Giáo trình giảng dạy: Quản lý môi trường (ĐH KHTN Tp. HCM)

Chia sẻ: Lê Hữu Lợi | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:131

1
477
lượt xem
257
download

Giáo trình giảng dạy: Quản lý môi trường (ĐH KHTN Tp. HCM)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại đã trải qua một quá trình lâu dài, trong quá trình đó, con người vô tình hay cố ý đã có tác động (xấu hoặc tốt) đến môi trường. Ảnh hưởng của các hoạt động của nhân loại đến môi trường càng trở nên mạnh hơn kể từ khi con người sử dụng các ngành công nghiệp vào sản xuất và đời sống.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình giảng dạy: Quản lý môi trường (ĐH KHTN Tp. HCM)

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA TH.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN    GIÁO TRÌNH GIẢNG DẠY TP.HCM, 2008
  2. Quản lý môi trường PHÂN BỐ THỜI LƯỢNG & HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ 1 Tên môn học: Quản lý môi trường. 2 Mã số: 3 Số đơn vị học trình: 03 4 Phân phối thời lượng: * Lý thuyết: 70% * Thực hành: 30% 5 Hình thức đánh giá: * Tham gia đầy đủ giờ nghe giảng trên lớp: 10% * Thảo luận nhóm: 10% * Tiểu luận: 20% * Thi (viết) 60% 6 Chủ nhiệm bộ môn: 7 Giảng viên: Ths. Nguyễn Vinh Quy.
  3. Quản lý môi trường MỤC LỤC Phần 11 Khái quát về quản lý môi trường và những thách thức của môi trường đối với nhân loại Chương 1: Mở đầu Chương 2: Những thách thức của môi trường đối với nhân loại 2.1 Các thách thức về môi trường 2.1.1 Vấn đề ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường. 2.1.1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường. 2.1.1.2 Khái niệm về sự cố môi trường 2.1.1.3 Khái niệm về suy thoái môi trường 2.1.2 Vấn đề trái đất nóng lên 2.2 Phát triển và mối quan hệ giữa môi trường và phát triển 2.2.1 Khái niệm về phát triển 2.2.2 Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển Chương 3: Đô thị hoá, công nghiệp hoá và ô nhiễm môi trường 3.1 Mối liên hệ giữa đô thị hoá, công nghiệp hoá và môi trường 3. 2 Ô nhiễm các thành phần môi trường và các biện pháp bảo vệ 3.2.1 Ô nhiễm nguồn nước 3.2.1.1 Khái niệm ô nhiễm nguồn nước. 3.2.1.2 Các nguồn gây ô nhiễm. 3.2.1.3 Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước. 3.2.1.4 Ảnh hưởng của việc ô nhiễm nước đến môi trường sống 3.2.1.5 Một số giải pháp hạn chế ô nhiễm nguồn nước. 3.2.2 Ô nhiễm và bảo vệ khí quyển 3.2.2.1 Khí quyển và ô nhiễm khí quyển 3.2.2.2 Các nguồn gây ô nhiễm không khí 3.2.2.3 Ô nhiễm không khí do tiếng ồn i
  4. Quản lý môi trường 3.2.2.4 Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường không khí 3.2.3 Ô nhiễm và bảo vệ môi trường đất 3.2.3.1 Đặc điểm của môi trường đất 3.2.3.2 Ô nhiễm môi trường đất 3.2.3.3 Các chất gây ô nhiễm môi trường đất 3.2.3.4 Các biện pháp bảo vệ môi trường đất Phần ii Quản lý môi trường và hệ thống quản lý môi trường Chương 4: Khái quát về quản lý môi trường 4.1 Định nghĩa về quản lý môi trường 4.2 Mục đích, nguyên tắc và nôi dung của công tác quản lý môi trường. 4.2.1 Mục đích 4.2.2 Các nguyên tắc quản lý môi trường chủ yếu 4.2.3 Nội dung và chức năng của quản lý nhà nước về môi trường. 4.2.4 Công cụ quản lý môi trường 4.2.4.1 Khái niệm về công cụ quản lý môi trường 4.2.4.2 Phân loại công cụ quản lý môi trường Chương 5: Hệ thống quản lý môi trường ISO 14000 5.1 Khái niệm về hệ thống quản lý môi trường 5.2 Quản lý môi trường theo hệ thống ISO 14000 5.2.1 Khái niệm ISO 14000 5.2.2 Nội dung cơ bản của ISO 14000 5.2.3 Các yếu tố và các tiêu chuẩn trong chuỗi tiêu chuẩn ISO 14000 5.2.4 Triển khai áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000 ở nước ta. 5.3 Chương trình quản lý và kiểm toán sinh thái cộng đồng. 5.3.1 Sự giống và khác nhau giữa ISO 14001 va EMAS Chương 6: Các tiêu chuẩn chất lượng môi trường 6.1 Khái niệm về tiêu chuẩn môi trường 6.2 Các tiêu chuẩn chất lượng môi trường ii
