Giáo trình Cơ sở chăn nuôi - Chương 1

Chia sẻ: Dalat Ngaymua | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

0
125
lượt xem
50
download

Giáo trình Cơ sở chăn nuôi - Chương 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài mở đầu GIỚI THIỆU NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC 1. VỊ TRÍ CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN Chăn nuôi là một ngành sản xuất rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp nhiều loại sản phẩm phục vụ và nâng cao đời sống con người

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Cơ sở chăn nuôi - Chương 1

  1. PGS.TS. LƯU CHÍ THẮNG CƠ SỞ CHĂN NUÔI NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
  2. http://cnty.rumenasia.org, TL tham khao, P.V. Hai Bài mở đầu GIỚI THIỆU NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC 1. VỊ TRÍ CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN Chăn nuôi là một ngành sản xuất rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp nhiều loại sản phẩm phục vụ và nâng cao đời sống con người, dùng trong nước và để xuất khẩu. Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và đất nước, ngành chăn nuôi có vai trò quan trọng: - Cung cấp ngày càng nhiều thực phẩm với chất lượng cao đối với đời sống nhân dân, cải thiện đời sống bằng những sản phẩm chăn nuôi như các loại thịt, cá, trứng, sữa... - Đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ. công nghiệp thực phẩm, các ngành dệt len, da giày, va ly, mũ áo lông. . . bằng các sản phẩm chăn nuôi. - Cung cấp thực phẩm có chất lượng và nguyên liệu cho xuất khẩu để tăng ngoại tệ. - Cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng trọt nhằm không ngừng nâng cao năng suất cây trồng, cải tạo đất, tăng độ phì nhiêu của đất… 2. VỊ TRÍ, YÊU CẦU, NỘI DUNG MÔN HỌC Đối với khoa Sinh-KTNN trường Đại học Sư phạm, Cơ sở chăn nuôi là một môn khoa học ứng dụng nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về ứng dụng những thành tựu sinh học trong công tác giống, dinh dưỡng và thú y đối với vật nuôi, đồng thời giúp bổ sung làm phong phú thêm kiến thức sinh học về thực tiễn sản xuất làm cơ sở cho việc nghiên cứu giảng dạy Chương trình Sinh học và Công nghệ ở trường phổ thông, giúp giáo sinh thực hiện nguyên lý: học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với phục vụ sản xuất và đời sống. Do điều kiện có hạn, chương trình môn học chỉ đề cập đến những kiến thức cơ bản nhất, nhưng quy luật chung nhất, những nguyên lý kỹ thuật chăn nuôi và cơ sở khoa học của chúng. Vì vậy, đòi hỏi giáo sinh phải biết vận dụng một cách sảng tạo đồng thời phải thường xuyên gắn bó với thực tiễn sản xuất ở địa phương, rèn luyện kỹ năng thực hành mới có thể dạy tốt môn này ở trường phổ thông. Chương trình môn Cơ sở chăn nuôi gồm 3 phần lớn: A. Giống vật nuôi. B. Thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi. C. Thú y và vệ sinh vật nuôi. Các học phần liên quan: Cơ sở di truyền chọn giống động vật, di truyền học động 2
  3. vật, sinh lý gia súc, động vật học, hoá sinh học, vi sinh vật học, thực vật học, trồng trọt đại cương, công nghệ sinh học... Tài liệu tham khảo: Cơ sở di truyền chọn giống động vật; di truyền học động vật; chọn và nhân giống vật nuôi; di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn nuôi; công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò; thức ăn dinh dưỡng gia súc; thú y cơ bản; vệ sinh gia súc, ký sinh trùng đại cương, bệnh truyền nhiễm, thức ăn bổ sung chăn nuôi, kích tố ứng dụng trong chăn nuôi... 3
  4. Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CHỌN LỌC VÀ NHÂN GIỐNG VẬT NUÔI Chọn lọc và nhân giống vật nuôi là một môn khoa học ứng dụng các quy luật di truyền vào sản xuất để cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm của vật nuôi. Trong quá trình chọn lọc và nhân giống vật nuôi người ta quan tâm đến những cá thể, các nhóm. Các đàn vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt. Nếu các biến đổi về năng suất, chất lượng sản phẩm là do các gen gây nên thì khi phối giống giữa các bố mẹ có mang các gen này, năng suất và chất lượng của đời con sẽ được nâng lên. Chính vì thế, công tác chọn lọc và nhân giống vật nuôi bao gồm 3 nội dung chủ yếu sau đây: - Nắm được những biến đổi di truyền nào là có giá trị. Các cá thể vật nuôi luôn có những đặc điểm nhất định, được gọi là các tính trạng. Có hai loại tính trạng là tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng. Các tính trạng có thể quan sát và mô tả bằng cách phân loại là các tính trạng chất lượng, ví dụ: tính trạng có sừng hoặc không sừng ở dê, mào trái dâu hay mào cờ ở gia cầm. . .Các tính trạng có thể xác định được bằng cách cân đo, đong đếm là các tính trạng số lượng, ví dụ: sản lượng sữa của bò, tốc độ sinh trưởng của lợn, sản lượng và khối lượng trứng ở gia cầm…Nhiệm vụ đầu tiên của công tác chọn lọc và nhân giống vật nuôi là xác định cần phải cải tiến nâng cao những tính trạng nào ở vật nuôi và hiểu được quy luật di truyền của các tính trạng này. - Lựa chọn chính xác và có hiệu quả được những con giống tốt. Trong quá trình nuôi dưỡng, sử dụng các vật nuôi, phải quan sát, theo dõi biểu hiện của các tính trạng ở vật nuôi. Trên cơ sở đó, phải lựa chọn được những vật nuôi tốt nhất về các tính trạng mà ta mong muốn, nâng cao và giữ chung để làm giống, công việc này gọi là chọn giống vật nuôi. - Chọn phối giữa các con đực và cái giống tốt nhằm mang lại hiệu quả cao về di truyền cũng như về kinh tế, nhằm tạo ra thế hệ sau có năng suất, chất lượng cao hơn thế hệ trước gọi là nhân giống vật nuôi. Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam công tác giống cần đạt mục tiêu cuối cùng là tạo ra được những vật nuôi cho nhiều sản phẩm nhất mà lại tiêu tốn ít thức ăn nhất, giá thành rẻ nhất cho một đơn vị sản phẩm. Nhờ áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhiều nước đã đạt được những kết quả rất tốt về công tác giống. Một số khái niệm cơ bản về chọn lọc và nhân giống vật nuôi được đề cập trong chương trình này nhằm trang bị những kiến thức và phương pháp đánh giá các tính trạng của vật nuôi. 1.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TÁC CHỌN LỌC VÀ NHÂN GIỐNG VẬT NUÔI TRÊN THẾ GIỚI Chọn lọc và nhân giống vật nuôi có lịch sử từ khi con người bắt đầu quá trình 4
  5. thuần hoá các con vật đầu tiên, cách đây khoảng 10000 năm. Tuy nhiên, một thời gian dài, con người tiến hành lựa chọn, loại thải vật nuôi, ghép đôi giao phối giữa những con đực và cái hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm. Những công trình chọn lọc, nhân giống vật nuôi đầu tiên được sách vở ngày nay thừa nhận là công trình của nhà chăn nuôi người Anh tên là Robert Bakewell (1725- 1795) trong việc tạo ra các giống bò Long hom, cừu Leicester và ngựa Shire. Những sổ sách ghi chép về các giống ngựa, cừu xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào năm 1800 đã tạo tiến đề cho việc phát triển các sổ sách ghi chép về giống gọi là sổ giống và việc tạo các giống vật nuôi ở các nước châu âu, châu Mỹ. Năm 1865, Alendel đã công bố các quy luật di truyền và 35 năm sau năm 1900, các quy luật di truyền của Alendel được tái phát hiện bởi Devries, Correns và TS Chermak. Các sự kiện lịch sử này chính thức đánh dấu sự ra đời của nền tảng lý luận khoa học về chọn lọc và nhân giống vật nuôi. Cùng thời gian này, nghiệp đoàn kiểm tra sữa đầu tiên được thành lập ở Đan Mạch, tiếp sau đó người ta đã tiến hành kiểm tra năng suất lợn. Đây là một trong các biện pháp kỹ thuật quan trọng để chọn lọc vật nuôi mà cho tới nay vẫn đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Định luật Hardy-weinberg được phát hiện năm 1908 đã mở đầu cho bước phát triển của di truyền học quần thể, tiếp đó là những khởi đầu về di truyền học số lượng của Lush và một số tác giả khác đã tạo ra một hướng mới cho khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi. Tiếp sau các định luật di truyền cơ bản của Alendel là các lý thuyết về nhiễm sắc thể của Morgan 1910, lý thuyết về mối quan hệ giữa nền và enzym của Beadle và Latum 1941, phát hiện cơ sở vật chất của di truyền là ADN của Avery 1944, phát hiện cấu trúc vòng xoắn ADN của Watson và Cách 1953, phát hiện mã di truyền của Niremberg 1968 đã đặt ra những cơ sở quan trọng trong công tác giống vật nuôi. Năm 1942, bằng các công trình của Hazel, lý thuyết về chỉ số chọn lọc đã hình thành và bước đầu ứng dụng trong chọn lọc vật nuôi. Cũng trong thập kỷ 60-70 phương pháp chọn lọc vật nuôi theo chỉ số với các ưu việt của nó đã được sử dụng rộng rãi trong các chương trình chọn giống ở các nước phát triển mang lại những tiến bộ rõ nét trong việc nâng cao năng suất, cải tiến chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Những tiến bộ về thụ tinh nhân tạo mà khởi đầu là việc sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi bò, cừu ở Nga vào năm 1930, sau đó là những thành công trong việc đông lạnh tinh dịch bò ở Anh vào những năm 1950, cấy truyền phôi vào những năm 1990 đã góp phần tích cực tăng nhanh các tiến bộ di truyền của một số tính trạng năng suất, cũng như mở rộng ảnh hưởng của các con vật giống có giá trị giống cao. Về mặt lý thuyết, trên cơ sở của phương pháp chỉ số chọn lọc kinh điển, ngay từ năm 1948, Henderson đã khởi thảo lý thuyết BLUP. Nhưng phải đến những năm 1970 trở đi, cùng với sự phát triển của máy tính điện tử với dung lượng bộ nhớ lớn, tốc độ tính toán nhanh, phương pháp BLUP mới thực sự được ứng dụng trong chương trình chọn giống vật nuôi ở các nước phát triển, mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với phương pháp chỉ số chọn lọc kinh điển. Cho tới nay hầu như toàn bộ các thành tựu của 5
  6. chọn lọc và nhân giống vật nuôi mà ngành chăn nuôi được thừa hưởng đều là những kết quả nghiên cứu ứng dụng dựa trên cơ sở di truyền học số lượng. Tuy nhiên, một xu hướng thứ hai nhằm phát triển và ứng dụng di truyền học phân tử trong chọn lọc và nhân giống vật nuôi cũng đang được phát triển mạnh trong những năm gần đây. Có thể nói rằng năm 1970 với các phát hiện về enzym giới hạn đã mở đầu cho thời kỳ công nghệ tiên. Trong thập kỷ 80, người ta đã cho ra đời những vật nuôi đầu tiên là sản phẩm của công nghệ cấy ghép gen. Sự kiện nhân bản vô tính cừu Dolly( 2/1997, lợn (3/2000) tiếp theo ở chuột, bò… là những đóng góp quan trọng của di truyền học phân tử cho khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi. Tuy nhiên, phạm vi ứng dụng công nghệ sinh học phân tử còn hạn chế và người ta vẫn còn đang nghi ngờ về những hiểm hoạ mà di truyền học phân tử có thể gây ra cho con người thông qua các sản phẩm biến đổi gen. Lịch sử phát triển của chọn lọc và nhân giống vật nuôi Các công trình của Bakewell. → ← Khởi đầu của nghề chăn nuôi tám nghìn năm trước Công nguyên. ← Phát triển số ghi chép về Số ghi chép đầu tiên về số ngựa cừu. → 1800 giống và nhân tạo giống vật nuôi. ← Phát triển các quy luất di Nghiệp đoàn đầu tiên về kiểm tra → 1865 truyền của Mendel. sữa ở Đan Mạch. ← Tái hiện các định luật Kiểm tra năng suất lợn ở Đan Mạch. → 1900 Meldel của Devries, Corents, Định luật Hardy – Weinberg → TS Chermark khởi đầu di truyền học quần thể. Ứng dụng các định luật Mendel trên vật nuôi. 1910 ← Lý thuyết về nghiễm sắc Ứng dụng rộng rãi thụ tinh nhân tạo cho thể Morgan bò, cừu ở Nga. → 1930 Lush và các khởi đầu về di truyền số lượng. Lý thuyết về chỉ số chọn lọc ở vật nuôi ← Lý thuyết 1 gen 1 enzym 1940 của Hazel. → của Beadle và Tatum. Lý thuyết về BLUP của Henderson. → ← Phát hiện của Avery: AND 1950 Đông lạnh tinh dịch bò ở Anh → là nguyên liệu di truyền. 6
  7. Palconer và lý thuyết di truyền → 1960 ← Phát hiện của Watson và số lượng. Crick về vòng xoắn AND. Ứng dụng rộng rãi chỉ số chọn lọc trong ← Niremberg phát hiện mã di các chương trình chọn lọc giống. → truyền. BLUP bắt đầu được ứng dụng trong ← Khỏi đầu của công nghệ chọn giống. → 1970 gen phát hiện các enzym giới hạn. BLUP được sử dụng rộng rãi trong các 1980 ← Công nghệ cấp ghép gen chương trình chọn giống vật nuôi. → cho ra đời vật nuôi đầu tiên. ← Cừu Dolly, nhân bản vật 1990 nuôi đầu tiên. 1.2. CÔNG TÁC GIỐNG VẬT NUÔI Ở NƯỚC TA Lịch sử phát triển công tác chọn lọc và nhân giống vật nuôi ở nước ta gắn liền với sự phát triển của sản xuất, chăn nuôi ở nước ta. Các giống vật nuôi được hình thành từ lâu đời trong hoàn cảnh các nền sản xuất trồng trọt và chăn nuôi với các tập quán canh tác khác nhau của các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau. Đặc điểm chung của các giống vật nuôi địa phương là có hướng sản xuất kiêm dụng, tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên và tận thu sản phẩm phụ trong trồng trọt. Việc sử dụng nhân giống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Để nâng cao năng suất, từ thời Pháp thuộc cũng như sau này, một số giống vật nuôi nước từ ngoài đã được đưa vào Việt Nam. Quá trình lai tạo giữa các giống nội với các giống nhập cũng như thuần dưỡng chung đã hình thành những nhóm vật nuôi có những đặc điểm riêng biệt của nước ta như: bò Laisind, lợn Thuộc Nhiêu thuộc tỉnh Mỹ Tho (sản phẩm lai giữa lợn địa phương Nam Bộ, lợn Hải Nam, Trung Quốc, lợn Craonaire - Pháp với lợn Yorkshire - Anh), lợn Ba Xuyên tỉnh Sóc Trăng (sản phẩm lai giữa lợn địa phương Nam Bộ, lợn Hải Nam Trung Quốc, lợn Craonaire - Pháp với lợn Berkshire - Anh) Giai đoạn 1960- 1980, hệ thống tổ chức các công ty giống, trạm giống rất phát triển ở hầu khắp các tỉnh, huyện nhưng công tác giống chưa có trọng điểm nên kết quả còn thấp. Trong thời gian này, chúng ta đã cho nhập rất nhiều giống gia súc. gia cầm có năng suất cao của thế giới nhằm lai tạo với các phẩm giống nội tạo các đàn lai kinh tế: F1, F2…cho năng suất cao về sản phẩm thịt. Hiện nay, đàn giống vật nuôi của chúng ta rất phong phú, nhiều giống loài nhưng chưa tạo được những giống vật nuôi năng suất cao đáp ứng được nhu cầu của sản xuất trong nước. 7
  8. 1.3. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC GIỐNG VẬT NUÔI 1.3.1.Khái niệm về vật nuôi Khái niệm vật nuôi được giới hạn trong phạm vi các động vật đã được thuần hoá và chăn nuôi trong lĩnh vực nông nghiệp. Các vật nuôi ngày nay đều có nguồn gốc từ các động vật hoang đã. Quá trình biến các động vật hoang đã thành vật nuôi được gọi là quá trình thuần hoá do con người thực hiện. Theo Isaac 1970, những động vật được gọi là vật nuôi khi chung có đủ 5 điều kiện sau đây: - Có giá trị kinh tế nhất định, được con người nuôi với mục đích rõ ràng. - Trong phạm vi kiểm soát của con người. - Không thể tồn tại được nếu không có sự can thiệp của con người. - Tập tính đã thay đổi khác với khi còn là con vật hoang đã. - Hình thái cơ thể thay đổi so với khi còn là con vật hoang đã. Nhiều tài liệu cho rằng thuần hoá gắn liền với quá trình chăn thả, điều đó cũng có nghĩa là quá trình thuần hoá vật nuôi gắn liền với những hoạt động của con người ở những vùng có bãi chăn thả lớn. Người ta cho rằng các quá trình thuần hoá vật nuôi được diễn ra chủ yếu tại 4 lưu vực sông, bao gồm: sông Lưỡng Hà ở bán đảo Ai Cập (Tigre và Euphrate), sông Nin (Ai Cập), sông Indus (Ấn Độ) và sông Hoàng Hà (Trung Quốc). Cho tới nay, nhiều ý kiến cho rằng, chó là một vật nuôi được con người thuần hoá đầu tiên cách đây khoảng 12.000-14.000 năm, lợn khoảng 8.000-10.000 năm, bò khoảng 8.000 - 9.500 năm, trâu 5.000-7.000 năm … 1.3.2. Khái niệm về giống, dòng vật nuôi 1.3.2.1. Khái niệm về giống Giống vật nuôi là sản phẩm lao động sáng tạo của con người, cũng vì lẽ đó giống vật nuôi tiến hoá không ngừng, những giống có năng suất thấp được thay thế dần bằng các giống mới có năng suất cao hơn. Dựa vào quan niệm biện chứng mà người ta thấy rằng trình độ của giống là do trình độ của nền kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật đương thời quyết định. Khái niệm về giống cũng vì thế mà thay đổi theo. Có người cho rằng phẩm giống là một số gia súc có một số đặc tính về ngoại hình, sản xuất giống nhau, có người lại chú ý đến màu sắc lông và cho phẩm giống là những gia súc đồng màu. Thế kỷ XIX Timicơ người Anh cho rằng: "Giống gia súc là một bầy gia súc phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên". Ngày nay, khái niệm về giống được nêu lên: “Giống vật nuôi là một tập hợp các vật nuôi có chung một nguồn gốc, được hình thành trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nhất định do quá trình chọn lọc và nhân giống của con người, có số lượng nhất định để có thể là nhân giống trong nội bộ của nó, các giống vật nuôi trong cùng một giống có các đặc điểm về ngoại hình, thể chất, đặc tính sinh lý. Sinh hoá và lợi ích kinh tế giống nhau, các đặc điểm di truyền này có thể di truyền qua các thế hệ và cho phép phân biệt giống này với giống khác". 8
  9. Trong thực tế, một nhóm vật nuôi được coi là một giống cần có các điều kiện sau: - Có nguồn gốc, lịch sử hình thành rõ ràng trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội nhất định. - Có số lượng nhất định về cá thể đực và cái sinh sản: Trâu bò vài trăm con, lợn vài ngàn con, gia cầm vài chục ngàn con … - Có các đặc điểm riêng biệt của giống, các đặc điểm này giúp phân biệt giống này với giống khác và được di truyền tương đối ổn định cho đời sau. - Được hội đồng giống vật nuôi công nhận. Các giống vật nuôi hiện đang được nuôi rộng rãi ở nước ta gồm các giống được hình thành lâu đời và các giống nhập nội như: trâu Ngố, trâu Gié, bò Vàng Việt Nam, Lợn ỉ, Lợn Móng Cái, Lợn lang hồng, gà Ri, vịt Cỏ… là các giống nội. Trâu Murha, bò Hà Lan lang trắng gen. Bò Holstein Frisian, lợn lJADNrace, gà Kabir, gà Lam Hoàng, gà ljương Phượng… là các giống nhập nội. Một số giống vật nuôi có thể có nguồn gốc, lịch sử hình thành không rõ ràng nhưng vẫn được coi là một giống ví dụ như bò Laisind, ngược lại một số nhóm vật nuôi có số lượng rất lớn nhưng lại không được coi là một phẩm giống vì đặc điểm di truyền đời sau không ổn. Ví dụ: Đàn lai F1 giữa hai giống Móng Cái và Yorkshire. 1.3.2.2. Khái niệm về dòng Dòng là một nhóm vật nuôi trong cùng một giống được xuất phát từ một con đực tổ đầu dòng. Các thế hệ con cháu trong dòng chịu ảnh hưởng nhất định về huyết thống với con trực tổ. Nếu xuất phát từ một con cái tổ người ta gọi là hệ hay dòng mái. Ví dụ: dòng V1, V3 của giống vịt siêu thịt CVsuper Meat được nhập vào nước ta. Dòng V1 là dòng trống có tốc độ sinh trưởng nhanh, khối lượng cơ thể lớn; dòng V3 là dòng mái có khối lượng nhỏ hơn, sinh trưởng chậm hơn, nhưng lại cho sản lượng trứng và tỷ lệ ấp nở cao hơn. Trong thực tế, người ta có những quan niệm khác nhau về dòng: - Dòng huyết thống là nhóm vật nuôi có nguồn gốc tử một con vật tổ tiên, chung không có đặc trưng rõ nét về tính năng sản xuất. - Dòng cận huyết: Bao gồm những vật nuôi có cùng nguồn gốc từ một con tổ tiên thường là đực đầu dòng xuất sắc, có thành tích nổi bật về một vài tính trạng nào đó mà người chăn nuôi muốn duy trì ở đời sau nên người ta sử dụng phương pháp nhân giống cận huyết với Con trực tổ. - Dòng địa phương là các vật nuôi trong cùng một giống nhưng được nuôi ở những địa phương khác nhau về địa lý, mỗi nơi có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nhất định, nên hình thành các nhóm vật nuôi địa phương mang đặc trưng riêng biệt nhất định 9
  10. 1.3.3. Phân loại giống vật nuôi * Đacuyn chia ra: - Phẩm giống thiên nhiên: Hình thành do ảnh hưởng chính của ngoại cảnh và sự chọn lọc chưa có ý thức của con người. Phẩm giống nhân tạo: Hình thành do các biện pháp chọn lọc nhân tạo trên cơ sở di truyền và nuôi dưỡng có kỹ thuật cao của con người. * Culêsôp chia ra 4 loại phẩm giống: Phẩm giống cổ điển, phẩm giống kiêm dụng, phẩm giống cải tiến và phẩm giống thiên nhiên. Ngoài ra, kết hợp nhiều quan điểm và dựa vào điều kiện kinh tế xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng tới quá trình hình thành giống mà có các cách phân loại sau: 1.3.3.1. Phân loại theo trình độ gây giống : có 3 loại - Giống nguyên thuỷ: Được hình thành trong điều kiện kinh tế xã hội và trình độ khoa học kỹ thuật thấp kém. Các giống này thường có tầm vóc nhỏ bé, năng suất thấp, kiêm dụng, thành thục muộn, điều kiện nuôi dưỡng đơn giản, khả năng chịu đựng kham khổ cao, sức kháng bệnh cao thích nghi với điều kiện địa phương hẹp, bảo thủ di truyền cao, biến dị thấp. Hầu hết các giống vật nuôi nội của nước ta thuộc nhóm này. Đây là sản phẩm của nền kinh tế tự cung và tự cấp. - Giống quá độ: là các giống nguyên thủy được chọn lọc và chăm sóc nuôi dưỡng ở mức độ cao hơn nên đặc điểm cơ bản là tầm vóc đã được cải tiến, sức sản xuất được nâng cao hơn nhưng vẫn kiêm dụng, thành thục sớm hơn, các đặc tính về sản xuất tương đối thuần nhất, nếu nuôi dưỡng kém sẽ trở lại giống nguyên thuỷ, là sản phẩm của nền kinh tế sản xuất hàng hoá giai đoạn đầu. - Giống gây thành: là giống được hình thành trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật cao. Đây là kết quả chọn lọc có ý thức của con người. Đặc điểm cơ bản của các giống gây thành là: sức sản xuất cao, hướng sản xuất chuyên dụng, sớm thành thục, sức chịu đựng kham khổ và kháng bệnh kém, tính bảo thủ di truyền kém, biến dị cao, dễ thay đổi khi điều kiện ngoại cảnh và nuôi dưỡng thay đổi, đòi hỏi phải được nuôi dưỡng, chăm sóc ở trình độ cao. Ví dụ: lợn Ladnrace, gà Leughom, bò sữa Holstein Frisian … 1.3.3.2. Phân loại theo tính năng sản xuất - Giống kiêm dụng: Có thể sử dụng với nhiều tính năng sản xuất khác nhau. - Giống chuyên môn hoá: Có năng suất cao về một tính năng sản xuất các mặt khác bình thường. Ví dụ: bò sữa lang trắng gen Hà Lan. gà Lcughorn. 1.3.3.3. Phân loại căn cứ vào nguồn gốc - Giống vật nuôi địa phương: là các giống có nguồn gốc tại địa phương được hình thành trong điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương. Ví dụ: lợn Ỉ, lợn Móng cái, bò Vàng Thanh Hoá, vịt Cỏ… là giống địa phương có khả năng thích nghi cao với 10
  11. điều kiện tập quán chăn nuôi của địa phương nhưng năng suất thấp. - Giống nhập nội: là giống có nguồn gốc từ vùng khác hoặc nước khác, thường là những giống có năng suất cao, có ưu điểm nổi bật so với giống của địa phương. 1.4. NHỮNG TÍNH TRẠNG CƠ BẢN CỦA VẬT NUÔI Các tính trạng về màu sắc lông da, ngoại hình- thể chất, sinh trưởng, phát dục, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi được sử dụng để mô tả, đánh giá một giống vật nuôi cũng như từng cá thể vật nuôi. Những tính trạng này thường là những tiêu chuẩn chọn lọc vật nuôi, giữ chung làm giống nhằm tạo ra các thế hệ đời sau phù hợp với mong muốn của con người. Thông thường các tính trong ngoại hình đều là các tính trạng chất lượng. chung bị chi phối bởi một vài gen nhất định. Việc di truyền các tính trạng này tuân thủ theo các quy luật di truyền của Alendel. Trong khi đó, các tính trạng sinh trưởng, năng suất và chất lượng sản phẩm vốn là các tính trạng có giá trị kinh tế cao lại là các tính trạng số lượng. Các tính trạng này do rất nhiều gen chi phối và chịu tác động sâu sắc bởi điều kiện ngoại cảnh. 1.4.1. Ngoại hình, thể chất 1.4.1.1. Ngoại hình 1.4.1.1.1 Khái niệm : Ngoại hình là hình dáng bên ngoài của vật nuôi có liên quan đến sức khoẻ cũng như cấu tạo, chức năng của các bộ phận bên trong cơ thể và khả năng sản xuất của con vật, là hình dáng đặc trưng của một phẩm giống vật nuôi. Ngoại hình và chức năng cơ thể không thể tách rời nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau. Cơ thể là một khối thống nhất phức tạp, mỗi bộ phận trong cơ thể đều có vai trò nhất định và có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, một bộ phận nào đó kém phát triển đều ảnh hưởng đến bộ phận khác. Ngoại hình cho takhái niệm về sức khoẻ, thể chất mạnh hay yếu để ước đoán sức sản xuất của con vật. Ngoại hình cũng là biểu hiện sự thích nghi của con vật đối với mỗi trường sống và chế độ nuôi dưỡng. Ví dụ: Lợn Ỉ có đặc điểm lưng võng, bụng xệ, 4 chân yếu là biểu hiện điều kiện sống chật chội, nuôi dưỡng kém, lợn Mường Khuông chân cao, bụng gọn, mõm dài, thích nghi với điều kiện chăn thả, vườn bãi rộng. Từ xưa, con người đã biết chú ý đến ngoại hình khi nhận xét giá trị sản xuất của chúng. Người Rô ma ở thế kỷ 1 trước Công nguyên cho rằng "Gia súc có màu lông sẫm thì khoẻ và có sức chịu đựng hơn loại lông màu nhạt". Người Ả Rập ở thế kỷ III đã biết dựa vào đặc điểm ngoại hình để lựa chọn ngựa hay, ngựa tốt để dùng cho việc chinh chiến. Nhân dân ta từ xưa đã biết lựa chọn lợn giống qua ngoại hình “đực rộng hầu, nái bầu tròn", chọn trâu “sừng cánh ná, dạ bình vôi mắt ốc nhồi, lai lá mít, đít lồng bàn" hay câu ca dao "Con lợn mắt trắng dễ nuôi, con người mắt trắng là người bất nhân". Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ đã tổng kết kinh nghiệm lựa chọn lợn giống: Bạch xỉ, xơ mao, đoàn vĩ, hồng bì"... Đến thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản phát triển ở châu âu cần có nhiều loại gia súc có khả năng sản xuất tốt để có sản phẩm hàng hoá trao đổi, quan niệm về ngoại 11
  12. http://cnty.rumenasia.org, TL tham khao, P.V. Hai hình của gia súc cũng thay đổi theo. Genon (Pháp) đã cho xuất bản một công trình nghiên cứu, trong đó nêu sức sản xuất sữa của con vật có liên quan đến hình dáng và mức độ phát triển của bầu vú. Từ đó hình thành quan niệm cho rằng sức sản xuất của con vật có liên quan chặt chẽ đến một số bộ phận nhất định trên cơ thể và phải chọn những con vật có những bộ phận liên quan đến tính năng sản xuất theo một hình thái nhất định. Do đó đã dẫn đến quan niệm sai lầm là chỉ chú ý đến những bộ phận trực tiếp liên quan đến sản xuất còn các bộ phận khác không được chú ý. Ví dụ: Nếu bò sữa chỉ chú ý đến những con có bầu vú to, mông nở, ít chú ý đến bộ phận khác thì chức năng sinh lý của cơ thể sẽ bị ảnh hưởng vì bầu vú phát triển quá mức mà ngực lép thì dẫn tới hô hấp kém trao đổi chất giảm con vật suy yếu sớm bị kiệt sức sức sản xuất giảm. Điều chủ yếu cần quan niệm cho đúng là phải thấy được đặc điểm ngoại hình có liên quan đến sức khoẻ và sức sản xuất của con vật. Vì vậy đánh giá con vật qua ngoại hình là giai đoạn đầu tiên giúp ta tìm hiểu trạng thái sức khoẻ sức sản xuất và hướng sản xuất nói chung của con vật. Mục đích cuối cùng của việc đánh giá qua ngoại hình là để chọn lọc những con giống tốt và loại bỏ những con có ngoại hình xấu, cơ thể phát triển không cân đối. 1.4.1.1.2.Phương pháp đánh giá ngoại hình của vật nuôi: - Phương pháp quan sát bằng mắt thường. - Phương pháp quan sát bằng mắt mô tả và cho điểm: Quan sát toàn diện và từng bộ phận cơ thể dựa vào bảng tiêu chuẩn mẫu đã cho của giống để đánh giá cho điểm rồi nhân với hệ số. Điểm tối đa cộng lại là 100 điểm (thực hành). Phương pháp đo các chiêu và tính toán chỉ số cấu tạo thể hình: dùng thước dây, thước gậy, thước compa đo các chiều trên cơ thể, vòng ngực, vòng ống, rộng ngực, sâu ngực, dài thân thẳng, dài thân chéo, cao vây, dài đầu. Rộng xương ngồi ... qua đó xác định khối lượng và tính toán chỉ số các chiều đo liên quan đến sức sản xuất của con vật (thực hành). 1. 4.1.2. Thể chất 1.4.1.2.1. Khái niệm : Thể chất là đặc tính thích nghi của con vật trong những điều kiện sinh sống và di truyền nhất định có liên quan đến sức khoẻ và khả năng sản xuất của con vật. Quá trình hình thành thể chất phải thông qua hai mặt: genotyp (di truyền) và phenotyp (ngoại cảnh). - Về mặt di truyền: Cần hiểu thể chất của con vật được hình thành do đặc tính di truyền của thế hệ trước thông qua hệ thống đến quy định. - Về mặt ngoại cảnh: Cần hiểu thể chất là kết quả sự hình thành và củng cố thông qua quá trình trao đổi chất của cơ thể trong quá trình hình thành và phát triển. Có 12
  13. nghĩa là cường độ trao đổi chất càng cao, sự hấp thu dinh dưỡng càng nhiều, khả năng tích luỹ các chất để tạo mô xương, cơ càng mạnh thì thể chất càng khoẻ và ngược lại Chính vì vậy mà những biểu hiện ra bên ngoài của một cơ thể có thể chất tốt là sức khoẻ tốt, sức sinh sản và sản xuất cao, ngoài ra nói đến thể chất cũng là nói đến sức mạnh, sức chịu đựng, sự thích nghi của cơ thể trong những điều kiện tự nhiên, kinh tế nhất định, vì vậy không thể tách rời việc đánh giá thể chất với các điều kiện sinh tồn của con vật. 1.4.1.2.2. Phân loại thể chấtt : Nhiều nhà chăn nuôi nổi tiếng đã nghiên cứu vấn đề thể chất trong công tác chọn giống, nhân giống vật nuôi. Xuất phát từ quy luật phát triển cân đối của Đacuyn là: “Toàn bộ cơ thể trong quá trình sinh trưởng và phát dục đều có liên quan chặt chẽ với nhau đến nỗi dù cho những thay đổi nhỏ ở bất kỳ bộ phận nào đi nữa nếu mà chung được tích luỹ qua quá trình chọn lọc thì những bộ phận khác cũng bị ảnh hưởng". Culêsôp đã nghiên cứu sự tương quan giữa các bộ phận chính trong cơ thể bò kẻo xe, bò thịt, bò sữa như: da. cơ, xương và nội tạng từ đó xác định những đặc điểm và thể chất liên quan đến khả năng sản xuất của con vật. Trên cơ sở đó Culêsôp đã chia thẻ chất làm 4 loại: thô, thanh,.săn, sỏi. - Thể chất thô: Da, cơ, xương phát triển mạnh, mỡ ít phát triển, thường dùng để cày kéo như trâu bò cày kẻo, hoặc dê cừu cho lông. - Thể chất thanh: Da mỏng, xương nhỏ, đầu thanh tú, chân nhỏ.Đây là gia súc tiết sữa hay ngựa đua. - Thể chất săn: Bên ngoài có góc cạnh, da thịt săn chắc, mỡ ít phát triển. Đây là gia súc làm việc, ngựa đua hay gia súc cho sữa nhưng không cao sản. - Thể chất sỏi: Lớp mỡ dưới da dày, nội tạng nhiều mỡ bao bọc, da thịt nhão. Đây là gia súc cho thịt như: trâu, bò. lợn thịt. Tuy nhiên, trong thực tế khi gia súc không chỉ bao hàm một loại thể chất mà thường ở dạng hỗn hợp như thanh săn, thanh sỏi, thô săn, thô sỏi. - Loại thô săn: Là loại hình gia súc làm việc có thân hình vạm vỡ, săn chắc, ví dụ: khô chân, gân mặt, lông thô ở trâu bò cày kẻo. - Loại thô sỏi: là loại hình gia súc xương to, da dày, thịt nhão, nếu làm việc thì hiệu quả thấp, nếu cho thịt thì da, xương, mỡ nhiều, ít được ưa chuộng. - Loại thanh săn: Biểu hiện xương nhỏ, cơ săn chắc. Đây là loại hình gia súc được nhiều người ưa chuộng nhất vì ngoại hình đẹp, cơ thể khoẻ mạnh. Ngựa đua, bò sữa cao sản thuộc loại hình này. - Loại thanh sổi: Biểu hiện da mỏng, mỡ dày, thịt nhiều, nhão. Đây là loại hình gia súc cho thịt và mỡ, có năng suất cao. * Phương pháp phân loại theo giáo sư K.Mansbua (Ba ban): Căn cứ vào cấu tạo tế bào để phân loại: Nếu tế bào to, dịch tế bào nhiều, thì trao đổi chất chậm, gia súc có 13
  14. khả năng tích luỹ mỡ cao: trái lại nếu tế bào nhỏ, nhân tế bào to, nguyên sinh chất ít thì cường độ trao đổi chất mạnh, hoạt động cơ thể cũng tăng, do đó sức sản xuất cao, thể chất thanh săn. thuộc loại hình cho sữa. làm việc, ngựa đua . . . * Phân loại theo viện sỹ E.E.Litsun (Liên Xô cũ): Phân loại thể chất trên cơ sở hoạt động của các tuyến nội tiết và ảnh hưởng của các tuyến ấy đối với quá trình hình thành các bộ phận cơ thể. * Phân loại theo loại hình tiêu hoá và hô hấp: - Loại hình hô hấp: là các gia súc có lồng ngực dài rộng, cổ, mũi phát triển mạnh, do đó trao đổi chất mạnh, sức sản xuất cao như bò sữa cao sản, ngựa đua, gia súc làm việc dẻo dai. - Loại hình tiêu hoá: gia súc có lồng ngực ngắn, tròn và rộng, cổ ngắn, mũi ít phát triển, bụng to, do đó trao đổi chất chậm, con vật ít hoạt động ăn no lại nằm, khả năng tích luỹ mỡ cao, phù hợp nuôi thịt. * Phân loại thể chất theo loại hình thần kinh của Páp-lốp: Qua kết quả nghiên cứu hoạt động thần kinh Páp-lốp chia loại hình thần kinh thành 3 loại: hưng phấn, thăng bằng và ức chế. Từ đó chia thể chất có 4 loại: - Thể chất buồn bã: Thuộc loại hình thần kinh yếu. - Thể chất nóng nảy: thuộc loại hình thần kinh không thăng bằng. - Thể chất bình thản: Thuộc loại hình thần kinh thăng bằng, chuyển biến chậm. - Thể chất linh hoạt: Thuộc loại hình thần kinh mạnh, hưng phấn, có tốc độ chuyển biến nhanh. Cho đến nay, cách phân loại của Culêsôp vẫn được áp dụng rộng rãi hơn cả vì dễ thực hiện. Ngoài ra, người ta còn căn cứ vào số lượng tuyến mồ hôi /1cm2 da để ước đoán sức sản xuất sữa sau này; nghiên cứu cấu tạo lông (lông có gân cứng cặp là thể chất mạnh, lông mềm, gân mảnh thì thể chất yếu), hoặc nghiên cứu về sinh lý, sinh hoá tế bào giúp cho việc đánh giá thể chất hoàn thiện hơn. 1.4.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thể chất - Tính di truyền: Tế bào sinh dưỡng không mang tính di truyền mà chỉ có tế bào sinh dục mới mang tính di truyền. Trong nhân tế bào này có chứa ADN, ARN nhiệm sắc thể có hình thái và số lượng thay đổi theo loài, giống: bò có 60 cặp, lợn có 38-40 cặp, người có 23 cặp gà có 78 cặp… Nếu các NST này thay đổi đặc tính di truyền này cũng thay đổi theo, do đó ta thấy genotyp thay đổi phenotyp cũng thay đổi theo. Đặc tính di truyền của con vật được hình thành do quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử mang đặc tính di truyền của con bố 50% và của con mẹ 50%. Vì vậy, bố mẹ chung có thể chất tốt sẽ truyền cho con và ngược lại bố mẹ có thể chất kém cũng ảnh hưởng trực tiếp đến con cái. - Điều kiện ngoại cảnh: Ngay từ khi hợp tử được hình thành đến khi con vật được sinh ra đều chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, do đó nếu nuôi dưỡng 14
  15. thiếu thốn nhất là thời kỳ bào thai sẽ ảnh hưởng rất xấu đến thể chất dẫn tới con vật sinh ra sẽ còi cọc suy dinh dưỡng, đặc trưng là các trạng thái phôi tử và ấu trĩ. Điều kiện ngoại cảnh đặc biệt quan trọng là chế độ thức ăn dinh dưỡng, khí hậu thời tiết, độ ẩm... - Vai trò của hệ thần kinh và nội tiết: Các hệ này tham gia điều hoà chức năng của cơ thể, đặc biệt là quá trình trao đổi chất để hình thành cơ thể. Nếu thần kinh mạnh, hưng phấn thì trao đổi chất mạnh, ít tích luỹ sẽ tạo thành cơ thể có thể chất thanh săn như gia súc tiết sữa cao sản, ngựa đua. Thần kinh yếu, ức chế, hưng phấn thì trao đổi chất chậm, con vật ít hoạt động, tích luỹ nhiều sẽ tạo thành cơ thể có thể chất thô sỏi. - Tác động của chọn lọc nhân tạo: Qua quá trình chăn nuôi lâu dài con người đã thường xuyên chọn lọc giữ lại làm giống những gia súc có thể chất vững chắc, thanh săn phù hợp với mục đích sản xuất của con người, loại bỏ những gia súc có thể chất yếu như: thô, sỏi… do đó, thể chất của gia súc ngày càng được nâng cao. Ví dụ: Chọn trâu bò cày “khô chân gân mặt đắt tiến cũng mua” loại bỏ “trâu cổ cò, bò cố lại”. Trong quá trình chọn giống cần chú ý loại bỏ những gia súc có biểu hiện yếu thể chất trên các mặt như: Hiện tượng quá béo ở gia súc khi chức năng sinh sản bị giảm sút, các gia súc có cố tật, khi đi lại không vững vàng, suy nhược cơ thể quá gầy, kém thích nghi với điều kiện ngoại cảnh, sức đề kháng yếu, thuộc trạng thái phôi tử hoặc ấu trĩ. 1.4.1.2.4. Mối liên quan giữa thể chất và giá trị kinh tế của gia súc - Thể chất và sự thành thục của gia súc. - Thể chất và khả năng vỗ béo. - Thể chất và hướng sản xuất nhất định. - Thể chất và sức khoẻ, sự thích nghi của con vật. 1.4.1.2.5. Những triệu trứng suy yếu thể chất và cách phòng ngừa Thể chất suy nhược là biểu hiện sự suy thoái của thể chất không những ở cấu tạo của cơ thể suy yếu mà còn ở sức sinh sản giảm sút, kém sinh lực, khả năng kháng bệnh kém, mặc dù các chức năng khác như ăn uống đi lại văn ở mức độ bình thường. - Yếu thể chất còn biểu hiện ở mức độ quá béo hoặc quá gầy đối với đực cái giống sẽ làm giảm tính hăng, phẩm chất tinh dịch kém, chức năng sinh sản giảm. Yếu thể chất còn thấy rõ khi xuất hiện các cố tật trên cơ thể. Ví dụ: Trâu cày có thân hình vạm vỡ nhưng chân đi vòng kiềng, chạm khuỷu nên thể chất yếu. Trong chọn giống, bất kỳ con vật nào khi xuất hiện một trong các triệu chứng suy yếu thể chất nói trên thì đều loại thải. Việc khắc phục sửa chữa phụ thuộc vào thời gian suy yếu thể chất dài hay ngắn. 15
  16. Người ta có thể phòng ngừa bằng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng kết hợp thường xuyên chọn lọc con giống tốt: Cho nhân giống sẽ góp phần hạn chế những hiện tượng suy yếu thể chất nói chung. 1.4.2. Sinh trưởng - phát dục 1.4.2.1 Khái niệm. * Sinh trưởng: Là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ và vô cơ do đồng hoá và dị hoá, là quá trình tăng lên về khối lượng, thể tích, kích thước các chiều đo của từng bộ phận hay toàn bộ cơ thể con vật. Thực chất của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia các tế bào trong cơ thể vật nuôi. * Phát dục: Là quá trình biến đổi về chất lượng, tức là thay đổi, tăng thêm, hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận trên cơ thể con vật. Như vậy, sinh trưởng và phát dục không thể tách rời nhau, luôn ảnh hưởng đến nhau làm cho cơ thể con vật ngày càng hoàn thiện từ khi còn là phôi thai đến khi già cỗi. Tuy nhiên. trong phạm vi toàn bộ cơ thể không phải lúc nào sinh trưởng và phát dục cũng song hành mà có thời kỳ sinh trưởng mạnh, có thời kỳ phát dục mạnh. Sinh trưởng có thể phát sinh từ phát dục, đồng thời sinh trưởng lại tạo điều kiện cho phát dục tiếp tục hoàn thiện thêm. Ví dụ: Dạ cỏ trâu bò lúc sơ sinh rất nhỏ, nhỏ hơn cả 3 túi dạ dày khác, chỉ có dạ múi khế là phát triển. Vì vậy, bê nghé tiêu hoá sữa và thức ăn dễ tiêu khác là chủ yếu. Sau 6 tháng dấn 12 tháng, dạ cỏ tăng nhanh về khối lượng và thể tích, chiếm tới 80% thể tích của cả 4 túi dạ dày và đảm nhiệm chức năng tiêu hoá thức ăn thô xanh, lên alen phân giải xenluloz. Sự phát dục của bầu vú ở giai đoạn thành thục về tính cũng diễn ra như vậy. Để theo dõi tính trạng sinh trưởng phát dục của vật nuôi cần định kỳ cân, đo các bộ phận hay toàn thể cơ thể con vật. Khoảng cách thời gian cân đo phụ thuộc vào loài vật nuôi ngắn hay dài và mục đích theo dõi. Chẳng hạn, với lợn con thường cân lúc sơ sinh, 21 ngày, 30 ngày, cai sữa; với gia cầm cân đo sau mỗi tuần tuổi . . . 4.2.2. Biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi Sinh trưởng tích luỹ: là khối lượng, kích thước, tích luỹ được của toàn cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng, nghĩa là thời điểm thực hiện các phép đo. Đồ thị sinh trưởng tích luỹ có dạng đường cong hình chữ S. - Sinh trưởng tuyệt đối: là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian có thể là ngày tuần, tháng . . . Biểu thức Trong đó: A là độ sinh trưởng tuyệt đối. W2 là khối lượng kích thước tại thời điểm T2 16
  17. Wl là khối lượng kích thước tại thời điểm T1 Chẳng hạn, khối lượng một lợn nuôi thịt lúc cai sữa (2 tháng tuổi) là 10 kg, 3 tháng tuổi là 25 kg, độ sinh trưởng tuyệt đối là A - 25- 1 0/3-2 = 1 5 kg/tháng. Níu tính theo ngày thì A = 25- 1 0/30 = 0,5 kg/ngày hay 500 gr/ngày. - Sinh trưởng tương đối: Độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau so với thời điểm trước hoặc so với trung bình cộng của thể trong, kích thước, thể tích giữa hai thời điểm. Trong đó: (R%) là độ sinh trưởng lương đối. W2 khối lượng kích thước, thể tích tại thời điểm sau. Wl khối lượng kích thước, thể tích lại thời điểm trước. ví dụ trên: (Ri= 25-l0/25+l0/2 x 100 = 85,7% (Ri) = 25-10/10 x 100: 150% Biểu thức dùng để so sánh tốc độ sinh trưởng của các cá thể vật nuôi khác nhau hoặc hai lô thí nghiệm khác nhau. Ví dụ: Tốc độ sinh trưởng của hai lợn con giống lai F, như sau: Số tai 2 tháng tuổi 2 tháng tuổi 2 tháng tuổi 1 10kg 25kg 45kg 2 12kg 24kg 47kg Nếu xét theo tốc độ sinh trưởng tuyệt đối thì ở tháng 2-3 lợn con số 1 > số 2 25 − 10 24 − 12 > 30 30 Còn ở tháng thứ 3 - 4 thì lợn con 01 < lợn con số 02. 45 − 25 47 − 24 < 30 30 Nếu so sánh cả hai giai đoạn từ tháng tuổi 2 - 4 thì sinh trưởng tuyệt đối 2 lợn con trên là bằng nhau. 45 − 10 45 − 12 35 = = 60 60 60 Nhưng nếu xét theo tốc độ sinh trưởng tương đối ta thấy lợn 1 > lợn 2 45 − 10 47 − 12 ×100 > ×100 10 30 17
  18. 350% >291,6% hoặc 127,2% > 118,6% - Hệ số sinh trưởng: Là tỷ lệ giữa khối lượng, thể tích giai đoạn sau so với khối lượng, thể tích ở giai đoạn trước. Biểu thức: - Bội số tăng trưởng . Theo quy luật chung, đồ thị sinh trưởng tích luỹ có dạng đường cong hình chữ S với các pha sinh trưởng chậm, sinh trưởng nhanh, sinh trưởng chậm và cuối cùng là pha cân bằng. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng đường cong gần như parabon với pha sinh trưởng nhanh đạt được cực đại sau đó là pha sinh trưởng chậm. Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng đường cong như hyperbon liên tục giảm dần theo lứa tuổi. Có thể so sánh đường cong sinh trưởng thực tế với đường cong sinh trưởng lý thuyết để phân tích, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự sai khác như nhiệt độ dinh dưỡng. . . 1.4.2.3Các quy luật sinh trưởng-phát dục Muốn đánh giá đúng sự phát triển của gia súc cần nắm vững những quy luật chung về sinh trưởng, phát dục, đồng thời phải có hiểu biết về nhu cầu của cơ thể đang phát triển và ảnh hưởng của ngoại cảnh đối với sinh trưởng phát dục của vật nuôi. Nhìn chung, sinh trưởng, phát dục của vật nuôi tuân theo các quy luật sau: 1.4.2.3.1. Quy luật sinh trưởng - phát dục không đồng đều Đặc điểm nổi bật nhất trong sự phát triển của vật nuôi là sinh trưởng phát dục không đồng đều. Mỗi vật nuôi khi trưởng thành không phải là sự phóng đại của chúng khi còn non. Các cơ quan bộ phận trong cơ thể phát triển không theo một tỷ lệ tương ứng mà có sự thay đổi theo lứa tuổi. Quy luật này thể hiện ở một số mặt sau: - Không đồng đều về khối lượng, kích thước, thể tích được biểu diễn theo đồ thị sinh trưởng tích luỹ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối nêu trên. - Không đồng đều về hệ thống xương cốt, ngoại hình. Ví dụ: ở gia súc như trâu, bò, dê, ngựa… sự phát triển của xương ngoại vi như xương bả vai, cánh tay, bàn tay, chân thời kỳ ngoài bào thai phát triển chậm hơn hệ thống xương trục như xương sống, xương sườn. Trong thời kỳ bào thai thì ngược lại, hệ thống xương ngoại vi phát triển nhanh hơn hệ thống xương trục dẫn đến con vật khi sơ sinh đã có dáng cao hơn là dài thân, mình lép. Đến khi lớn lên, sự phát triển dài thân nhanh hơn cao thân. Cũng chính nhờ đặc điểm này mà gia súc vừa mới sinh ra đã có thể đi lại được. Còn những loại vật nuôi như chó, mèo, thỏ.. tính chất phát triển lại khác. Trong bào thai, xương trục phát triển nhanh hơn xương ngoại vi còn ngoài bào 18
  19. thai thì xương ngoại vi lại phát triển nhanh hơn, nên các loài vật nuôi này phải sau một thời gian khi sinh ra mới có thể đi lại được. - Không đồng đều về cơ quan nội tạng: Có bộ phận thời kỳ này phát triển nhanh, thời kỳ khác lại phát triển chậm. Ví dụ như sự phát triển của dạ dày 4 túi ở trâu bò. - Quy luật không đồng đều còn biểu hiện ở sự thay đổi thành phần hoá học của cơ thể qua các lứa tuổi khác nhau. - Quy luật này cũng biểu hiện ở khả năng thích ứng với ngoại cảnh theo lứa tuổi. Khi con vật còn non rất dễ uốn nắn, nhạy cảm với biến đổi mỗi trường nhưng lại kém chịu đựng kham khổ và kháng bệnh so với khi trưởng thành. Nghiên cứu quy luật này giúp chúng ta xây dựng quy trình kỹ thuật và biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp để tạo được những con giống tốt có năng suất cao. 1.4.2.3.2. Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn Với gia súc, từ khi sơ sinh đến khi già cỗi phải trải qua các giai đoạn sinh trưởng nhất định, thời kỳ này nối tiếp thời kỳ kia, mỗi thời kỳ đòi hỏi những những điều kiện sống nhất định. Nói chung, sự phát triển của gia súc được chia làm hai giai đoạn lớn là: giai đoạn trong bào thai và giai đoạn ngoài bào thai. * Giai đoạn trong bào thai: là giai đoạn từ khi trứng được thụ tinh tạo thành hợp tử đến sơ sinh. Giai đoạn này được chia làm 3 thời kỳ nhỏ: - Phôi tử: Từ khi trứng được thụ tinh tạo thành hợp tử cho tới khi hợp tử gắn chặt vào màng nhau (lợn 22 ngày, bò 34 ngày). - Thời kỳ tiến thai: Từ khi hợp tử gắn chặt vào dạ con đến khi hình thành cơ bản các cơ quan bộ phận của cơ thể (lợn 38-39 ngày, bò là 60 ngày, ngựa là 75-90 ngày). - Thời kỳ bào thai: Các cơ quan bộ phận và cơ thể bào thai tăng sinh, trên 60% thể trọng của thai được hình thành và phát triển ở 1/3 thời gian chửa cuối. Do vậy đòi hòi phải cung cấp đủ chất dinh dưỡng, nhất là thoát, khoáng, vilamin. * Giai đoạn ngoài bào thai: Từ sơ sinh đến già cỗi được chia làm các thời kỳ sau: - Thời kỳ sơ sinh: Từ khi đẻ ra đến 7-10 ngày tuổi. Gia súc non sống trong mỗi trường hoàn toàn mới, chủ yếu là sống nhờ sữa mẹ, đặc biệt là sữa đầu có hàm lượng dinh dưỡng cao và có nhiều kháng thể. - Thời kỳ bú sữa: Từ sau sơ sinh đến khi cai sữa chủ yếu con vật sống nhờ sữa mẹ, nên phải nuôi dưỡng tốt con mẹ đồng thời luyện cho con non ăn sớm bằng các thức ăn dễ tiêu để kích thích bộ máy tiêu hoá phát triển. Thời kỳ này ở bê nghé là 6 tháng, ngựa là 8 tháng, lợn 45-60 ngày… - Thời kỳ phát triển sinh dục (thiếu niên): Được tính từ khi cai sữa đến khi thành thục về tính. Tuy các bộ phận sinh dục như buồng trứng hay tinh hoàn đã hình thành từ trong bào thai, nhưng đều chưa hoạt động. Đến cuối thời kỳ này các bộ phận sinh dục mới bắt đầu hoạt động dưới ảnh hưởng của hệ thần kinh và tuyến nội tiết, trực tiếp là Vùng dưới đồi và tuyến yên cùng với các yếu tố ngoại cảnh khác như: dinh dưỡng, khí 19
  20. hậu, thời tiết, sự chung đụng đực cái… Cuối thời kỳ này biểu hiện về tính cũng bắt đầu xuất hiện các đặc tính sinh dục phụ thứ cấp như: ở con đực có cơ bắp phát triển, thân hình nở nang, cổ to khoẻ, tính tình hung hăng. Ở con cái thì bầu vú phát triển, tuyến sinh dục cái phát triển, tính tình hiền lành… Ngoài ra, các bộ phận khác như bộ máy tiêu hoá, hô hấp đều phát triển theo. Đây là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng trong huấn luyện định hướng sản xuất sau này. - Thời kỳ trưởng thành: Lúc này sự phát triển cơ thể con vật đã hoàn chỉnh về thể vóc, con vật có khả năng sản xuất cao nhất như: sinh sản, tiết sữa, cày kẻo, cho thịt… Tính di truyền của con vật cũng ổn định. Đối với gia súc cái bắt đầu chửa đẻ lấn đầu tiên, đánh dấu bước phát triển và thay đổi về chất lượng cơ thể. Với giống gia súc sớm thành thục thì thời kỳ này đến sớm. Phải chú ý khai thác, nuôi dưỡng, sử dụng hợp lý để kéo dài thời gian sử dụng thì hiệu quả kinh tế mới cao. - Thời kỳ già cỗi: Khả năng sản xuất giảm, trao đổi chất kém, con vật gầy sút, thoái hoá dần. Thời kỳ này đến sớm hay muộn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và sử dụng vật nuôi trong thời kỳ trưởng thành. Bảng 1.1. Các giai đoạn trong bào thai gia súc Loài vật nuôi Thời gian của từng giai đoạn (ngày) Phôi Tiền thai Baò thai Lợn 1-22 23-38 39-114 Dê, cừu 1-28 29-45 46-159 Bò 1-34 35-60 61-284 Thỏ 1-12 13-18 19-30 20
Đồng bộ tài khoản