Giáo trình Cơ sở chăn nuôi - Chương 6

Chia sẻ: Dalat Ngaymua | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

0
84
lượt xem
34
download

Giáo trình Cơ sở chăn nuôi - Chương 6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương 6 CÁC LOẠI THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN 6. 1 . PHÂN LOẠI THỨC ĂN Mục đích, ý nghĩa : Muốn sử dụng chính xác thức ăn cần biết rõ đặc tính và đặc điểm của từng loại thức ăn để lựa chọn và phối hợp khẩu phần phù hợp với từng vật nuôi, từng phẩm giống khác nhau theo từng thời kỳ sinh trưởng và mục đích sử dụng khác nhau.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Cơ sở chăn nuôi - Chương 6

  1. Chương 6 CÁC LOẠI THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN 6. 1 . PHÂN LOẠI THỨC ĂN Mục đích, ý nghĩa : Muốn sử dụng chính xác thức ăn cần biết rõ đặc tính và đặc điểm của từng loại thức ăn để lựa chọn và phối hợp khẩu phần phù hợp với từng vật nuôi, từng phẩm giống khác nhau theo từng thời kỳ sinh trưởng và mục đích sử dụng khác nhau. Có thể phân loại thức ăn theo các phương pháp sau : 6.1.1. Phân loại theo nguồn gốc (theo 1rma-1983, Richard và Church-1998) 6.1.1.1. Thức ăn có nguồn góc thực vật - Thức ăn xanh. - Thức ăn thô. - Thức ăn rễ củ, bầu bí. - Thức ăn sản phẩm phụ nông nghiệp. - Thức ăn hạt : + Hạt hoà thảo. + Hạt họ đậu. + Hạt cây có dầu. 6.1.1.2. Thức ăn có nguồn gốc động vật - Sữa và sản phẩm phụ của ngành chế biến sữa. - Sản phẩm thừa của lò sát sinh, chế biến thịt. - Sản phẩm phụ của ngành gia công chế biến thuỷ sản. - Các loại thức ăn động vật khác như : Giun, trai, hến, ếch nhái . . . 6.1.1.3. Thức ăn khoáng - Bột xương, bột vỏ sò. bột khoáng, thạch cao, đá vôi . . . - Premix khoáng đa lượng, vi lượng. 6.1.2. Phân loại theo thành phần dinh dưỡng 6.1.2.1. Thức ăn giàu đạm Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protit > 14%, xơ < 18% gồm protit có nguồn gốc động vật : bột cá, bột máu, bột thịt, xác mắm, sữa bột và các loại nấm men, men vi sinh, khô dầu, thức ăn họ đậu tảo biển, vi sinh vật... 6.1.2.2. Thức ăn giàu năng lượng Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng lipit >20%, xơ thô 70% TDN 113
  2. (tổng các chất dinh dưỡng liều hoá được) bao gồm các loại hạt cây có dầu. hạt họ Đậu, các loại ngũ cốc như : ngô, gạo, cao lương... phế phụ phẩm của ngành xay xát : Cám gạo, cám ngô, cám mỹ... các loại củ quả phơi khô : Sắn, khoai lang, khoai tây, bí đỏ... mật đường, dầu mỡ động thực vật, dầu cá . . . Trong đó, những loại thức ăn có hàm lượng bột đường >50% gọi là thức ăn giàu gluxit. 6.1.2.3. Thức ăn giàu nước Thành phần chiếm > 70% là nước như bầu, bí, rau xanh còn non. 6.1.2.4. Thức ăn giàu chất xơ Những loại thức ăn có hàm lượng xơ > 30% gồm các sản phẩm phụ của trồng trọt như rơm, rạ. thân ngô, thân lá đậu đỗ, dây lá lạc khô. 6.1.2.5. Thức ăn giàu chất khoáng Bột xương, bột vỏ xở, bột đá vôi CaCO3 thạch cao, khoáng đa lương, khoáng vi lương . . . 6.1.2.6. Thức ăn giàu vitamin. Gồm các loại vitamin và một số loại thức ăn đặc biệt giàu vitamin như nấm men, dầu cá... 6.1.2.7. Thức ăn bổ sung đặc biệt Có nhiều nguồn gốc khác nhau như kháng sinh, chất kích thích sinh trưởng, chất làm tăng mùi vị, nấm men, khoáng vi lượng... 6.1.3. Phân loại theo giá trị sinh sản Bao gồm 2 loại là thức ăn sinh lý toan tính và kiềm tính. Trong chăn nuôi, thức ăn thuộc loại sinh lý toan tính và kiềm tính có ý nghĩa rất lớn trong nuôi dưỡng, nhất là gia súc sinh sản. Thức ăn toan tính và kiềm tính không phải là sự biểu hiện ra bên ngoài như chua hay chất mà phải dựa vào kết quá của sự phân giải tạo thành sản phẩm cuối cùng của thức ăn trong cơ thể gia súc mang tính chất gr. Nếu phản ứng với axit là thức ăn kiềm tính còn phản ứng với kiềm là thức ăn toan tính. Thông thường, thức ăn giàu protit có thành phần các chất khoáng có tính axit như S. Cl, P hoặc chứa nhiều axit vô cơ thuộc loại thức ăn sinh lý toan tính (N cho axit uric, S cho axit sunfuric, Cr cho axit clohydric), hầu hết thức ăn động vật thuộc loại này. Các loại thức ăn khác như thức ăn xanh, củ quả, thức ăn ủ chua lên men, đều thuộc loại thức ăn sinh lý kiềm tính vì các loại thức ăn này thành phần có nhiều gốc khoáng Na+, K+. Ca2+, Mg2+... Trong nuôi dưỡng gia súc đực giống cần nhiều thức ăn sinh lý toan tính, gia súc cái giống cần nhiều thức ăn sinh lý kiềm tính. Thức ăn toan tính có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tinh trùng, phù hợp với cơ chế trao đổi chất của đực giống, còn thức ăn sinh lý kiềm tính có vai trò kích thích sự tạo sữa, làm tăng sản lượng sữa ở gia súc sinh sản. 114
  3. 6.2. ĐẶC ĐIỂN CÁC LOẠI THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ BIẾN 6.2.1. Thức ăn xanh Thức ăn xanh là loại thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi ở trạng thái tươi xanh : bao gồm các loại cỏ xanh, than, lá: ngọn non của các loại cây ngô, cây bụi, cây gô, các loại cỏ trồng như cỏ Slylo, cỏ Medy, lá cây keo dậu, nhóm cây hoà thảo như bãi cỏ chăn thả, cỏ trồng, rau lấp, rau muống, các loại bèo hoa dâu, bèo cái, bèo tấm... 6.2.1. Đặc điểm - Là thức ăn có nhiều nước (60-80%) nên dễ tiêu hoá, nhất là khi còn non. - Là loại thức ăn dễ trồng. giá thành rẻ, năng suất cao. - Tính ngon miệng cao, mùi vị thơm mát khi tươi xanh. - Giá trị dinh dưỡng cao hơn thức ăn thô, thành phần có nhiều vitamin, tỷ lệ dinh dưỡng trung bình, nhiều xantophyl là chất tạo màu lòng đỏ trứng gà, vịt, da gà... Ví dụ : 1 ha bèo hoa dâu có năng suất 500 tấn/ha/năm đạt 15,000 đơn vị thức ăn và 3000 kg protit tiêu hoá ; trong khi 1 ha lúa năng suất đạt 5 lấn/ha/năm, đạt 5000 đơn vị thức ăn và 500kg protit tiêu hoá. Nhìn chung, thức ăn xanh ở nước ta rất phong phú và đa dạng, nhưng hầu hết chỉ sinh trưởng mạnh vào mùa xuân hè còn mùa đông thường sinh trưởng kém hơn. Đặc điểm dinh dưỡng một số loại rau bèo như sau : + Rau muống (lpomea aquatica) : Sinh trưởng mạnh vào mùa mưa, chịu lạnh kém, hàm lượng nước là 90%, trong 1 kg chất khô có 170-250gr protit thô, 130-200gr đường, 100- 115 gr khoáng tổng số, 2450-2500 kcalo ME. Gia súc rất thích ăn khi tươi xanh. + Rau lấp : Là rau vụ đông, năng suất cao ở những vùng đất lầy thụt giá trị dinh dưỡng tương đương rau muống nhưng hàm lượng vật chất khô thấp hơn đạt 8,3% protit thô 140-170gr/1kg chất khô. + Bèo hoa dâu (Azolla sp) : Sinh trưởng mạnh vào mùa đông, vừa làm thức ăn cho gia súc vừa làm phân bón ruộng rất tốt. Bèo hoa dâu tươi có hàm lượng nước cao (91 %), năng suất cao, dễ sản xuất. Trong 1kg chất khô có 19-27% protit thô, xơ thấp 12,2% giá trị năng lượng 1650-1692 kcalo, có nhiều vitamin và xantophyl, nhiều khoáng vi lượng : Mn, Zn đạt 593 và 168 ppm ; Co và Cu đạt 5,8 và 22,1 ppm. Tỷ lệ protit cao, hàm lượng 1yzin và methionin cao., có thể phơi khô và nghiền bột bổ sung 5% vào khẩu phần ăn cho gà đẻ làm tăng sản lượng trứng, sử dụng nuôi lợn và vịt cho kết quả tốt. + Bèo tấm cánh nhỏ : Bèo tấm sinh trưởng nhanh vào mùa hè, sống trôi nổi trên mặt nước hay ao ruộng, hàm lượng protit cao (đạt 180-190gr/kg vật chất khô). Sử dụng để nuôi gà, vịt, lợn, cá rất tốt. + Cỏ hoà thảo (cỏ voi, có Ghi ne, cỏ pHngola…) : Hầu hết cỏ hoà thảo sinh trưởng vào mùa hè, ra hoa kết quả vào vụ thu…, cỏ hoà thảo cho năng suất cao, chất 115
  4. lượng tốt, protit thô trung bình 9,8% (75-145gr/kg vật chất khô) nhưng hàm lượng xơ cao (269-72gr/kg chất khô), trong cỏ hoà thảo có chứa nhiều khoáng (Fe : 450 mg, Zn : 24mg, Mn : 1 trung. . . ) năng suất khoảng 25-30 tấn chất khô/ha/năm với 7-8 lứa cắt đối với cỏ voi và 1 0-1 4 tấn/ha đối với cỏ ghi ne, 12-15 tấn/ha đối với cò pangola. Giá trị dinh dưỡng 1900-2000 kcalo ME/1kg chất khô. Các loại cỏ này làm thức ăn cho bò sữa, bò thịt rất tốt. + Cỏ họ Đậu : Liu điểm cơ bản là có hàm lượng protit thô cao (đạt 167gr/kg chất khô), giàu vitamin và khoáng, hàm lượng chất khô 200-260 gr/kg thức ăn. Giá trị năng lượng trao đổi ME cao hơn cỏ hoà thảo. Cây họ Đậu do có vi khuẩn nốt sần cộng sinh ở bộ rễ nên có khả năng cố định đạm không khí, có tác dụng cái tạo đất. Nhược điểm cơ bản là trong lá có saponin, nếu gia súc ăn nhiều sẽ sinh trưởng bụng, đầy hơi, khó tiêu, có hại cho gia súc nên phải sử dụng hợp lý và kết hợp với cỏ hoà thảo để nâng cao hiệu quả sử dụng. + Cây keo dậu (Leucaena leucocephala) : Lá keo dậu có hàm lượng prôtein cao 270-280gr/kg chất khô, tỷ lệ xơ thấp 155mg/kg chất khô, caroten cao đạt 200mg/kg chất khô. Trong lá keo dậu có độc tố mimosine nên chỉ sử dụng 15-20% trong khẩu phần gia súc nhai lại, 10% đối với lợn cà 2-3% với gia cầm. 6.2.1.2. Phương pháp chế biến và dự trữ 6.2.1.2.1. Phương pháp ử xanh Ủ xanh nhằm dự trữ thức ăn xanh qua mùa đông để sử dụng ăn lúc giáp hạt vì mùa đông thường thiếu thức ăn xanh. * Đặc điểm : Khi ù xanh, chất dinh dưỡng ít tổn thất so với phương pháp dự trữ khác Ví dụ : Phơi khô giảm 30% thời tiết xấu có thể giảm tới 50%, còn ủ xanh đúng kỹ thuật chỉ giảm 10%. Thức ăn xanh có lý lệ tiêu hoá cao do quá trình lên men làm mềm thức ăn, mùi vị thơm ngon, hơi chua kích thích tiêu hoá. Bảng 6.1. Tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn theo hai phương pháp dự trữ Loại thức ăn Xơ thô Vật Protit thô Lipit Gluxit chất Tỷ lệ tiêu hoá khô Phơi khô 65 65 62 53 72 Ủ xanh 72 69 63 68 75 - Thức ăn ủ xanh có thể dự trữ 6 tháng đến 1 năm mà ít tổn thất. - Tận dụng rộng rãi nguyên liệu, có thể diệt trừ nấm, sâu bệnh. 116
  5. - Thiết bị đơn giản, dễ làm, dung tích nhỏ hơn nhà chứa thức ăn anh phơi khô. * Nguyên lý ủ xanh : Dựa vào sự lên men của vi khuẩn lactic trong tự nhiên để sản sinh ra axit lactic có tác dụng ngăn ngừa sự phân huỷ của các tế bào thực vật và ức chế hoạt động của các loại vi khuẩn gây thối khác. Chính axit lactic là thuốc bảo tồn thức ăn giúp cho thức ăn xanh được bảo quản trong thời gian dài mà không bị hư hỏng. * Các phản ứng hoá học cơ bản xảy ra trong hầm. hố ủ xanh : - Hô hấp hiếu khí : Dấu hiệu đầu tiên là nhiệt độ tăng cao do tế bào thực vật tự hô hấp sau khi thu hái với sự có mặt của ôxy trong hầm hố ủ, quá trình này xảy ra 5-6 giờ sau khi ủ. Nếu ôxy càng nhiều thì quá trình xảy ra càng mạnh và kéo dài, thức ăn bị tổn thất sẽ lớn. Quá trình hô hấp sẽ phân giải đường, tiêu hao năng lượng. kcalo - Hô hấp yếm khí : sau khi sử dụng hết ôxy tự do, tế bào thực vật tiếp tục sống nhờ quá trình hô hấp đặc biệt trong tế bào, quá trình này phân giải chất đường thành rượu và axit hữu cơ. Những sản phẩm này tích luỹ trong tế bào làm cho tế bào bị chết. Lượng đường và nước càng nhiều thì quá trình này xảy ra càng mạnh. Khi lượng ôxy hết, tế bào thực vật sẽ chết. Cuối cùng còn lại các vi khuẩn yếu khí : Vi khuẩn lactic, vi khuẩn axetic, vi khuẩn butyric… khối lượng các loại vi khuẩn này rất lớn. Ví dụ : trong 1 cm3 cỏ tươi đậu ba lá có tới 5 triệu vi khuẩn axetic,12 triệu vi khuẩn gây thối và 8 triệu vi khuẩn lactic. + Tác dụng của vi khuẩn lactic : Gồm nhiều chủng khác nhau như trực khuẩn chịu nhiệt (Thcrmobacterium), liên trực trùng (Streptobacterium), liên cầu trùng (Streptococus). Những loài vi khuẩn này trong quá trình ủ xanh sinh ra nhiều axit hữu cơ. Có cùng nhiều sản phẩm khác. Lượng CO2 có khi tới 17-30% tổng sản phẩm sinh ra. + Tác dụng của vi khuẩn butyric : 117
  6. Chủ yếu phân giải dường và axit lactic thành axit bulyric và khí + Tác dụng của vi khuẩn gây thối : Chủ yếu phân giải axit amin để sinh khí thể và một số axit béo và amin. Trong quá trình này, chất dinh dưỡng bị phá huỷ làm giảm phẩm chất của thức ăn. Người ta tính được khi phân giải các chất, tổn thất liều hao năng lượng như sau : * Điều kiện cần thiết để ủ xanh được tốt : - Điều kiện yếm khí : Là điều kiện rất quan trọng vì nếu hầm hoặc hố ủ có nhiều không khí thì quá trình hô hấp của tế bào xảy ra mạnh và kéo dài, đồng thời các loại vi khuẩn hiếu khí (háo khí) hoạt động làm tiêu hao năng lượng và dinh dưỡng, làm tổn thất thức ăn. Có 3 yếu tố giúp cho vi khuẩn lactic hoạt động và phát triển nhanh là : Yếm khí, đủ lượng đường cần thiết và số lượng vi khuẩn lactic nhiều. Nếu những yếu tố trên được đáp ứng, đường trong thức ăn xanh sẽ được vi khuẩn lactic sử dụng để sinh ra axit lactic - là nhân tố chủ yếu để bảo tồn thức ăn ủ xanh với pH 3,5 – 4,2. 118
  7. Bảng 6.2. Điều kiện cần thiết để các loại vi khuẩn hoạt động Điều kiện Vi khuẩn Vi khuẩn Vi khuẩn Vi khuẩn Nấm mốc sống lactic axetic butvric gây thối Phân bố Rong Rong Rong Rong Rong Yêu cầu Yếm khí Hiếu khí Yếm khí tuỳ tiện Tuỳ tiện Hiếu khí CO2 (không bắt buộc) Yêu cầu 20 – 650C 27 - 30C 35 - 400C 370C 20 - 350C Yêu cầu độ < 4,2 > 4,2 > 4,2 > 4,2 - Yêu cầu độ 65 - 75% - - 70 – 90% 70 - 90% âm Thức ăn Bột đường Bột đường. Rượu. Protit Bột chủ yếu rượu đường lactic. đường. Drotit protit Như vậy, ở điều kiện yếm khí và độ phí 4,2 thì chỉ có vi khuẩn lactic sống và hoạt động được, còn các vi khuẩn khác đều bị tiêu diệt. - Thành phần nguyên liệu đem ủ : Thức ăn xanh phải có hàm lượng đường nhất định để vi khuẩn lactic hoạt động sinh ra lượng axit lactic cần thiết đàm bảo cho độ pH
  8. Người ta chia thức ăn xanh thành 3 loại : + Loại dễ ủ xanh : Có hạn độ đường lối thiểu thấp : ngô, cây cỏ hoà thảo. + Loại khó ủ : Có hạn độ đường tối thiểu xấp xỉ lượng đường thực tế hoặc cao hơn (ví dụ : lá khoai lang, bắp cải … ). + Loại không thể ủ xanh được : Thường là loại thức ăn có hạn độ đường nhỏ hơn 1 % lúc còn tươi. - Hàm lượng nước Nếu hàm lượng nước quá cao sẽ làm giảm lượng đường, đồng thời nồng độ axit bị pha loãng do đó thức ăn khó u xanh tốt. Nhìn chung, độ ẩm từ 65 - 75% là tốt. Nếu hàm lượng nước quá thấp sẽ khó nén chặt dẫn tới hàm lượng ôxy trong hầm hố ủ sẽ nhiều. Vì vậy thức ăn ủ xanh phải có hàm lượng nước thích hợp. 6.2.1.2.2. Phương pháp ủ xanh đặc biệt * Phương pháp trộn thêm cám và rỉ mật đường Mục đích : Tăng lượng đường trong hầm hố ủ tạo điều kiện cho vi khuẩn lactic hoạt động. Cứ tràn thức ăn trộn thêm 10-15kg rỉ mật đường trộn đều hoặc trộn 3-4% cám bột hay 20% bã khoai, sắ n so với tổng lượng thức ăn đem ủ. * Phương pháp dùng hoá chất - Phương pháp Zoubribin (Liên Xô) Trộn 7 phần HCI, 3 phần Na2SO4 Với nồng độ 8-10%, trộn vào thức ăn theo tỷ lệ 5-6% khối lượng thức ăn. - Phương pháp Wiltanen (Phần Lan) Trộn 92 phần HCI 30%, 8 phần H2SO4 40% pha loãng với nước theo tỷ lệ 100 lít dung dịch + 400 lít nước, sau đó trộn vào thức ăn theo tỷ lệ : 1 tấn thức ăn + 65-70 lít dung dịch trên, đảm bảo độ pH = 3-4. Chú ý : Khi cho gia súc ăn phải trộn thêm với cacbonat can xi hoặc vôi bột để khử độ axit theo tỷ lệ 2,5-3kg/1 tấn thức ăn ủ xanh. * Kỹ thuật cho ăn và mức cho ăn - Khi cho gia súc ăn phải huấn luyện từ ít đến nhiều. - Không cho ăn riêng thức ăn ủ xanh mà phải cho hỗn hợp với thức ăn khác. Mức cho ăn căn cứ vào hàm lượng các axit hữu cơ và khả năng chịu đựng của từng loại cơ thể với loại axit đó. - Các loài gia súc đang có chửa, cuối kỳ vồ béo không được cho ăn thức ăn ủ xanh. Lượng thức ăn ủ xanh nhiều nhất có thể cho ăn/ngày : Bò sữa : 7-15kg lừa, ngựa : 120
  9. 6.2.1.2.3. Thức ăn xanh lên men Là phương pháp chế biến thức ăn xanh trong chăn nuôi có hiệu quả cao, nhất là chăn nuôi lợn. Thức ăn xanh lên men có một số đặc điểm sau : - Lên men thức ăn xanh là phương pháp chế biến đơn giản, dễ làm, không phụ thuộc vào thiên nhiên. - Thức ăn xanh lên men có mùi vị thơm ngon nên có thể kích thích tính thèm ăn của vật nuôi, kích thích tiết dịch tiêu hoá, làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn. - Thức ăn xanh lên men giữ được nhiều chất dinh dưỡng, không bị tổn thất (nhất là protit và vitamin). - Làm lên men thức ăn xanh tiết kiệm được công chế biến và chi phí đun nấu nên hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi. * Nguyên lý : Giống như nguyên lý ủ xanh thức ăn, tức là tạo điều kiện yếm khí và lượng bột đường để vi khuẩn lactic hoạt động sản sinh ra axit lactic làm cho thức ăn có mùi vị thơm ngon hơn. Chỉ khác là điều kiện yếm khí không nghiêm ngặt như ủ xanh và thường thêm muối vào để hạn chế vi khuẩn gây thối hoạt động. Thời gian ủ ngắn (vài ngày) là có tác dụng chế biến thức ăn. 6.2.1.2.4. Thức ăn xanh phơi khô Là phương pháp dự trữ sau khi thu hoạch bằng cách đem phơi khô nhằm dự trữ cho mùa đông và giáp hạt ; chủ yếu dùng cho trâu, bò, ngựa. Các loại cỏ xanh thiên nhiên là cỏ trồng đều có thể phơi khô được Sự thay đổi sinh vật học trong quá trình phơi khô : - Sự thay đổi trong quá trình trao đổi : Sau khi mới thu hoạch thức ăn xanh. tế bào thực vật chưa chết ngay mà quá trình hô hấp và bốc hơi nước vẫn được tiếp tục tiến hành cho đến khi hàm lượng nước giảm xuống 40-50% thì mới ngừng. Trong quá trình này, dị hoá lớn hơn đồng hoá: quá trình hô hấp đã làm cho chất dường bị phân giải : Đồng thời, protit cũng bị phân giải thành các axit amin và nếu kéo dài axit amin sẽ sinh ra NH3. Quá trình hô hấp càng dài thì tổn thất dinh dưỡng càng lớn. Hô hấp càng nhanh bị ngừng lại thì tế bào thực vật càng chóng chết. Tế bào thực vật sống được là nhờ nước, vì vậy ban đầu phải phơi nhanh để nước bốc hơi nhanh làm hô hấp ngừng khi nước còn 40%. 121
  10. http://cnty.rumenasia.org, TL tham khao, P.V. Hai - Sự thay đổi trong giai đoạn phân giải của thành phần thực vật : Trong giai đoạn này, tế bào thực vật đã chết, có 4 quá trình xảy ra : + Nước tiếp tục bốc hơi cho đến khi hàm lượng nước còn 14-17%. + Sự thay đổi quang hoá học do quang chiếu đã phá huỷ chất diệp lục và caroten. + Sự hoạt động phân giải của men oxydaza thực vật phân giải caroten, chất dinh dưỡng protit và bột đường. - Sự hoạt động phân giải chất dinh dưỡng của vi sinh vật : Khi hàm lượng nước còn 14-17% thì quá trình phân giải vi sinh vật và của men sinh học sẽ ngừng lại. Tác dụng quang chiếu chỉ ngừng khi không phơi nữa. Vì vậy, để tránh tổn thất phải phơi cho nước bốc hơi nhanh và tránh nắng chiếu trực tiếp, thời gian phơi càng ngắn càng ít tổn thất. Phải đảo liên tục hoặc phơi trên sàn, giá thoáng gió, phơi mỏng, rải đều cỏ và lật cỏ thường xuyên mỗi giờ một lần. Cỏ phơi tốt phải có màu xanh hoặc vàng xanh, mùi thơm mát, hàm lượng nước
  11. 6.2.3. Thức ăn củ, quả Thức ăn cú, quá là loại thức ăn được sử dụng khá phổ biến trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc tiết sữa. Thức ăn củ. quả thường gặp ở nước ta là sắn, khoai lang. bí đỏ, khoai nước... Đặc điểm chung của nhóm thức ăn này là chứa nhiều nước, nghèo protit, chất béo, chất khoáng đa lượng và vi lượng, nhưng lại giàu tinh bột, đường và hàm lượng xơ thấp, dễ tiêu hoá, giá trị dinh dưỡng tương đối cao (1kg khô = 1 đơn vị thức ăn). Năng suất/1 đơn vị diện tích cao hơn trồng các loại thức ăn khác. Thức ăn củ, quả có mùi vị thơm ngon, tỷ lệ tiêu hoá đạt 80-90%, nên gia súc thích ăn, nhất là gia súc nhai lại (lấy sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa). Nhưng nếu bổ sung cho lợn cần phải bổ sung thêm thức ăn giàu protit và khoáng chất. 6.2.3.1. Các loại thức ăn củ, quả phổ biế n 6.2.3.l. Khoai lang Sản lượng hằng năm ở Việt Nam đạt trên 1,7 triệu tấn ( 1999) ; lượng chất khô từ 290-390g/1kg củ ; protit thấp (35g/1kg), lipit khoảng 0,6% nhưng bột đường cao (90% trong vật chất khô) , giá trị dinh dưỡng : 1kg củ tươi : 0,29 đvtă. Tỷ lệ tiêu hoá 85- 90%. Năng suất cao, sử dụng cả thân lá và củ. 6.2.3.1.2. Khoai nước Vật chất khô 30%. Trong 1kg củ tươi có 14gr protit ; 5g Ca , 0,7gr P. Giá trị dinh dưỡng : 0,25 đvtă/1kg củ tươi. 6.2.3.1.3. Su hào Vật chất khô 9-10%. dùng làm thức ăn cho trâu, bò sữa và lợn. Khi dùng lấy thân lá và củ. Giá trị dinh dưỡng : 0,1 đvtă và 7gr protit tiêu hoá/1kg củ tươi. 6.2.3.1.4. Củ sắn Vật chất khô 42-43%. Trung bình 1kg chất khô có 22gr protit, 3-4gr 1ipit, 650gr tinh bột trong sắn ngọt và 850gr trong sắn đắng. Giá trị dinh dưỡng : 1kg củ sắn tươi = 0,39đvlă. Trên thế giới có khoảng 3 triệu người sử dụng sắn làm lượng thực. Ở nước ta, sản lượng sắn đạt trên 2,4 triệu tấn ( 1997) được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi lợn và gia cầm năng suất 90-96 tấn/ha. Củ sắn tươi có chứa nhiều độc tố là cyannuaglucocid. Mỗi khi tế bào của củ sắn bị phá huỷ do sây sát hay cắt thái, chất cyannuaglucocid bị men linamaza ở ngoài tế bào hoạt hoá và sản sinh ra cyanhydric ( HCN ) tự do. HCN gây độc cho gia súc. Nếu ở nồng độ thấp sẽ làm cho gia súc chậm lớn, kém sinh sản. Nếu ở hàm lượng cao sẽ làm cho gia súc chết ngay. Hàm lượng HCN trong củ sắn biến động từ 10-490mg/kg. Có lúc lên đến 785mg. Hàm lượng HCN trong củ sắn đắng cao hơn củ sắn ngọt. Khi ngâm nước hay phơi khô, hấp chín sẽ làm giảm đáng kể HCN vì các cyannuaglucocid trong sắn thuỷ phân thành HCN hoà tan hoặc bay hơi đi. Liều độc HCN với người là lmg/1kg thể trọng, bò là 2mg/kg thể trọng. 123
  12. Men linamaza có mặt ở ngoài tế bào, khi vỏ sắn bị sây sát hoặc thái lát. men này có cơ hội tiếp xúc với cyannuaglucocid trong tế bào và giải phóng ra HCN. Cơ thể tự giải độc được nếu HCN ít do thiosunfat nội sinh trong cơ thể tác dụng với ion CN- tạo thành thiocianat và được thải ra ngoài theo nước tiểu. Khi hàm lượng CN- nhiều sẽ gây ngộ độc do ton CN- ôxy hoá F2+trong hemoglobin thành F3+ làm mất khả năng vận chuyển ôxy trong máu gây thiếu O2 cấp tính. con vật sẽ chết do ngạt hô hấp. Triệu chứng say sắn : con vật run rẩy toàn thân, chảy nước miếng, nước mắt, khó thở, ruột co từ, máu có màu đỏ óng ánh, chậm đông, cơ chế như sau : Fe3+ của citocromoxydaza + CN − → CN-citocromoxydaza bền vững, không mang O2 trong máu. Làm cho các tế bào thiếu O2, con vật bị nhiễm độc chết do ngạt hô hấp ở mô bào. 6.2.3.1.5. Khoai tây Khoai tây có ưu điểm là ít chất xơ < 2%. Trong vật chất khô có 70% tinh bột, 10% protit, trong khoai tây sống có solanin là một alkaloit độc gây chướng bụng, đầy hơi ở bê nghé và lợn. Vì vậy,. cần phải nấu chín khoai tây trước khi cho ăn, không nên cho ăn sống. 6.2.3.1.6. Bí đỏ Hàm lượng nước khoảng 90%. Trong vật chất khô có > 50% bột đường protit và khoáng khoảng 1-2%, nhưng có nhiều caroten, có mùi vị thơm mát, dùng cải thiện khẩu phần nuôi trâu sữa, bò sữa, lợn nái nuôi con. Giá trị dinh dưỡng 0,1 là đvtă /1kg bí đỏ tươi. 6.2.3.2. Phương pháp chế biến và dự trữ 6.2.3.2.1. Phương pháp dự trữ Thức ăn củ quả chủ yếu là phơi khô để bảo quản được lâu phải phơi khô kỹ và khi thu hái phải tránh sây sát vỏ, không thu hái khi trời mưa hoặc ngập nước. - Nguyên lý : Vì thức ăn củ quả có hàm lượng nước cao, bột đường nhiều nên dễ bị nhiễm vi sinh vật gây thối. Trong củ quả có men amylaza phân huỷ tinh bột thành đường nên tỷ lệ đường tăng dần sau khi thu hái. Đó chính là lý do giải thích tại sao khoai lang để lâu thì khí luộc sẽ cháy mật và rất ngọt, điều đó cũng giải thích khi nhiệt 124
  13. độ càng tăng cao., đường sẽ bị phân giải thành H20 Và CO2 bay hơi làm cho củ khoai bị xốp và giảm trọng lượng. Nếu để khoai lâu và độ ẩm cao thì khoai sẽ mọc mầm, chất dinh dưỡng sẽ tập trung vào mầm nên phẩm chất khoai bị giảm đi. Vì vậy muốn bảo quản tốt cần tạo những diều kiện sau : + Củ không được sây sát + Khi thu hoạch không bị ngập nước + Nhiệt độ bảo quản thấp ( 13- 160C) + Độ ẩm không khí < 70% + Để nơi tối, hạn chế ánh sáng và phải khô ráo. - Phương pháp bảo quản : Xếp khoai, bí đỏ…trên giá hoặc để nguyên cả dây củ buộc thành túm treo lên gác bếp, tránh chất đống. Với sắn, cách bảo quản tốt nhất là thái lát, phơi khô. Trước khi phơi hoặc sấy khô cần ngâm nước 1 ngày, khi ngâm cần thay nước 2-3 lần, phơi vào ngày nắng. 6.2.3.2.2. Phương pháp chế biến Sắn, khoai lang thái lát mỏng, phơi khô nghiền thành bột trộn với các loại cám bột khoai lang khô tỷ lệ tiêu hoá là 90-100%. 100kg tươi phơi khô được 34-37kg khô. Có thể luộc chín rồi ủ men rượu để lên men có tác dụng tăng lượng protit và vitamin, đồng thời tạo mùi thơm ngon, kích thích tiêu hoá. Sắn có thể sát thành bội sau đó phơi khô làm bột lọc, bã phơi khô hoặc nấu chín ủ men rượu cho gia súc ăn. Củ đao giềng thái lát mỏng, phơi khô, nghiền bột hoặc xát bột. 6.2.4. Thức ăn hạt và phế phụ phẩm của nó Bao gồm hạt ngũ cốc và hạt họ Đậu, hạt có dầu, thức ăn hạt là loại thức ăn có giá trị đặc biệt quan trọng trong chăn nuôi, nhất là chăn nuôi lợn. gia cầm. Ở Mỹ. thức ăn hạt chiếm > 82% ở Đan Mạch. thức ăn hạt chiếm khoảng 86$ ở nước ta, thức ăn hạt chiếm khoảng 40% trong chăn nuôi lợn và 70% trong chăn nuôi gia cầm. 6.2.4.1. Đặc điểm của thức ăn hạt - Thức ăn hạt có nhiều chất dinh dưỡng quý, hàm lượng cân đối, tỷ lệ bột đường cao. Ví dụ : ngô có tỷ lệ bột đường từ 70-75%, có nhiều lipit, protit. khoáng và vitamin. Trong hạt họ Đậu, protit chiếm từ 22-40% - Thức ăn hạt có giá trị kinh tế cao. năng suất cao/đơn bị diện tích. - Thức ăn hạt có tỷ lệ tiêu hoá cao (85-90% do trong thành phần có ít chất xơ. - Thành phần thức ăn hạt có nhiều vitamin, nhất là vitamin nhóm B, vitamin E, có ít vitamin D và A. - Tuy nhiên, thức ăn hạt thường thiếu một vài loại axit amin không thay thế như 125
  14. lyzin, tryptophan ở hạt hoà thảo. 6.2.4.2. Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng 6.2.4.2.l. Hạt hoà thảo Hàm lượng bột đường trung bình 70% , protit từ 8- 12%, xơ từ 15-4,1%, lipit từ 2-8%, khoáng từ 1,5-4%. Trong đó, canxi ít hơn photpho, có nhiều vitaminnhóm B và E, ngô vàng có nhiều caroten, criptoxantin, xantophyl nên dùng để nuôi gà rất tốt. Tỷ lệ tiêu hoá từ 80-90%, Giá trị dinh dưỡng từ 1,1 – 1,3 đvtă/1 kg hạt khô. Đại diện chính là các loại lúa, ngô, mạch. cao lương. Cám gạo là phụ phẩm chính của ngành xay xát gạo, là nguồn thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm. Trong cám gạo có 12- 14% protit thô, 14- 18% lipit nên dễ bị ôxy hoá, vì vậy cám không nên để lâu trong cám có rất nhiều vilamin nhóm B. Nhất là B1 (22,2mg), B6 (13,lmg), biotin (0,43mg/kg cám). Giá trị dinh dưỡng là 0,94 đvtă/kg. 6.2.4.2.2. Hạt họ Đậu Đặc trưng cơ bản là hàm lượng protit cao (22-40%), lipit từ 1-5%, gồm nhiều cholesterol và 1euxitin. Riêng ở đậu tương, lượng lipit có 16-21%, chất khoáng nhiều hơn hạt hoà thảo, Ca nhiều hơn P, nhiều vitamin D, ít caroten, tỷ lệ tiêu hoá đạt 80- 90%. Giá trị dinh dưỡng đạt 12- 14đvtă/1kg khô. Thường dùng làm thức ăn bổ sung. 6.2.4.2.3. Hại có dầu Là loại thức ăn quý, có hàm lượng lipit cao (từ 14-46%), chủ yếu sử dụng dưới dạng khô dầu sau khi đã ép lấy dầu. 6.2.4.3. Phương pháp dự trữ và chế biến 6.2.4.3.1.Phương pháp dự trữ Chủ yếu là phơi khô, quạt sạch đảm bảo lượng nước còn 14-16% để nơi khô ráo, thoáng gió, cao ráo, chống mối mọt và chuột phá hoại. Khi thu hoạch về phơi càng nhanh càng ít bị hao tổn chất dinh dưỡng. 6.2.4.3.2. Phương pháp chế biến * Lên men : Là phương pháp chế biến tốt nhất với hạt hoà thảo và phế phụ phẩm của nó. - Nguyên lý : Chế biến thức ăn dựa trên sự phát triển của các loại tế bào nấm men biến đổi tinh bột và đường thành rượu etylic, axit hữu cơ, dầu rượu tạp, vitamin nhóm B và D, làm tăng lượng protit và axit amin. Thành phần hoá học của nấm men : Protit : 44-54% , trong đó có đủ các axit amin không thay thế Gluxit : 23-35% Lipit : l,5-5% Khoáng : 6- 12% Các loại vitamin nhóm B, D, E. 126
  15. 1kg nấm men nuôi dưỡng trong điều kiện tốt sau 24 giờ có thể tạo được lượng sinh khối dạt 512kg. Trong đó chứa 129kg protil. Hoặc muốn có 1 tấn protit, chúng ta phải trồng 4ha đậu đỗ trong 3-6 tháng hoặc nuôi 40 con bò thịt trong vòng 18 tháng nhưng chỉ cần một nồi men dung tích 300m trong 24 giờ đã cho 1 tấn protit. - Phương pháp chế biến : (Thực hành) các loại thức ăn hoà thảo nghiền nhỏ trộn với men rượu hoặc men vi sinh và nước đủ ẩm rồi ủ 2-3 ngày: Lấy ra cho gia súc ăn có tác dụng tăng mùi vị thơm ngon. Tăng giá trị dinh dưỡng, kích thích tiêu hoá làm tăng tỷ lệ tiêu hoá và tỷ lệ dinh dưỡng của khẩu phần. * Đường hoá : - Nguyên lý : Làm cho tinh bột chuyển hoá thành đường dễ tan, dễ tiêu hoá hơn. Quá trình này đòi hỏi một nhiệt độ thích hợp để men vi sinh học có sẵn trong men có thể hoạt động mạnh. Bình thường, đường dễ tan trong thức ăn hạt chỉ có 0,5-2%. Sau khi đường hoá, đường dễ tan tăng lên tới 8- 12% là thức ăn phù hợp cho gia súc non như lợn con, bê con, gia súc vô béo. - Phương pháp chế biến : Cho thức ăn hạt đã nghiền nhỏ vào thùng gỗ, cho nước nóng 800C-1000C theo tỷ lệ : 1kg thức ăn hạt cho 2-2,5 lít nước nóng, khuấy đều, ủ và giữ cho nhiệt độ từ 55-600C. Cho quá trình thuỷ phân nhanh hơn, người ta cho thêm 4-5% bột mầm thóc mạch nha. Sau khi ủ 5-6 giờ lấy ra cho gia súc ăn. * Thức ăn hạt họ Đậu : Chủ yếu là rang chin, nghiền bột, trộn vào thức ăn nhằm bổ sung dinh dưỡng, nhất là protit. * Hạt có dầu : Thường rang chín, ép dầu, chỉ sử dụng khô dầu cho chăn nuôi. 6.2.5. Thức ăn có nguồn gốc động vật Bao gồm tất cả các sản phẩm chế biến từ thức ăn có nguồn gốc động vật như : Bột thịt, bội xương, bột cá, bột máu, bột đầu tôm, sữa và những sản phẩm của sữa... Về mặt dinh dưỡng, đây là loại thức ăn quý có giá trí dinh dưỡng cao, là thức ăn giàu protit, cân bằng tỷ lệ các axit amin không thay thế. Các nguyên tố khoáng cần thiết và một số vitamin quan trọng như : B12 ,A, D, K, E... tỷ lệ tiêu hoá và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong thức ăn giàu protit động vật rất cao. 6.2.5.1. Sữa nguyên chất Là thức ăn lý tưởng của gia súc non. Vật chất khô trong sữa có thể tiêu hoá gần như hoàn toàn, các chất dinh dưỡng phong phú với tỷ lệ thích hợp nhất cho tiêu hoá và hấp thụ. Thành phần hoá học biến động : lipit từ 3-6%, protit thuần lừ 2-6% đường sữa từ 3,4-6% khoáng từ 0,4-l% vitamin các loại. Chất béo chủ yếu là các axit béo oleic. panmitic, butyric, caproic, caprilic... Trong protit : albumin ( 15%), casein (2,6-4%), globulin chiếm tỷ lệ thấp chỉ trong sữa đầu có hàm lượng cao. Chất khoáng có : Ca, P, Na, K, Cl, Mg, Mn, Fe, Co. I2…vitamin A (0,4-4.5 mg/kg sữa). B1 (0,3-o07mg), B2 (0,6-3,4mg), PP (0,8-5,l mg), 127
  16. D (2,6 -3,8 Ul/kg sữa). Căn cứ vào kết quả thí nghiệm về giá trị dinh dưỡng của sữa có hàm lượng mỡ chiếm 4% là 0,42 đvtă/1kg. 6.2.5.2. Sữa đã lấy bơ . Là thành phần sữa còn lại khi đã lấy bơ trong sữa nguyên, thành phần thay đổi tuỳ theo mức độ lấy bơ nhiều hay ít. Nói chung, vật chất khô chiếm 9%, lipit (0.2-l%), prôlein (3,5 % ). đường (4%), khoáng (0,75% ). Tỷ dinh dưỡng hẹp. giá trị dinh dưỡng đạt 0.17 đvtă/1kg nên thường dùng để nuôi bê và lợn con. Ở những nước công nghiệp phát triển, người ta chế biến sữa lấy bơ bằng cách cấy vi khuẩn axit ophylis thuần khiết để axit hoá sữa thành axit lactic có mùi vị thơm ngon, kích thích tiêu hoá và ức chế một số vi khuẩn đường ruột của gia súc. Phương pháp làm sữa chua : Đun sữa ở nhiệt độ 65-900C trong 30 phút, sau đó để nguội 350C rồi cấy vi khuẩn vào để trong tủ ấm 370C trong 6-8 giờ. Lấy ra cho gia súc ăn. Dùng không hết có thể bảo quản trong tủ lạnh. Một cách chế biến khác là sấy khô sữa thành bột, phải sấy sữa trong phòng sấy đặc biệt. Cho thành phần dinh dưỡng : là H2O (5-7% ). protit (30-33%). đường (44- 47%), lipit (0,5-l,5%), khoáng (7-8 %). Khi cho ăn phải trộn một phần sữa bột với 7 phần nước khuấy đều. 6.2.5.3. Sữa đã lây casein Là sản phẩm phụ của sữa sau khi đã lấy casein để làm phomat.Vật chất khô ít hơn chất khử bơ, thành phần hoá học có đường sữa 2/3-3/4 vật chất khô, lipit và protit còn ít, tỷ lệ dinh dưỡng rộng 9/1 , giá trị dinh dưỡng 0,11 -0,12 đvtă/1kg, thường dùng nuôi lợn cà trâu bò thịt. 6.2.5.4. Bột tan Là sản phẩm phụ của lò sát sinh và nhà máy chế biến thịt. Thành phần protit tiêu hoá chiếm 60-65%, giá trị dinh dưỡng 1,5 đvtă /1kg. 6.2.5.5. Bột thịt xương Nguyên liệu là xác gia súc chết mà người không ăn nhưng phải đảm bảo vệ sinh. Không mắc bệnh truyền nhiễm, hoặc những phế phụ phẩm còn lại sau khi giết mổ gia súc làm thịt hộp. Cách làm : Cho nguyên liệu vào nồi hấp cao áp vài giờ, sau đó vớt hết chất béo nổi lên trên rồi đem sấy khô và nghiền nhỏ thành bột. Thành phần thay đổi tuỳ vào điêu kiện chế biến là nguyên liệu. Trung bình có : Nước (6-10%), protit (40-60% khoáng (l0-30%) lipit ( 8- 15% ). Giá trị dinh dưỡng 0,89 đvtă/1 kg. 6.2.5.6. Bột máu Là sản phẩm của lò mổ (lò sát sinh), đem nấu chín máu đã đông đặc sau đó đem ép, sây khô và nghiền nhỏ. Thành phần có nước chiếm (8-l1% là protit thuần 74% : Giá trị dinh dưỡng 1.28 đvtă/1kg. 128
  17. 6.2.5.7. Bột cá nhạt nhiều chất béo Dùng nguyên liệu là cá cả con kém phẩm chất. Cách làm giống như bột thịt thường là các loại cá nhỏ không thích hợp để làm cá đóng hộp và ướp muối. Thành phần có : Chất béo (10-20%) protit (55-60%), khoáng (20-29%), trong đó Ca 6,7%, P 7,2%muối (5-6%), giá trị dinh dưỡng 1,07 đvtă/1kg. 6.2. 5.8. Bột cá mặn Nguyên liệu là cá sau khi đã lấy hai thân thịt để làm thức ăn cho người hoặc lấy để ép dầu, đem hấp chín, phơi khô, nghiền nhỏ thành bột. Thành phần có : H2O 12,8% tinh 2, lipit 2,1%, protit thô 50%. protit thuần 43,6%, khoáng 32,6 %, muối ăn (5- 10%). Giá trị dinh dưỡng 0,73 đvtă/1kg. Dùng chung khẩu phần nuôi lợn, gia cầm, trâu bò thịt, riêng bò sữa không sử dụng vì ảnh hưởng đến mùi vị của sữa. Nếu bột cá tốt phải có protit > 50%, NaCl < 4%. 6.2.6. Thức ăn sản phẩm phụ nông nghiệp Là sản phẩm còn thừa lại trong quá trình gia công chế biến thức ăn động vật và thực vật. Bao gồm các loại sản phẩm phụ của nghề xay bột và lọc bột, sản phẩm phụ của nghề ép dầu, sản phẩm phụ của nghề làm đường, rượu, sản phẩm phụ của nhà máy xay xát gạo, sản phẩm phụ của ngành chế biến thịt cá... 6.2.6.1. Sản phẩm phụ của nhà máy xay Là loại thức ăn có hàm lượng đường cao, tỷ lệ bột đường 53-64% tuỳ loại, thấp hơn hạt hoà thảo nhưng lại cao hơn hạt họ Đậu protit l0-12%cao hơn hạt hoà thảo bao gồm nhiều loại axit amin quan trọng như hístidin 0,2%, acginin 0,5%, lyzin 0,5% treonin 0,4%. tryptophan 0,4% hàm lượng xơ 10% cao hơn hoà thảo và họ Đậu lipit 12-15%, vitamin nhóm B rất cao : B122,7mg, B23mg, PP24,8mg, B223,2mg, caroten 2mg/1kg. Giá trị dinh dưỡng cám gạo loại tốt 09- 1 đvtă/1 kg. 6.2.6.2. Sản phẩm phụ của nghề xay bột, làm đậu phụ Bao gồm các loại hạt và bã sau khi ép lọc lấy bột làm bánh và làm đậu phụ. Thành phần hoá học thay đổi tuỳ theo loại hạt đem chế biến. - Bã ngũ cốc và khoai lang, sắn khi ướt : H2O 75-85%. protit 2,2% bột đường 10- 12%, lipit 5-8%, giá trị dinh dưỡng 0,2 đvtă/kg: - Bã đậu phụ ướt : Nước chiếm 80%, protit 3-4%, bột đường 10% xơ 5-8%, giá trị dinh dưỡng 0,2 đvtă/kg. 6.2.6.3. Sản phẩm phụ của nghề ép dầu Và những sản phẩm còn lại sau khi đã ép dầu bao gồm nhiều loại khô dầu lạc, khô dầu cám, khô dầu đậu nành, khô dầu dừa. bông... Đặc điểm : bột đường 33-36%, lipit ép thường còn 4-8% hoà tan chiết suất bằng este còn 1-3%, xơ 5,1-1 1 %, protit thô 30-45%. khoáng 6-7% Vitamin chủ yếu là nhóm B. Giá trị dinh dưỡng 1,2 đvtă/kg. Do đó. thường dùng làm thức ăn bổ sung cho 129
  18. gia súc, gia cầm. Chú ý : trong khô dầu bông có chất gossipol rất độc nên khi cho ăn cần phải xứ lý : đun sôi 1 giờ, mở vung hoặc rang chín kỹ. Khi cho ăn phải huấn luyện từ ít đến nhiều. 6.2.6.4. Sản phẩm phụ của nghề làm dường Chủ yếu là rỉ mật đường. cặn bã đường trong thành phần có nhiều bột đường và một số protit, lipit, khoáng, thành phần hoá học : protit 9%, bột đường 60% khoáng 10% nhiều loại axit hữu cơ, khi sử dụng trộn với các loại thức ăn thô khác. Bò sữa, bò thịt vỗ béo, ngựa : 1,5-2kg/ngày. Dê, cừu, lợn : 0,4-0,5kg/100 kg thể trọng, khi cho ăn pha loãng với 3 phần nước. 6.2.6.5. Sản phẩm phụ của ngành nấu rượu Bao gồm bỗng rượu, bã bia, men rượu sau khi nấu rượu. Bỗng rượu : Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng thay đổi tuỳ theo nguyên liệu đem nấu rượu. trung bình có : nước 90-93%, vật chất khô 7-l0% trong đó protit 23-30%, bột đường 40-49%, lipit 10% trong vật chất khô. Ngoài ra, còn một số axit hữu cơ, giàu rượu tạp ; nhiều loại vitamin nhóm B, D, E. Giá trị dinh dưỡng 0,08 đvtă/1kg bỗng ướt, khi cho ăn phải trộn thêm cám, bội và các loại rau bèo khác. - Men rượu bia : Là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dê tiêu hoá và giàu vitamin. Thành phần : nước 10%, khoáng 10-14%. nhiều vitamin nhóm B và D, vitamin B1 45mg, B2 30mg, BỘ l00 mg, PP 150-450mg/1 kg, giá trị dinh dưỡng 1,14 đvtă/1 kg, mức cho ăn 0 5-5% khẩu phần. 6.2.7. Thức ăn bổ sung 6.2.71. Thức ăn khoáng Thông thường, hàm lượng khoáng chứa trong các loại thức ăn không đủ thoả mãn nhu cầu của gia súc, vì thế việc bổ sung thêm một số chất khoáng thích đáng có ý nghĩa rất lớn trong chăn nuôi. Không những nó làm cho gia súc ngăn ngừa được những bệnh tật về sinh lý sinh trưởng phát dục mà còn làm tăng sức khoẻ và tính năng sản xuất. Các loại khoáng gồm có muối ăn (Nacl) bột xương, bột vỏ sò. thạch cao. khoáng vi lượng... - Nacl : Cho gia súc ăn làm tăng khẩu vị và cung cấp Na, Cl. Muối mỏ ngoài Nacl còn có MgSO4, Na2SO4, KCI, Mgcl ... Mức ăn : Bò trưởng thành cho ăn : 25-50gr/ ngày Ngựa : 20-40 gr/ngày Dê cừu : 5- 15 gr/ngày Lợn : 5- 1 0 gr/ngày - Bột xương : Trong khẩu phần thức ăn hằng ngày của vật nuôi thường thiếu Ca, 130
  19. P. Bột xương đã khử chất keo gelatin chứa 30-35% tricanxi photphat, dùng bổ sung cho gia súc non sinh trưởng và gia súc chửa đẻ, nuôi con hay tiết sữa. Mức cho ăn : Bò không vắt sữa : 60 gr/ngày Bò vắt sữa cho con bú : 100 gr/ngày Bò trên 1 tuổi : 45 gr/ngày, Bê dưới 1 tuổi :25 gr/ngày Iợn con : 5-8 gr/ngày Lợn 4- 10 tháng : 10 gr/ngày Cừu : 5-10 gr/ngày Gà và : 2 gr/ngày. Chú ý, tỷ lệ khoáng Ca/P = l,5-2/1 trong giai đoạn sình trưởng, trưởng thành là 1 ,2/1 . Thạch cao (phấn) có chứa 56% can xi, bổ sung vào khẩu phần thiếu Ca. 6.2.7.2. Cao vitamin Là các loại thức ăn nhằm bổ sung protit, vitamin cho gia súc do giáo sư A. Zoubribin (liên Xô cũ) đề xuất. Cách làm như sau : Các loại rau xanh non, thân lá cây họ Đậu, lạc rửa sạch. băm nhỏ ngâm nước cho ra hết các chất dịch trong tế bào, sau đó dùng vải màn lọc bỏ bã đi, đun ở nhiệt độ 800C. Các chất protit trong dung dịch sẽ đông lại thành chất keo quánh nổi lên, dùng vợt để với ra ta thu được cao vitamin. Thành phần : 45-60% protit thô, 12-20% lipit, nhiều loại vitamin. Chủ yếu cho gia súc non và gà con ăn nhằm kích thích sinh trưởng 6.2.7.3. Dầu cá Là nguồn cung cấp vitamin D, A, nhất là dầu gan cá thu, cá mập. Thành phần : 3300-6000UI vitamin A/1ml dầu, 150-250 UI vitamin D/1ml dầu cá. Mức cho ăn : Gà vịt 0,lg, lợn con 0-25g/ngày. Tác dụng bổ sung vitamin A, D kích thích sinh trưởng. 6.2. 7.4. Kháng sinh tố Kháng sinh bổ sung vào khẩu phần ăn của vật nuôi thuộc loại kháng sinh nhóm te tra cyclin như teramycine: biomicine, oeureomycine. Khi cho ăn kháng sinh có tác dụng nâng cao tốc độ sinh trưởng từ 10-30% - Đối với lợn nhất là giai đoạn 3-4 tháng tuổi. - Đối với gà có tác dụng tăng trọng từ 20-40% so với đối chứng, Tiết kiệm 30- 50% thức ăn, giảm tỷ lệ mắc bệnh và chết. - Đối với gia súc nhai lại, nếu dùng một lượng nhỏ kháng sinh cũng có tác dụng tốt, khả năng tăng trọng từ 9-20% Hầu hết các loại kháng sinh khi vào cơ thể đều bị đào thải ra ngoài sau một thời gian ngắn nên sử dụng kháng sinh cho gia súc ăn sẽ không ảnh hưởng đến phẩm chất và mùi vị của thịt và sữa nếu ngừng cho ăn trước khi giết mổ 1 tháng. Sở dĩ kháng sinh 131
  20. http://cnty.rumenasia.org, TL tham khao, P.V. Hai có tác dụng như vậy là vì kháng sinh đã làm mỏng thành ruột, làm tăng diện tích tiếp xúc hấp thụ thức ăn và dinh dưỡng, tăng lượng máu lưu thong vách ruột, nâng cao tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong thức ăn. Làm tăng hiệu quả sử dụng protit, khoáng, vitamin, tăng hồng cầu và bạch cầu trong máu. Một số nhà khoa học cho ràng kháng sinh đã ức chế vi khuẩn có hại trong đường ruột nên đã làm giảm bệnh ỉa chảy, giảm tiêu hao dinh dưỡng, kích thích sinh trưởng, tăng sức đề kháng của cơ thể. Kháng sinh ức chế vi khuẩn có hại làm chúng không sử dụng được vitamin và dinh dưỡng của cơ thể. làm cho gia súc tận dụng triệt để những vilamin do thức ăn đưa vào. Ngày nay, người ta thường sản xuất các hỗn hợp premix kháng sinh-vitamin như biovit 40. biovit 80 ; kháng sinh-axit amin như : biolyzin ; kháng sinh-khoáng vi lượng... 6.2.7.5. Các kích tố Bao gồm nhiều loại có lác dụng kích thích sinh trưởng sinh sản, vỗ béo, tiết sữa và các loại gia cầm đè trứng. Ví dụ : broxinet, eitripin bổ xung vào khẩu phần nuôi gia cầm làm tăng sản lượng trứng ; huyết thanh ngựa chửa từ 1-3 tháng có tác dụng kích thích động dục ở gia súc cái trâu bò, lợn... stinben, dietin, stinbentron bổ sung nuôi gia súc cho thịt … 6.2.7.5.1. Bản chất, cơ chế tác đụ ng của kích tố 6.2.7.5.1.l. Bản chất của kích tố (hormon) Hormon có nhiều loại nhưng bản chất hoá học của chúng chỉ nằm trong 2 nhóm là nhóm có bàn chất protit và nhóm có bản chất lipit. - Nhóm có bản chất protit : Bao gồm các hormon tuyến yên, tuyến giáp trạng, tuyến cận giáp trạng, tuyến đảo tuỵ và miền tuỷ tuyến thượng thận. Những hormon này được cấu tạo bằng những mạch polypeptit dài ngắn khác nhau. Ví dụ : ACTH có 39 axit amin, insulin có 51 axit amin, glucagon có 29 axit amin… Người ta còn biết được trật tự sắp xếp của các axit amin trên mạch polypeptit của chúng và sự sắp xếp này đã quyết định sự khác nhau về chức năng giữa các hormon. - Nhóm bản chất lipil : bao gồm hormon miền vỏ thượng thận, hormon sinh dục. Cấu tạo các hormon này đều xuất phát từ một nhân chung là sleroit đó là nhân xiclopentan dehydro fenandren, chỉ khác nhau ở nhóm chức -OH, -CHO -CH2OH... đính trên nhân đó mà thôi. 6.2.7.5.1.2. Cơ chế tác dụng của kích tố Trước những năm 1960 , người ta chỉ xác định được 5 tác dụng của hormon đó là: - Điều hoà trao đổi chất : Hormon làm tăng hay giảm quá trình phân giải hoặc tổng hợp chất này hay chất kia được phản ánh qua hàm lượng tăng hay giảm chất đó trong máu. Ví dụ : Adrenalin làm tăng đường huyết, còn insulin làm giảm đường huyết 132
Đồng bộ tài khoản