  5. Quản lý môi trường 6.2.1 Tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh. 6.2.1.1 Các tiêu chuẩn thải nước và thải khí 6.2.1.2 Các tiêu chuẩn xả thải theo sản phẩm và quy trình. 6.2.2 Các tiêu chuẩn về môi trường nước 6.2.2.1 Tiêu chuẩn nước mặt 6.2.2.2 Tiêu chuẩn nước ngầm 6.2.2.3 Tiêu chuẩn chấùt lượng nước biển ven bờ 6.2.3 Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí 6.2.3.1 Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí xung quanh. 6.2.3.2 Cộng tác dụng của nhiều chất ô nhiễm trong môi trường không khí. 6.2.3.3 Tiêu chuẩn cho phép nồng độ chất ô nhiễm trong khí thải đối với nguồn khí thải tĩnh 6.2.3.4 Tiêu chuẩn nồng độ các chất ô nhiễm khí thải từ nguồn di động 6.2.3.5 Tiêu chuẩn tiếng ồn 6.2.4 Tiêu chuẩn chất lượng đất 6.2.4.1 Tiêu chuẩn quy định dư lượng tối đa hoá chất bảo vệ thực vật trong đất (TCVN 5941-1995) . Chương 7: Hệ thống quan trắc dùng trong quản lý môi trường 7.1 Hệ thống quan trắc môi trường và chức năng nhiệm vụ của hệ thống quan trắc 7.1.1 Khái niệm 7.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của hệ thống quan trắc môi trường. 7.1.3 Phân loại hệ thống quan trắc. 7.1.4 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống quan trắc quốc gia 7.1.5 Các thông số cơ bản của môi trường được các trạm quan trắc theo dõi, thu thập. 7.1.5.1 Quan trắc chất lượng môi trường nước. 7.1.5.2 Quan trắc chất lượng môi trường không khí. 7.1.5.3 Quan trắc chất lượng môi trường đất iii
  6. Quản lý môi trường Phần 3 Luật pháp về bảo vệ môi trường của Việt Nam và quốc tế Chương 8: Tuyên bố của Hội Nghị Liên Hiệp Quốc về bảo vệ môi trường iv
  7. Quản lý môi trường PHẦN 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ NHỮNG THÁCH THỨC CỦA MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU Lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại đã trải qua một quá trình lâu dài, trong quá trình đó, con người vô tình hay cố ý đã có tác động (xấu hoặc tốt) đ ến môi trường. Ảnh hưởng của các hoạt động của nhân loại đến môi trường càng trở nên mạnh hơn kể từ khi con người sử dụng các ngành công nghiệp vào sản xuất và đời sống. Không thể phủ nhận rằng sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp đã góp phần nâng cao đời sống và thỏa mãn được một phần nhu cầu ngày càng tăng của con người trên hành tinh chúng ta. Theo Ree (1990) vào những năm 50 của thế kỷ 20, tổng thu nhập quốc nội ở những nước phát triển tăng 3 lần, con số này vượt quá 4 lần trong thập kỷ sau. S ản l ượng công nghiệp tăng 4 lần trong vòng 20 năm và tỷ lệ tăng tr ưởng (rate of growth) gấp 4 lần so với nửa thập kỷ trước. Tuy vậy, đồng hành với sự phát triển của các ngành công nghiệp, các vấn đề về môi trường cũng nảy sinh. Mức tiêu thụ các tài nguyên, khoáng sản không ngừng leo thang, đặc biệt là nhu cầu về quặng sắt và quặng năng lượng (energy minerals) tăng lên đáng kể: quặng sắt 7%; quặng nhôm 9,8%; plantinum 9%… Việc tăng lượng tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên không những dẫn đến tăng nhanh lượng chất thải ra môi trường mà còn tăng áp lực sử dụng các loại tài nguyên có giá trị thấp và khó khai thác. Do đó, nhiên liệu và năng lượng chi phí cho việc khai thác các loại tài nguyên lại càng cao hơn. Hậu quả của việc sử dụng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho mục đích phát triển đã được nhiều học giả của các nước Châu Âu và Mỹ quan tâm ngay từ những năm đầu của thập kỷ 50. Theo báo cáo của chính quyền nước Mỹ tại thời điểm 1950, tài nguyên dầu mỏ của Mỹ sẽ cạn kiệt sau 20 năm nếu Ths. Nguyễn Vinh Quy 1
  8. Quản lý môi trường người Mỹ không thay đổi “khuôn mẫu” của sự tiêu thu. Tại thời điểm đó, các nước Châu Âu cũng rất lo ngại về việc sẽ cạn kiệt các loại tài nguyên chủ y ếu cho việc phục hồi nền công nghiệp bị chiến tranh thế giới thứ 2 tàn phá. Dầu vậy, mãi cho đến những năm đầu của thập kỷ 70 vấn đề làm thế nào để giảm suy thoái môi trường mà vẫn không ảnh hưởng đến sự phát triển mới được cộng đồng quốc tế quan tâm đúng mức và điểm mốc đánh dấu cho hoạt động bảo vệ môi trường trên bình diện toàn cầu là “Hôïi nghị thượng đỉnh Stockhorm” năm 1972 tại Thụy Điển. Ngày nay, bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề trọng yếu toàn cầu và đang dược nhiều quốc gia trên thế giới đặt thành quốc sách. Bảo vệ môi trường gắn liền với sự phát triển bền vững đã trở thành một nội dung quan trọng c ủa các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Nếu không đặt đúng vị trí bảo vệ môi trường thì không thể đạt được mục tiêu phát triển và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Một thực tế dễ nhận thấy, trong những thập kỷ gần đây môi trường đang có những thay đổi theo hướng xấu đi như: sự thay đổi khí hậu toàn cầu; hiệu ứng nhà kính; sự suy giảm tầng ozone; đa dạng sinh học ở nhiều vùng đang bị giảm sút một cách nhanh chóng; cháy rừng và ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất…Chất lượng môi trường giảm sút đã gây ra hậu quả khôn lường. Các hiện tượng như cháy rừng, hạn hán, lụt lội ngày nay đang xảy ra thường xuyên hơn. Sự ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường mang tính không biên giới, không có giới hạn trong một quốc gia hay khu vực mà nó xảy ra trên bình diện toàn cầu. Ô nhiễm và s ự cố môi trường có thể xảy ra ở những nước giàu cũng như nước nghèo và ngày càng ngiêm trọng hơn, nó đã trở thành vấn đề thách thức ở nhiều quốc gia. Môi trường một khi bị biến đổi quá mức thì khó có khả năng tự lấy lại cân bằng. Do đó, để môi trường có thể trở lại trạng thái cân bằng đòi hỏi phải có sự can thiệp một cách có ý thức của con người. Do mức độ quan trọng, bình diện rộng cũng như sự phức tạp của vấn đề môi trường nên đòi hỏi các nhà nước phải nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường, vì quản lý nhà nước về môi trường cũng Ths. Nguyễn Vinh Quy 2
  9. Quản lý môi trường là một trong những lĩnh vực quản lý nhà nước. Đòi hỏi cách “cư xử” đúng mức với môi trường được đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới, bất kể sự khác nhau về hình thức chính thể, thể chế chính trị cũng như trình độ phát triển kinh tế-xã hội của mỗi nước. Thực tế ở nhiều nước đạt được thành tích cao trong bảo vệ môi trường như Mỹ, Úc , Singapore…cho thấy, quản lý nhà nước về mặt môi trường là một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và luôn giữ được môi trường ở trạng thái cân bằng. Ở nước ta, vấn đề bảo vệ môi trường nhằm góp phần phát triển bền vững rất được Đảng và Nhà nước quan tâm. Các nghị quyết của Đảng đều ghi rõ phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Hệ thống quản lý nhà nước về mặt môi trường đã được hình thành và đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước. Công tác kiểm soát và quản lý môi trường được tiến hành tương đối đồng bộ và có tổ chức. Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và đã có những biện pháp tích cực để tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và hiểu biết về bảo vệ môi trường của người dân. Không thể phủ nhận rằng, hoạt động bảo vệ môi trường ở nước ta trong những năm qua đã được đẩy mạnh và thu được một số kết quả đáng khích lệ, góp phần vào những thành tựu to lớn của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Tuy vậy, vẫn có nhiều vấn đề cần phải được cũng cố, sửa đổi trong việc quản lý môi trường nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhìn tổng thể, môi trường nước ta đang tiếp tục bị ô nhiễm và suy thoái, nhiều nơi còn rất nghiêm trọng. Việc thi hành luật bảo vệ môi trường của các cá nhân, tập thể nhiều lúc còn chưa được nghiêm túc, công tác quản lý còn lỏng lẻo. Nhiều sự cố môi trường và hậu quả xấu do s ử dụng không hợp lý tài nguyên thiên nhiên tồn tại từ trước chưa được cải thiện và khắc phục, trong lúc đó nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường lại tiếp tục phát sinh. Ý thức tự giác bảo vệ và giữ gìn môi trường trong cộng đồng chưa trở thành thói Ths. Nguyễn Vinh Quy 3
  10. Quản lý môi trường quen trong cách sống của đại bộ phận dân cư. Một trong những nguyên nhân cơ bản của tồn tại trên là sự hiểu biết về môi trường trong côïng đồng dân cư cũng như nhiều cán bộ quản lý (kể cả các cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường) còn nhiều hạn chế và bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với điều kiện phát triển hiện t ại cũng như phục vụ cho chiến lược đi tắt, đón đầu mà Đại Hội Đảng lần thứ IX đề ra. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, ngày 25 tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 36-CT/TW về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Một trong những nôi dung chính mà Chỉ thị chú trọng là công tác quản lý môi trường. Trong số những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện Chỉ thị có việc nâng cấp cơ quan quản lý môi tr ường từ trung ương đến địa phương, tạo điều kiện cần thiết về tổ chức nhân lực, cơ sở tổ chức kỹ thuật để cơ quan này đủ sức thực hiện tốt chức năng quản lý môi trường, kết hợp hợp chặt chẽ với việc tư vấn hoạch định các chủ trương, chính sách về phát triển bền vững, đồng thời tăng cường năng lực quản lý nhà nước về môi trường. Để thực hiện được những mục đích này, việc trang bị cho cán bộ phụ trách công tác liên quan đến môi trường các kiến thức và sự hiểu biết về khoa học môi trường, nghệ thuật quản lý, cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở nước ta và một số nước trên thế giới đóng vai trò rất quan trọng. Do đó môn “Quản lý môi trường” được xây đựng nhằm trang bị cho sinh viên chuyên ngành môi trường những kiến thức để thực hiện được những yêu cầu này. Ths. Nguyễn Vinh Quy 4
  11. Quản lý môi trường CHƯƠNG 2: NHỮNG THÁCH THỨC CỦA MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI. 2.1 NHỮNG THÁCH THỨC VỀ MÔI TRƯỜNG. Trong một bản báo cáo trước Hội đồng kinh tế xã hội của Liên hợp quốc năm 1969, tổng thư ký Liên hợp quốc đã nhấn mạnh: “Lần đầu tiên trong lịch sử của nhân loại đã xảy ra một khủng khoảng thuộc quy mô quốc tế liên quan đến tất cả các nước phát triển và đang phát triển - cuộc khủng khoảng về môi trường. Rõ ràng là nếu chiều hướng này tiếp tục, tương lai của sự sống trên trái đất có thể bị đe doạ”. Nhận định này chẳng những phản ánh đúng trình trạng suy thoái môi trường tại thời kỳ đó mà còn dự đoán rất chính xác những gì đã thực sự diễn ra trong mấy thập kỷ cuối của thế kỷ 20. Các vấn đề có liên quan đến môi trường đã và đang trở thành thách thức đối với nhân loại trong thế kỷ 21 là làm thế nào để: * Phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân loại, đặc biệt là nhân đân ở các nước ngèo nhưng không ảnh hưởng xấu đến môi trường. * Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả tài nguyên tái tạo được và tài nguyên không tái tạo được. Ths. Nguyễn Vinh Quy 5
  12. Quản lý môi trường * Giảm dần mức độ nóng lên của trái đất. * Chống hiện tượng mỏng dần của tầng ozon. * Chống sự suy thoái môi trường. * Giảm các sự cố môi trường như lụt, hạn hán, mưa axit... * Giảm tốc độï sa mạc hóa. * Giữ gìn đa dạng sinh học. 2.1.1 VẤN ĐỀ Ô NHIỄM, SỰ CỐ VÀ SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG. 2.1.1.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính vật lý, hoá học hoặc sinh học như: nhiệt độ, chất sinh học, chất hòa tan, chất phóng xạ... của bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường. Sự thay đổi này vượt quá mức cho phép đã được xác định. Sự gia tăng chất lạ vào môi trường, sự thay đổi các yếu môi trường này gây hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn hay sự phát triển của người và sinh vật trong môi truờng đó. Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, ô nhiễm hoặc sự nhiễm bẩn là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây tác hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất luợng môi trường. Ta cũng có thể nêu một định nghĩa khác: “Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi chất lượng môi trường theo chiều hướng tiêu cực đối với các mục đích sử dụng môi trường”. Ví dụ, việc gia tăng hàm lượng bụi, các khí độc trong không khí gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người hoặc đời sống sinh vật. Việc gia tăng nồng độ các chất hoá học, vi trùng hoặc các tác nhân vật lý trong nước có thể làm ảnh hưởng tới đ ời sống thuỷ sinh vật hoặc khả năng cấp nước cho cây trồng, cho con người đ ềâu được gọi là ô nhiễm môi trường. 2.1.1.2 Khái niệm về sự cố môi trường. Ths. Nguyễn Vinh Quy 6
  13. Quản lý môi trường Trong điều 2 của luật bảo vệ môi trường ở Việt nam có đưa ra khái niệm về sự cố môi trường như sau: “ Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc do biến đổi thất thường của thiên nhiên gây suy thoái môi trường nghiêm trọng”. Sự cố môi trường có tể xảy ra do: * Bảo, lũ, lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, núi lửa phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu hoặc thiên tai khác; * Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng; * Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc dầu và các cơ sở công nghiệp khác; và * Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ,... Trên trái đất, hàng ngày hàng giờ có rất nhiều sự cố môi trường. Có khi sự cố môi trường do con người, có khi sự cố lại do thiên nhiên và có khi do c ả 2 phía. Ví dụ, vụ cháy rừng tràm đặc dụng ở U Minh Hạ và U Minh Thượng tháng 4 năm 2002 là do yêu tố con người (Người dân vào khai thác củi, nhóm l ửa dẫn đến cháy rừng). Động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 1999 lại do yếu tố thiên nhiên, nhưng mưa acid tuy là do nước mưa rơi xuống từ trên trời nhưng phải là h ậu quả của chất thải giàu CL, SO2, SO3 , dể tạo ra acid HCL hay H2SO4 do hoạt động của con người tạo ra. 2.1.1.3 Khái niệm về suy thoái môi trường. Suy thoái môi trường là sự giảm sút về chất lượng, số lượng thành phần vật lý (như suy thoái đất, nước, không khí, hồ, biển...) và đa dạng sinh học của môi trường. Quá trình suy giảm chất lượng môi trường đó đã gây hại cho đời sống sinh vật, con người và thiên nhiên. Ví dụ, vùng đồi núi dốc miền Trung Bộ, Nam Bộ đã và đang bị phá rừng, đất bị xói mòn và đá ong hoá, cây cối s ơ xác, sông ngòi cạn kiệt, muông thú bị mất nơi cư trú (habitat) nên số lượng cá thể của Ths. Nguyễn Vinh Quy 7
  14. Quản lý môi trường nhiều loài cũng như nhiều chủng loaị sinh vật bị biến mất. Nguyên nhân môi trường bị suy thoái ở nhiều nơi chủ yếu là do hành động của loài người. Do dân số và nhu của nhân loại ngày càng tăng nên con người bắt buộc phải mở r ộng sản xuất, sử dụng tài nguyên nhiều hơn nhằm tạo ra của cải vật chất đ ủ đ ể nuôi sống nhân loại, điều này là một trong những nguyên nhân làm cho môi trường của trái đất bi suy thoái. 2.1.2 VẤN ĐỀ TRÁI ĐẤT NÓNG LÊN Trên cơ sở khoa học, nhiều chuyên gia và tổ chức có uy tín trên thế giới đã ghi nhận được rằng nhiệt độ trái đất đã nóng lên khoảng 0,5 0C trong 100 năm qua và họ cho rằng nhiệt độ vẫn có chiều hướng tăng trong thế kỷ 21. Theo d ự đoán của Uỷ Ban Thế Giới về Môi Trường và Phát Triển của Liên Hợp Quốc trong báo cáo nhan đề “ Tương lai chung của chúng ta” được ấn hành năm 1986, nhiệt độ trái đất trong thế kỷ 21 sẽ tăng từ 1,5 0C đến 4,5 0C. Tuy đây chỉ là dự đoán và không phải mọi dự đoán đều là chính xác dầu rằng đó là những dự đoán dựa trên các chứng cứ khoa học, nhưng một thực tế là hiện nay đã là năm thứ 2 của thế kỷ 21 và nhiêt độ trái đất đang tiếp tục tăng. Một nhóm khoảng 1500 nhà khoa học có uy tín trên thế giới do Liên Hợp Quốc mời cộng tác đã khẳng định rằng nhiêt độ trái đất nóng lên một phần do hoạt động của con người, trong đó có việc: * Con người sử dụng nguồn năng lượng dầu mỏ và than đá làm cho khí các-bon tích tụ ngày càng nhiều trong khí quyển; * Con người khai thác ngày càng triệt để các nguồn tài nguyên có tác dụng điều hoà khí hậu như rừng, sinh vật sống…dẫn đến các tài nguyên này bị cạn kiệt; * Ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng trong mọi lĩnh vực môi trường như không khí, biển, nước trên đất liền; và * Nhiều hệ sinh vật bị mất cân bằng nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên thế giới,vv... Ths. Nguyễn Vinh Quy 8
  15. Quản lý môi trường Tất cả các yếu tố này đã góp phần làm cho thiên nhiên (trái đất) mất đi khả năng tự điều chỉnh vốn có của mình. Việc trái đất nóng lên có thể mang lại một số bất lợi sau: 1. Mực nước biển dâng cao - Dựa trên các dữ liệu khoa học, người ta tính đ ược rằng nếu nhiệt độ trái đất tăng lên từ 1,5 0C đến 4,5 0C thì mực nước biển có thể dâng cao từ 25 đến 140 cm do băng tan. Nếu điều này xảy ra thì một vùng ven biển rộng lớn của các quốc gia có biển sẽ bị nhấn chìm, làm mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp dẫn đến tình trạng đói nghèo trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, làm trở ngại nhiều đến hoạt động kinh tế của nhiều nước trên thế giới. 2. Thời tiết trên trái đất sẽ bị đảo lộn, thiên tai sẽ nghiêm trọng hơn, các cơn bảo xuất hiện thường xuyên hơn và mạnh hơn. Lượng mưa sẽ tăng lên nhưng tăng không đồng đều giữa các vùng khác nhau trên thế giới. Những khu vực thường xuyên bị lụt sẽ bị lụt thuờng xuyên hơn và nghiêm trọng hơn, trong lúc đó các khu vực hay bị hạn hán sẽ tiếp tục bị hạn hán thường xuyên và khốc liệt hơn, sa mạc hoá do đó sẽ ngaỳ càng lan rộng. Hội Nghị Liên Hợp Quốc về Môi Trường và Phát Triển năm 1992, tại Braxin thông qua một loạt các văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, trong đó có Công ước khung về khí hậu biến đổi đã chứng minh về nguy cơ trái đất nóng lên. 2.2 PHÁT TRIỂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN 2.2.1 PHÁT TRIỂN Hiện nay, thuật ngữ “phát triển” được dùng hết sức rộng rãi, ví dụ, phát triển ngành giáo dục, phát triển ngành môi trường, phát triển sản xuất,…,nhưng không phải mọi người đều hiểu đúng khái niệm phát triển. Theo Burkey (1993), “ Phát triển không chỉ có nghĩa là sự cung cấp các dich vụ xã hội và áp dụng các công nghệ mới mà nó bao hàm cả việc thay đổi trong nhận thức, hành động và cách đối xử của các cá nhân và trong mối quan hệ giữa các cá nhân cũng như các Ths. Nguyễn Vinh Quy 9
  16. Quản lý môi trường nhóm người trong xã hội. Các thay đổi này nhất thiết phải được xuất phát từ bản thân các cá nhân, các nhóm người trong xã hội đó và không bị áp đặt bởi các ngoại lực (Development is more than the provision of social services and the introduction of new technologies. Development involves changes in the awareness, motivations and behaviour of individuals and in the relations between individuals as well as between groups within a society. These changes must come from within the individuals and groups and cannot be imposed from the outside.”. Như vậy, theo định nghĩa này thì phát triển bao gồm cả sự thay đổi về công nghệ, dịch vụ (theo chiều hướng tích cực) và thay đổi nhận thức của con người. 2.2.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN Môi trường và phát triển không phải là 2 phạm trù tách biệt mà có quan hệ hữu cơ với nhau. Điều này đúng với cả các nước công nghiệp phát triển và cả các nước đang phát triển. Phát triển tất yếu dẫn đến những tác động đối với môi trường. Tuy nhiên, các nước buộc phải phát triển để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của mình. Theo dự đoán của các nhà khoa học thì dân số thế giới đ ến năm 2050 khoảng gần 9 tỷ người. Do đó để nuôi sống được số l ượng này, s ản xuất lương thực phải tăng gấp đôi so với sản xuất lương thực hiện nay và năng lượng sử dụng phải tăng gấp 3 lần. Với tốc độ phát tiển như vậy rõ ràng môi trường sẽ bị một áp lực ghê gớm và sẽ có nhiều rủi ro xảy ra cho môi trường. Việc khai thác dầu khí, khoáng sản nếu không có những biện pháp thích hợp thì môi trường sẽ bị tác động bất lợi do bị ô nhiễm, do mất cân bằng sinh thái và vì vậy tác động nguy hại đến đời sống xã hội và sức khoẻ con người. Tác đ ộng đến môi trường sẽ càng nghiêm trọng nếu chúng ta không đầu tư thích đáng cho việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, trong khi phát triển con người cần phải tính đến việc bảo vệ môi trường mới có thể bảo đảm được phát triển bền vững. Tình trạng môi trường không thể tách khỏi tình trạng kinh tế. Náếu một quốc gia nào đó, hoặc thế giới không quan tâm đến lớp phủ thực vật đang mất dần đi, suy thoái đất đai, gia tăng diện tích hoang mạc, mất mát các giống loài động vật thì Ths. Nguyễn Vinh Quy 10
  17. Quản lý môi trường quốc gia đó, thế giới sẽ phải gánh chiu trình trạng kinh tế và xã hội ngày càng xấu đi. Do đó, đểâ điều hoà được việc phát triển và bảo vê môi trường, phải tiến hành song song giữa việc đầu tư cần thiết cho các ngành sản xuất vừa phải đầu tư thích đáng cho việc bảo vệ môi trường. Nếu chi phí quá mức cho việc bảo vệ môi trường thì có thể ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế, trong lúc đó nếu không bảo vệ được môi trường thì không thể có phát triển. Nhiều hình thức phát triển kinh tế của một số nước đang phát triển dựa trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên môi trường đã dẫn đến sự xuống cấp và suy thoái môi trường, và phá hoại sự phát triển kinh tế. Tuy vậy, hiện nay nhiều nước trên thế giới vẫn đang khai thác triệt để nguồn tài nguyên của mình đ ể phục vụ cho chiến lược phát triển. Nông nghiệp, rừng, sản xuất năng lượng và khai thác khoáng sản vẫn chiếm đến một nửa tổng sản phẩm quốc dân. Hiện nay, nhiều nước chậm phát triển trên thế giới, kinh tế của họ vẫn phụ thuộc chủ yếu vào việc xuất khẩu những tài nguyên thiên nhiên của mình. Mặc dầu hiện nay cộng đồng quốc tế vẫn đang còn đuơng đầu với những thách thức như làm thế nào để cân bằng giữa phát triển và bảo vệ môi trường và người ta cũng biết rằng phát triển kỹ thuật mới có thể giúp giảm mức độ tiêâu thụ nguyên nhiên vật liệu, tăng năng xuất và đa dạng hoá sản phẩm. Tuy vậy, kỹ thuật mới cũng có thể là nguyên nhân gây ra những dạng ô nhiễm môi trường mới do nó đưa vào môi trường những dạng mới của sự sống và làm thay đ ổi s ự tiến hoá của sinh vật trên hành tinh chúng ta. Nhận thức được mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, Hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường nhân văn năm 1972 ở Stockhorm tuyên bố: “Sự phát triển kinh tế và xã hội là rất quan trọng cho việc bảo đảm một môi trường sống và làm việc thuận lợi cho con người và cho việc tạo ra các điều kiện trên trái đất cần thiết cho việc cải thiện chất lượng của cuộc sống”. Hội nghị thượng đỉnh về môi trường tại Braxin năm1992 cũng đãkhẳng định laị và phát triển nhận thức này như sau: “Để có thể phát triển vững bền, bảo vệ môi trường là một bộ phân không thể tách rời của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời với qúa trình đó”. Ths. Nguyễn Vinh Quy 11
  18. Quản lý môi trường CHƯƠNG 3: ĐÔ THỊ HOÁ, CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 3.1 MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐÔ THỊ HOÁ, CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ MÔI TRƯỜNG Đặc trưng chủ yếu của đô thị là nơi tập trung dân cư với mức độ cao và ho ạt động của họ là phi nông- lâm nghiệp (sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, chính trị, văn hoá, khoa học, thương mại, dịch vụ…), là nơi tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, sản phẩm xã hội tính trên đầu người cao hơn nhiều lần so với trị số trung bình của quốc gia. Đô thị cũng là nơi phát sinh ra nhiều chất thải nhất vàlàm ô nhiễm các thành phần môi trường như đất, nước, không khí... đối với bản thân nó và cả một vùng rộng lớn xung quanh nó. Khu công nghiệp là nơi nơi tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất các s ản phẩm công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, nó có ranh giới đất đai ngăn cách với các khu cư dân xung quanh. Quá trình công nghiệp hoásẽ kéo theo quá trình đô thị hoá. Trong mấy thập niên qua nhân loại đã chứng kiến một loạt các con số thống kê đáng lo ngại về tình hình tăng dân số và chiều hướng tập trung dân số vào các đô thị trên bình diện toàn cầu, đ ặc biệt là ở những nước đang phát triển. Theo tài liệu của UNEP (1999), tổng dân số thế giới sống ở đô thị trong những năm 1950 là 750 triệu người, năm 1995 là 2500 triệu và đến năm 2000 là 3000 triệu người, chiếm khoảng 50% dân số thế giới. Đô thị hoá, công nghiệp hoá sẽ kéo theo nhiều vấn đề về môi trường và xã hội. Tr ước Ths. Nguyễn Vinh Quy 12
  19. Quản lý môi trường hết, nó sẽ là nguyên nhân làm bùng nổ phát triển giao thông bằng phương tiện cơ giới. Vào thời gian chiến tranh thế giới lần thứ 2 chỉ có khoảng 40 triệu xe nhưng đến năm 1996 con số này đã lên đến 2.025 triệu xe. Hiện nay xe giao thông trên toàn thế giới đã tiêu thụ khoảng 50% tổng năng lượng tiêu thụ của tất cả mọi ngành. Tuy mặt tích cực của đô thị hóa và công nghiệp hoá là đã đưa đến sự tăng trưởng của nhiều ngành kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao mức sống của nhân dân nhưng nó cũng có nhều mặt hạn chế sau: + Tài nguyên thiên nhiên sẽ bị khai thác đến cạn kiệt để xây dựng, tỷ lệ diện tích cây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm, bề mặt đất thấm nước, thoát nước bị suy giảm. Đất nông nghiệp và đất khác sẽ bị chiếm dụng để xây dựng các công trình nhà ở, khu dịch vụ...Nhân dân ở vùng đô thị hoá sẽ bị mất phương tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống và bị tác động mạnh mẽ của ô nhiễm môi trường đô thị. + Các dòng vật liệu xây dựng, tài nguyên khoáng sản chuyển vào đô thị rất lớn làm tăng nhu cầu khai thác các loại tài nguyên đó. Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến môi trường bị giảm về chất lượng. + Làm tăng nhu cầu khai thác tài nguyên nước phục vụ cho sinh hoạt, dịch vụ và sản xuất, từ đó làm suy thoái nguồn tài nguyên này. + Dân số đô thị tăng nhanh thường gây ra quá tải đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuât đô thị như hệ thống cấp, thoát nước, xử lý chất tải... + Phát triển công nghiệp sẽ tăng lượng chất thải vào môi trường: giao thông phát thải nhiều khí độc và chì; các nhà máy sản xuất phát thải nhiều chất thải khí, chất thải rắn bao gồm cảchất thải nguy hại; ô nhiễm tiếng ồn... + Phát triển đô thị nhanh sẽ tạo ra nhiều khu nhà ổ chuột vì nhu cầu nhà ở sẽ vượt quá tốc độ xây dựng và cung cấp...dẫn đến môi trường ở các khu này bị ô nhiễm nghiêm trọng. Nói chung, đô thị hoá và công nghiệp hoá nhanh thường dẫn đến ô nhiễm các thành phần môi trường như nước, đất vàø không khí. Ths. Nguyễn Vinh Quy 13
  20. Quản lý môi trường 3. 2 Ô NHIỄM CÁC THÀNH PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ 3.2.1 Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC 3.2.1.1 Khái niệm ô nhiễm nguồn nước Nguồn nước được xem là ô nhiễm khi các thành phần và tính chất lý hoá sinh học của nước bị thay đổi, không bảo đảm chất lượng theo yêu cầu sử dụng. 3.2.1.2 Các nguồn gây ô nhiễm Tùy tính chất hoặc nguồn phát sinh chất gây ô nhiễm, ta có thể phân loại các nguồn gây ô nhiễm nguồn nước như sau: a) Nguồn thành thị: Bao gồm nước thải ra từ các khu sinh hoạt của dân cư có thể đã được thu hồi bởi hệ thống thoát nước, qua các trạm xử lý trước khi xả ra nguồn. Nguồn thành thị cũng bao gồm hổn hợp nước mưa và nước thải chảy trực tiếp ra nguồn nước mà không qua xử lý. Bảng 2.1: Thành phần đặc trưng của nước thải sinh hoạt Nồng độ (mg/lít) Loại mạnh Loại yếu Trung bình Chất ô nhiễm trong nước thải Tổng chất rắn (TS) ≥ 1200 350 700 Chất rắn lơ lững (SS) ≥ 350 100 250 Nitơ tổng hợp ≥ 85 20 40 Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD5) ≥ 300 100 200 Nhu cầu oxy hoá học (COD) ≥ 1000 250 500 Phốt phát tổng số 6 10 ≥ 20 Dầu, mỡ 50 100 Nitơrit NO2 ≥ 150 0 0 Nitơrat NO3 0 0 0 0 b) Nguồn gốc nông nghiệp: Các loại phân hoá học, thuốc trừ sâu và cả các phân hữu cơ (phân chuồng) sử dụng trong nông nghiệp theo các luồng nước (nước mưa, nước thừa sau khi tưới tiêu…) chảy vào các nguồn nước. Tổng số các chất Ths. Nguyễn Vinh Quy 14

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản