độ và nước. Hiệu suất quang hợp giảm khi lá già. Khi tán cây đã khép
kín, cường độ quang hợp của mỗi lá, hoặc của toàn tán cây đậu tương ngoài
đồng ruộng không phản ứng v ới bức xạ ban ngày tăng trên khoảng 50 -
60% bức xạ tối đa của những buổi trưa hè. Giới hạn này có thể do sự thiếu
nước và nó biểu hiện hiện tượng bão hoà ánh sáng. Một số kết quả nghiên
cứu cho rằng mật độ dòng photon không phải là yếu tố hạn chế quang hợp
của cây đậu ở đ iều kiện ngoài đồng ruộng. Tuy nhiên trong đ iều kiện môi
trường nhân tạo, cường độ trao đổi CO2 củ a những lá tầng trên bị giảm từ
0,74 xuố ng 0,52 CO2/m2/s khi mật độ dòng photon giảm từ 700 xu ống 325
µmol/m2/s và nó dẫn đến tổng lượng chất khô giảm 60% (Ngô Thế Dân và
cs, 1999). Rõ ràng thờ i gian chiếu sáng ngắn ở giai đo ạn đầu sinh trưởng
sinh dưỡng có thể làm giảm sinh trưởng của cây thông qua giảm cường độ
quang hợp, giảm tích luỹ chất khô trên diện tích lá, tốc độ phát triển lá
giảm.
B ức x ạ mặt trời mạnh cũng có thể là điều bất lợi, nó làm tăng nhiệt độ lá và
do đó dẫn đến tăng cường độ thoát hơi nước ở tốc độ lớn hơn tốc độ của dòng
nước hút qua rễ. Bức xạ mạnh vào những tháng đầu mùa hè thường làm giảm
quang hợp và năng suất do tăng nhiệt độ lá và thoát hơi nước.
1.3.2. Bức xạ quang hợp tạo hình
S ự phát triển cây trồ ng do b ức xạ quang tạo hình điều khiển, đặc biệt do tia
sáng ở b ước sóng 660nm - 730nm, có ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng và năng suất
của cây đậu tương. Trong suốt thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, tỷ lệ tia sáng bước
sóng 660nm/730nm thấp sẽ kích thích phát triển lá, thân và cuống lá của nhiều loại
cây, kể cả đậu tương. Trong lúc phản ứng quang tạo hình có thể tăng bức xạ
quang hợp khi tán cây khép kín, thì phản ứng quang chu kỳ trong suốt giai đoạn sinh
trưởng sinh thực có ảnh hưởng tới năng suất mạnh hơn.
Đậu tương là cây ngày ngắn, có ít giống không nhạy cảm với quang chu kỳ.
Biến động của quang chu kỳ có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng sinh thực cả trước và
sau khi hoa nở (Trần Đình Long và cs, 2001a).
Trong tất cả những giai đoạn sinh trưởng sinh thực, sự hình thành mầm hoa
được cho là ít nhạy cảm với quang chu kỳ nhất. Những mầm hoa đầu tiên hình thành
cả ở thời gian chiếu sáng 16 giờ và 10 giờ . Tuy nhiên, sự phát triển củ a hoa sau này
rất chậm ở điều kiện ngày dài và thời gian tới lúc ra hoa có th ể dài gấp đôi. Đầu
tiên, mầm hoa luôn xu ất hiện ở mô phân sinh ở một nách lá trên thân và sau đó tiến
về phía ngọn, gốc và ra cành. Nếu số ngày ngắn không đủ, hoa chỉ ra ở một vài đốt
trên thân chính, trong khi đó những đốt còn lại và phần ngọn tiếp tục sinh trưởng sinh
dưỡng. Ngược lại, ở điều kiện ngày ngắn (l0 - 12h) liên tụ c, hoa ra rất nhanh và chỉ
trong 7 - 10 ngày, ngọ n của giống có tập tính sinh trưởng h ữu h ạn cũng ra hoa . Ở
điều kiện ngày dài (14 - 16h) những mầm hoa đầu tiên xuất hiện ngay khi thời gian
chiếu sáng 10 - 12h, nhưng sau đó nó phát triển rất chậm và cây vẫn giữ khả năng
sản sinh ra đốt. Biến đổ i của độ dài ngày nên coi là yếu tố bất lợi. Mặc dù sự phân
hoá mầm hoa có thể xảy ra ở hầu hết các mô phân sinh chưa phân hoá ở nách lá. Khi
độ dài ngày sau khi trồng cứ tăng dần đến điểm hạ chí dẫn đến quá trình hình thành
mầm hoa bị chậm lại và đẩy mạnh sinh trưởng sinh dưỡ ng đồng th ời vớ i sinh
trưởng sinh thực. Tuy nhiên sau hạ chí, thời gian chiếu sáng giảm dần thúc đẩy sự
hình thành mầm hoa và ngừng sinh trưởng sinh dưỡng. Sự xuất hiện ngày ngắn liên
tục trong giai đoạn sinh thực này thúc đẩy sinh trưởng hạt và quá trình chín. Đố i với
một số giống có tập tính sinh trưởng vô hạn, tốc độ sinh trưởng hạt ở những quả
tầng dưới chậm h ơn so với những quả ở tầng trên do hiệu quả ngắn dần của quang
chu kỳ. Độ dài ngày trong thời gian sinh trưởng sinh dưỡng chuyển sang giai đoạn
sinh thực có ảnh hưởng rất ít tới sự phân bổ chất khô ở thân, lá và rễ. Tuy nhiên mộ t
cách gián tiếp sự sản sinh ra mô sinh dưỡng ở đ iều kiện ngày dài có thể dẫn đến sự
khác nhau về sự tích luỹ, phân bổ chất khô ở cây đậu tương khi mà nó chuyển từ th
ời gian chiếu sáng dài sang ngắn. Quang chu kỳ có ảnh hưởng tới sự tích luỹ N lớn
hơn tích luỹ cacbon trong hạt. Nồng độ đạm trong hạt giảm khi quang chu kỳ tăng.
Tỷ lệ tích luỹ đạm giảm trong hạt do quang chu kỳ dài có liên quan chặt với sự tích
luỹ N trong lá và làm cho lá xanh lâu, không bị rụng khi quả chín. Ngược lại, hàm
lượng cacbonhydrate không cấu trúc ở lá trong giai đoạn sinh thực lại cao ở điều kiện
quang chu kỳ ngắn. ảnh hưởng này của quang chu kỳ được điều khiển bởi hoạt tính
của enzim tổng hợp sucrose-phosphate, chính enzim đó làm thay đổi sự phân bố giữa
tinh bột (không vận chuyển) và sucrose (dễ vận chuyển).
Ở điều kiện ngoài đồng ru ộng, sự giảm của quang chu kỳ trong giai đ oạn
sinh thực có thể dẫn đến giảm hoạt động cố định đạm, nhưng ở điều kiện nhà
kính thì không nhất thiết như vậy ở điều kiện ngày ngắn, tỷ lệ tích luỹ đạm giảm
khi bị thiếu nước ở đầu giai đoạn phát triển h ạt. Tuy nhiên, khi tốc độ cố định
đạm thấp trong suốt giai đoạn sinh thực d ướ i điều kiện ngày ngắn, thì ở điều
kiện ngày dài tốc độ cố định đạm được khôi phục lại sau khi có tưới.

1. 4. Các bonic (CO2)
Người ta cho rằng nồng độ CO2 cao, năng suất cây trồng có thể tăng tới 30%
do cường độ quang hợp tăng. Ở đ iều kiện ngoài đồng ruộng, nồng độ CO2 cao có
thể tăng sinh trưởng và năng suất cây trồng do nó thúc đẩy các quá trình sinh lý mà
thường bị kiềm chế do điều kiện ngoại cảnh bất lợi.
1. 4.1. Quang hợp và sinh trưởng
Ở những thí nghiệm ngắn hạn, khi đưa cây vào môi trường giàu CO2 ngườ i ta
thấy tốc độ trao đổi CO2/ diện tích lá tăng. Tuy nhiên, khi thí nghiệm kéo dài một vài
tuần hoặc một vài tháng, người ta thấy tốc độ trao đổi CO2/diện tích lá thường giảm
sau một vài ngày hoặc tuần. Phản ứ ng của cây khi ở điều kiện giàu CO2 là diện
tích lá tăng. Bởi diện tích lá tăng thường tồn tại trong một thời gian dài, cho nên dù
tố c độ trao đổi CO2 thuần và đồng hoá có giảm thì tích luỹ chất khô của cây vẫn
tăng. Đối với đậu tương cường độ quang hợp có thể giữ trong thời gian dài ở điều
kiện giàu CO2. Ph ản ứng đối với môi trường giàu CO2 thường lớn nhất ở giai đo
ạn cây còn non và giảm đần khi cây già. Mặc dù ở môi trường giàu CO2 tố c độ trao
đổ i CO2 thuần đều cao ở cả hai giai đo ạn sinh thực và sinh dưỡng, nhưng ở giai
đoạn sinh dưỡng cao hơn ở giai đoạn sinh thực.
1. 4.2. Sự tương tác giữa nồng độ CO2 với các yếu tố khác
Có nhiều nghiên cứu v ề ảnh hưởng của nồng độ CO2 đối với cây trồng ở
điều kiện thuận lợi, nhưng ở điều kiện ngoài đồng ruộng, ảnh hưởng của nó phứ
c tạp hơn nhiều do tương tác v ới các y ếu tố khác như nước, dinh dưỡng, ánh sáng,
cỏ dại. Nhìn chung n ồng độ CO2 cao đã tăng kh ả n ăng chịu hạn của cây. Tính
chịu hạn tăng ở nồng độ CO2 cao, một phần do giảm sự dẫn của khí khổng, sự dẫn
của khí khổng dẫn đến sự bốc h ơi n ước giảm. Nhưng cường độ quang cao ở
nồng độ CO2 cao, mặc dầu sức dẫn của khí kh ổng giảm. Điều này dẫn đến tăng
hiệu quả sử dụng nướ c. Tính chịu hạn ở n ồng độ CO2 cao một phần là do bộ rễ
sinh trưởng mạnh, nhất là ở mật độ thấp. Ở môi trường giàu CO2 nhu cầu về N và
những nguyên tố khác cho sinh trưởng của cây cao hơn mức bình thường.

2. ĐẤT VÀ DINH DƯỠNG KHOÁNG

2.1. Đất
Cây đậu tương không yêu cầu nghiêm khắc về đất trồng, nói chung loại đất
nào trồng được các cây hoa màu nhất là ngô đều trồng được cây đậu tương. Loại
đất thích hợp nhất đối với cây đậu tương là loại đất có tầng canh tác sâu, giàu ch
ất hữu cơ Ca, K và pH trung tính, mực nước ngầm sâu, giữ ẩm tốt, dễ thoát nước,
trong đó khả năng giữ nướ c và thoát nước có ảnh hưởng nhiều nhất đến khả năng
sinh trưởng phát triển và năng suất cây đậu tương.
Đậu tương chịu mặn và chịu chua kém hơn nhiều cây trồng khác độ pH có thể
phát triển bình thường được là từ 5,0-8,0, độ pH thích hợp nhất là 6,0-7,0. Dưới 4,0
và trên 9,5 đậu tương không sống đượ c. Ở nước ta đậu tương có thể trồng trên
nhiều loại đất như đất phù xa sông su ối, đất đỏ ba gian, đất xám, đất pht zôn, đất
vàng đỏ (Tây Nguyên và miền núi đông Nam Bộ) đất lúa (thịt nhẹ và trung bình)
đất nương đồi bãi.

2.2. Dinh dưỡng khoáng cần thiết đối với đậu tương
Có 16 nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng của cây đậu tương. Trong những số
đó, 3 nguyên tố C, H và O là thành phần ch ủ yếu trong chất khô và được hấp thụ
dưới dạng CO2, H2O và O2 tự do trong không khí. Những nguyên tố cần thiết khác là
N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Mn Mo, Cu, B, Zn và Cl. Bên cạnh đó Co là nguyên tố có ích
cho cố định N và cũng được coi là nguyên tố cần thiết (Ngô Thế Dân và cs,
1999).Các nghiên cứu về sự hấp thụ NPK ở các giống đậu tương với tập tính sinh
trưởng vô hạn cho th ấy kiểu hấp thụ N, P và K ở trong cây giống nhau và sự tích luỹ
tối đa của nó xảy ra ở giai đoạn chín sinh lý (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Với các
giống đậu tương sinh trưởng hữu hạn, cho thấy tỷ lệ h ấp thụ các chất khoáng N, P,
K, Ca và Mg tăng d ần qua các giai đo ạn hình thành hạt. Tỷ lệ h ấp thụ tối đa tương
ứng của chúng là 7,7, 0,41, 0,46; 2,4 và 0,77 kg/ha (Ngô Thế Dân và cs, 1999).

2.3. Phản ứng của đậu tương đối với phân bón
2.3.1. Phản ứng với đạm
Đậu tương là cây có nhu cầu phân đạm thấp, bởi đậu tương có khả năng cố
định lượng đạm rất lớn từ khí quyển. Tuy nhiên đậu tương vẫn cần sử dụng đạm
từ đất và phân bón.
Nhiều nghiên cứu cho thấy bón đạm trước khi gieo có ảnh hưởng xấu tớ i quá
trình cố định N2. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy số nốt sần trên cây đậu tỷ
lệ nghịch v ới tỷ lệ phân đạm ở lúc gieo, nếu phân đạm bón 56kg/ha, số nốt sần
trên cây bị giảm, nhưng nếu bón 112 kg/ha ở giai đoạn cây ra hoa số nốt sần không
bị ảnh hưởng (Nathanson và cs, 1984).
C ũng không nên cho rằng với bất kỳ lượng đạm nào ở trong vùng rễ cây cũng
sẽ ảnh hưởng xấu tớ i hình thành nốt sần. Mà thực ra, thí nghiệm trong phòng trồng
trong chậu cát hoặc trong chậu dung dịch đã chứng tỏ rằng ở giai đoạn đầu sinh
trưởng của đậu tương vẫn cần một lượng đạm nhỏ ở trong đất hoặc do phân bón,
ngay cả khi có lây nhiễm vi khuẩn hợp lý.
Cây đậu tương phản ứng ít đối với phân đạm, tuy nhiên phân đạm vẫn làm
tăng năng suất, khối lượng hạt, tỷ lệ đạm trong hạt và hàm lượng protein. Việc
tăng năng suất và tỷ lệ đạm trong hạt khi bón thêm đạm chứng tỏ cố định N2
không đủ để cung cấp cho cây.
Phản ứng của đậu tương đối với phân đạm có liên quan với lượng NO3 dư thừa
trong vùng rễ. Khi NO3 cư thừa trong vùng rễ thấp, phân đạm đã tăng năng suất đậu.
Đa số những nghiên cứu về ảnh hưởng của phân đạm đối với sản xuất đậu tương
được tiến hành ở độ sâu đất 15-30cm. đây cũng là vùng rễ có nhiều nốt sần nhất.
Harper và Cooper (1971) công bố phân N ở nồng độ 150mg/kg dưới 30cm không có
tác dụng kìm hãm sự hình thành nốt sần (trong Ngô Thế Dân và cs, 1999).
2.3.2. Phản ứng với phốt pho
Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của yếu tố này tới sinh trưởng của
đậu tương khá rõ ràng. Phốt pho đóng vai trò quan trọng đối với phát triển nố t sần
ở đậu tương (Trần Văn Điền, 2001). Các thí nghiệm trong chậu cho thấy nốt sần
hình thành tối đ a ở mức P bón 400-500mg/kg, vớ i hoạt tính tố i đa của nó, nó yêu
cầu P còn cao hơn. Tuy nhiên, bón nhiều P cũng gây ra nhiều vấn đề. Sự hấp thụ P
và phản ứ ng đối với phân P cũng b ị ảnh hưởng bởi độ ẩm đất. Ở điều kiện
thiếu n ướ c, sự hút P của cây giảm. Sau khi tưới cho cây đã bị khô dài hạn, nó sẽ
hút P ở tỷ lệ cao hơn so với cây được tưới ở mức nước thích hợp.
2.3.3. Phản ứng với khu kali
Đậu tương sau khi thu hoạch lấy đ i mộ t kh ối lượng lớn kali từ đất.
Vì vậy, các nghiên cứu cho rằng đậu tươ ng có phản ứng với phân khu.
Terman (1977) thấy rằng lượng chất khô và sự hấp th ụ dinh dưỡng tối đa ở
giai đoạn đầu hình thành qu ả (trong Ngô Thế Dân và cs, 1999). Nồng độ K
trong lá, đỉnh sinh trưởng và hạt tăng cùng tỷ
lệ K bón.
Cũng nh ư P, K rất cần cho sự phát triển của nố t sần. De Mooy và Pesek
( 1966) từ k ết quả thí nghiệm trong chậu, họ tuyên bố rằng sự hình thành nốt sần
tối đa khi bón K ở lượng 600-800mg/kg (trong Ngô Thế Dân và cs, 1999).
Đỗ Ánh (1965) cho thấy đối với đậu tương tỷ lệ Ca: P: K tối thích là 2: l: 1,5.
Đậu tương có thể hấp thụ P của các photphat khó tan AlPO4 FePO4
2.3.4. Phản ứng với lưu huỳnh
Nhìn chung, đậu tương có nhu cầu cao v ới S, vì vậy bón thêm S sẽ tăng năng
suất đậu Thí nghiệm trong chậu cho thấy dinh dưỡng S của đậu tương có thể bị
ảnh hưởng của nồng độ các chất dinh dưỡng khác.
Dinh dưỡng S có liên quan chặt ch ẽ với dinh dưỡng N ở cây đậu. Các kết
quả thí nghiệm cho th ấy sinh trưởng và năng suất của cây đậu biến đổi nhiều với
phân S. Chẳng hạn S bón trên đất cát vùng biển đã tăng năng suất của một vài loại
cây trồng. Tuy nhiên, không thấy hiệu quả của phân S đối vớ i đậu tương trên cùng
loại đất đó. Dựa trên tất cả các kết quả nghiên cứu cho tới nay, phản ứng của đậu
tương với S rất hạn chế.
2.3.5. Phản ứng với vôi
Trên nền đất chua, vôi là yếu tố quan trọng giúp cho việc sản xuất đậu tương
được thành công. Bón vôi nhằm:
Giảm nồng độ của các chất độc chẳng hạn như: H, Al,
Mn - Cung cấp dinh dưỡng cho cây: Ca, Mg, Mo.
Cải tiến và tăng cường sự hình thành nốt sần và cố định đạm. Ở đất chua bón
muôn sunphat và KCL mà không bón vôi nốt sần kém phát triển (Đỗ Ánh, 1965).
Bón vôi trên đất chua tăng lượng Ca hấp thụ trong dung d ịch đất. Tuy nhiên
lượng Ca tăng ít có ảnh hưở ng tới sinh trưởng của cây đậu tương nhất là ở đất
trồng đậu ít khi bị thiếu Ca. Thự c ra trong nhiều trường hợp đất chua, bón thêm
lượng Ca hoà tan vào hoặc muối Ca hoặc Mg sẽ tăng Al trong dung dịch đất và vì
vậy nó có thể kìm hãm sự sinh trưởng của cây. Lund (1970) công bố rằng nồng độ
của Ca trong dung dịch 0,05 mg/l là phù hợp cho rễ sinh trưởng ở đất có pH = 5,6
(trong Ngô Thế Dân và cs, 1999).
2.3.6. Phản ứng ứng với các nguyên tố vi lượng
Tầm quan trọng của các nguyên tố vi lượng thường có liên quan đến đặc tính
đất (Lê Văn Tri, 2002). pH có ảnh hưởng tới nhu cầu của mộ t số nguyên tố vi
lượng. Trên đất giàu Ca có hiện tượng thiếu Fe. Bón phân trên lá có thể bổ sung sự
thiếu hụt này. Mn cũng rất cần cho cây đậu tương. Bón theo hàng MnSO4 cho hiệu
quả cao hơn bón vãi. Bón trên lá cho hiệu quả cao nhất n ếu bón ở giai đoạn bắt đầu
ra hoa, hoặc hình thành quả. Hoặc bón ở cả hai giai đoạn này. Bón Monoamonium
photphat hoặc Diamonium photphat sẽ hạn chế thiếu Mn. Giảm pH đất dùng do hai
loại phân này là yếu tố cơ bản dẫn tới tăng lượng Mn sẵn có trong đất.
Khi pH đất ở phạm vi 5,8 - 6,7; xử lý hạt với Mo đã tăng năng suất đậu.
Martins và cộng sự (1974) cho thấy đậu tương tương đối chịu được lượng B, Cu và
Zn bón liều cao. Thí nghiệm trong 5 năm liền bón 3 , 3 kg. B/ha và 11,1 Zn/ha đã
không có
ảnh hưởng xấu tới năng suất đậu (Ngô Thế Dân và cs, 1999).

2.4. Độc hại của kim loại
2.4.1. Độc hại của nhôm (Al)
Độc hại của nhôm làm cây đậu tươ ng nhạy cảm h ơn đối với khô h ạn và
giảm khả năng tích luỹ P, Ca, Mg, K, Fe và N trong cây đậu tương. Quá trình đầu
tiên bị ảnh hưởng bởi Al là sự kéo dài tế bào ở rễ, sự phân chia tế bào ở chóp rễ,
có thể do hình thành những hợp chất phức tạp vớ i axit nucleic trong quá trình phân
bào giảm nhiễm. Vấn đề đó dẫn đến sự sản sinh ra những rễ phụ không có lông
hút để hút nước và dinh dưỡng. Ở nồng độ Al cao, số nốt sần cũng bị giảm.
Độc hại của Al thường xảy ra ở chân đất chua với tỷ lệ nhôm trao đổi cao.
Bón vôi có thể giảm Al trao đổi ở tầng đất cày, nhưng ở bên dưới cũng còn nhiều
khó khăn. Như vậy hiệu quả của việc khai thác nước và dinh dưỡng ở tầng đất
dưới bị hạn chế do độc hại của nhôm.
Để giảm độc h ại của Al, một chiến lược quan trọng là thay đổi thành phán
hoá học đất tứ c là giảm lượng nhôm trao đổi ở tầng đất d ướ i, hoặc chọn giống
có tính chịu đựng cao, trong hai phươ ng pháp đó, chọn giống là phương pháp dễ
tiến hành hơn. Sự chịu đựng của cây đối với độc hại Al mang tính di truyền.
2.4.2. Độc hại do Mangan (Mn)
Dấu hiệu đầu tiên của độc h ại Mn là biến dạng lá. Nhìn chung, dấu hiệu của
nó bao gồm lá quăn, vàng và những mô bị chết ở trên lá. Sinh trưởng và năng suất
của cây bị giảm do độc hại Mn lá do quang hợp bị gián đoạn, thông qua những rối
loạn sinh hoá hoặc do giảm diện tích lá qua phân chia và sinh trưởng tế bào giảm.
Sự độc hại do Mn thường xảy ra trên đất axit, nhưng nó còn phụ thuộc vào
nhiệt độ ở nhiệt độ thấp cây dễ b ị ảnh hưởng độc hại của Mn hơn ở nhiệt độ
cao. Chẳng hạn mức Mn ở trong dung d ịch gây ra độc ở nhiệt độ 200C Sẽ không
gây ra độc cho cây đậu tương ở nhiệt độ từ 28 - 31oC. Tuy nhiên nồng độ của Mn
trong lá ở điều kiện nhiệt độ cao lại không khác v ới nồng độ ở nhiệt độ lạnh.
Như vậy ảnh hưởng của nhiệt độ đối v ới sự nhạy cảm Mn gây độc không trực
tiếp liên quan đến sự hấp thụ và tích luỹ Mn trong cây.
Với lượng Mn bón cao, nồng độ Mn trong lá thường tăng với tuổi của lá, và
trong cùng ngày lấy mẫu, lá non thường có tỷ lệ cao hơn lá già. Đ iều này chứng tỏ
giai đoạn phân chia và sinh trưởng tế bào có nhạy cảm với độc hại Mn nhất. Sự
độc hại có liên quan tới giống và nhiệt độ trong thời kỳ sinh trưởng.

3. TÍNH CHỊU ĐỰNG ĐIỀU KIỆN BẤT LỢI

3.1. Tính chịu lạnh
Nhiệt độ dưới 150C có ảnh hưởng xấu đến n ảy mần của hạt và sự hút nước.
Nhiệt độ dưới 13 - 150C, giảm ra hoa, đậu quả và ảnh hưởng tới quang hợp và bộ
máy quang hợp (Mayer và cs, 1991a). Nhưng cơ ch ế của ảnh hưởng này như thế
nào? Tổn thương do lạnh thường do hại màng tế bào, do màng tế bào không có khả
năng giữ cấu trúc của nó ở nhiệt độ thấp. Các mô, ch ẳng hạn như hạt phấn đang
lớn dễ nhạy cảm với nhiệt độ thấp hơn các mô khác và dẫn đến sự bất dục ở cây
đậu
tương.

3.2. Tính chịu hạn
Tính chịu hạn của cây có thể phân loại ra như sau:
Tránh hạn: là cơ chế một số thời kỳ sinh trưởng phát triển nhạy cảm của cây
đậu tương tránh và thoát các ảnh hưởng trực tiếp của khô hạn.
Chịu hạn hoặc do giảm sự mất nước, hoặc cây chịu được sự mất nước.
Tránh hạn đối với những vùng có khô hạn dài ngày thì rất khó thực hiện. Ta
chỉ có thể chọn thờ i vụ mà khô hạn xẩy ra ít nhất để hạn chế ảnh hưởng củ a nó
tới sinh trưởng và năng suất cây. Hướng chọn giống có tính giảm sự mất nước cho
thấy có nhiều triển vọng. Nên chọn những cây có bộ rễ sâu phân nhánh nhiều, do
đó có thể hút nước từ tầng đất sâu và rộng.
Sự mất n ước qua khí không phụ thuộc chủ yếu vào độ mở của khí không và
sau đó vào hướng lá và các yếu tố khác. Khi hạn xảy ra, lỗ khí không lá đóng ngay
lại, dẫn đến giảm sự bốc hơi nước và quang hợp, nhưng sự giảm bốc hơi nước
mạnh hơn. Giữa các giống có sự khác nhau về lớp phấn và lông trên lá. Lớp phấn
trên lá có tác dụng giảm sự bốc hơi.
3.3. Tính chịu đựng và khả năng phục hồi
Cho dù đặc tính giảm sự mất nước của cây tố t đến đâu chăng nữa, cây vẫn
bị tổn thương hoặc chết do khô hạn kéo dài. Có rất ít thông tin về khả năng phục
hồi của cây đậu tương sau khi bị mất nướ c nặng. Cây bị lạnh trong thời gian ra
hoa, thì hầu hết những hoa ra trong thời kỳ đó bị rụng và sau đó vài tuần cây có thể
ra hoa và đậu quả nếu thời tiết ấ m. Thiếu nước trong giai đoạn ra hoa sẽ làm
giảm thời gian ra hoa. Thiếu nước trong giai đo ạn làm qu ả sẽ ảnh hưởng tới năng
suất nhiều hơn so với thiếu nướ c trong giai đoạn ra hoa. Qua các nghiên cứu người
ta có thể dự đoán được giai đoạn nào cây bị ảnh hưởng nhiều do bất lợi (khô hạn,
lạnh...). Tuy nhiên, bởi vì người ta khó có thể dự đoán khi nào bất lợi xảy ra, cho
nên người nông dân khó có thể ứng dụng được những k ết quả nghiên cứu đ ó n ếu
như điều kiện tưới không có. Tốt nh ất, nên chọn giống có thời gian ra hoa dài và
có khả năng phục hồi tốt sau khi bị hạn hoặc bị lạnh.

3.4. Kết quả nghiên cứu giống chống chịu điều kiện bất lợi
Một điều quan trọng cần đề cập đến trong chương trình chọn giống chống
chịu điều kiện bất lợi, là những giống có năng suất cao ở đ iều kiện khi bất lợi
hoặc không có bất lợi xảy ra. Đặc tính này gọi là tính ổn định kiểu hình của giống.
Quan đ iểm về khả năng của một giống cho năng suất tương đối cao ở cả đ
iều có và không có sự bất lợi có những đ iểm khác nhau. Nhiều nghiên cứu cho
rằng có sự tương quan không thể tránh được giữa khả năng quang hợp nhanh khi
độ ẩm đất thuận lợ i và khả năng không hút được nước khi đất bị khô và ngược
lại. Họ dựa trên cơ sở là dạng lá chịu hạn không thể có cường độ quang hợp cao ở
đ iều kiện thuận lợi, nhưng ở điều kiện bất lợi có cường độ quang hợp cao hơn
những cây bình thường. Tuy nhiên, một số cây lấy gỗ với dạng lá chịu hạn có
cường độ bốc hơi cao, nó cũng có cường độ quang hợp cao.
Tính ổn định kiểu hình về năng su ất v ẫn còn nhiều tranh luận. Lá dày
của những cây bị h ạn, sau khi không còn sự bất lợi có cường độ quang hợp
cao hơn nhưng lá mỏng củ a cây không bị hạn. Những cây đậu tương được
chọn lọc theo hướng sinh trưởng tốt và có cường độ quang hợp cao khi bị
hạn, khi trồng chúng trong điều kiện đất ướt thì có cường độ quang hợp th
ấp và tích luỹ chất khô ít h ơn so với cây không có tính chịu hạn. Kết quả
nghiên cứu nh ững giống có tính ch ịu dựng điều kiện bất lợi ở môi trường
không có b ất lợ i, có vai trò quan trọng trong ch ương trình chọn giống
chống chịu điều kiện bất lợi. Hiện nay thường có ba phương pháp chọn
giống chống chịu. Phương pháp thứ nhất là chọn một số giống có khả năng
cho năng suất cao ở cả điều kiện có và không có nhân tố b ất lợi. Phương
pháp này thường được sử dụng rộng rãi nhất. Phương pháp thứ hai là chọn
giống cho năng suất cao ở điều kiện bất lợi và không đề cập đến khả năng
tối đa của nó. Phương pháp thứ ba là giả thiết năng suất và tính chống chịu
điều kiện bất lợ i là hai đặc tính di truyền riêng rẽ, ta chọn giống năng suất
cao kết hợp với tính chống chịu điều kiên bất lợi.
3.5. Những nghiên cứu khắc phục yếu tố bất lợi
Mụ c đích cuối cùng của nghiên cứu là tìm ra con đường để tăng hiệu quả
của sản xuất cây trồng. Nhà chọn giống đ ã cung cấp cho người nông dân những
giống đậu tương với những đặc tính sinh lý, hình thái có tiềm n ăng năng suất cao.
Nhưng toàn bộ tiềm năng năng suất ít khi đạt được bởi các yếu tố bất lợi do môi
trường gây ra.
Như vậy đ iều cần thiết đầu tiên của người nông dân là các giống cho năng
suất cao ở đ iều kiện thuận lợi và chỉ giảm ít khi điều kiện bất lợ i xảy ra. Nghiên
cứu để cải tiến năng suất một mặt nên dựa vào tính chất và thờ i gian xuất hiện
yếu tố bất lợi, một mặt dựa trên sự hiểu biết những quá trình sinh lý, hình thái cây
giảm năng suất như thế nào. Những vấn đề này cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa
nhà nông học, thổ nhưỡng học, khí hậu học và sinh lý học để cung cấp thông tin
cần thiết cho nhà chọn giống.
3.5.1. Chịu đựng và tránh các yếu tố bất lợi
M ột khi yếu tố bất lợi đ ã được xác định là nguyên nhân chính hạn chế việc
duy trì tiề m n ăng sinh lý của một giống, thì nhà nông h ọc và chọn giống có thể
dùng một trong hai ph ương pháp sau để đảm bảo tránh hoặc hạn ch ế thiệt hại.
Con đường thứ nhất là chọn giống chịu được và thứ hai là tránh yếu tố bất lợi. Ở
những vùng có mùa khô, mùa mưa rõ ràng thì có thể xác định thời điểm gieo trồng
để tránh thiệt hại do hạn. Nhưng ở những vùng mà khô hạn xảy ra thường xuyên
nên chọn giống có tính chịu đựng cao.
Đôi khi y ếu tố bất lợi có thể loại đi được. Thiếu nước có thể loại bỏ bằng
tưới tiêu. C ỏ có thể trừ bằng biện pháp chăm sóc hoặc dùng thuốc trừ cỏ. Một số
sâu bệnh có th ể ngăn ngừa b ằng phun thuốc. Nhưng phải tính đến hiệu quả kinh
tế của việc dùng các biện pháp này để xử lý.
3.5.2. Biên động di truyền về phản ứng với yếu tố bất lợi
Ở đậu tương có những biến động di truyền cho nhiều đặc tính khác nhau,
chẳng hạn như độ sâu và mật độ rễ, tập tính sinh trưởng hữu hạn và vô hạn, thời
gian sinh trưởng, độ nhạy cảm với quang chu kỳ, tính chịu đựng nhiệt độ thấp, kh ả
năng đâm sâu vào tầng đất cứng, khả năng chịu độc Al, Mn, chịu sự mất nước và ra
hoa sau khi
bị hạn nặng. Người ta thấy rằng, mức độ biến động di truy ền của nh ững đặc tính
này đủ để những nhà chọn giống có thể chọn ra được những giống có tính chống
chịu cao, đối với hầu h ết các yếu tố bất lợi làm giảm năng suất. Vấn đề xác định
đặc tính nào của cây trồng là quan trọng nhất, có liên quan tới khả năng chống chịu
và năng suất, và tìm ra phương pháp để lựa chọn chúng.
Nếu những biến dị di truyền của một đặc tính nào đó có tồ n tại trong vật
liệu khởi đầu, việc tạo ra giống chống chịu không có gì khó khăn. Tuy nhiên, khi
một yếu tố bất lợi nh ư khô hạn hoặc chịu lạnh, nó liên quan đến nhiều đặc tính
quyết định khả năng chống ch ịu của cây như: rễ sâu, phân cành nhiều, chín sớm,
điều chỉnh khí khổng tốt, chịu mất nước, ho ặc sinh trưởng tốt sau khi bị hạn. Nhà
nông học và sinh lý học phải xác định cho nhà chọn giống yếu tố nào quan trọng
nhất đối với điều kiện khí hậu đất đai của từng vùng.
Từ cuối những năm 1960, công nghệ sinh học đã mở ra một hướng mới để
tăng tính chống chịu yếu tố bất lợi củ a cây trồng bằng cấy chuyển gen từ nguồn
này sang nguồn khác Mặc dù việc tách và chuyển gen có khó khăn đối với cây lấy
hạt, nhưng nó được coi là phương pháp có tiềm năng để tạo ra các giống chống
chịu yếu tố bất lợi. Tuy nhiên việc thực hiện phương pháp này còn phụ thuộc vào
điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và khả năng của các nhà nông học, sinh lý
học xác định cơ chế tính chống chịu tìm ra những kỹ thuật sàng lọc phù hợp.
3.5.3. Kỹ thuật chọn lọc giống
Một trong những vấn đề khó khăn của tạo giống có tính chống chịu cao dựa
trên nh ững đặc tính đặc biệt là tìm ra phương pháp chọn lọc một kh ối lượng vật
liệu lớn về đặc tính đó. Sàng lọc có thể chỉ yêu cầu đo đếm đơn thuần toàn bộ bộ
rễ ở điều kiện bất lợi tự nhiên và nhân tạo. Xác định các quá trình sinh lý chẳng
hạn như quang hợp, đo trạng thái nước củ a các cơ quan đặc biệt như lá, ngọn,
thân, nhận xét những biến đổi xảy ra ở trong tế bào. Đôi khi việc đo đếm chi tiết
các chỉ tiêu tốn nhiều thời gian và chỉ có thể tiến hành với quần thể nhỏ.
Có quan điểm cho rằng có cường độ quang hợp cao thì cho năng suất cao,
nhưng nhiều nghiên cứ u chứng minh vấn đề này không nhất thiết ph ải như vậy.
Tương quan giữa quang hợp và tích luỹ ch ất khô phụ thu ộc vào tổng diện tích lá,
thời gian diện tích lá có cường độ quang hợp cao cũng như hiệu suất quang hợp.
Năng suất sinh học ở đậu tương thường liên quan đến quang hợp, quang hợp lại
liên quan tới chỉ số diện tích lá (LAI), sự phát triển của lá và nhanh khép kín tán cây.
Tuy nhiên, tăng n ăng suất hạt không thể do tăng hiệu suất quang hợp nếu độ lớn,
kích thước của cơ quan tiêu thụ (sức chứa) không tăng. Như vậy, chọn giống có
hiệu suất quang hợp, chưa chắc đã dẫn đến năng suất cao.
Chương IV

KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT

1. GIỐNG ĐẬU TƯƠNG

1.1. Khả năng thích ứng
Trong những năm qua, giống mới đ ã góp phần quan trọng đẩy mạnh nâng cao
năng suất đậu tương. Để tạo được giống có khả năng thích ứng rộ ng, các nhà chọn
giống luôn chú ý đến các đặc tính như khả n ăng chống chịu sâu bệnh, chống đổ,
chống tách hạt và năng suất cao. Một xu hướ ng nữa là chọn giống thích nghi với một
điều kiện nhất định nào đó như chọn giống chịu lạnh cho vụ đông và đông xuân ở
miền Bắc và chọn giống chịu nóng cho vụ hè củ a miền Bắc và các vùng trồng đậu
tương ở miền Nam (Trần Đình Long và Andrew, 2001). Do vậy khi cần hiểu rõ đặc
tính của giống trước khi giới thiệu cho từng vùng và từng vụ cụ thể.

1.2. Thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưở ng của các giống đậu tương do đặc tính di truyền quyết
định. Tuy nhiên thời gian sinh trưởng của đậu tương bị ảnh hưởng bởi thời gian
chiếu sáng và nhiệt độ Chính vì vậy, nói đến thời gian sinh trưởng của một giống
phải gắn với một vùng và một vụ nhất định. Căn cứ vào thời gian sinh trưởng
người ta phân ra làm 6 nhóm:
Nhóm chín rất sớm: < 90 ngày
-Nhóm chín sớm: 90-100 ngày
Nhóm chín trung bình: 100-110 ngày
Nhóm chín muộn trung bình: 110-120 ngày
Nhóm chín muộn: 120-140 ngày
Nhóm rất muộn: >140 ngày

1.3. Giống đậu tương cho các vùng sinh thái
Hiện nay mỗi một vùng sinh thái có một bộ giống địa phương khác nhau. Các
giống địa phương đ ã tồn tại và được gieo trồng từ lâu đời, nên thường có ưu điểm
là tính chống chịu rất tốt và thường là có chất lượng cao. Các giống nhập nộ i hay
mới chọn tạo gần đ ây cũng thể hiện rất nhiều ưu điểm cả về năng suất và tính
thích ứng với từng vùng. Mỗi vùng có một bộ giống thích hợp:
- Các tỉnh miền núi phía Bắc: Các giống thích hợp là: Vàng Mường Khương,
Vàng Cao Bằng, Vàng Hoà An, Vàng Mộc Châu, Bạch Hoà Thảo, Cúc Lục Ngạn,
Vàng Hà Giang, Xanh Tiên Đài, Đen Bắc Hà, Vàng Phú Nhung, Xanh Tiên Yên, Cúc
Chí Linh, ĐT76 (ĐH4), DT84, Ml03, ĐT80,VX-93.
Vùng Đồng bằng Sông H ồng: Các giống thích hợp là: Ngọc Động, Thanh Oai,
Ninh Tập, Nâu Thường Tín, Lơ 75, Cúc Hà Bắc, AK02, AK03, AK05, Ml03,
VX92,VX93; ĐT93 và DT84 (Trương Đích, 1999; Lê Song Dự và cs, 1998; Trần
Đình Long, 1992; Trần Đình Long và Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1994)
Vùng Bắc Trung Bộ: Cúc Nam Đàn, Cúc Thọ Xuân và AK03.
Vùng Nam Trung Bộ: Đậu nành Ninh Sơn, Ba tháng Anh Hiệp, Đậu nành Xuân
Quang, Hồng Ngự, Nhơn Khánh, Diễn Phước, Ninh Hoa.
Vùng Cao Nguyên: Đậu sẻ Kon Tum, Hạt to Chư sê, Ba Tháng Azunpa, Hạt to
Azunpa, Ba tháng Chưgar, Sẻ yachim, Hạt to Liên Nghĩa và ĐT7.
Vùng Đông Nam Bộ: HL- 2, HL-92, G-87-5, Đậu nành Tân Uyên, Đậu nành
Đầu dây, G97- 1 1 , G97- 1 2 và G97- 1 3 .
Vùng Đồng bằng sông C ửu Long: ĐT76, MTĐ-22, MTĐ-65, MTĐ-120, MTĐ-
176, MTĐ-455, Nam Vang và ô Môn 3.
2. CHẾ ĐỘ CANH TÁC

2.1. Luân canh
Cây đậu tương trồng liên tiếp không có lợi vì:
Rễ cây đậu tương thường tiết ra một loại axít không có lợi cho rễ và vi sinh
vật phát triển.
Mất cân đối về dinh dưỡng trong đất, thường lân bị hút nhiều, nên dẫn tới
tình trạng không khôi phục kịp thời và đầy đủ cho cây sử dụng.
Tàn dư sâu bệnh được lan truyền từ vụ này sang vụ khác.
Cho nên đậu tương thường được trồng luân canh với cây trồng khác và có lợi
rất nhiều mặt.
Rễ có nốt sần cố định được đạm không những cung cấp cho cây đậu tương
mà còn để lại trong đất cho cây trồng sau.
Thân và lá có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, do vậy để lại trên ruộng làm
tăng chất mùn, làm thay đổi lý tính của đất.
Tránh được sâu bệnh lây lan từ vụ trước để lại
Các công thức luân canh phổ biến ở nước ta:
Vùng núi phía Bắc:
Đậu tương xuân - lúa mùa - cây vụ đông (hoặc cày giữ ẩm qua đông).
Ngô xuân - đậu tương hè (hoặc hè thu) - cây vụ đông (hoặc cày giữ ẩm) Nơi
tưới tiêu chủ động: Lúa xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông.
Trung du đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ:
Đậu tương xuân - lúa mùa sớm - cây vụ đông.
Ngô xuân (khoai lang ngắn ngày) - đậu tương hè thu - cây vụ đông
Lúa xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông
* Một số công thức tăng vụ:
Ngô đông xuân - đậu tương hè - lúa mùa - rau vụ đông
Lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa - cây vụ đông
Đồng bằng Sông Cửu Long.
+ Đậu tương vụ 1 - lúa mùa (đất lúa)
Đậu tương - ngô (đất cao)
Đông Nam Bộ, Tây Nguyên:
Ngô hè thu - đậu tương thu đông gối thuốc lá
Đậu tương hè thu - đậu tương thu đông gối thuốc lá
Ngô xen đậu tương hè thu - ngô xen đậu tương thu đông gối thuốc lá đông
xuân
2.2. Trồng xen và trồng gối
• Trồng xen:


Là đem 2 loại cây trồng không có cùng thời gian sinh trưởng nhưng có cùng
thời vụ gieo trồng đem gieo xen với nhau theo hàng, theo hốc hoặc theo băng. Nhân
dân ta thường có kinh nghiệm trồng xen đậu tương với nhiều cây trồng khác nhưng
chủ yếu đối với ngô. Trồng xen đậu tương với ngô là một loại công thức canh tác
hợp lý, biết sử dụng tốt đặc tính của các cậy.
Bộ rễ ngô là rễ chùm ăn rộng và sâu còn đậu tương ăn tương đối nông và
không lan rộng sử dụng hữu hiệu nguồn dinh dưỡng.
Tận dụng khả năng sử dụng ánh sáng, phối hợp một cây có thân cao bộ lá lớn
chịu cường độ ánh sáng mạnh với một cây có thân lá thấp, lá nhỏ, chịu cường độ
ánh sáng yếu.
Phối hợp được quan hệ dinh dưỡng giữa cây yêu cấu đạm nhiều như ngô với
cây yêu cầu lân nhiều như đậu tương.
Ngô chịu được hạn còn đậu tương chịu được ẩm.
Trồng xen giữa ngô và đậu tương tiết kiệm được đất đai, mang lại hiệu quả
kinh tế cao.
Kỹ thuật trồng xen đậu tương với ngô:


Thời vụ: Không nên xen với ngô đông xuân gieo tháng 11 - 12 mà xen với ngô
xuân gieo tháng 2-3.
Giống: Dùng các giống chín sớm và chín trung bình, tương đối thấp cây, tán gọn
để trồng trong hàng ngô: Có thể dùng giống Cúc, Ml03, ĐH4, DT84, DT99 vv...
- Cách xen: Xen một hàng đậu tương giữa 2 hàng ngô khoảng cách 2 hàng ngô:
70cm, đậu tương gieo thành hàng cây cách cây 5-6 ccm hoặc thành hốc 15-20cm/hốc
có 3-4 cây (hoặc 2 hàng ngô khoảng cách 80cm giữa gieo 2 hàng đậu tương cách
nhau 15-20cm).
Ngượ c lại ta có thể trồng xen ngô với đậu tương theo tỉ lệ từ 5000-
10000 cây ngô/ha đậu tương. Đậu tương vẫn được gieo với mật độ bình
thường nhưng gieo xen
cây ngô/2m2 hoặc 1 cây ngô/lm2 đậu tương.
Phân bón: Dựa vào tỷ lệ trồng xen cụ thể, phải tổng tính lượng phân cho cả
đậu tương và ngô trên cơ sở qui ra diện tích trồng thuần. Phân của cây nào sẽ được
bón cho cây đó
Chăm sóc: Kết hợp chăm sóc cả ngô và đậu tương.
Phòng trừ sâu bệnh: Cần phát hiện sớm để phòng trừ kịp thời nhất, nên dùng
các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh cả ngô và đậu tương. Ngoài ra đậu tương còn có
thể trồng xen với khoai lang đông với mía vụ xuân. Đặc biệt là trồng xen với sắn,
ngoài ra trồng các vườn cây ăn quả cây công nghiệp lâu năm như chè vv...
• Trồng gối


Là đem cây trồng sau gieo gối vào cuối thời kỳ sinh trưởng của cây trồng trước.
Trồng gối có ưu điểm hơn trồng xen là khi cây đậu tươ ng ra hoa cần cường
độ ánh sáng mạnh lúc này cây trồng trước đã thu hoạch tạo điều kiện cho cây đậu
tương quang hợp. Đậu tương có thể trồng gối với các đối tượng như trồng xen. Ví
dụ như ngô, khoai lang, các cây hoa màu khác. Nhược điểm của trồng xen gối là
khó làm, khó chăm sóc và cơ giới.

3. KỸ THUẬT LÀM ĐẤT
Năng suất cây trồng là k ết quả của việc tác động các biện pháp kỹ
thuật một cách đầy đủ đúng lúc và đúng cách. Những thay đổi gần đây
trong kỹ thuật làm đất có ảnh hưởng tới việc thâm canh đậu tương. Rễ đậu
tương phân bố sâu và rộng. Vì vậy đất trồ ng đậu tương cần được cầy sâu,
bừa kỹ, sạch cỏ dại, tạo điều kiện thuận lợi cho hạt n ảy mần. Đậu tương
là cây hai lá mầm nên mọc khỏi mặt đất khó khăn hơn cây một lá mầm. Đất
tơi xốp nốt sần ở cây đậu tương hình thành sớm, hoạt động cố định của vi
khuẩn nốt sần tiến hành tạo điều kiện cho cây sinh trưởng mạnh. Trước
năm 1960 biện pháp làm đất sạch thường được sử d ụng phổ biến trên thế
giới vì nó giúp cho việc phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh. Những tiến bộ kỹ thuật
trong lĩnh vực hoá học đã cung cấp nhiều loại thuốc hoá họ c cho nông
nghiệp, thuốc hoá học cùng với những máy móc gieo trồ ng mới được cải
tiến, đã cho phép sản xuất nông nghiệp chấp nhận hệ thống làm đất bảo
dưỡng, hệ thống này cho phép vùi các tàn dư cây trồng vào đất. Hệ thống
không làm đất, hạt được gieo trồng trên nền đất không bừa, mọi tàn d ư của
cây trồng vần còn ở trên mặt đất Hệ thống làm đất tối thiểu: mặt đất được
xáo trộn sơ bộ nhưng tàn dư của cây trồng vẫn ở trên mặt đất. Ở các hệ
thố ng canh tác khác nhau, n ăng suất đậu tương khác nhau. Nhìn chung trên
nền đất d ễ bị khô, hệ thống làm đất bảo dưỡng cho n ăng suất cao hơn do
độ ẩm của đất được bảo vệ tốt hơn. Tuy nhiên, trên nền đất khó thoát
nước, làm đất bảo dưỡng cho năng suất kém hơn vì đất nhiều khi quá ẩm
ảnh hưởng tớ i sinh trưởng của cây. Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy,
biện pháp làm đất hợp lý tuỳ thuộc vào từng vùng, từng lo ại đất và ngay
trên cùng một cánh đồng, biện pháp làm đất có thể thay đổi qua các năm.
Quan đ iểm luân canh các biện pháp trong đó có biện pháp làm đất có nhiều
thuận lợi như ưu điểm của biện pháp này bổ xung cho khuyết điểm của
biện pháp kia, ví dụ cày sâu làm sạch cỏ dại. Đậu tương ở nước ta được
trồng trên nhiều loại đất khác nhau: đất đỏ vàng ở một số vùng thuộc các
tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ đậu tương trồng trên đất bạc
màu ở các tỉnh thuộc Bắc Giang, Vĩnh Phúc, vùng đất phù sa ở Hà Tây, Hải
Dương. Ở miền Nam, đậu tương được trồng trên đất đỏ bazan thuộc vùng
Đông Nam bộ, vùng đất xám và vùng Đồng bằng sông Cửu Long trên nền
đất phù sa của sông Tiền, sông H ậu. Tuỳ thuộc đặc tính lý hoá của đất,
điều kiện địa hình mỗi vùng có biện pháp làm đất thích hợp. Trên các loại
đất trồng đậu tương ở miền Nam, cây đậu tương có thể trồng ở đất không
cày xớ i và có cày xới. Trồng đậu tương không làm đất đã được ứng d ụng
rộng rãi ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đậu tương được gieo x ạ lúc đất còn
ẩm ngay sau khi thu hoạch lúa. Ở miền Bắc, phần lớn đậu tương được
trồng trên đất cày bừ a. Đất đượ c làm lúc có độ ẩm vừa phải, cày bừa hai
lần, bảo đảm tơi xốp, cục đất lớn nhất ở lớp đất mặt có đường kính
không quá 3 cm, nếu có thì dùng vồ đập nhỏ, lên thành luống rộng 1,2 - l,5m, chiều
dài của luống thường ch ạy dài theo chiều thoát nước của ruộng trồng, sau đó rạch
thành hàng gieo hạt. Một số vùng núi, sau khi làm đất, đậu tương được gieo vãi
khắp ruộng sau đó bừa qua một lượt để lấp hạt. Vùng đồng bằng sông Hồng, để
tranh thủ thời vụ, đậu tương còn được trồng trên đất ướt Ngay sau khi nhổ mạ
hoặc thu hoạch lúa, đất được cày bừa ngay khi đất còn ướt, lên luống rộng 1,2 - 1,5
m, dùng đòn gánh hoặc cây gỗ đập trên mặt luố ng theo khoảng cách từ 30 đến 35
cm, tạo ra rạch để gieo hạt, dùng đất khô đập nhỏ phủ kín hạt. Khi cây mọc, đất
ruộng khô thì tiến hành cuốc đất và vun xới cho đậu tương.
4. KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT

4.1. Chuẩn bị hạt giống
Hạt giống tốt là hạt to, đồng đều đẫy chắc, tỷ lệ nảy mầm ít nhất 85%,
không có mầm mống bệnh.
• Lượng hạt giống


Phụ thuộ c chủ yếu vào mật độ cần thiết cho mỗi giống và độ to nhỏ củ a
hạt. Ví dụ giống Cúc Hà Bắc gieo trong vụ hè cần 40 - 50kg/ha, nhưng vớ i giống Đ
H4 lại cần từ 75 - 80kg/ha. Nhìn chung tuỳ thuộc và đặc tính của giống như thời
gian và tập tính sinh trưởng và P1000 hạt mà lượng hạt giống cần thiết cho một
đơn vị diện tích khác nhau. Nhưng lượng hạt giống thường là:
Giống chín sớm: 50-60kg/ha
Giống chín trung bình: 40-50kg/ha
Giống chín muộn: 30-35kg/ha
• Xử lý hạt giống


Hạt trước khi gieo cần được xử lý như sau:
Phơ i một vài nắng nhẹ trước khi gieo trồng (tránh không nên phơi trên nền xi
măng) vì nếu ở nhiệt độ cao sự hoạt động của các men trong hạt bị giảm.
Xử lý thuốc diệt nấm bệnh : ví dụ nh ư Faliran 0,15 % trộn đều với hạt ủ khô
trong 24-28 ngày nhằm tiêu diệt mầm mống của bệnh.
- Xử lý phân vi lượng: Người ta thường dùng Molipđat môn l-2kg/ha xử lý khô
nhằm tăng thành phần của Mo.
Tiến hành nhiễm khuẩn Rhizobium cho hạt trước khi gieo trồng nhằm tăng
khả năng hình thành nốt sần để tăng khả năng cố định đạm khí trời cây.

4.2. Thời vụ
Cây đậu tương mẫn cảm với điều kiện thời tiết. Thời vụ không những ảnh
hưở ng tới sinh trưởng phát triển của cây, tới năng suất, phẩm chất của hạt mà còn
ảnh hưởng cả với những cây trồng tiếp sau trong hệ thống luân canh (Trần Đình
Long và cs, 2001b). Ở nước ta có thể trồng nhiều vụ trong năm, nhưng xác định
được thời vụ chính cho từng vùng là điều cần thiết cho sản suất. Căn cứ vào điều
kiện sau đây để xác định thời vụ:
• Cơ sở để xác định thời vụ
Đất đ ai: Tuỳ theo chân ruộng thấp hay cao thoát nước hay không, mà phải
gieo trồng đúng thời vụ, tránh lúc ra hoa và làm quả gặp mưa bị úng, rụng hoa, rụng
quả nhiều.
Căn cứ vào chế độ canh tác: Tuỳ theo ch ế độ canh tác của từng nơi, luân
canh hoặc trồng xen gối mà bố trí thời vụ gieo trồng đảm bảo năng suất cây trồng
trước và cây trồng sau.
C ăn cứ vào giống: Tuỳ theo giống chín sớm trung bình hay chín muộn, để bố
trí thời vụ gieo trồng thích hợp nhất. Ví d ụ nếu trồng giống chín muộn không
được gieo muộn quá làm rút ngắn thời gian sinh trưởng, năng suất giảm.
Căn cứ vào điều kiện khí hậu: Đ ây là y ếu tố chủ yếu nhất để bố trí thời vụ,
hay phải căn cứ vào điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng để gieo trồng đúng thờ
i vụ, tạo điều kiện cho đậu tương sinh trưởng thuận lợi nhất, biểu hiện khi gieo
trồng g ặp hạn không bị rét khi ra hoa và chín có ẩm độ và nhiệt độ thích hợp khi
thu hoạch ẩm độ ph ải khô. Ở nướ c ta có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm,
nhưng ở miền Bắc có một số vụ gieo trồng chính sau:
* Vụ xuân
Đặc điểm của vụ xuân là đất gieo trồng khá nhiều. Ở miền núi gieo trên đất
chiêm xuân b ỏ hoá, ở đồng bằng gieo trên đất ru ộng mạ chiêm xuân và đất bãi ven
sông. Vụ này nếu gieo sớm hay gặp nhiệt độ thấp và khô hạn nếu gieo muộn thì
nhiệt độ và ẩm độ thích hợp nhưng ảnh hưở ng đến vụ lúa mùa (miền núi: thu
hoạch trước 31 tháng 5, đồng bằng trước 10 tháng 6). Từ Ngh ệ T ĩnh đổ vào cần
tính toán ra hoa và làm quả tránh gió tây nóng và thu hoạch trước lụt tiểu mãn (lụt
tiểu mãn có 2 cao điểm: 1015 - 1515 và 25/5 - l0/6).
Vụ xuân chỉ dùng giống lúa chín sớm và trung bình. Thời vụ gieo thích hợp
nhất cho vùng miền núi phía bắc là: 15/2-l0/3; Đồng bằng: 1/2-1512, Bắc Trung
Bộ:l0/1- 10/2 Bên cạnh xuân chính còn có vụ xuân hè gieo từ tháng 10/3-10/4.
* Vụ hè
Hầu hết các giống có thể trồng được trong vụ hè, do điều kiện thuận lợi có
thể gieo kh ắp nơi, nhưng tập trung nhiều ở các tỉnh miền núi, ở các chân ruộng đồi
bãi, phù xa. Thuận lợi lúc gieo chưa mư a to, như ng lúc ấy ngô chưa chín nên gieo
gối vào lúc ngô thâm râu tránh những vùng bị ngập do nước sông dâng vào tháng 7.
Thời vụ gieo trồng từng giống như sau:
- Giống chín sớm: 25/5-30/6
- Giống chín trung bình : 15/5- 15/6
- Giống chín muộn: 20/4-25/5
Ở miền B ắc có một số nơi gieo vào tháng 7-8 , khó khăn trong vụ này là lúc
làm đất và gieo hạt dễ gặp mưa to.
Giữ a vụ hè và vụ thu ta có thể gieo trồng v ụ hè thu là vụ chính và được trồng
lâu đời ở miền núi và Trung du Bắc B ộ. Thường trồng trên các nương đồ i luân canh
với ngô xuân. Đồng bằng chỉ gieo trên chân ruộng cao, thoát nước. Ví dụ : hè thu hay
gặp khó khăn, khi gieo hay gặp mư a, lao độ ng căng thẳng (làm lúa mùa) khi thu hay
gặp mưa to cuối vụ Thời vụ hè thu nên lưu ý thời gian thu hoạch. Vụ hè thu thường
gieo từ 15/6- 10/7, với những giống chín muộn không nên gieo sau 10/7.
* Vụ đông
Đưa đậu tương vào vụ đông sẽ tạo ra nhiều chuyển biến sâu sắc trong cơ
cấu cây trồng ở vùng trọng điểm lúa. Vụ đông thường thường gặp rét, hạn và sống
trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn nên n ăng suất không cao. Thời vụ gieo sớm
cuối tháng 9 đầu tháng 10 nói chung càng sớm càng tốt, cố gắng kết thúc trước
20/10. Khó khăn trong vụ đông khi làm đất gieo hạt gặp mưa cuối vụ khi thu hoạch
về cũng bị mưa phùn khó ra hạt.
Ở miền Nam, đ iều kiện khí hậu ấm áp, đậu tương gieo từ 20/12 đến tháng
1, vụ hè thu gieo tháng 4 - 5, vụ thu đông gieo tháng 7 - 8.

4.3. Mật độ gieo trồng
• Các yếu tố cấu thành năng suất cây đậu tương
Năng suất cây đậu tương do 4 yếu tố sau tạo thành.
Năng suất = Mật độ x Số quả chắc/ cây x Số hạt chắc/quả x M1000 hạt
N ăng suất quan h ệ với các yếu tố cấu thành năng suất là quan hệ toán học.
Nhưng giữa các yếu tố cấu thành năng suất trong một quần thể lại có quan hệ sinh
học thông qua mối quan hệ quần thể và cá thể. Mố i quan hệ này thể hiện tính mâu
thuẫn và thống nhất. Nếu ta trồng dày quá thì số cây trên đơn vị diện tích nhiều vì
thế diện tích dinh dưỡng cho một cây hẹp và cây sẽ thiếu dinh dưỡng và thiếu ánh
sáng do vậy ít phân cành, sớm bị che phủ làm cho lá bị rụng nhiều, số hoa ít số
quả/cây ít và M1000 hạt nhỏ, ngược lại nếu trồng thư a quá, diện tích dinh dưỡng
của cây rộng nên cây phân cành nhiều, số hoa và số quả trên cây nhiều khối lượng
1000 hạt tăng nhưng mật độ thấp nên năng suất không cao (Nguyễn Thị Vân và cs,
2001; Mayer và cs, 1991).
Cơ sở để xác định mật độ


Căn cứ vào đặc tính của giống: Giống chín sớm, thấp cây, phân cành ít ta
trồng dày, với giống chín muộn, cây cao, cành nhiều ta phải trồng thưa.
Căn cứ vào thời vụ: Vụ xuân và vụ đông trong điều kiện nhiệt độ thấp hay bị
khô hạn cây sinh trưởng kém thì ta trồng dày hơn so với vụ hè và hè thu nóng ẩm.
Căn cứ vào đất đai: Đất tốt nhiều màu ta trồng thưa, đất xấu ít màu ta trồng
dày.
Căn cứ vào mức độ thâm canh của từng nơi: Đầy đủ phân bón, chăm sóc tốt
thì trồng thưa, trái lại ít phân chăm sóc kém thì ta phải trồng dày.
Mật độ gieo cụ thể
Giống chín sớm: Đảm bảo 50-60 cây/m2, khoảng cách cụ thể: hàng cách hàng
30- 35cm, cây cách cây 5-6cm, hoặc khóm cách khóm 20cm/3-4cây.
Giống chín trung bình: Đảm bảo 40-50 cây/m2, khoảng cách cụ thể là hàng
cách hàng 35-40cm, cây cách cây 7-8cm, hoặc khóm cách khóm 20cm/3-4 cây.
Giống chín muộn: 15-20 cây/m2, khoảng cách cụ thể là hàng cách hàng 40-
45cm, cây cách cây 12-15cm, hoặc khóm cách khóm 25cm/ 2 cây.

4.4. Nhiễm khuẩn Rhizobium
Để giảm mức bón phân đạm, cây đậu tương phải có một qu ần thể
Rhizobium iaponicum thích hợp để hình thành nố t sần. Ở những đất mới
trồng đậu tương lần đầu không có Rhizobium, để cho cây đậu tương có
nhiều nốt sần cần nhiễm khuẩn trước khi gieo. Các kết quả nghiên cứu
trong và ngoài nước cho th ấy biện pháp nhiễm khuẩn nốt sần thường đạt
hiệu quả kinh tế cao trên đất mới trồng đậu tương lần đầu.
Các chế phẩm Rhizobium để nhiễm cho hạt trước khi gieo thường có tên gọi
chung là Nitragin. Trộn phân vi sinh vật như nitragin hay các chế phẩm vi sinh vật
khác với lượng 2kg/ha với hạt giống trong nơi râm mát sau đó gieo ngay. Kinh
nghiệm cho thấy nhiễm khuẩn năng suất đậu tương tăng 4-6% năng suất (Ngô
Thế Dân và cs, 1999).
4.5. Phương pháp gieo hạt
- Phương pháp gieo
Hạt có thể được gieo b ằng máy hoặc bằng tay, nhưng thường được gieo theo
3 cách chính: gieo theo hàng, theo hốc và gieo vãi. Gieo hạt bằng bằng máy được sử
dụng phổ biến đối với các nước phát triển như Mỹ. Gieo bằng tay theo hàng là
phương pháp rất phổ biến ở nước ta. Ở những chân đất thoát nước không tốt, ng
ười ta phải lên luống trước sau đ ó rạch thành hàng và gieo. Gieo hốc cũ ng là một
tập quán ở mộ t vài n ơi, gieo theo phương pháp này chậm, tố n công nhưng hạt đội
đất tốt hơn. Gieo vãi là phươ ng pháp được sử dụng ở một số vùng núi cao Bắc bộ:
Cao Bằng, Lạng Sơn. Gieo theo phương pháp này rất nhanh, không tốn công nhưng
tốn giống, tốn nhiều công chăm sóc, mật độ cây không đồng đều.
- Độ sâu gieo hạt
Độ sâu gieo hạt ảnh hưởng tới nảy mần và mọc của cây qua nhiệt độ và độ ẩm
đất. Độ sâu thích hợp đối với hầu hết các giống và đất trồng vào khoảng 2,5 tới 4
cm, với đất dễ bị váng nên gieo nông, ở đất cát nên gieo sâu. Một số tác giả đề nghị
không nên gieo trên đất khô. Nhưng nếu thời tiết có biến chuyển thuận lợi lúc đó có
thể gieo được. Hạt giống chất lượng cao có thể sống được 10 - 14 ngày trong đất
khô.

4.6. Phân bón
Đậu tương cần đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết để sinh
trưởng, phát triển bình th ường. Nếu thiếu hoàn toàn hoặc thiếu bất cứ một
y ếu tố nào đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Để
phát huy đầy đủ tác dụng của các loại phân bón cho đậu tương, cần phải
hiểu rõ đặc tính lý hoá và thành phần dinh dưỡng
của đất, đặc điểm tính chất củ a loại phân bón, đặc điểm dinh dưỡng của cây đậu
tương. Đậu tương cảm ứng với muối khoáng hơn các loại cây trồng khác. Do đó
khi bón phân cho đậu tương, không nên rắc tập trung mà nên vãi đều trên bề mặt
để không ảnh hưởng đến sự nảy mần củ a hạt. Trong trường hợp đất nghèo dinh
dưỡng hoặc lượng phân ít buộc phải bón tập trung thì nên rắc phân cách hàng 8 -
13cm, lấp sâu 8 - 10 cm. Không nên rắc phân ngay dưới hàng hạt, rễ sẽ ăn sâu
thẳng xuống mà không phát triển bề rộng. Bón phân tập trung gần hạt, làm rễ mầm
bị cháy, không bảo đảm mật độ cây.
• Phân đạm


Đậu tương là cây họ đậu có khả n ăng cố định đạm từ khí trời để cung cấp
cho cây, do vậy người ta thường bón ít phân N cho đậu tương. Khả năng cố định N
củ a vi khuẩn nốt sần phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Harper (1974) thấy rằng việc cố
định N2 và sử d ụng nitrate (NO-3) có tầm quan trọng để thu được năng suất tối đa
(Ngô Thế Dân và cs, 1999). Tuy nhiên, ông thấy nếu NO3 dư thừa có hại tới năng
suất vì lúc đó sự cố định N2 bị ức chế hoàn toàn. Nhiều tác giả cho th ấy, bón đạm
không hợp lý, bón quá nhiều N, hoặc bón không đúng thời kỳ sẽ ức chế sự hình thành,
phát triển và hoạt động củ a vi khuẩn nốt sần. Trên các đất giàu dinh dưỡng, đáp ứng
đủ nhu cầu NO3 cho cây đậu tương thì bón đạm không có tác dụng tăng năng suất.
Tuy nhiên trên đất nghèo chất hữu cơ, kém thoát nước và rất chua thì bón phân đạm
với lượng
- 60N cho một ha sẽ có tác dụng tăng năng suất.
Phân lân và vôi


Bón phân lân cho cây giảm tỷ lệ rụng nụ, rụng hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc và tăng
năng suất rõ rệt (Trần V ăn Điền, 2001). Lân làm tăng hoạt động cố định đạm củ a
vi khuẩn nố t sần. Tuỳ theo năng suất đậu tương cao hay thấp và thành phần lân có
sẵn trong đất để xác định mức bón P hợp lý. Như ng lượng phân lân thường đượ c
bón từ 30 - 100 kg P2O5 Cho 1 ha, bón lót cùng vớ i phân hữu cơ. Bón vôi cho đất chua
để đạt pa khoảng 6-6,5 là yếu tố quan trọng để sản xuất đậu tương có hiệu quả.
Đất có độ kiềm cao, pH > 7,5 có ảnh hưởng không tố t tới sản xuất đậu tương,
nhưng không kinh tế khi ta cố gắng giảm pH đất. Trên các đất này, hàm lượng các
nguyên tố vi lượng như Fe, Mn, Cu, B, Zn thường giảm. Như vậy, đối với lo ại đất
này, nông dân phải chọn các giống có tính chống chịu cao và bón nhiều phân vi lượng.
• Phân kali


Ở đất nghèo kali, đất cát, đậu tươ ng ph ản ứng rõ rệt v ới phân kali. Đối với
các vùng trồng đậu tươ ng thuộc đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu
Long, do đặc điểm đất ở đây tương đối giàu kali, hiệu quả bón phân kali cho đậu
tương ở vùng này thấp.
Lượng phân kali bón thích hợp là 40 -70 K2O, chia làm 2 lần; bón lót 50% kết
hợp với 1/2 số phân đạm và bón thúc số phân còn lại khi cây có 3 - 5 lá kép.
• Phân vi lượng
Molipden (Mo) là nguyên tố quan trọng cho quá trình trao đổi N. Một số nước
như Trung Quốc, Đài Loan, châu âu và Mỹ đã công b ố năng suất đậu tương tăng
do bón thêm vi lượ ng Mo. Lượng Mo dùng để xử lý h ạt cần 17 g/ha, trong khi đó
nếu bón vào đất cần 800g/ha. Bón vôi để giữ pH đất 6,2 có thể có tác dụng phòng
chống hiện tượng thiếu Mo. Trên đất kiềm, đất cát, hiện tượng thiếu Mn thườ ng
xảy ra, bón phân Mn theo hàng cho hiệu quả cao hơn bón vãi, bón theo hàng kết hợp
với phun lên lá cho hiệu quả cao hơn.
• Qui trình bón phân


Để đạt n ăng suất cao, phẩm chất tố t thì đậu tương cần được bón đầy đủ
phân hữu cơ và các loại phân khoáng khác, qui trình bón phân cho cây đậu tương như
sau:
Liều lượng: Liều lượng phân bón cho 1ha
Phân chuồng: 6-10 tấn
Phân đạm: l0-20N ≈ 50-l00kg đạm sunfat hoặc 20-40kg đạm urê
Lân: 30-60 P2O5 ≈ 150-300kg Supelân
Kali : 40-70K2O ≈ 80- 150 kg kali sunfat
Vôi: 300-500kg vôi bột.
Cách bón:
Bón toàn bộ vôi trước lúc bừa lần cuối cùng
Bón lót vào rãnh hoặc hốc toàn bộ phân chuồng cộng toàn bộ lân và một nửa
số đạm và số phân kali. Sau khi bón lót phân chuồng và phân vô cơ cần dùng đất
nhỏ lấp kín toàn bộ phân dày 2-3 cm, tránh để phân tiếp xúc với hạt làm giảm tỉ lệ
nảy mầm. Khi đất quá ướt (độ ẩm đất >90%) hoặc quá khô thì không nên bón lót
phân đạm và kali mà để phân N và K lại tập trung cho bón thúc sớm khi cây có 3-5
lá kép, để phân không ảnh hưởng đến tỉ lệ nảy mầm.
Bón thúc: Bón 1/2 lượng phân đạm và kali còn lại vào lúc cây có 3-5 lá kép.
Bón cách gốc 3-5 cm sau đó xới vun lấp toàn bộ phân.

4.7. Chăm sóc đậu tương sau mọc
4.7.1. Dặm tỉa cây
Dặm cây là nhằm đảm bảo số cây trên đơn vị diện tích. Cần tiến hành dặm
vào lúc cây có 2 lá đơn, bởi nếu dặm muộn cây sinh trưởng không đều. Dùng hạt
giống cùng giống để gieo dặm vào chỗ không mọc. Tỉa cây nhằm điều tiết diện
tích dinh dưỡng và ánh sáng cho cây, cũng tỉa sớm lúc cây có một lá thật.
4.7.2. Xới vun và làm cỏ
Nhằm tiêu diệt cỏ dại tạo điều kiện cho rễ và vi sinh vật hoạt động. Kinh
nghiệm cho thấy vun xới 2-3 lần có thể làm tăng năng suất 12-23 %. Vun xới cần
căn cứ vào giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây đậu tương để tiến hành.
Thời kỳ nảy mầm: Cây sống chủ yếu bằng dinh dưỡng trong 2 lá mầm nếu
gặp mưa thì phải xới nhẹ phá váng đất.
Thời kỳ cây con: Khi cây có 3-5 lá kép, cây bắt đầu sống độc lập, nốt sần bắt
đầu xuất hiện. Lúc này, tiến hành xới đợt 1 kết hợp với làm cỏ và bón thúc nốt số
phân còn lại.
Xới đợt 2 sau lần 1 khoảng 10-15 ngày vào lúc đó cây có 5-6 lá kép. Lúc này
lớp rễ thứ 2 phát triển và vi sinh vật hoạt động mạnh nên cần xới vun kịp thời sâu
5-7cm tăng cường khả năng hấp thu dinh dưỡng cho cây đậu tương. Với giống
chín muộn có thể xới vun lần thứ 3 khi cây sắp ra hoa hoặc sau những trận mưa lớn
cần xới phá váng.
Khi cây bắt đầu ra hoa tuyệt đối không được xới vun ảnh hưởng tới hoa, nụ:
Khi cây hình thành quả rồi cây đó có thể vun được.
4.7.3. Điều tiết nước
Đậu tương là cây trồng cạn rất c ần n ước và cũng rất sợ nước. Nên cần chú
ý điều tiết nước mới có thể đạt năng suất cao. Nếu thiếu nước vào thời kỳ nảy
mầm, thì mầm nảy chậm cây sinh trưởng kém, thân lá phát triển kém, nếu thiếu vào
th ời kỳ làm quả năng suất giảm rõ rệt. Ở n ước ta, vụ đông thường hay b ị hạn
trong giai đoạn đầu nên cần tưới nước, v ụ hè nói chung không thiếu nước mà phải
làm rãnh thoát nước cho tốt. ở vùng núi phía Bắc lại hay gặp khô hạn đầu vụ trong
vụ xuân, nên biện pháp giữ ẩm hoặc tưới nước (nếu có thể) đầu v ụ xuân có tính
chất quyết định đến năng suất của cây đậu tương. Tưới nước cho đậu tương tốt
nhất là tưới theo rãnh sau đó tháo ngay, khoảng 800m3/ha.
4.7.4. Bấm ngọn
B ấm ngọn có tác dụng đ iều tiết được dinh dưỡ ng và điều khiển được tán
cây cho sự phát triển cân đối, để tập trung dinh dưỡng cho mầm hoa phát triển, quả
nhiều. N ếu sinh trưởng kém hay trong vụ xuân và vụ đông thì không b ấm ngọn mà
chỉ bấm ngọn với những giống sinh sản vô h ạn và gieo trong vụ hè sinh trưởng
mạnh. Khi bấm phải đúng lúc bấm quá sớm (5 lá kép) thì cây sẽ yếu đốt ít, cành ít
hạn chế tạo hình thành cho cây, nhưng muộn quá (9 lá) cành đã dài thêm cao thì
hiệu quả bấm cành thấp, cho nên bấm tốt nhất là lúc 6-8 lá.
4.7.5. Khử lá đậu tương trước khi thu hoạch
Khi cây đậu tương có 85-90% số quả chín (vỏ quả chuyển từ màu vàng sẫm),
thì có thể thu hoạch được. Lúc này trên cây, lá cây đậu tương đã vàng úa kém tác
dụng, nhưng vẫn chưa rụng rời khỏi cây. Bộ lá này vẫn có thể bám dính trên thân
cành một thời gian dài, k ể cả khi qu ả trên cây đã chín khô. Lá không rụ ng gây khó
khăn việc thu hoạch, vận chuyển và tách hạt, thậm chí cuống và lá vẫn tươi có thể
làm cho ngườ i thu hoạch rặm, ngứa ngáy khó chịu. Để tách lá ra khỏi cây trước khi
thu ho ạch, từ nhiều năm nay nông dân ở các huyện Hiệp Hoà, Việt Yên tỉnh Bắc
Giang đã khử lá đậu tương trước khi thu hoạch bằng nhiều cách, trong đó có những
cách như sau:
Cách th ứ nhấ t: Trước ngày thu hoạch từ 5 đến 7 ngày, dùng 0,3 kg muối ăn
(NaCl), hoặc 0,3kg phân kali (nồng độ muối và kali có cao hơn một chút cũng không
ảnh hưởng đến đất trồng và hạt đậu), hoà với 10 lít nước phun như phun thuốc trừ
sâu cho 1 sào Bắc bộ (360m2), trước khi thu hoạch lá sẽ rụng gần hết.
Cách thứ hai: Cho nước tràn ruộng sâu từ 15-20 cm, ngâm liên tụ c từ 3- 5
ngày, chú ý không để nướ c thấm vào quả. Sau tháo cạn nước, lá sẽ rụng gần hết.
Cách này tuy không hay bằng cách thứ nhất, nhưng rất tiện với thực tế ở vụ hè thu,
đồng trũng mưa nhiều.
4.7.6. Biện pháp giảm sự rụng hoa, quả và quả lép
Đậu tương có đặc điểm ra hoa rất nhiều, nhưng tỷ lệ rụng hoa rất lớn có khi
tới 80%, tỉ lệ đậu quả chỉ 20%. Theo Weder: "Đậu tương rụng hoa khoảng 67%
nếu cả 4 loại: hoa, quả nụ và quả lép đến tới 80%". Tỉ lệ này được phân bổ cụ
thể: nụ 13%, hoa 56%, quả 24,8% và quả lép là 10%.
Đặc điểm của sự rụng hoa và quả:


Hoa rụng chủ yếu là những hoa ra trước hoặc sau đợt hoa rộ.
Giống sinh trưởng về sau mạnh thì rụng nhiều, giống sinh trưởng vô hạn thì tỉ
lệ rụng hoa nhiều hơn giống sinh trưởng hữu hạn.
Hoa quả ở đỉnh và ở gốc rụng nhiều hơn ở giữa, quả ở cành rụng hơn nhiều ở
thân.
Hoa thường rụng từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 7 sau khi hoa nở
Nguyên nhân của rụng hoa và quả


Do đặc tính di truyền của giống: Các giống khác nhau thì tỉ lệ rụng hoa quả lép
khác nhau, tức là rụng hoa quả là một đặc tính di truyền của các giống đậu tương.
Do các nguyên nhân sinh lý: Tỉ lệ rụng hoa quả ở đậu tương cao do thiếu dinh
dưỡng.
Những hoa sau đợt hoa rộ bị rụng nhiều vì hoa ra vào thời kỳ rộ là đợt hoa
chính nên dinh dưỡng được tập trung vào đó còn những hoa ra sau đợt hoa rô do
thiếu dinh dưỡng cho nên rụng nhiều.
Giống sinh trưởng hữu hạn ít rụng hoa hơn giống sinh trưởng vô hạn là vì
giống sinh trưởng vô hạn thân lá phát triển nhiều, nên dinh dưỡng tập trung cho
thân lá làm cho hoa thiếu dinh dưỡng, do vậy hoa sẽ bị rụng nhiều.
Hoa ở đỉnh và những hoa ở phía gốc rụng nhiều hơn ở phần giữa là do lá ở
phía dưới bị che phủ, còn lá ở phía trên phát triển chưa hoàn chỉnh, mặt khác diện
tích các lá gốc và ngọn thấp hơn tầng lá giữa cho nên quang hợp kém hơn các lá ở
giữa, cho nên rụng hoa quả nhiều hơn tầng lá giữa.
Do điều kiện đất đai: Các loại đất khác nhau thì tỉ lệ rụng hoa khác nhau, ta
thấy đất tốt tỷ lệ rụng hoa thấp hơn đất xấu, do đất xấu không cung cấp đủ dinh
dưỡng cho cây nên hoa bị rụng nhiều. Dinh dưỡng không cân đối hoa quả cũng bị
rụng nhiều.
Do điều kiện khí hậu: Đậu tương ra hoa cần nhiệt độ cao 25-28oC, khi chín
cần nhiệt độ 21-23oC, và ẩm độ khoảng 80% nếu cả nhiệt độ và ẩm độ đều quá
cao hoặc quá thấp, quá trình thụ phấn và thụ tinh sẽ không được xẩy ra bình
thường hoa quả sẽ rụng nhiều và quả lép tăng lên.
* Các nguyên nhân khác:
Các biện pháp kỹ thuật: các biện pháp kỹ thuật như mật độ và thời vụ gieo
trồng không thích hợp hoặc bón phân không cân đối đầy đủ thì tỉ lệ rụng hoa và
rụng quả trên cây đậu tương sẽ cao.
Sâu bệnh: Sâu chủ yếu hại bộ lá rồi phá trực tiếp đến quả non. Bệnh chủ yếu
phá hại bộ lá và các mạch dẫn ở lá cũng như thân. Cho nên khả năng tạo thành và
vận chuyển chất hữu cơ từ thân lá về cơ quan sinh sản kém làm tăng tỷ lệ rụng hoa
quả.
Nguyên nhân quả lép


Dinh dưỡng: Chủ yếu là do chất dinh dưỡng vì trở ngại nào đó không vận
chuyển liên tục đến hạt. Có thể do dinh dưỡng không đủ như thiếu lân và kali thì
đạm vận chuyển về hạt kém nên bị quả lép.
Do giống: Giống thấp cây, thưa cành, thời gian sinh trưởng ngắn thì tỷ lệ quả
lép ít.
Những giống ra hoa hữu hạn thì những chùm quả ở gốc cây hay bị lép. Những
giống vô hạn thì những chùm quả ở phía ngọn hay bị lép.
Sâu bệnh phá hoại cũng là một nguyên nhân dẫn đến quả lép.
Những biện pháp khắc phục


Căn cứ vào những nguyên nhân ta có thể dùng các biện pháp sau đây để hạn
chế:
Chọn giống có tập tính ra hoa hữu hạn và sinh trưởng cân đối có góc độ phân
cành, góc độ lá với thân nhỏ.
Bón phân đầy đủ cân đối 3 nguyên tố chính: NPK và chú trọng bón lót, trường
hợp thiếu có thể bón thúc hoặc phun bổ sung lên lá trước khi cây ra hoa.
Gieo trồng với mật độ hợp lý
Với những giống sinh trưởng vô hạn có thể bấm ngọn kịp thời để phân cành
sớm tập trung dinh dưỡng để nuôi hoa quả.
Gieo trồng đúng thời vụ làm sao khi ra hoa không gặp mưa và gặp gió nóng,
nếu gặp hạn cần phải tưới kịp thời.
Kịp thời phòng trừ sâu bệnh, phòng là chính phun theo dự tính dự báo.
4.7.7. Sử dụng chất kích thích sinh trưởng
Chất kích thích sinh trưởng luôn được quan tâm đến trong thâm canh cây trồng.
Tanner và Ahmed (1974) công bố rằng trong điều kiện thuận lợi, TIBA (2, 3, 5
- Triodobenzoic axit) làm tăng năng suất (trong Ngô.Thế Dân và cs, 1999). Phun
2,4D (2,4 - dichlorophemoxy axetic axit) ở nồng độ thấp (15-30 ppm) 1 tới 2 tuần
trước thời kỳ ra hoa cũng làm tăng năng suất hạt đậu tương.
Những chất có chứa morphactin có thể làm cây xanh lâu, tăng năng suất. Clapp
(1975) dùng Methyl-2 chloro-9 hydroxyfluroen-9 - Carboxylate ở lúc bắt đấu ra hoa
đã làm tăng năng suất. Dybing và lay (1982) công bố morphactin có thể làm tăng
hàm lượng dầu, nhưng giảm hàm lượng protein (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
4.8. Thu hoạch chọn giống và bảo quản
Chín sinh lý bắt đầu khi có một quả trên thân cây chính có màu quả chín (R7).
Khi màu xanh của tất cả quả mất đi là giai đoạn chín sinh lý bắt đầu và nó xuất
hiện muộ n hơn một chút giai đoạn khi một quả trên thân chính có màu quả chín.
Khi chín sinh lý hàm lượng chất khô tích luỹ trong hạt lớn nh ất. Thuỷ ph ần trong
hạt lúc này vào kho ảng 40 - 60%. Vì thuỷ phần ở giai đoạn chín sinh lý còn cao,
người ta không thu đậu tương ở giai đoạn này. Thu hoạch bắt đầu khi 90% số quả
trên cây có màu chín đặc trưng. Người ta có thể thu hoạch đậu tương bằng máy gặt
đập liên hợp, máy kết hợp với tay hoặc thu đập b ằng tay, tuỳ theo cơ sở vật chất
từng nơi. Khi thu hoạch nên tiến hành vào ngày có thời tiết nắng ráo.
Phơi khô và bảo quản:
Đậu tương có thuỷ phần 10% hoặc thấp hơn có thể b ảo quản an toàn trong 4
năm, với thuỷ ph ần 12% có thể bảo quản được gần 3 năm, mặc dù nảy mần và
sức sống giảm trong giai đo ạn đó, vớ i thuỷ phần 13% có thể b ảo quản trong 1
năm, nhưng với 14% chỉ đảm bảo được mấy tháng. Thông thường hạt đậu tương
có thuỷ ph ần cao hơn 15% thì ph ải phơi khô rồi mới cất vào kho. Khi dùng khí
nóng để sấy để tránh vỏ hạt bị vỡ, độ ẩm khi dùng để sấy khô phải trên 40%,
nhiệt độ sấy không nên quá 430C.
Đối với đậu tương làm giống, sau khi phơi đập, cần phải sàng sảy, quạt sạch
vỏ và tạp chất, loại bỏ hạt xấu, hạt sâu bệnh. Phơi hạt nơi nắng dịu và phơi trên
vải đệm, nong nia, không phơi h ạt trực tiếp trên nền gạch hoặc xi măng dễ làm n
ứt vỏ hạt ảnh hưởng tới sức sống và tỷ lệ nảy màn của hạt, để hạt nguội trước
khi đưa vào bảo quản.
Thông thường, h ạt đậu tương giống rất nhanh mất sức nảy mầm, vì
hạt đậu tương chứa nhiều chất dầu. Trong điều kiện bảo qu ản như nông
dân vẫn thường dùng thì chỉ sau 6 tháng hạt đậu tương đã mất sức nảy
mầm trên 50%. Chính vì thế mà nông dân rất khó khăn trong việc giữ đậu
tương cho vụ sau. Để có đậu giống trồng sau 6 tháng hoặc lâu hơn nữa thì
người nông dân phải trồng lại 1 đến 2 vụ đậu nhân giữ giống để đảm bảo
số lượng hạt đậu tương trồng luân canh trên chân đất lúa. Phương pháp đơn
giản b ảo quản đậu tương giống cho kết quả tốt là: Hạt đậu trước khi b ảo
quản được phơi khô, sàng sảy sạch để bỏ hết các tạp chất những h ạt biến
màu, lửng lép và những h ạt nhiễm b ệnh. Hạt được xử lý với thuốc basudin
10H ở liều lượ ng loại thuốc/l0kg đậu giống. Sau đó h ạt được cho vào
trong túi nilon có độ dày 0,5 mm buộc chặt và cho vào thùng nhựa. Thùng
nhựa được đậy kín, được bọc tiếp bằng túi nilon 0,5 mm và buộc kín miệng
cẩn thận để tránh hạt đậu hút ẩm từ bên ngoài. Thùng chứa hạt được đặt
nơi thoáng mát. Với phương pháp này có thể giữ đượ c hạt giố ng đậu
tương giống qua 6 tháng mà vẫn cho tỷ lệ nảy mầm khoảng 80%. Với
phương pháp này nông dân có thể tiết kiệm được một vụ nhân giống đậu
tương
tốn kém không cần thiết.
5. PHÒNG TRỪ SÂU BÊNH HẠI ĐẬU TƯƠNG
Đậu tương là mộ t cây trồng bị nhiều sâu bệnh phá hại. Tại Việt Nam, qua điều
tra thấy có tới hơn 70 loại sâu hại, 34 họ, 8 bộ và 17 loại bệnh. Trong đó có 12-13
loại sâu và 4 đến 5 loại bệnh hại phổ biến ở nhiều vùng (Nguyễn Danh Đông, 1982).

5.1. Sâu hại
Sâu hại là yếu tố ảnh hưởng cả về năng suất và chất lượng đậu tương nếu
không được phòng trừ kịp thời.
5.1.1. Sâu hại lá
Phần lớn những sâu đa thực trên đậu tương là hại lá, từ những con ruồi trắng
và bọ trĩ nhỏ tới nh ững con bọ cánh cứng và sâu róm lớn. Hầu hết chúng gây hại
bằng cách làm rụng lá hoặc một số loại chích hút nhựa cây làm cho cây yếu dần.
5.1.1.1 Sâu xanh (Plathypena scabra (F)
Sâu xanh (Plathypena scabra (F) là một trong số những loại đạt tới ngưỡng
gây hại kinh tế ở Mỹ. Khi tr ưởng thành sâu non dài 2-3 cm, màu xanh với sọc trắng
nhạt ở hại bên cạnh. Sau khi giai đoạn sâu non kết thúc giai đ oạn nhộng xảy ra
trên hoặc ngay dưới mặt đất, hoặc dưới tàn d ư cây. Đôi khi nhộng dính vào cây
bằng mộ t vài sợi tơ mùa hè giai đo ạn nhộng kéo dài kho ảng 10 ngày, bướm màu
gi nâu xuất hiện và sau kho ảng 7 ngày đẻ trứng trên hai mặt lá đậu, trứng nở sau 5
ngày. Sâu số ng qua đông dưới dạng nhộng hoặc sâu trưởng thành. Tuỳ thuộc vào
khí hậu, màu vụ có thể có 4 thế hệ trong một năm.
5.1.1.2. Sâu cuốn lá đậu tương (Lamprosema indicata)
Sâu cuốn lá rất phổ biến ở các vùng trồng đậu tương. Sâu phá hại lá bánh tẻ từ
giai đoạn cây con cho đến khi có quả non. Sâu non lúc nhỏ gặm ở mặt d ưới của lá.
Từ tuổi 3, sâu non b ắt đầu nhả tơ cuốn gập lá hoặc gập 2 lá lại với nhau. Sâu non ở
bên trong gây hại lá. Sâu phá hỏng và làm giảm diện tích quang hợp của cây.
5.1.1.3. Sâu đo đậu tương (Pseudoplusia includen Walker)
Có một vài lo ại sâu đo hại đậu tương nhưng trên 90% tổng số sâu non phát
hiện ở đậu tương là sâu đo (Pseudoplusia includens (Walker). Sâu đo chủ yếu gây
hại bộ lá và đôi khi cũng gây hại quả. Khi trưởng thành, sâu non của nó lớn hơn sâu
non sâu xanh, có màu xanh vớ i nhữ ng sọ c sáng ch ạy đọc theo cơ th ể. Khi sâu di
chuyển, phần giữa có thể tạo thành hình cong cho nên nó có tên là sâu đo. Giai đoạn
sâu non kết thúc trong vòng 14 - 21 ngày, sau đó nhộng suất hiện, nằm bám vào cây
đậu b ằng những sợi tơ . Trong những tháng hè, sau 14 ngày bướm xuất hiện.
Bướm có cánh dài 3-4 cm màu nâu với 2 đố m trắng ở giữa cánh trước. Qua đông
dưới dạng nhộng, tới xuân bướm xuất hiện và đẻ trứng trên những cây chủ khác
(rau hoặc cây họ đậu khác). Trong một năm, nó có thể có một vài thế hệ.
5.1.1.4. Sâu ăn lá (Cerotoma trifurcata)
Sâu ăn lá đậu gây hại tất cả tất c ả các bộ ph ận cây và đồng thời truyền virus
đốm quả Con sâu trưởng thành thường ăn lá và đôi khi cũng ăn hoa, quả. Đậu tương
trồng trên đất nặng có mật độ sâu cao hơn. Sâu thường đục lá đậu thành lỗ. Vào cuối
vụ sâu trưởng thành ăn quả, gây nên tổn thươ ng nhiều do xâm nhập củ a các nấm
khác vào quả. Sâu trưởng thành sống qua đông ở những chỗ kín đáo gần khu ruộng
đậu tương. Vụ xuân sâu mới xuất hiện, sâu dài khoảng 5mm, vàng nâu hoặc đỏ có
thể có ho ặc không có chấm đen. Ở giai đoạn này sâu ăn b ề mặt dưới lá, mỗi khi bị
động, nó rơi xuống đất. Con trưởng thành đẻ trứng ở dưới đất gần g ốc cây. Sau vài
ngày nở ra sâu non nhỏ, màu trắng phá rễ và nố t sần. Nó hoá nhộng ở đất và vài
ngày sau lại xuất hiện sâu trưởng thành ở mỗi vụ đậu có khoảng 1 đến 3 thế hệ.
5.1.1.5. Những côn trùng khác thuộc bộ cánh cứng
Mộ t số côn trùng thuộc bộ cánh cứng khác cũng như ban miêu, côn trùng cánh
cứng hại dưa chuột (Colapsis sp.), côn trùng cánh cứng Nhật Bản, cũng gây hại đậu
tương.
Côn trùng cánh cứng Nhật Bản (Popillia japonica Newman), sâu trưởng thành
gây hại lá. Sâu trưởng thành dài khoảng 1 - 3 cm, màu xanh kim loại. Nó phá hại vào
cuối tháng 7 đầu tháng 8. Sâu non sống trong đất, nó giống như ng nhỏ hơn giòi
trắng. Trong một năm có 1 thế hệ, nhưng ở vùng lạnh, sâu non cần 2 năm để
trưởng thành.
Ban miêu, sâu trưởng thành gây hại lá nghiêm trọng. Nó dài khoảng 2- 2,5 cm,
cánh ngoài màu đen có viền màu gi (Epicauta pestifera Wemer) hoặc màu vàng với
sọc nâu (E. vittata F). Chúng đẻ trứng trong đất, sâu non và nhộng xuất hiện trong
đất. Sâu non ăn trứng châu chấu. Chúng có một thế hệ trong một năm.
Bọ cánh cứng hại dưa chuột thấy ở trên ruộ ng đậu tươ ng nhưng ít khi gây
hại nghiêm trọng. Nó có 3 loại, tất cả đều dài khoảng 6 mm, với màu vàng xanh.
Những loại này có thể phân biệt nhau bằng sự có mặt của đốm đen (Diabrotica
undecimpunctata), sọc (Acalymma vittata F) hoặc băng (D. balteata Leconte). Sâu
non ăn rễ và nốt sần. Bình thường có khoảng 2 thế hệ trong một năm, những cũng
có thể có 4 hoặc 5.
5.1.2. Sâu hại quả
5.1.2.1. Sâu đục quả đậu tương (Etiella zinckenella treit)
Đây là loại sâu gây hại rất nghiêm trọng ở các vùng trồng đậu tương. Sâu phá
hại mạnh từ khi đậu tương bắt đầu hình thành quả cho đến khi thu hoạch. Sâu non
gặm vỏ quả đục vào bên trong quả ăn hạt và làm cho hạt bị khuyết từng ph ần hoặc
đục rỗng bên trong. Sâu hoá nhộng trên đất hoặc trên cây. Bướm ưa đẻ trứng trên các
giống đậu tương có nhiều lông. Ở miền B ắc, sâu phát sinh nhiều vào vụ xuân, hè và
vụ thu, đậu tươ ng đông ít bị sâu đục qu ả phá hại hơn . Biện pháp hiệu quả nhất là
phun thuốc hoá học 1 -2 lần ngay sau khi đậu tương hình thành quả non.
5.1.2.2. Côn trùng chích hút
Côn trùng chích hút quan trọng nhất đó là bọ xít thường (Acrosternum hilare
(Say), và bọ xít xanh (Nezara viridula). Bọ xít trưởng thành có cánh màu xanh hoặc
nâu, dài 1,3 - 2,0 cm. Con trưởng thành và nhộng trần có tuyến đánh hơi, nó rời bỏ
mùi hôi thối mỗi khi gặp. Bọ xít chích hút nhựa cây, nhộng trần ăn hại quả, hại. Quả
bị hại có hạt nhăn và đôi khi quả bị rụng. Những hạt phát triển đầy đủ mà b ị hại thì
thường mất màu. Khi bọ xừ phá hại trong giai đ oạn đầu và nếu không phát hiện để
phòng trừ kịp thời, nó có thể gây mất hoàn toàn năng suất. Bọ xít thường xuất hiện
nhiều khi ruộng đậu tương ra hoa và làm quả non. Cây có quả bị bọ xừ hại sẽ xanh
suốt vụ ngay cả lúc cây bình thường đã chín.
5.1.2.3. Các loại sâu hại quả khác
Quả non đậu tương có thể b ị một số sâu hại khác như là sâu róm mèo, sâu đo,
sâu xanh. Bọ cánh cứng hại quả bằng cách nhai vỏ ngoài quả để lộ ra h ạt, hạt đó
ngấm nước và biến màu. Qua vết bệnh này, các nấm bệnh khác có thể xâm nhập
gây thiệt hại đến năng suất.
5.1.3. Sâu hại thân
Sâu h ại thân bên trong hoặc ngoài ít khi gây thiệt hại nghiêm trọng. Sâu
thường hại khi cây non, gây ảnh hưởng mật độ cây. Tuy nhiên, đậu tương có khả
năng bù trừ tốt, trừ khi quá nghiêm trọng mới gây ảnh hưởng năng suất.
5.1.3.1. Bọ nhảy (Spissistilusfestinus Say)
Sâu trưởng thành và nhộng trần gây h ại ở thân đậu tương. Trên cây non, sâu
này châm vào phần dưới gây ra thắt ngang thân. Khi thân cứ ng, sâu di chuyển lên
phần trên và cuống lá. Con trưởng thành dài kho ảng 6,4 mm màu xanh, hình dạng
tam giác, phía trước và phía sau ngọn. Nhộng trần có hình dạng và màu sắc tương
tự, nhưng không có cánh và có nhiều gai nhỏ. Loại sâu này phổ biến ở những bang
phía Nam nước Mỹ. Sâu trưởng thành ăn nhiều loại cây và di chuyển tớ i cây non
đậu tương vào tháng 5 hoặc 6. Nó đẻ trứng ở trên thân cây, sau 10 ngày nở thành
sâu non và nhộng tần gây hại đậu tương, qua vài lần lột xác tới sâu trưởng thành,
mỗi vụ có một vài thế hệ.
5.1.3.2. Sâu đục thân ngô hại đậu tương (Elasmopalpus 1ignosellus Zeller)
Sâu đục thân hại ngô thường phổ biến ở đất cát, trên mùa khô và đậu tương
trồng
muộn
.
Sâu non chui vào thân cây non, sâu màu vàng xanh với băng chữ th ập màu nâu
đỏ, cây nhỏ có thể chết và cây to có thể bị gió bẻ gãy dễ dàng. Sâu số ng qua đông ở
giai đoạn sâu non hoặc nhộng, bướm. Con trưở ng thành xuất hiện vào vụ xuân.
Bướm cánh dài 2,5 cm, màu nâu, con cái có cánh trước màu thẫm hơn con đực, sâu đẻ
trứng trên ngô, cỏ (Sorghum halepense L. Pers) hoặc một vài loại cây khác. Sâu non
bắt đầu ăn lá hoặc rễ và b ắt đầu đi vào thân. Ở một vài trường hợp, sâu đẻ trứng
trên đậu tương và sâu non nở ra hại ngay đậu tương. Trong điều kiện thuận lợi, sâu
cần 4 tuần để kết thúc một vòng đời. Mỗi năm có một vài thế hệ.
5.1.3.4. Sâu đục thân (Dectes texanus Le Conte)
Một loài sâu khác hại thân đậu là sâu đục thân (Dectes texanus Le Conte).
Chúng đẻ trứng trên cuống lá. Sâu non nở ra đi vào cuống và xuống thân, nó tiện
thân từ phía trong làm cho thân bị gãy ở đoạn 5 cm trên mặt đất. Sâu non sống qua
đông trong thân, bên dướ i chỗ thân gãy, sang xuân hoá nhộng. Trong một năm có
một thế hệ. Sâu đục thân làm giảm mật độ cây nhiều, đặc biệt khi đậu tương
trồng sau cây rau.
5.1.3.5. Ruồi đục thân (Melanagromyza sojae zahmer)
Ruồi đục thân là một trong những sâu hại chính ở các vùng trồng đậu tương ở
n ướ c ta. Ruồi phá hại ở giai đo ạn cây con, ngay từ khi đậu tương mới có
2 lá đơn và 3 lá kép. Ruồi đục rỗng các mô tế bào ở phần vỏ ngoài lớp gỗ
làm cây bị chết. Những cây số ng sót thì thấp lùn và ít qu ả. Thời kỳ cây lớ n,
ruồi thường đục trên cành nhưng không gây tác hại nhiều, cây vẫn sinh
trưởng bình thường, chỉ héo từng bộ phận.
5.1.3.5. Sâu xám (Agrotis ypsilon)
Sâu xám là loại sâu đa thực cũng gây h ại nhiều cho cây đậu tương, sâu non có
mình dày, dài 4 cm màu xám, cuộn tròn lại khi bị tác động. Ban ngày sâu trú ngụ
dưới đất đêm lên phá cây. Sâu thường phá hoại nhiều ở thời kỳ cây con.
5.1.4. Quản lý sâu hại tổng hợp (IPM)
Quản lý sâu hại tổng hợp là kết hợp các phương pháp hoặc chiến thuật vào
chiến lược phòng trừ thích hợp cho từng vùng. Hiện nay, chương trình phòng trừ
sâu bệnh ở đậu tương chủ yếu là vào diệt trừ tạm thời việc bùng nổ củ a sâu hại
mà nó đã đạt được hoặc vượt ng ưỡng gây hại kinh tế. Điều này có thể thực hiện
hoặc sử dụng thuốc trừ sâu. Phương pháp này yêu cầu xác định mật độ sâu trên
đồng ru ộng, ở các giai đo ạn sinh trưởng khác nhau của cây và đồng thời đánh giá
mức h ại do sâu đã gây ra. Thông tin này có được qua các phương pháp theo dõi.
Dựa trên kết quả theo dõi, người quản lý dùng ngưỡng và sơ đồ quy định để xác
định việc phun thuốc hay không. Thuố c trừ sâu phải dùng ở mức độ thấp nhất và
chỉ khi mật độ sâu đến mức gây thiệt hại kinh tế. Để có biện pháp phòng trừ sâu
thích hợp, thì phươ ng pháp theo dõi, phương pháp dự đoán và kế hoạch rất cần
thiết, nó giúp cho việc đưa ra quyết định trong việc phòng trừ sâu hại.
5. 1.4. 1. Theo dõi ngoài đồng
Điều tra và theo dõi đồng ruộng đậu tương ở những giai đoạn sinh trưởng
khác nhau. Để xác định được lịch theo dõi hợp lý, ta cần hiểu đặc điểm phát sinh
và gây hại của chúng. Thí dụ nếu sâu hại chính trong vùng là rệp thì chú ý theo dõi
từ giai đoạn hình thành quả, vì rệp ít khi xâm nhập vào đồng ruộng trước giai đoạn
hình thành quả. Theo dõi để cung cấp một số thông tin sau:
Mật độ của sâu hại và trạng thái của tác nhân tự nhiên phòng trừ chúng (ký
sinh, loài ăn thịt, bệnh, khí hậu, thời tiết).
Số liệu về trạng thái cây trồng và mức độ gây hại hiện tại.
Cần phải đánh giá quần thể sâu hại:
Có nhiều phương pháp để đánh giá mật độ sâu, nhưng không một phương pháp
nào cho hiệu quả như nhau đối với tất cả các loại sâu ở tất cả các giai đoạn sinh
trưởng cây. Có nhiều tài liệu nói về các phương pháp lấy mẫu đối với sâu hại đậu
tương, nhưng phương pháp thực tế nh ất áp dụng trong chươ ng trình IPM là theo dõi
trực tiếp, để xác định trực tiếp và mức độ gây hại từ khi cây mọc tới giai đoạn bốn
lá (V4) hoặc năm lá (V5) sau đó dùng phương pháp lưới vét để đánh giá chính xác mật
độ.
Trong kế hoạch cần có thông tin về thiên địch tự nhiên và đặc biệt khả năng
bị bệnh. Công việc này có thể khó khăn bở i vì nó cần xác định thiên địch tự nhiên
hoặc ở ngoài đồng ruộng, hoặc ở trong phòng thí nghiệm.
Để có kế ho ạch phòng trừ cần có những số liệu về cây trồng. Mứ c hại trên
đồ ng ruộng là chỉ tiêu cuối cùng khó theo dõi nhất. Chẳng hạn khó đánh giá mức độ

rụng. Phương pháp mang tính thực tiễn nh ất là đánh giá bằng mắt. Tuy nhiên,
phương pháp này biến động nhiều giữa những người đánh giá. Những người đánh
giá phải được hu ấn luyện kỹ. Để làm được việc này, cây hoặc từng lá chết, với
mức độ rụng lá được đo trước một cách cẩn thận và dùng để so sánh bằng mắt với
mẫu lấy ngẫu nhiên ngoài đồng ruộng.
5.1.4.2. Dự báo
Theo dõi là biện pháp quan trọng qu ản lý sâu ở đậu tương. Tuy nhiên cuối
cùng việc chấp thuận ch ương trình quản lý của người nông dân tuỳ thuộc vào hiệu
quả của các biện pháp theo dõi, đ ánh giá và sự đơn giản của phương pháp. Ở hầu
hết các diện tích trồng đậu tương, sâu hại xuất hiện rải rác cả về th ời gian, không
gian và có nhiều năm không cần dùng thuốc sâu. Nhìn chung, cải tiến khả năng dự
báo cung cấp cho ngườ i trồ ng ngay từ đầu vụ những thông tin về khả năng sâu
hại, sẽ thúc đẩy người nông dân chấp nhận các phương pháp theo dõi và quản lý
sâu bệnh. Dự báo dựa trên mô hình nhưng bắt đầu xây dựng mô hình cần thu thập
số liệu về mật độ diễn biến sâu hại theo vùng.
5.1 .4.3. Xác định biện pháp phòng trừ
Sau khi theo dõi, người ta có thể đưa ra một số tiêu chuẩn để xác định chiến
lược phù hợp cho phòng trừ sâu hại ở điều kiện nào đó. Hầu h ết các chương trình
quản lý sâu bệnh này sử dụng mức độ tổn hại kinh tế và áp dụng liều lượng và
thuốc trừ sâu tối thiểu có ích, qua cái gọi là mô hình quyết định tĩnh, nó thường
gồm sơ đồ sử dụng dễ dàng cho nông dân.
Tuy nhiên, nếu nông nghiệp hiện đại ngày nay yêu cầu xác định một cách
chính xác các thông số cần thiết cho việc đư a ra một quyết định kinh tế đ úng.
Điều này có thể được qua sử dụng mộ t mô hình cơ động gồm quần thể sâu bệnh
và giai đo ạn sinh trưởng cây. Mô hình bao gồm tác đụng tổng hợp của thuốc sâu,
bệnh và thiên địch tự nhiên. Thông tin càng nhiều, mô hình càng trở nên hiện thực,
và sẽ giúp cho việc xây dựng một kế hoạch thực hiện tốt hơn.
Phòng trừ sâu hại đậu tương hiện nay chủ yếu là ngăn ch ặn tạm thời sự
bùng nổ của sâu khi chúng đạt tới mức hoặc v ượt ngưỡng kinh tế. Để có kết quả,
việc phòng trừ cần kết hợp tất cả các thông tin về mật độ sâu.
5.1.4.4. Thuốc hoá học
Thuốc hoá học chỉ là phương tiện tạm thời ngăn chặn sự bùng nổ của sâu lá,
việc dùng thuốc đúng liều lượng, theo đúng hướng dẫn của chuyên môn thì nó không
có hại tới ngườ i dùng và môi tr ường. Hiện nay, thuốc sâu là xương sống của hệ
thống phòng trừ tổng hợp và nó vẫn tiếp tục như vậy cho tới khi một phương pháp
phòng trừ mới ra đờ i. Mặc dầu, hầu hết thuốc hoá học đượ c sử dụng hợp lý và an
toàn. Song cũng có một vài trường hợp lạm dụng thuốc quá nhiều, ở liều lượng cao
gây ảnh hưởng đến môi trường và con ng ười, đôi khi còn tăng thêm mật độ sâu do
quen thuốc. Những kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ở nồng độ thuốc thấp cũng đủ
để phòng trừ sâu hại và cho phép các thiên địch tự nhiên có lợi sinh sống bình thường.
Nghiên cứu thuốc trừ sâu đậu tương phải khuyến khích nghiên cứu v ề loại mới
và phương pháp sử dụng trong hệ thống phòng trừ tổng hợp để bảo vệ môi trường
và bảo vệ thiên địch tự nhiên. Hiện nay có rất nhiều loại thuốc trừ sâu hại đậu tương
như: Dipterex, Ofatox, Sutin 5EC, Tanggo 800WG, Azodin, Basudin, Dimecron,
Match 050EC, để phun phòng trừ (B ộ NN & PTNT, 2002; Trần Văn Hùng, 1992).
Thông thường sau khi cây mọc được 5 ngày, nên dùng Dipterex 2 ‰ cộng với l‰
Padan 95SP (bình bơm 10 lít pha 2g Dipterex +lg Padan) phun kỹ để chống đố i đục
thân. Khi cây có 7 - 8 lá thật để trừ sâu hại lá phun kép lần 2 thuố c Dipterex 2‰ cộ
ng với 1‰ Padan 95SP. Lần phun này có thể phun thêm các chế phẩm phân bón và
chất kích thích qua lá để tăng năng suất hạt. Khi cây tắt hoa phun thuốc trừ sâu đục
quả bằng thuốc Ofatox hoặc Regent với nồng độ 2‰
5.1.4.5. Bệnh hại sâu và thuốc trừ sâu vi sinh
Bệnh hại sâu là mộ t thành phần chính trong thiên địch tự nhiên. Thiên địch tự
nhiên gồ m loài ăn thịt và loài ký sinh. Loài thiên địch đóng vai trò r ất quan trọng, nó
luôn giữ sâu hại ở dưới ngưỡng tổn thất kinh tế. Bệnh h ại sâu đặc biệt rất hiệu quả
trong phòng trừ sâu bộ cánh vảy (Lepidoptera). Nấm ký sinh rất ph ổ biến trên diện
tích trồng đậu tương, trong đ ó Nomuraea rileyi (Farlow) là loại phổ biến nhất. Nấm
này thường ký sinh gây dịch hại đố i với sâu non của sâu xanh, sâu đ o, sâu xanh hại
ngô và sâu róm. Sâu bị chết lúc đầu có màu tr ắng sau đó chuy ển sang xanh vớ i
nhiều bào tử. Nấm Entomophthora gammae Weiser ký sinh trên sâu non của sâu đo.
Sâu bị chết có hai dạng, một dạng mất màu, nhăn nheo, một dạng màu đen và cứng.
Vi khuẩn Bacillus thuringiensis Berliner là một loại thuốc trừ sâu vi sinh
(microbial insectiside) có ích, dùng để phòng trừ sâu xanh, sâu đo và sâu róm. Tuy
nhiên sau khi phun thuố c từ hai hoặc nhiều ngày sau mới chết, cho nên nông dân ít
dùng. Một vài loại virus như virus đ a diện (Nucleo polyhedrosis NPVS) có hiệu quả
trong phòng trừ các loại sâu bọ cánh vảy: sâu đo, sâu róm, sâu đục quả.
5.1.4.6. Thiên địch ăn thịt và ký sinh
Thiên địch tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc giữ mật độ sâu ở dưới
ngưỡng gây hại kinh tế. Không có chúng ta phải dùng thuố c nhiều lần để kiềm
chế sâu ở d ưới ngưỡng gây tổn thất kinh tế. Những năm gần đây, nhiều n ước đ ã
quan tâm đến sử dụng thiên địch tự nhiên, hạn chế sử dụng thuốc hoá học. Ở n
ước ta ngay từ những n ăm 1980 đã nghiên cứu và sử dụng ong mắt đỏ trong phòng
trừ sâu hại và gần đây là các loại thuốc trừ sâu vi sinh.
Loài ăn thịt ở đậu tương là loài đa thự c, nó ăn nhiều loại sâu khác nhau. Nó
thường ăn trứng và sâu non trước khi chúng gây h ại. Reed và cộng sự (1984) thấy
rằng 25% trứng sâu xanh ngô bị loài ăn thịt ăn sau khi đẻ trên lá đậu tương ở ngoài
đồng một ngày (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Loài ăn thịt chủ yếu là con trưởng thành
của Notoxus monodon (F) và Lebia analis (Dejean) và sâu chưa trưởng thành của
một số loài thuộc bộ cánh cứng.
5 .1.4 .7. Biện pháp canh tác
Nhiều biện pháp canh tác như thời gian gieo trồng, sinh trưởng của cây, khoảng
cách mật độ cây...có thể đóng vai trò quan trọng trong phòng trừ sâu hại. Ở Mỹ gieo
trồng sớm các giống thuộc nhóm V, có thể tránh được sâu xanh ngô hại đậu tương ở
vùng Bắc Carolina. Ngược lại ở Nam Carolina, gieo trồng giống thuộ c nhóm V hoặc
Vi thường b ị sâu xanh ngô hại nặng. Trong khi đó, những giống gieo muộn thì ít khi
đùng thuốc. Khoảng cách trồng có tác d ụng điều khiển sâu xanh ngô bởi vì sâu
trưởng thành thích đẻ trứ ng ở trong ruộng đậu tương tán thoáng. Như vậy, trồng dày
sẽ hạn chế sâu xanh ngô. Mật độ sâu xanh tăng nếu trồng xen ngô với đậu tương,
bởi
vì thế h ệ đầu sâu ăn ngô, sau đó chuyển sang đậu. Sâu đo đậu tương thường không
gây hại nghiêm trọng đố i với đậu tương ở vùng không có bông, nếu có bông bướm
sâu đo do hút mật ở hoa bông và đẻ trứng tới mức tối đa. Sâu nở ra sẽ sang hại đậu
tương trồng bên cạnh. Giảm cày bừa tăng vụ có thể ảnh hưởng tới bọ cánh cứng
Mêhicô, châu chấu chân đỏ và các loại sâu khác. Dùng bẫy b ằng giống dễ mẫm cảm
có tác dụng thu hút sâu bệnh và hạn chế ảnh hưởng với giống chính.
5.1.4.8. Giống kháng sâu bệnh
Dùng giống kháng sâu bệnh là biện pháp phòng trừ hiệu quả nhất trong quản
lý sâu hại đậu tương. Nhiều nhà nghiên cứu đã xác định mức đề kháng nhiều lo ại
sâu hại đậu tương. Lông đậu tương có tác dụng ch ống bọ nhảy (Empoasca fabae).
Lông gây khó khăn cho đẻ trứng và ăn hại của sâu. Lông cũng có ảnh hưởng tới sự
phát triển của loài chân đốt trên đậu tương.
Chương trình chọn giống chống sâu gần đây được đẩy mạnh hơn, các nguồn
gen chống sâu xanh ngô, cánh cứng, sâu đo đậu tương, sâu đo bắp cải hại đậu
(Trichoplusiani Hubner), rệp và ruồi trắng khoai lang (Bemisia tabaci) đã được xác
định để phục vụ cho chương trình chọn tạo giống.

5.2. Bệnh hại đậu tương
5.2.1. Bệnh hại lá
5.2.1 .1 . Bệnh gỉ sắt (Phakopsora pachyrhizi Sydow)
Bệnh gỉ sắt do nấm Phakopsora pachyrhizi Sydow gây ra, bệnh phổ biến ở Đài
Loan, Trung Quố c, úc, Nga, các nước Đông Á và Đông Nam á, ấn Độ, Châu Mỹ
(nhất là Trung và Nam Mỹ). Ở Việt Nam, có tài liệu cho biết đ ã phát hiện ra nấm
bệnh từ những năm 1940 và hiện nay bệnh có mặt và gây thiệt hại trên tất cả các
vùng trồng đậu tương từ Bắc vào Nam.
Triệu chứng: Bệnh có thể nhận biết rõ ràng khi các túi bào tử như các nốt mụn
màu vàng xuất hiện ở phía d ưới phiến lá và các túi bào tử vỡ ra bào tử mầu nâu đỏ.
Các bào tử được phát tán đi b ởi gió. Ở điều kiện nhiệt độ thích hợp (15-300C), ẩm
ướt nó nảy mần và xâm nhập vào lá qua các mô khí khổng. Vết bệnh có thể hình
thành ở các bộ ph ận cây Cây đậu tương ở các tu ổi đều mẫn cảm v ới bệnh. Ở
nước ta, bệnh thường phát triển mạnh sau khi đậu tương ra hoa, từ những lá tầng
thấp rồi lan dẫn lên những lá tầng trên, làm lá vàng khô rồi rụng hàng loạt. Thời tiết
ẩm ướ t là điều kiện cho bệnh phát triển và lây lan rộng, nó có thể huỷ hoại toàn cây.
Bệnh hại nặng làm năng suất đậu tương giảm tới 40-50%. Ở nước ta bệnh gây hại
quanh năm. Ở các tỉnh miền Bắc, b ệnh gây hại nặng cho vụ đậu tương đông xuân.
Ở miền Nam bệnh gây hại từ cuối vụ hè thu chuyển sang gây hại nặng trong vụ thu
đông.
Phòng trừ.
Thuốc hoá học: Zineb, hỗn hợp Boođô cũng có lợi cho việc phòng trừ.
Chọn giống chống chịu: Chọn lọc những giống kháng hoặc nhiễm nhẹ bệnh
gỉ sắt.
Biện pháp canh tác: Luân canh với các cây trồng không thuộc họ đậu, tốt nhất
là luân canh với lúa nước. Làm đất kỹ, thu dọn tàn dư cây vụ trước, nhất là cây bị
bệnh.
5.2.1.2. Bệnh đốm nâu (Septoria glycine Hemmi)
Bệnh đốm nâu th ường xuất hiện ở những vùng có khí hậu lạnh: Acgentina,
Brazin, Canada, Trung Quốc, ý, Nhật Bản, Đài Loan, Liên Xô (cũ), Nam Tư. Nó ít
khi xuất hiện ở vùng khí hậu ấm áp trên thế giới.
Triệu chứng: Dấu hiệu đầu tiên là những đốm nâu, không hình dạng xuất
hiện trên lá mầm. Tiếp theo là những đốm nâu đỏ có góc cạnh, với đường kính l-
5mm xuất hiện trên hai lá đơ n. Những lá này nhanh chóng chuyển sang màu vàng và
rụng. Bệnh từ nhữ ng lá tầng dưới phát triển lên tầng trên. Các vết tổn thương do
bệnh hoà lẫn với nhau nên khó có thể phân biệt được từng vết riêng biệt.
Tác nhân gây bệnh: Bệnh gây ra do nấm Septoria glycine Hemmi lần đầu tiên
được phát hiện ở Nhật Bản năm 1915. Bào tử nấm số ng qua đông trên thân và lá.
Nấm xâm nhập vào lá qua lỗ khí khổng và sinh trưởng ở giữa các tế bào. Nấm cũng
truyền qua hạt. Nó xâm nhập vào hạt qua khí khổng hoặc qua mô lá noãn hoặc vào
cuống noãn.
Phòng trừ.
- Vệ sinh đồng ruộng, dọn cây bị bệnh.
- Dùng hạt giống sạch, xử lý hạt với thuốc trừ nấm.
- Luân canh cây trồng, ít nhất một năm đối với cây trồng không nhiễm bệnh
đốm nâu.
- Phun thuốc trừ nấm trong giai đoạn từ ra hoa đến đậu quả có tác dụng phòng
trừ tốt.
5.2.1.3. Bệnh sương mai (Peronosporqa manshurica)
Đây là một b ệnh phổ biến ở tất cả các vùng trồng đậu tương trên thế giới.
Bệnh đã được phát hiện sớm ở Mỹ từ năm 1923. Ở Việt Nam bệnh gây hại khá
phổ biến. Ở miền Bắc, bệnh thường xuất hiện và gây hại trong vụ đông xuân. Ở
miền Nam, bệnh xuất hiện trong mùa mưa.
Triệu chứng: Trên bề mặt lá có những v ết màu xanh vàng lợt. Những vết này
về sau có màu nâu xám hoặc nâu đậm, khi các mô bị ho ại tử và xung quanh vết
bệnh thường có đường viền màu xanh vàng. Nếu không có đường viền đó thì mép
ngoài vết bệnh sẫm hơn phần giữa.
Những ngày có độ ẩm cao và sáng sớm ở mặt dưới lá, nơi vết bệnh có phủ
một lớp phấn màu sám hoặc phớt tím. Đây là đặc trưng của bệnh sương mai, để
phân biệt với các bệnh khác như: đốm nâu, đốm mắt ếch. Trường hợp bệnh nặng,
lá bị khô, mép ngoài công và rụng sớ m, làm hạt lép, có th ể làm giảm năng suất tới
8%. Một số giống cây bị bệnh có biểu hiện trên toàn thân: cây nhỏ, lá nhỏ hơn bình
thường và mép ngoài cong xuống, có vết xanh xám xuất hiện trên lá và mặt dưới lá
có lớp nấm màu xám.
Tác nhân gây bệnh: Bệnh do nấm Peronosporqa manshurica, lần đầu tiên phát
hiện ở Mỹ năm 1923. Điều kiện thích hợp cho nấm phát triển là độ ẩm cao và
nhiệt độ khoảng 20-220C.
Phòng trừ.
Dùng thuốc chông bệnh. Tính chống bệnh do một gen trội quyết định. .
Luân canh đậu tương với lúa hoặc cây trồng khác không. thuộc họ đậu.
Xử lý hạt bằng thuốc trừ nấm.
Phun thuốc: Benlate, Anvil, Benzimidazode.
5.2.2. Bệnh hại rễ và thân
5.2.2.1. Bệnh thối thân màu nâu (Braanr Stemrot)
Triệu chứng: Dấu hiệu đầu tiên là tuỷ và bó dẫn màu nâu, giai đoạn này phía
ngoài thân không có bi ểu hiện gì. Ở điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển, toàn
thân bên trong chuy ển sang màu nâu và bên ngoài, phần dướ i thân có biểu hiện
màu nâu. Nếu sau khi bị nhiễm b ệnh, th ời tiết nóng, khô, lá có thể bị héo, hoặc giữ
a gân lá, mô có th ể bị chết do thiếu nước. Nấm bệnh tiết ra một chất ảnh hưởng
tới vận chuyển nước trong các ống dẫn. Cây bị bệnh nặng chỉ cho năng su ất bằng
44% cây bình thường. Trong đó 2/3 năng suất giảm là do số hạt giảm và 1/3 do kích
thước hạt giảm. Cây bị bệnh thường đổ, gây khó khăn cho thu hoạch.
Tác nhân gây bệnh: Bệnh do nấm Caphalosporium gregatum. Gray (1974) công
bố chỉ có mộ t số chủng lo ại củ a nấm gây rụng lá và làm giảm năng suất. Nấm
bệnh có thể tồn tại trong đất vài năm mà không cán cây chủ là đậu tương.
Phòng trừ: Luân canh là biện pháp tốt nhất để phòng chống. Trong hệ thống
luân canh giữa ngô và đậu đã giảm mức độ nhiễm bệnh từ 100% còn 6%.
5.2.2.2. Bệnh thối rễ (phytophthora megasperma)
B ệnh thối rễ do Phytophora là một trong những bệnh gây hại nhất đối với
đậu tương. Bệnh được phát hiện ở hầu hết các diện tích trồng đậu tương ở Mỹ,
Canada, Úc, Hungari, Nhật B ản và Nezealand. Bệnh xuất hiện nhiều trên đất thịt
nặng, kém thoát nước. Nhiệt độ đất 10 - 150C rất thuận lợi cho bệnh phát sinh.
Bệnh phát triển nhanh ở nhiệt độ không khí 250C. Bệnh gây th ối rễ là chủ yếu,
song cũng có thể gây thối thân hoặc lá. Cây con dễ nhiễm bệnh và bị chết.
Triệu chứng: dấu hiệu đầu tiên của b ệnh là lá vàng và héo. Những rễ phụ bị
chết hoàn toàn và rễ chính có màu nâu sẫm. Màu nâu cô thề :tiến dần lên thân, có
khi tới đốt thứ 2 hoặc thứ 3. Nhiều giống không chết ngay, cây có màu lá vàng, sinh
trưởng kém giống như trường hợp đất ẩm, thiếu N.
Tác nhân gậy bệnh : Nấm gây bệnh là Phytophthora megasperma. Nhiệt độ
thích hợp cho nấm sinh trưởng lá 25- 280C. Nó có thể tồn tại trong đất một thời
gian dài mà không cần cây đậu tươ ng. Nấm bệnh có tới 23 ch ủng sinh lý khác
nhau. Tính chống bệnh của các gióng đậu tương do một gen trội Rps kiểm tra.
Phòng trừ: Kết hợp các biện pháp kỹ thuật canh tác, phun thuố c và dùng thuốc
chống bệnh là biện pháp phòng trừ hiệu quả. Làm đất kỹ, thoát nước có tác dụng hạn
chế bệnh rất nhiều. Tuy nhiên trong sản xuất đậu tương, khuynh hướng dùng máy
móc hiện đại, giảm làm đất, tăng sử dụng thu ốc trừ cỏ và luân canh đều làm tăng sự
phát triển của bệnh. Dùng thuốc Metalaxyl có tác dụng với Phytophthora.
5.2.2.3. Bệnh ung thư thân (Diaporthe phaseolorum)
Bệnh xuất hiện trên diện tích rộng ở vùng trung tâm phía Bắc nước Mỹ từ
những n ăm 1940. Bệnh nặng có thể làm năng suất giảm 50 - 100% (Bachman và
cộng sự, 1981). Bệnh thường xuất hiện trên cây ở giai đoạn 70 - 80% ngày tuổi.
Triệu chứng: Cây chết với những lá khô là đấu hiệu củ a bệnh ung thư thân.
Tuy nhiên dấu hiện ban đầu của bệnh là những vết nhỏ màu nâu đỏ ở cuống lá
hoặc cành tại 1 trong 8 đốt đầu tiên của thân. Sau khi cuống lá b ị rụng, v ết nâu đỏ
xu ất hiện ở vết sẹo và sau đó lan rộng ra bao quanh thân làm cây bị chết. Thân cây
bị bệnh rất giòn, dễ gẫy ở chỗ bị chấn thương.
Tác nhân gây b ệnh: Nấm gây bệnh là Diaporthe phaseolorum (Cke và Ell).
Nấm bệnh tồn tại trên thân và hạt bị bệnh
Phòng trừ:
Dùng giống chống bệnh, có một số giông chống bệnh đã được tìm thấy.
Dùng hạt giống sạch bệnh, cày bừa kỹ đất trồng có tác dụng phòng trừ tốt.
Luân canh với cây trồng khác, trừ cây bông.
5.2.2.4. Bệnh lở cổ rễ và thối thân lá (Rhizoctonia solani Kunehn)
B ệnh lở cổ rễ ngày càng trở nên nghiêm trọng đối với các vùng sản xuất đậu
tương. Độ c canh và dùng thuốc trừ co là 2 nguyên nhân dẫn đến bệnh phát triển
mạnh. Vết bệnh có màu nâu đỏ xuất hiện ở vùng vỏ cây sát mặt đất. Vết đỏ phát
triển rộng, bao quanh thân và làm cho cây bị chết. Ở những vùng đất ẩm ướt, độ ẩm
không khí cao, bệnh có thể tồn tại cho đến khi cây ra hoa, đậu quả. Phần dưới rễ cọc
và rễ phụ th ườ ng chết. Khi đất bị khô cây bị bệnh sẽ héo hoặc ch ết cây sẽ ra thêm
rễ, nhưng rễ này không có khả n ăng cung cấp nước cho cây khi đất khô. Bệnh này
có thể làm giảm năng suất 42-48%. Nhiệt độ 26 - 320C, độ ẩm đất >70% và pH>6,6
là điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển. Nấm gây b ệnh là Rhizoctonia solani
Kunehn. Ở những vùng nhiệt đới, ẩm ướt R.solani còn gây hại lá, quả và hạt.
Phòng trừ.
- Làm đất kỹ, tơi xốp, tránh để đất quá khô hạn hoặc úng.
- Đảm bảo đúng mật độ, tránh gieo quá dày.
- Phun thuốc validacin làm giảm tác hại của bệnh.
5.2.2.6. Bệnh thối thân (Macrophomina phaseolina)
B ệnh thố i thân là b ệnh của rễ và gốc cây do nấm Macrophomina phaseolina
(Tassi) gây ra. Nấm phát triển ở nhiệt độ cao (30 - 350C) và thiếu nước, bệnh xuất
hiện nhiều trên đất cát. Sợi nấm đ i vào và sinh sản ở mô rễ cây con, sau đó xâm nh
ập vào vỏ thân. Sau khi hình thành hạch cứng, nó xâm nh ập vào tế bào. Bệnh gây ra
những sọc đen ở phần gỗ của rễ và thân cây. Khi bóc vỏ rễ và gốc thân bị bệnh thấy
các mô chết phủ nhiều các hạch cứng nhỏ và đen như bồ hóng. Nấm bệnh rất phổ
biến ở những vùng có khí hậu ấm áp và xuất hiện ở hầu hết các n ướ c có trồng
đậu tương. Nám này gây hại tới 400 loài cây trồng và cỏ dại. Hạch nấm có thể
sống tự do trong đất hoặc trong các tàn dư cây bị bệnh ở đ iều kiện khô hạn trong
một thời gian dài. Trong đất ướt nó không thể sống quá tới 7 - 8 tuần.
- Phòng trừ. Chư a có biện pháp phòng tr ừ có hiệu quả đối với lo ại bệnh
nấm này bởi vì nó hiếm khi xuất hiện trên cây khoẻ. Chăm sóc cây trồng sinh
trưởng tốt là biện pháp phòng trừ tốt nhất.
5.2.3. Bệnh hại hạt
Những nấm hại hạt chính: Cercospora sojina, Peronospora manshurica,
Cornespora cassicola; Colletotrichum spp; Diaporthe phaseolorum var. Caulivora ete.
5.2.3.1. Bệnh đốm tím hạt (Cercosporna Kikuchii)
Bệnh đốm tím hạt là bệnh phổ biến nhất với h ạt đậu tương và được phát hiện
từ năm 1924 ở Mỹ. Bệnh này có mặt ở tất cả các vùng trồng đậu tương trên thế giới.
Triệu chứng: trên h ạt xuất hiện những vết hơi tím tới tím sẫm, v ới
kích th ước nhỏ tới lớn và có thể bao chùm hết hạt. Chỗ vết bệnh, vỏ
thường bị nứ t, tạo ra bề mặt hạt ráp và xấu Mặc dù nấm bệnh tấn công hạt
lá chính, nhưng nó có thể gây nhiễm thân, lá, quả. Trên lá, vết bệnh đầu tiên
xuất hiện vào giai đoạn R5 (bắt đầu hình thành hạt) và đầu R6 (hạt phát
triển). Bề mặt lá có màu hơi tím. Sau đó, cả hai bề mặt lá có những vết th
ương màu tím đỏ, kích thước khác nhau. Những vết này lúc đầu nhỏ, sau to
dần ra và có th ể hợp với nhau tạo vùng.mô bị chết, dẫn đến lá bị rụng.
Trước hết là những lá non. Vết bệnh trên cuống lá gây rụng lá nhiều hơn. Ở
những giống dễ nhiễm, trên quả xuất hiện vết đỏ tím, tròn, về sau chuyển
sang tím sẫm. Thân cây bị bệnh nặng, có biểu hiện màu nâu sẫm và chín
sớm hơn từ 7 tới 10 ngày.
Tỷ lệ hạt có vết đốm tím ảnh hưởng nhiều đến chất lượng hạt giống. Tiêu
chuẩn hạt làm giống không nên có quá 5% hạt b ị đốm tím. Điều kiện thời tiết
trong giai đoạn ra hoa, làm quả có ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ hạt có đốm tím.
Màu tím hạt không làm ảnh hưởng tới quá trình chế biến bởi vì màu đó bị mất đi
khi hạt đậu bị đun nóng.
Tác nhân gây bệnh:
Jone (1959) chứng minh có tới 10 loại Cercospora có thể gây ra bệnh ở đậu tươ
ng [6]. Nấm bệnh có thể sống qua đ ông trên tàn dư cây bệnh còn lại trên ruộng. Sự
xuất hiện hạt với vết đốm tím ở cây từ hạt bị bệnh và không bị bệnh không khác
nhau.Tuy nhiên, khi hạt bị bệnh đem trồng, nấm bệnh từ vỏ hạt vào lá mầm hơi kém
hơn hạt không bị bệnh. Bào tư nấm bệnh có thể truyền đ i do gió hoặc nước mưa
sang cây khác. Tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh cào xảy ra ở giai đoạn hoa nở rộ.
Phòng trừ:
Chọn giống với tính kháng cao, nguồn vật liệu với tính kháng cao hầu như
miễn dịch với bệnh này. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính kháng có thể do 1 hoặc 2
gen lặn quyết định.
Dùng hạt giống tốt, sạch bệnh, xử lý hạt với thuốc trừ nấm.
- Luân canh cây trồng với cây khác họ đậu.
5.2.3.2. Bệnh hại thân và quả (Diaporthe sojae)
Bệnh phổ biến ở nhiều nướ c trồ ng đậu tương trên thế giới: Mỹ, Achentina,
Braxin, Canada, Trung Quốc , Hy L ạp, Guyana, ấn Độ, Nhật, Thái Lan, Nga và Việt
Nam. Khi đậu tương chín trong điều kiện thời tiết ấ m, ẩm và thu hoạch ch ậm thì
thân và quả gần mặt đất dễ b ị nhiễm bệnh. Hạt bị bệnh trông rất xấu dẫn đến chất
lượng hạt giảm. Nấm gây bệnh còn gây hải nhiều cây trồng khác và cỏ dại.
Triệu ch ứng: Trên thân, cuống lá và quả xuất hiện những hàng túi bào
tử phấn màu đen. Vết bệnh cũng xu ất hiện ở phiến lá. Hạt b ị bệnh thường
có vỏ h ạt nhăn, nứt và phủ một lớp nấm trắng. Những hạt bị bệnh nhỏ h
ơn h ạt bình thường, nhưng nấm bệnh đôi khi cũng có ở trên những h ạt
bình thường. Hạt b ị bệnh thường không nảy mần hoặc nếu có nảy mần thì
cây con rất yếu. Trên lá mầm của h ạt bị bệnh có vết mô bị chết hoại, kích
thước nhỏ tới to có thể phủ hết lá mầm. Vỏ hạt b ị bệnh thường dính ch ặt
với lá mầm sau khi mọ c. Các nghiên cứu cho thấy. sau 2 năm bảo quản, tỷ
lệ hạt bị b ệnh giảm nhiều và tỷ lệ hạt nảy mần đồng thời tăng lên trong
cùng thời kỳ. Điều này chứng tỏ tuổ i thọ của nấm ngắn và những hạt bị
nhiễm không bị tổn thương lâu dài do nấm. Giai đoạn hạt nảy man là giai
đoạn thích hợp cho nấm phát triển.
- Tác nhân gây bệnh: Nấm gây bệnh là Diaporthe sojae, lần đầu tiên được
phát hiện ở Mỹ năm 1920.
Phòng trừ.
Luân canh cày bừa kỹ có hiệu quả phòng trừ tốt, xử lý hạt với thuốc chống
nấm cũng hạn chế nấm bệnh nhiều.
Phun thuốc trừ nấm có tác dụng giảm tỷ lệ hạt bị bệnh.
Lần 1 phun vào giai đo ạn quả phát triển (R4) n ếu có mưa ẩm 2 ngày liền từ
lúc hoa nở. Sau đó có thể phun lần 2, nếu có mưa hai ngày trong khoảng 10 ngày sau
phun lần 1 . Những năm khô hạn tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh ít, không cần phun.
Các giống có tính chống chịu khác nhau, nhưng di truyền của tính kháng bệnh
không cao.
5.2.4. Sử dụng thuốc hóa học trừ bệnh hại đậu tương
Hiện nay trên thị trường có nhiều loại thuốc trừ bệnh hại đậu tương. Khi phát
hiện bệnh xuất hiện trên cây đậu tương như đã nêu ở các phần trên, nên sử dụng
các loại thuốc trừ nấm mạnh như: Zineb, Tilsupper, Aliette 80WP, Ridomil 68 WP,
Tilt, Ricide 72WP, Boocđô vớ i nồng độ chỉ dẫn của từng loại thuốc để phun phòng
và trừ bệnh (Trần Quang Hùng, 1992). Nếu bị bệnh gỉ sắt, sươ ng mai và đốm nâu
nên dùng Zmeb hoặc Tilsupper để phun, còn bệnh lở cổ rễ thì nên dùng Validamicin
để phun ở thời kỳ cây con.

5.3. Các bệnh virus
Bệnh đo virus có thể thấy ở tất cả các khu vực sản xuất đậu tương. Tuy
nhiên, cũng có một số vùng không có bệnh virus, việc truy ền virus từ hạt đến cây
con không ph ải hiếm và nó có thể là nguyên nhân chính gây ra phổ biến bệnh. Y ếu
tố quyết định sự phát triển của virus ở một vùng là sự có mặt của vật môi giới và
trồng các giống dễ nhiễm.
Triệu chứng:
Triệu chứng bệnh virus rất khác nhau, biến động từ dạng không biểhiện ra
bên ngoài tới dạng b ị lùn nghiêm trọng hoặc ch ết. Nhìn chung, những triệu chứng
nghiêm trọng như cây lùn, lá rụng hết hoặc chết thường xảy ra rời rạc.
Ở một số trường hợp, vết bệnh có thể mờ , không rõ, như vết bệnh do virus
khảm lá đậu tương gây ra ở cây trồng ngoài đồng ruộng, nó có thể biến mất nếu
nhiệt độ ban ngày tối đa 300C. Cột số virus gây.ra triệu ch ứng rõ ràng trên lá non như
virus đốm quả, ngược lại virus khảm lá đậu tương thường làm cho lá già nhăn lại.
Một vài triệu chứ ng do virus thường gặp: khảm hoặc đốm vàng xanh trên lá,
hình dạng lá biến dạng, nhăn nheo và chết hoại, lá còi cọc, mấu nhú ra từ gân lá.
Sự truyền nhiễm bệnh:
Nững bệnh virus ở đậu tướng thường truyền qua rệp, ruồi trắng, bọ cách
cứng, châu chấu, bọ xít, tuyến trùng hạt và phương tiện cơ giới. Đậu tương là cây
ký chủ của 50 loài virus, nhưng có dưới 20 loài. ảnh hưởng nghiêm trọng, vấn đề
này có thể liên quan đến môi trường truyền bệnh
Phòng trừ:
Biện pháp phòng trừ virus có thể tiến hành bằng cánh dùng giống có tính
kháng cao hoặc trừ môi giới truyền bệnh:
Chọn giống kháng bệnh virus
Phòng trừ môi giới bằng thuốc hoá học
Phòng trừ cỏ dại và vệ sinh đồng ruộng
Phòng trừ bệnh virus truyền qua hạt
Chương V

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT VÀ BẢO QUẢN HẠT GIỐNG



Để sản xuất đậu tương có hiệu quả yêu cầu hạt giống phải được chọn lọc cao.
Sự phát triển hạt đậu tương là quá trình sinh học phức tạp, bắt đầu là thụ tinh noãn
và tiếp tục cho tới khi h ạt trưởng thành. Ở một giai đ oạn ngắn từ 30 tới 60 ngày,
hạt đậu thường gắn ch ặt vớ i cây mẹ. Nó hình thành trục phôi và hoàn thành tất cả
các quá trình sinh hoá, sinh lý cần thiết để tổng hợp và tích luỹ chất dự trữ. Ở giai
chín sinh lý sự tích luỹ chất khô cao nhất, hạt có sức sống và nảy mần cao nh ất.
Nhưng ở cây đậu tương, giai đoạn này lại rất ngắn so với những cây ăn h ạt khác.
Điều này có thể dẫn tới chất lượng hạt bị giảm, tỷ lệ nảy mầm kém làm cho mật độ
cây trồng không đảm bảo, nếu giai đoạn này gặp điều kiện bất lợi như khô hạn và
rét.

1 NHỮNG ĐẶC TÍNH CHẤT LƯỢNG HẠT
Mỗi hạt đậu tương có một số đặc tính ch ất lượng đo đượ c như thành phần
hoá học, vật chất di truyền, sức sống sinh lý, sức nảy mầm, kích thước, biểu hiện
bên ngoài và mầm bệnh. Khi những hạt tập trung thành lô hạt, những đặc tính này
được đánh giá qua lô hạt và có thể bị thay đổi do lẫn h ạt cây giố ng khác, cỏ và
các tạp chất khác. Ch ất lượng của lô h ạt thông thường bao gồm các chỉ tiêu như
độ sạch của giống, tỷ lệ cỏ và cây trồ ng khác, sự nảy mầm, sức số ng, mức độ
đồng đều, độ ẩm và mầm bệnh. V ấn đề chất lượng cần quan tâm nhất là sự nảy
mầm và sức sống. Tuy nhiên độ sạch và cỏ dại cũng là vấn đề quan trọng đối với
một số vùng sản xuất đậu tương.

1.1. Chất lượng từng hạt
Sự phát triển của hạt đậu tương bắt đầu từ khi thụ tinh noãn cho tới khi phôi
chết. Sự sinh trưởng và phát triển hạt trải qua liên tiếp các sự kiện tế bào học, trao
đổi chất và kết thúc khi hạt đạt tới chất lượng khô cao nhất ở giai đoạn chín sinh
lý. Ở giai đoạn chín sinh lý, hạt hoàn toàn có màu vàng và không còn liên quan đến
hệ thống dẫn của cây nữa. Độ ẩm hạt lúc này khoảng 550 g nước/1kg hạt tươi.
Sau đó tiếp tụ c bị mất n ước cho tới khi thu hoạch độ ẩm khoảng 140 g/1 kg. Ở
lúc thu hoạch, hạt đậu có dạng hình cầu phôi to và bao quanh một lớp vỏ mỏng.
Hạt đậu tương có th ể n ảy mầm khi 30% chất khô được tích luỹ và tỷ lệ nảy
mầm đạt cao nhất ở thờ i kỳ chín sinh lý. Khi đó hạt có sức sống mạnh nhất bởi
khoảng 90% chất khô đ ã đượ c tích luỹ trong hạt. Ở giai đ oạn chín sinh lý, hạt
không thể thu hoạch được bởi vì độ ẩm hạt v ẫn còn quá cao mà phải sau đó
khoảng 2 tuần hoặc hơn để thì hạt mới đạt tới độ chín thu hoạch.

1.2. Chất lượng lô hạt
Chất lượng lô hạt biểu hiện qua kết quả gieo trồng. Một lô hạt chất lượng
cao th ường đạt hoặc vượt mức một s ố tiêu chuẩn tối thiểu do cơ quan kiểm
nghiệm đưa ra (Bảng 5 .1). Phương pháp để lấy chỉ tiêu đó được ghi rõ ở quyển
kiểm nghiệm giống của tổ chức kiểm nghiệm giống quốc tế.
Bảng 5.1 : Tiêu chuẩn hạt đậu tương thuộc các cấp khác nhau

(Nguồn: Ngô Thế Dân và cs, 1999).
1. 2.1. Độ sạch
Độ sạch của giống cho ta biết tỷ lệ các thành phần của lô hạt là: hạt đậu
tương, hạt cây trồng khác, cỏ dại và tạp chất. Các đặc tính này được xác định qua
mẫu hạt khoảng 500g và phân lập chúng ra theo 4 loại :
Độ sạch của hạt đạt ít nhất 98% hoặc cao hơn. Nếu tỷ lệ hạt của các cây
khác hoặc giống khác vượt 5% thì lô hạt đó gọi là hỗn hợp hạt theo như luật của
nhà nước đã đề ra.
Hạt của cây trồng khác tức là hạt của cây khác với đậu tương. Nó có thể là
hạt ngô, hoa hướng dương, đậu thực phẩm hoặc hạt cây khác. Đối với những lô
hạt chất lượng cao, dùng để gieo không nên có hạt của các cây khác.
Hạt cỏ có 2 lo ại: Một là cấm không được có mặt ở lô hạt đậu tương, một
loại chỉ cho phép ở tỷ lệ thấp, tối đa là 0,05%.
Tạp chất: Gồm mảnh vỏ quả, thân, đá, đất và hạt vỡ, tỷ lệ tạp chất cho phép
không vượt quá 2%.
1.2.2. Khả năng nảy mần
Mặc dầu độ sạch của giống là quan trọng song cũng không có ý nghĩa nếu hạt
không có khả năng nảy mần. Duy nhất chỉ có một chỉ số chất lượ ng h ạt được
chấp nhận đó là hạt nảy mần. Khả năng nảy mầm của lô hạt là tỷ lệ hạt cho cây
con bình thường ở điều kiện thích hợp trong phòng thí nghiệm.
Trong luật kiểm định hạt giống có tiêu chuẩn về nhiệt độ, chất n ền và mẫu
hạt. Thời gian cho h ạt nảy mầm là 8 ngày. Tuy nhiên sau 3 đến 5 ngày ta có thể
đếm sơ bộ, đặc biệt đối với hạt bị nhiễm nấm hại. Vấn đề quan trọng trong thử
nảy mần là đếm những cây con bình thường và không bình thường. Cây con bình
thường là những cây có lá mầm hoàn hảo, rễ và trụ mầm dưới khoẻ. Cây không
bình thường là những cây không đáp ứ ng được những tiêu chuẩn trên. Tỷ lệ nảy
mần tối thiểu của lô hạt phải là 80% đối với hạt được cấp chứng chỉ.
1. 2.3. Độ thuần của giống
Vì trong sản xuất có nhiều giống đậu tương đang thịnh hành, cho nên độ
thuần của giống cũng là một chỉ tiêu quan trọng về chất lượng giống. Theo quy
định chung, nếu chỉ đánh giá độ thuần của giống qua đặc điểm hình thái hạt thì
không đủ mà cần kết hợp các phương pháp sinh hoá hoặc tế bào học.
Một đặc tính hình thái quan trọng để xác định giống là màu sắc rốn hạt. Rốn
có thể có màu rõ ràng (màu trắng, đen...) hoặc không rõ ràng. Tuy nhiên trong một
nhóm màu sắc lại có nhiều giống, cho nên việc xác định chính xác một giống sẽ
gặp khó khăn. Màu sắc rốn bị ảnh hưởng bởi nấm bệnh, điều kiện sản xuất.
Màu sắc trụ mầm dưới cũ ng dùng để xác định giống. Đặc điểm này có
tương quan chặt chẽ với màu sắc hoa. Trụ mầm.dưới có màu tím có ở những giống
có hoa tím, thân mầm xanh ở những giống có hoa trắng.
Bởi vì những đặc trưng hình thái cũ ng biến đổi, các nhà nghiên cứu thêm chỉ
tiêu hoá học hoặc hoá sinh để xác định độ thuần của giống, Buttery và Buzzell
(1968) đưa ra mộ t kỹ thuật đơn giản để xác định giống .đưa trên sự có mặt củ a
enzim perioxidase ở vỏ hạt. D ựa theo hoạt tính của enzim, h ọ phân lập ra 2 loại:
loại có hoạt tính cao và loại có hoạt tính thấp. Cũng như màu rốn hạt, màu trụ
mầm dưới, hoạt tính của enzim perioxidase không xác định được chính xác được
từng giống. Hiện đại hơn, người ta phân tích điện di của băng protein hoặc
isoenzim để xác định giống đậu tương.
Một vấn đề xảy ra khi đánh giá độ sạch củ a giống là không một phương
pháp nào có th ể tự xác định chính xác giống mà phải kết hợp cả mấy phương pháp
(màu rốn, màu thân mầm dưới, hoạt tính của Perioxidase ở vỏ hạt và 2 phương
pháp điện di). Ngay cả khi áp dụng những kỹ thuật hiện đại, không phải tất cả các
giống đều xác định được.
1 .2.4. Sức sống hạt giống
Sức sống hạt bao gồm những tính chất xác định khả năng nảy mần nhanh
(sức nảy mầm), đều và sự phát triển của cây con ở điều kiện ngoài đồng. Nh ư
vậy, hai lô hạt có tỷ lệ nảy mầm g ần như nhau, nhưng có thể cho kết quả rất khác
nhau ở điều kiện đồng ru ộng do sự chênh lệch về sứ c sống của chúng. Đánh giá
sức sống của giống có thể làm theo phương pháp sau: sinh trưởng cây con; thử ở
điều kiện khó khăn; những phương pháp thử sinh hoá. Phương pháp th ứ nhất gồm
tỷ lệ sinh trưở ng cây con, tốc độ nảy mần, phân loại sức sống cây con. Phương
pháp thứ hai xử lý nhiệt và xử lý lạnh. Trong khi đó, phương pháp thứ ba gồm xử lý
với tetrazolium chloride, sự dẫn đ iện, hô hấp và những phương pháp thử khác về
khả năng chuyển hoá. Phương pháp thông dụ ng nhất là xử lý nhiệt và xử lý lạnh,
trong khi đó mộ t số phương pháp cũng được sử dụng là sự dẫn điện, xử lý
tetrazolium và phân loại sức sống cây con.
Xử lý nhiệt lúc đầu đưa ra để đánh giá tuổi thọ của hạt trong kho bảo quản,
tuy nhiên, ngườ i ta cũng chỉ ra rằng nó cũng có tương quan ch ặt chẽ với mật độ
cây ngoài đồng. Theo phương pháp này, hạt đậu tương được giữ ở nhiệt độ 410C
và độ ẩm 100% trong thời gian từ 3 đến 4 ngày trước khi đem chúng ra để thử sức
nảy mần ở điều kiện thuận lợi.
Xử lý lạnh lúc đầu đưa ra để xác định sức số ng hạt ngô, tuy nhiên, trong mấy
năm gần đây nó đã đượ c sử dụng ở các cây trồng khác trong đó có cây đậu tương.
Hạt được gieo trong đất ho ặc trong giấy th ấm n ướ c có đất để ở nhiệt độ 10oC
trong 5 đến 7 ngày. Sau đó lấy ra để thử sức nảy mần ở điều kiện thuận lợi và
đếm những cây con bình thường Vấn đề khó khăn nh ất đối v ới xử lý lạnh là tiêu
chuẩn hoá đất dùng để thử các vùng khác nhau. Mặc d ầu có khó khăn như vậy, xử
lý lạnh vân được dùng nhiều hơn bất kỳ các phương pháp khác.
Thử độ dẫn điện tức là đ o các chất điện phân dò rỉ qua mô cây. Hạt có sức
sống kém thường có cấu trúc màng bị phá v ỡ khi những hạt đó ngâm vào nướ c,
nhiều chất điện phân (axit amin, axit hữu cơ) dò rỉ ra và sự dẫn điện của nước đó
tăng lên. Sự dẫn điện tăng, sức sống càng kém. Phương pháp này có tương quan
chặt chẽ với sức sống hạt đậu tương.
Theo phương pháp này, lấy khoảng 25 đến 50 hạt đậu ngâm vào một chén có
chứa 75 ml nước cất, để trong 24 giờ ở nhiệt độ 200C, sau đóựdn sựđiện Của ncớc
ngâm đó bị ảnh hưởng b ởi độ ẩm hạt lúc đầu, hoá chất xử lý h ạt, nấm bệnh h ạt.
Bởi vì độ dẫn điện ch ỉ được đo ở trên mẫu 25 đến 50 hạt, cho nên một ít hạt xấu
có thể ảnh hưởng tới kết quả.
Phương pháp đo sứ c sống cây con đượ c tiến hành ở cùng một điều kiện như
thử sức nảy màn. Tầy nhiên, sự sinh trưởng cây con được đánh giá theo 2 cách: tỷ lệ
sinh trưởng của cây con; và phân loại sức sống cây con. Cả 2 cách này đều không tốn
kém, không yêu cầu dụng cụ đặc biệt và tương đối nhanh. Tuy nhiên, nó có một số
nhược điểm: nhiệt độ và độ ẩm của môi trường phải được kiểm tra chính xác; thời
gian đ ánh giá nghiêm ngặt; phân loại cây con thành nhóm yếu hoặc khoẻ không
khách quan. Vì những lý do này, phương pháp thử sức sống cây con trong phòng thí
nghiệm g ặp khó khăn, AOSA (1983) đ ã đưa ra phương pháp phân loại sức sống cây
con (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Đây là dạng mở rộng củ a phương pháp nảy màu tiần
chuẩn với yêu cầu là cây con phân thành 2 loại khoẻ và yếu. Phương pháp này được
tiến hành ở nhiệt độ không đổ i 250C, sau 5 ngày bắt đầu đếm và phân loại. Cây con
có sức sống yếu gồm loại mất rễ chính, mất một lá mầm, thối, không có lá đơn hoặc
lá đơn ngắn, sinh trưởng kém. Đ ánh giá tỷ lệ sinh trưởng cây con, ở trong cùng điều
kiện thử tỷ lệ nảy màn, vầi điều kiện độ ẩm của giấy thấm nước được kiểm tra
chặt chẽ. Cuối giai đoạn nảy mầm, tỷ lệ sinh trưởng của cây con được bằng chiều
dài ho ặc chất khô (trừ 2 lá mầm). Phương pháp này có một số hạn ch ế. tốn:thời
gian để đo cây con; bị ảnh hưởng bởi sự biến động của nhiệt độ và độ ẩm; và phản
ứng khác nhau của các giống có thể làm cho việc giải thích gặp khó khăn.
Đối với lô hạt đậu tương, tỷ lệ nảy mầm chấp thuận ít nh ất là 80% và nó có
thể có sức sống khác nhau. M ặc dầu cho tớ i nay, sức sống hạt giống chưa đượ c
tiêu chuẩn hoá, nhưng người ta cố gắng giảm sự biến động và nhiều phương pháp
được sử dụng rộng rãi. Khi phương pháp thử sức sống được chấp nhận và tiêu
chuẩn hoá thì bên cạnh tỷ lệ nảy mầm, cần công bố ngay cả sức sống của lô hạt ở
thời điểm mua bán giống.
1.2.5. Nấm bệnh lây qua hạt
Nhiều nấm, vi khuẩn và virus có thể phá ho ại sức sống của hạt đậu tương
trước khi thu hoạch và làm giảm chất lượng hạt. Mặc dầu hạt bị nhiễm b ệnh có thể
giảm nghiêm trọng tỷ lệ nảy mần và sức sống hạt, nhưng ngay tại Mỹ vẫn có ít
nghiên cứu phát hiện sự có mặt của nấm bệnh ở hạt trong các phòng thí nghiệm
giống.
Mặc dầu một số nấm b ệnh có thể phát hiện được bằng mắt th ường ở trên
hạt đậu khô phương pháp thông dụng nhất vẫn là ủ hạt đậu trên đĩa có thạch hoặc
trên giấy thấm nước. Dấu hiệu hạt màu tím trên vỏ do bị nhiễm nấm cercospora
kikuchii và b ệnh virus khảm lá có th ể phát hiện được qua quan sát hạt đậu. Những
hạt nhiễm nấm phomopsis spp có thể phát hiện được vì có vỏ hạt nhăn nheo hoặc
bạc bụng. Tuy nhiên, sau vài ngày ủ trên thạch hoặc giấy thấm,người ta phát hiện
mối tương quan chặt giữa nấm bệnh này với nấm bệnh khác.

2. TƯƠNG QUAN GIỮA CHẤT LƯỢNG HẠT VÀ KHẢ NĂNG NẢY
MẦM VÀ NĂNG SUẤT
Chất lượng hạt trước khi trồng có tương quan chặt với kết quả sản xuất trên
đồng ruộng và trong.kho bảo quản
2.1. Khả năng bảo quản
Sản xu ất đậu tương yêu cầu giống ph ải bảo quản từ lúc thu hoạch của vụ
trước (từ tháng 6) đến vụ trồng tới (có thể tháng 9 cùng năm hoặc tháng 2 năm sau).
Hoặc từ lúc thu hoạch (tháng 12) đến tháng 8 ho ặc 9 năm sau. Trong su ốt thời gian
bảo quản, chất lượng hạt có thể giữ nguyên như trạng thái ban đầu hoặc bị giảm tới
mức mà hạt đó không còn chấp nhận được làm giống được nữa. Người ta biết rằng
độ ẩm hạt và nhiệt độ là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới ch ất lượng hạt trong
quá trình bảo quản. Tuy nhiên, sự thoái hoá của hạt trong quá trình bảo quản cũng có
liên quan tới chất lượng (sự nảy mần và sức sống) ban đầu của hạt.
Thực tế cho thấy nh ững hạt bị dập nát vỡ do thu hoạch ảnh hưởng tới sức
nảy mần hạt trong b ảo quản. Các công trình nghiên cứu cho th ấy tuổi thọ của hạt
có tương quan chặt vớ i tỷ lệ nảy mần lúc đầu, tỷ lệ hạt cứng, hạt nhỏ và hạt sinh
trưởng ng ắn. Egli và cộng sự (1979) thấy chất lượng ban đầu là yếu tố chính ảnh
hưởng tới sự thoái hoá hạt và giống không có ảnh hưởng tới khả năng bảo quản
hạt của chúng. Starzing và cộng sự (1982) cho thấy tỷ lệ nảy mần của hạt màu
vàng giảm nhanh hơn hạt có màu đen (Ngô Thế Dân và cs, 1999).

2.2. Nảy mần ngoài đồng
Một số tác giả cho thấy có mối tương quan chặt giữa tỷ lệ n ảy mầm trong
phòng với sức nảy mần ngoài đồng ruộng, trong khi đ ó, một số tác giả khác cho là tỷ
lệ nảy mần trong phòng thường cao hơn nhiều so vớ i nảy mần ngoài đồng ruộng.
Sự khác nhau này có thể do sự biến động lớn ở ngoài đồng ruộng. K ết quả thử trong
phòng chỉ có thể dự đoán chính xác nảy mần ngoài đồng ở điều kiện lý tưởng.
Giá trị về sứ c sống hạt giống có tương quan với nảy mần ngoài đồng ruộng
chặt hơn so với tỷ lệ nảy mần trong phòng. Tuy nhiên, người ta chưa xác định một
phương pháp nào có thể dự đoán kết quả ngoài đồng ruộng trong tất cả các đ iều
kiện. Hạt chất lượng cao có thể cho nảy mầm ngoài đồng ruộng tốt hơn so với hạt
chất lượng kém.

2.3. Năng suất
Chất lượng hạt có th ể ảnh hưởng tới năng suất qua 2 cách: Gián tiếp qua
nảy mần ngoài đồng ruộng và mật độ cây hoặc trực tiếp qua sức số ng cây. Nếu
mật độ không đảm bảo do đ ùng hạt chất lượng kém, năng su ất cũng sẽ bị giảm.
Tuy nhiên khi so sánh nh ững lô hạt v ới chất lượ ng hạt khác nhau ở mật độ thích
hợp để có năng suất tối đa, thì không thấy mố i tươ ng quan giữ a chất lượ ng và
năng su ất. Kết quả này cho thấy, tính ưu việt của hạt chất lượng tốt là khả năng
đạt được mật độ thích hợp ở những điều kiện khác cao.
Dựa trên kết quả thực tế nhiều năm thấy rằng, ở điều kiện sản xuất bình
thường, chất lượng hạt tốt chỉ có ảnh hưởng ít tới năng suất. Tuy nhiên, nếu ta tính
đến mật độ không đảm bảo thì việc sử dụng hạt tốt vẫn có lợi hơn nhiều so với
các hạt chất lượng kém.
3. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG HẠT

3.1. Môi trường
Chất lượ ng hạt đậu tương biến đổi qua nhiều vùng và năm. Điều này chứng
tỏ điều kiện môi trườ ng trong thời kỳ sản xuất có ảnh hưởng đáng kể tới chất l
ượng hạt. Môi trường có th ể tác động ở 3 giai đoạn; trong thời gian hình thành -
phát triển hạt, trong thời kỳ độ ẩm hạt giảm (từ chín sinh lý tới chín thu hoạch) và
sau chín thu hoạch khi hạt vẫn trong quả ở ngoài đồng.
Green và cộng sự (1965) công bố hạt của những lô đậu chín sau thời kỳ thời
tiết nóng và khô thường cho tỷ lệ nảy mần ở trong phòng và mọc ngoài đồng cao
hơn so với hạt của những lô chín vào đúng th ời kỳ thờ i tiết nóng và khô. Nhiệt độ
cao trong thời gian từ chín sinh lý tới chín thu hoạch sẽ giảm tỷ lệ nảy mần và sức
sống hạt (Ngô Thế Dân và cs, 1999).
Nhiều tác giả cho thấy chất lượng hạt thoái hoá khi hạt v ẫn ở ngoài đồng
ruộng sau chín thu hoạch. Những giống chín sớm bị ảnh hưởng bởi thu hoạch mu
ộn nhiều hơn giố ng chín muộn. Nhiệt độ, độ ẩm không khí cao, mưa nhiều làm
tăng sự thoái hoá h ạt ở ngoài đồng ruộng. Sự xen kẽ giữa khô và ẩm sẽ làm giảm
chất lượng hạt nhiều hơn, vớ i giống đậu tương có tỷ lệ hạt vỏ cứng cao thì tỷ lệ
nảy mần ít b ị ảnh hưởng do thu hoạch muộn. Tỷ lệ nảy mần giảm do thu hoạch
muộn có tương quan chặt tớ i mứ c độ nấm bệnh. Chất lượng hạt giống rất khác
nhau do ảnh hưởng của môi trường cho thấy rằng chất lượng của một lô hạt nên
xác định ngay sau khi thu hoạch để xác định khả năng làm giống của chúng.

3.2. Yếu tố di truyền
Nhiều nghiên cứu cho rằng có sự khác nhau nhiều về chất lượng giữa các
giống.
Người ta vẫn chưa rõ sự khác nhau đó là do đặc tính của cây hay do sự biến
động của môi trường bên ngoài ở thời kỳ phát triển hạt.
Chất lượng hạt giống có thể cải tiến được qua chọn lọc và phương pháp hiệu
quả nhất là đánh giá bằng mắt biểu hiện bên ngoài của hạt, kết hợ p với thử sức nảy
mần trong phòng. Một số đặc tính của hạt cũng ảnh hưởng tới chất lượ ng của
chúng. Hạt có kích thước nhỏ có chất lượng cao hơ n h ạt có kích thước lớn. Nhiều
nghiên cứu đã chứng minh rằng hạt của những dòng có tỷ lệ hạt vỏ cứng cao sẽ ch
ống chịu với thời tiết tốt. Hạt màu đen có tỷ lệ h ạt bị thoái hoá trong b ảo quản ít
hơn hạt màu vàng bởi vì mức độ b ị nhiễm nấm bệnh củ a nó ít hơn. Độ dầy của vỏ
hạt ở các giống khác nhau, nhưng có tương quan giữa độ dầy vỏ hạt và chất lượng
hạt. Độ dầy của vỏ cũng không có tương quan đến kích thước hạt.
3.3. Yếu tố cơ học
Hạt đậu tương có khả năng ch ống chịu sự phá hoại cơ học kém. Nó có thể bị
vỡ xây sát trong quá trình thu hoạch, phơi và làm sạch. Tỷ lệ hạt bị vỡ cơ học tỷ lệ
ngh ịch với độ ẩm hạt. Độ ẩm thích hợp để thu ho ạch khoảng 12 - 14%, tỷ lệ hạt
bị tổn thương sẽ bị giảm, nhưng hạt với độ ẩm cao sẽ bị tổn thương từ bên trong
và nảy mần sẽ giảm đi. Hạt to dễ bị tổn thương hơn hạt nhỏ và những hạt được
phơi khô ở nhiệt độ cao dễ bị tổn thương.
Ảnh hưởng của tổ n thương cơ học đến chất lượng phụ thuộc vào tỷ lệ và
loại tổn thương. Nhìn chung khi tỷ lệ hạt bị tổn thương tăng, tỷ lệ n ảy mần giảm,
tỷ lệ cây con không bình thường tăng. Tỷ lệ hạt tổn thương cũng làm giảm tỷ lệ
hạt mọc ở ngoài đồng ruộng.
Một số phương pháp đưa ra để đo sự tổn thương hạt. Dùng indoxyl acetate
để phát hiện vết nứt, xây sát ở vỏ h ạt. Hoặc ngâm hạt trong hypochlorite natri để
phát hiện v ết nứt ở vỏ hạt. Hoặc dùng tetrazolium cũng để phát hiện tổn thương ở
lá mầm và trụ mầm dưới.

3.4. Nấm bệnh ở hạt
Hạt đậu tươ ng có thể b ị nhiễm nhiều loại nấm, vi khuẩn và virus. Chất
lượng của hạt b ị nhiễm sẽ bị giảm biểu hiện ở hình thức bên ngoài xấu đi, tỷ lệ
nảy mần kém, khả năng sinh ra cây con khoẻ mạnh kém hoặc nó có thể di truyền
nấm bệnh từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy, rõ ràng là hạt có chất lượng
cao phải không bị nhiễm các loại nấm bệnh.
Ở tất cả các vung sản xuất đậu tương, bệnh vỏ hạt đậu tương bị tím do nấm
Cercospora kikuchii đều xảy ra bệnh làm cho bề ngoài của lô hạt bị x ấu, tuy nhiên,
ch ưa có bằng ch ứng rõ ràng chứng tỏ nó bị giảm tỷ lệ nảy mần và mọc của hạt.
Thực tế cho thấy tỷ lệ nảy mầm và mọc của hạt bị giảm nếu hạt giống bị nhiễm
bệnh vỏ hạt tím. Có nhiều nấm bệnh khác như (Peronospora manshurica Ngụm).
Syd, Colletotrichum demanum (Pers.ex Fr). etc.. cũng hại hạt đậu, nhưng nó x ảy ra
rải rác và thường không được coi là y ếu tố quan trọng ảnh hưởng tới ch ất lượng
hạt. Một số vi khu ẩn và virus cũng hại và truyền qua hạt đậu tương. Hạt từ cây bị
virus xoăn lá có thể bị đốm hoặc nảy mần kém.

3.5. Sâu hại
Đậu tương bị nhiều sâu hại phá hại làm giảm năng suất, tuy nhiên, chỉ có bọ xít
gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hạt. Ba loại bọ xít quan trọng: bọ xít xanh
(Acrosternum hilae (Say)), bọ xít xanh miền Nam Nezarra viridula và bọ xít nâu
(Euschistus servus (Say)). Chúng châm vào mô cây và hút dịch cây, mặc dầu chúng
có thể tấn công tất cả các bộ phận cây, nh ưng nó thích phần non và qu ả cây. Hạt
bị hại ở giai đoạn non sẽ b ị nh ăn, kích thước nhỏ, ở giai đoạn sau thì trên hạt chỉ
có lỗ nhỏ bao quanh bởi vùng bạc màu.
Tỷ lệ nảy mần, tỷ lệ mọc của hạt bị bọ xít châm giảm. Các nghiên cứu cho
thấy nếu h ạt b ị châm ở trục trụ mầm dướ i - rễ hạt có th ể không nảy mần, nếu bị
châm ở lá mầm hạt có thể nảy mần nhưng sức sống cây yếu. Nếu quả non bị bọ xít
chích hút, tỷ lệ hạt bị hại nhiều nhất, khi qu ả đã vàng, bọ xít không ảnh hưởng tới
chất lượng hạt. Những hạt bị bọ xít hại thường dễ bị loại trong quá trình làm sạch
hạt đậu tương.

4. SẢN XUẤT VÀ DUY TRÌ HẠT GIỐNG CHẤT LƯỢNG CAO

4.1. Biện pháp canh tác
Trong luân canh có tác dụng bảo vệ độ sạch của cây trồng, giảm tỷ lệ sâu bệnh.
Canh tác theo tập quán bình thường có tác dụng giảm mức độ nhiễm sâu bệnh
ở hạt hơn so với canh tác tối thiểu.
Ta biết rằng, nóng ẩm đã tạo điều kiện cho nấm Phomopsis spp phát triển.
Để tránh nhiễm b ệnh, người ta có thể điều chỉnh thời vụ gieo trồng, chẳng h ạn
trồng muộ n hơn các giố ng chín sớm, thì sự phát triển hạt sẽ rơi vào giai đoạn có
thời tiết khô, lạnh hơn nên tỷ lệ bị bệnh Phomopsis spp sẽ giảm.
Có nhiều thuố c phun lên lá để giảm mức độ hạt bị nhiễm bệnh Phomopsis
spp, tăng chất lượng hạt và đồng thời tăng năng suất ở một số vùng. Để giảm
mức độ hạt bị nhiễm Phomopsis spp, cần phun phòng trước khi hạt có dấu hiệu b
ệnh xuất hiện. Vì v ậy d ựa trên kinh ngiệm sản xuất, người ta xác định thời điểm
nào phun thuố c có hiệu quả nhất. Sạch cỏ và những cây trồng khác là yêu cầu quan
trọng của những khu vực sản xuất hạt giống.

4.2. Thu hoạch
Nảy mần và sứ c số ng hạt có khuynh hướng giảm từ sau khi chín sinh lý, đặc
biệt ở điều kiện thời tiết bất lợi. Như vậy, đậu cần phải thu ngay sau khi nó khô
tới độ ẩm khoảng 12 - 15%. Nếu độ ẩm hạt thấp hơn 12%, tỷ lệ hạt tổn thương
cơ học sẽ lớn. Máy gặt đập ngay có khuynh hướng gây hạt bị tổn th ương ít hơ n
máy gặt thông thường. Ở cả 2 loại máy này, vận tố c cần điều ch ỉnh đủ lớn để có
th ể tuốt và làm sạch hoàn chỉnh. Nếu vận tốc quá lớn sẽ dẫn đến tỷ lệ hạt bị tổn
thương nhiều. Ở mỗi điều kiện, thời điểm thu hoạch, máy cần điều chỉnh lại cho
phù hợp. Ở nước ta thường có tập quán gặt, đập bằng tay.

4.3. Phơi
Sau khi thu ho ạch, hạt cần phơi khô để đảm bảo chất lượng hạt trong bảo
quản. Ta có thể phơ i khô ở điều kiện tự nhiên hoặc nhân tạo. Nhiệt độ, tỷ lệ khí và
thời gian phơi cần kiểm tra nghiêm khắc để đảm bảo có hạt với chất lượng cao
nhất. Ở điều kiện tự nhiên, hạt nên phơi ở nhiệt độ 160C và độ ẩm không khí 75%.
Hạt có thể bị nứt nếu bị phơi khô ở nhiệt độ cao hoặc ẩm độ không khí quá
thấp.
Khi phơi ở ẩm độ không khí 40% hoặc thấp hơn, ngườ i ta nhận th ấy có sự
chênh lệch đáng kể về nảy mần giữa các giống. ảnh hưởng củ a nhiệt độ tới nảy
mần rất ít, ngay cả khi nhiệt độ phơi sấy lên tới 540C. Tuý nhiên, trên nhiệt độ này
tỷ lệ nảy mầm của hạt sẽ bị giảm.
Mục đích cuối cùng của phơ i khô là giảm độ ẩm tới mức mong muốn mà
không ảnh hưởng tới nảy mần, sức sống và không gây ra tổn thương trên hạt đến
mức giảm chất lượng và tuổi thọ của chúng. Để giảm vết nứt trên vỏ hạt, độ ẩm
của khí làm khô phải trên 40%. Độ ẩm tối đa của khí làm khô phải khoảng 65%
hoặc thấp hơn để làm khô hạt tới mức mong muốn.
Ở một số nước chậm phát triển như ở nước ta, do điều kiện cơ giới hoá hạn
chế, đậu tương có thể phơi trên nia, mẹt hoặc bạt để đảm bảo chất lượng hạt.
Trong điều kiện mùa hè nắng, ch ỉ cần phơi từ 2 - 3 nắng là hạt có thể đạt tới độ
ẩm mong muốn. Mùa đông có thể cần phơi nhiều lần hơn vì nắng yếu.

4.4. Bảo quản trong kho
Hạt đậu tương phải cất giữ cẩn thận để đảm bảo nảy mần và sức sống cho vụ
trồng tớ i. Th ời gian bảo quản có thể từ 6 tới 20 tháng hoặc lâu h ơn n ếu như phải
cất giữ cho một vài vụ. Tuổi thọ của nó phụ thuộc vào chất lượng ban đầu, độ ẩm
và nhiệt độ. Bất kể chất lượng hạt ban đầu, nhiệt độ và độ ẩm hạt là 2 yếu tố quan
trọng nhất ảnh hưởng tới sự thoái hoá củ a h ạt trong bảo quản. Bởi vì hạt đậu có
tính chất hút ẩm, trong quá trình bảo quản sẽ có sự trao đổ i độ ẩm giữa hạt và môi
trường xung quanh cho tới khi có sự cân bằng. Độ ẩm của hạt lúc này gọi là độ ẩm
cân bằng (EMC). Nhiệt độ và độ ẩm hạt là 2 yếu tố quan trọng dẫn đến những biến
đổi sinh lý, sinh hoá và di truyền trong hạt trong quá trình bảo quản.
Có mối tương quan chặt giữa biến đổi hoá học, nảy mần và độ ẩm bảo qu ản
hạt. Khi có độ ẩm dao động từ 138 tới 169g/kg, bảo quản 15 tuần ở nhiệt độ trong
phòng và ở 37,80C không có một hạt nào còn sống sót. Tuy nhiên, với cùng mẫu đó và
cùng bảo quản với thời gian 15 tuần ở 2oC, hạt còn giữ được tỷ lệ nảy mần cao. Sau
18 tháng bảo quản ở 20C, tỷ lệ nảy mần của hạt vớ i độ ẩm 138g/kg là 85%, 149g/kg
là 84%, 158g/kg là 75% và 189g/kg là 42% (Ngô Thế Dân và cs, 1999). Như vậy, để
giữ cho hạt đậu có tỷ lệ nảy mần cao, hạt cần được bảo quản ở nhiệt độ độ ẩm
thấp.

4.5. Làm sạch hạt
Hạt sau khi thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp, cần làm sạch theo các
bước: làm sạch cơ bản, phân loại hạt và xử lý hạt.
4.5.1. Làm sạch sơ bộ
Sau thu hoạch, lấy mẫu và quan sát, xác định độ ẩm hạt. Nếu có độ ẩm quá
thấp (
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản