Giáo trình Giao Tiếp Sư Phạm

Chia sẻ: hta_2688

Cách đây không lâu, vào những năm 80 của thế kỷ XX, đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh có truyền hình trực tiếp buổi giao lưu giữa Việt kiều yêu nước về quê ăn tết với khán gỉa của đài truyền hình. Có một chị Việt kiều ở Cộng hòa liên bang Đức (lúc đó còn hai nước Đức) tâm sự rằng : “Chị có một người bạn Việt Nam lấy một người chồng ở Cộng hòa liên bang Đức, chị ấy không biết tiếng Đức, chồng lại chỉ biết bập bõm tiếng Việt, chồng là công nhân đi làm suốt ngày....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Giáo trình Giao Tiếp Sư Phạm

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Khoa Sư Phạm




Giáo trình


Giao Tiếp Sư Phạm




Biên soạn: Lê Thanh Hùng
Phần I: Những vấn đề chung về giao tiếp sư phạm

CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GIAO TIẾP
Cách đây không lâu, vào những năm 80 của thế kỷ XX, đài truyền hình thành
phố Hồ Chí Minh có truyền hình trực tiếp buổi giao lưu giữa Việt kiều yêu nước
về quê ăn tết với khán gỉa của đài truyền hình. Có một chị Việt kiều ở Cộng hòa
liên bang Đức (lúc đó còn hai nước Đức) tâm sự rằng : “Chị có một người bạn
Việt Nam lấy một người chồng ở Cộng hòa liên bang Đức, chị ấy không biết
tiếng Đức, chồng lại chỉ biết bập bõm tiếng Việt, chồng là công nhân đi làm suốt
ngày. Cả ngày chị ở nhà không biết nói chuyện với ai, dịch vụ viễn thông lúc đó
lại khó khăn. Mặc dù cuộc sống về vật chất đầy đủ, nhưng quá buồn nên chị
sinh bệnh... rồi chết”. Giao tiếp không phải chỉ là hình thức trò chuyện với nhau,
nhưng giao tiếp bằng ngôn ngữ là một hình thức giao tiếp quan trọng nhất. Qua
ví dụ trên cho thấy giao tiếp có vai trò rất quan trọng trong đời sống và hoạt
động của con người.
 Ngay từ trong bụng mẹ đứa trẻ đã có sự giao tiếp. Cái bào thai sống và hoạt
động cùng với nhịp sống và hoạt động của người mẹ. Quan hệ giữa người mẹ
với thai nhi không chỉ đơn giản về mặt sinh học. Không chỉ đơn thuần là người
mẹ truyền dinh dưỡng cho đứa con qua rau thai mà còn có những ảnh hưởng về
mặt tâm lý của trẻ sau này do những biến động tâm lý của người mẹ khi mang
thai. Cho nên khi mang thai, người mẹ phải kiêng nói và làm những việc không
tốt, không được xúc động mạnh. Chẳng hạn, phong tục lúc người vợ có mang,
người chồng phải kiêng sát sinh “ Không được cắt cổ gà, thiến cổ chó”. Thậm
chí lúc có thai, người mẹ còn phải đi đứng nói năng nhẹ nhàng. Có như vậy sau
này đứa trẻ ra đời và lớn lên mới phát triển bình thường về thể chất và tinh thần.
 Khi đứa trẻ ra đời, giao tiếp của nó được đặc biệt quan tâm. Có nhiều tập
quán truyền thống ảnh hưởng đến việc tiếp xúc của người mẹ với đứa trẻ. Có
địa phương và gia đình rất cẩn thận như : Không nói lớn, không để người lạ vào
phòng trẻ sơ sinh nhất là đứa trẻ dưới một tháng tuổi, sợ trẻ bị vía, bị đẹn. Thậm
chí khi cần phải bế bé đi xa, các bà già còn cẩn thận bôi nhọ vào mặt trẻ, cầm
dao, cầm kéo... đi theo để tránh hơi độc, vía lạ. Như vậy, từ xa xưa, trong vốn
kinh nghiệm của các dân tộc, việc giao tiếp với đứa trẻ được coi trọng để cơ thể
và đời sống tinh thần của đứa trẻ được phát triển bình thường.
 Suốt quãng đời thơ ấu, đứa trẻ không chỉ có nhu cầu ăn, nhu cầu dinh dưỡng
mà còn có những nhu cầu khác như : nhu cầu được cưng chiều, nâng niu, bế
ẳm, vỗ về...
Mới sinh ra đứa trẻ đã biết nhiều lắm, đòi hỏi nhiều thứ, trước hết là đòi hỏi trao
đổi, giao tiếp. Chúng gọi ra, phát ra có kẻ khác đáp lại. Người mẹ không chỉ là
bao che, làm cái lá chắn, ngăn chặn , không để quá nhiều kích thích từ bên
ngoài tấn công vào các giác quan, vào cơ thể non nớt của con. Mẹ còn đáp ứng
lại những tín hiệu của con phát ra. Con đưa mắt mẹ cũng nhìn lại, con líu lo mẹ
cũng bi bô nói lại, con vặn mình mẹ cũng đổi tư thế ngồi nằm cho hai cơ thể
thoải mái, ôm ấp lấy nhau. Con nắm đồ vật gì ném ra, mẹ lượm trả lại..Rồi con
chập chững biết đi, mẹ dang hai tay ra đón, bé cố đứng dậy bước năm, bảy
bước rỗi ngã vào lòng mẹ...
Có thể nói rằng : “ Được áp vào lòng mẹ để bú, được mẹ bế bồng, địu lên lưng
là có dịp trao đổi, giao tiếp với mẹ. Mẹ hiểu con, con hiểu mẹ, không phải thông
qua lời nói, chữ viết như thường lệ mà qua những mối quan hệ phi ngôn ngữ,
đúng hơn là tiền ngôn ngữ qua “xác thịt”. Đó là quan hệ “ruột thịt” nền tảng đầu
tiên của mối quan hệ giữa người và người. Mối quan hệ thân thiết nhất, cơ bản
nhất. Không được bú mớm, bế bồng, ôm ấp, hú hí, chơi đùa với mẹ, đứa trẻ
không thể thành người.
Vì vậy, toàn bộ nội dung tiếp xúc với đứa trẻ của người mẹ, người thân trong
gia đình từ khi lọt lòng đến toàn bộ thời thơ ấu và sau này trẻ đến trường học là
tiến trình xã hội hóa của một cá nhân thành nhân cách. Trong quá trình xã hội
hóa của một cá nhân, giao tiếp là hạt nhân, là điều kiện cần thiết để phát triển
tâm lý, nhân cách của mỗi người.
 Đời sống tâm lý của mỗi người, của mỗi nhóm xã hội phải lấy giao tiếp làm cơ
sở. Không có giao tiếp đứa trẻ sẽ không thành người, không có giao tiếp nhiều
chức năng tâm lý người, nhiều phẩm chất tâm lý cá nhân không được hình
thành và phát triển. Trong quá trình lao động, cải tạo tự nhiên, xã hội bản thân
con người luôn luôn lấy sự tiếp xúc tâm lý giữa con người và con người, con
người với quan hệ xã hội làm trung tâm. Cho đến nay, trong phong tục của một
số ít bộ lạc Châu Phi vẫn còn tồn tại một hình phạt cao nhất cho những ai vi
phạm “ Luật lệ của bộ lạc là đuổi ra khỏi cộng đồng không cho tiếp xúc với con
người, phạm nhân phải sống trong rừng với thiên nhiên và hoang thú.
 Sự giao tiếp giữa con người được phát triển cùng với sự phát triển nền kinh
tế xã hội. Ngày nay do sự phát triển của khoa học, kỹ thuật. Dịch vụ viễn thông,
mạng Internet phát triển làm cho chúng ta có thể giao tiếp được với nhau một
cách dễ dàng. Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu, các nhà khoa học xã hội cũng đã
khái quát các sự kiện giao tiếp của con người qua hai xu thế chung nhất :
 Nhìn chung, các loại hình giao tiếp của con người tăng lên, đặc biệt là giao
tiếp không chính thức, đó là những kiểu giao tiếp diễn ra trong những hoàn cảnh
cụ thể như : đi tàu xe, cùng nhau xem phim, xem biểu diễn văn nghệ, thực hiện
một nhiệm vụ cùng nhau, một công việc cùng nhau trong một thời gian nhất
định... mà các đối tượng giao tiếp không nhất thiết phải cùng một cơ quan hoặc
hiểu biết nhau, thậm chí cũng không cần nhớ tên, tuổi, địa chỉ của nhau. Loại
giao tiếp này có đặc điểm :
 Giao tiếp theo vụ việc.
 Nhất thời, không liên tục.
 Giao tiếp cá nhân mỗi người có chiều hướng co hẹp lại về phạm vi và mức
độ, con người ít cởi mở với nhau, người ta giải thích rằng những hoạt động
“cộng đồng”, “tập thể”, dường như giảm đi, cuộc sống thu vào các căn hộ gia
đình. Gia đình cũng có xu hướng thu nhỏ lại (hai thế hệ thay vì ba, bốn thế hệ
như gia đình trước đây.
Giao tiếp là gì?
Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm giao tiếp khác nhau, đứng trên các quan điểm
khoa học xã hội, kinh tế , tâm lý học...thậm chí ngay trong khoa học tâm lý cũng
tồn tại nhiều khái niệm giao tiếp.
Để hiểu giao tiếp là gì, chúng ta có thể xem xét giao tiếp qua các đặc trưng như
sau :
1. Giao tiếp là một quá trình con người ý thức được mục đích, nội dung và
những phương tiện cần đạt được khi tiếp xúc với người khác. Trong quá trình
giao tiếp thì cả đối tượng và chủ thể giao tiếp đều ý thức được những nội dung
và diễn biến tâm lý của mình trong giao tiếp. Nhờ đặc trưng này, chúng ta dễ
dàng nhận ra được mục đích của quá trình giao tiếp, giao tiếp để làm gì ? nhằm
mục đích gì ?
2. Giao tiếp diễn ra nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan,
nhân sinh quan, nhu cầu ... của những người tham gia vào quá trình giao tiếp.
Đặc trưng này có vai trò rất lớn trong sự hình thành và phát triển nhân cách con
người.
 Giúp cho mỗi người tự hoàn thiện mình theo yêu cầu đòi hỏi của nghề nghiệp,
của các quan hệ xã hội mà họ là thành viên.
 Nếu giáo viên không tự học, tự bồi dưỡng mà chỉ bằng lòng với kiến thức học
4 năm ở trường Đại học thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của nghề
nghiệp.
 Qua giao tiếp mà những phẩm chất tâm lý của con người, những hành vi ứng
xử của con người được nảy sinh và phát triển.
 Nhờ giao tiếp mà quá trình xã hội hóa mới thực chất hòa nhập mỗi cá nhân
vào các hoạt động của nhóm, cộng đồng, dân tộc, địa phương.
3. Qua giao tiếp giúp con người nhận thức, hiểu biết lẫn nhau. Sự nhận thức,
hiểu biết lẫn nhau vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, phải nhận thức dù là ít ỏi
về đối tượng giao tiếp của mình. Có như vậy kết quả giao tiếp mới thành công.
Có nhận thức được nhau mới hiểu biết lẫn nhau. Nếu thầy giáo không hiểu học
sinh thì việc xử lý học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn. Thầy giáo không hiểu học
sinh thì việc xử lý học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn.
Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện trong giao tiếp giữa con người với con
người. Con người vừa là một thành viên tích cực của các quan hệ xã hội với tư
cách tạo lập nên các quan hệ xã hội như pháp quyền, kinh tế, văn hóa... với tư
cách vừa là hoạt động tích cực cho nên tồn tại và phát triển của chính các quan
hệ xã hội đó.
Chẳng hạn, trong dạy học và giáo dục quan hệ giữa thầy giáo và học sinh là
một quan hệ xã hội đích thực, một tồn tại xã hội khách quan do cả hai phía thầy
và trò tạo dựng. Thiếu vắng thầy, học trò sẽ không có quá trình dạy học và giáo
dục. Quá trình này được tiến hành trong hoạt động giao tiếp giữa thầy giáo và
học sinh được quy định rõ ràng qua nội quy học sinh, qua những quy định,
quyền hạn và trách nhiệm của thầy giáo.
5. Giao tiếp được tiến hành trong một thời gian, không gian và các điều kiện cụ
thể. Nói cách khác, giao tiếp cá nhân mang tính chất lịch sử phát triển lịch sử xã
hội loài người.
6. Cá nhân trong giao tiếp vừa là chủ thể vừa là khách thể của giao tiếp. Trong
quá trình dạy học, học sinh vừa là khách thể, vừa là chủ thể. Qua phân tích
trên, ta có thể hiểu : Giao tiếp là một quá trình tiếp xúc giữa con người với con
người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn kinh nghiệm sống, kỹ
năng, kỹ xảo nghề nghiệp.

Giao tiếp là một phương thức tồn tại của con người
Khi nghiên cứu học phần tâm lý học đại cương, chúng ta đã gặp khái niệm cá
nhân. Cá nhân là một con người cụ thể với tư cách là một thành viên của một
xã hội nhất định, sống và hoạt động trong những điều kiện xã hội và lịch sử nhất
định, có nghĩa vụ và quyền lợi nhất định. Rõ ràng, khi nói đến con người cụ thể,
họ phải có tên gọi, nghề nghiệp, giới tính, gia đình. Sống và hoạt động ở trong
một nhóm xã hội nhất định có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định. Họ có những giá
trị vật chất (nhà cửa, ruộng vườn, xí nghiệp...) và giá trị tinh thần (dòng họ, vị trí
xã hội, trình độ văn hóa, chuyên môn...)
Về đời sống tâm lý, họ có ý thức, ngôn ngữ, tư duy trừu tượng, niềm tin cá
nhân. Cũng ở phần tâm lý học đại cương đã khẳng định con người không thể
tồn tại và phát triển được nếu con người bị tách khỏi xã hội loài người. Điều này
đã được xã hội loài người thử nghiệm với mục đích khác nhau :
Ví dụ : Từ thế kỷ XII một quốc vương gần chân núi Hymalaya (vùng Aán Độ)
nhà vua cho rằng tín ngưỡng là bẩm sinh đối với con người. Quần thần không
tin vào lời phán truyền của vua, để chứng minh niềm tin của mình, nhà vua đã
bắt 4 đứa trẻ sơ sinh cho vào một tu viện nuôi, cắt đứt mọi quan hệ xã hội.
Mười hai mùa xuân trôi qua, 4 đứa trẻ được nuôi sống không được tiếp xúc với
mọi người. Kết quả chúng đi bằng 4 chân, hú, gào, nhìn thấy nhà sư những đứa
trẻ này cũng phản ứng như đối với với mọi người – mắt nhìn sợ hãi, cùng với
tiếng hú dài... Thế là niềm tin vào tôn gíao ( đạo Phật ) không bẩm sinh mà ra
rồi trường hợp bé nia và Kamala ở Aán Độ không may vừa sinh ra bị rơi ngay
vào bầy chó sói. Những đứa trẻ này không biết nói, đi bằng 4 chân, ăn, ngũ như
sói con vậy.
Hàng chục thử nghiệm đã chứng minh nếu không giao tiếp với con người, với
các quan hệ xã hội, đứa trẻ sẽ không trở thành người.
Dù muốn hay không muốn, mỗi cá nhân đều phải sống trong một hoàn cảnh
thiên nhiên, ở một địa phương nhất định, một xã hội nhất định, một giai cấp, một
tầng lớp, một gia đình nhất định. Cá nhân không thể tránh khỏi quan hệ này và
không thể không chịu ảnh hưởng của những quan hệ đó.
 Trước hết, để có thể tham gia và các quan hệ xã hội, giao tiếp với người
khác, thì con người phải có một tên riêng, do gia đình ( ông, bà, cha, mẹ...) đặt
cho. Nói chung, cái tên gọi nó cũng gắ n với một ý nghĩa nhất định. Suy cho
cùng, tên gọi là đặc trưng rất cơ bản, khởi nguồn của con người xã hội. Lich sử
xa xưa của xã hội loài người cũng đã có thời kỳ gọi tên rất khác nhau, ở mức độ
khái quát đơn giản, chỉ nhằm phân biệt giới tính “ Cái hĩm”, “thằng cò”. Cùng với
sự phát triển của xã hội, tên gắn với bộ tộc, dòng họ, ám chỉ một cội nguồn xã
hội ra đời của đứa trẻ. Rồi tên gọi thời thơ ấu, lúc vào trường học, thời điểm đi
làm, lúc trưởng thành, sắp chết lại có một tên hiệu, “ tên cúng cơm”
 Khi trưởng thành, con người có nghề nghiệp, mà nghề nghiệp lại do xã hội
sinh ra và quy định. Muốn có nghề, phải hành nghề, phải có nghệ thuật giao tiếp
với mọi người thì mới thành đạt trong hoạt động. Chẳng hạn, để bán được hàng,
người ta có thể tăng hoặc giảm giá một mặt hàng nào đó.
 Để có được giá trị vật chất, tinh thần riêng cho mình, thuộc về quyền sở hữu
của mình, cá nhân phải hoạt động tích cực với tư cách là một chủ thể có ý thức.
 Một giá trị tinh thần chỉ có thể có được thông qua giao tiếp. Chẳng hạn, muốn
trở thành một nghệ sĩ ưu tú. Ngoài việc có giọng hát hay, có trình độ âm nhạc
còn phải say mê và có nghệ thuật biểu diễn trước công chúng. Không thể chỉ ở
nhà đóng cửa lại hát một mình mà có thể trở thành nghệ sĩ ưu tú.
 Để có giá trị vật chất, con người phải lao động chân tay, lao động trí óc cộng
với sự giúp đỡ, kích thích, hướng dẫn của nhiều người. Không giao tiếp với mọi
người, ngay cả thức ăn cũng không đủ để cho sự tồn tại cho chính mình đừng
nói đến sự phát triển nhân cách một cách trọn vẹn.
 Một phương tiện quan trọng để giao tiếp, một đặc trưng cho con người là
tiếng nói, ngôn ngữ. Đứa trẻ phải được học nói dưới sự hướng dẫn từng âm
thanh của mẹ, của mọi người tromng gia đình. “ Trẻ lên 3 cả nhà học nói”.


Chức năng và các loại giao tiếp
1. Chức năng giao tiếp:
Có nhiều cách khác nhau để phân chia các chức năng của giao tiếp.Ở góc độ là
một phạm trù của tâm lý học hiện đại thì giao tiếp có các chức năng như sau :
a. Chức năng định hướng hoạt động của con người. Người giáo viên trong quá
trình giảng dạy có thể chỉ nhìn vào nét mặt của học sinh, sự phản ứng của học
sinh trước lời giảng của mình mà nhận ra được mức độ nắm tri thức của học
sinh. Nhờ đo,ù giáo viên điều chỉnh lại cách dạy của mình để quá trình dạy học
đạt kết quả cao. Hay một học sinh có nhiều lần đi học trễ, một học sinh nhiều
lần không thuộc bài, em khác đi học thất thường, buổi đi, buổi nghỉ... đều gợi lên
trong suy nghĩ của thầy giáo một hướng giáo dục tìm kiếm những thông tin
chính xác để có những biện pháp giáo dục thích hợp. Đứng về phía học sinh,
qua lời giảng của thầy, cô giáo, các em ý thức được trình độ chuyên môn,
những nét tính cách cơ bản của giáo viên đó. Nhờ đó, các em có những phản
ứng trả lời phù hợp với từng thầy, cô.
Ví dụ : Cô dạy Toán rất nghiêm, không làm bài tập về nhà là không được với cô
; thầy dạy Lý dễ tính có thể quên làm bài tập ở nhà cũng được ; cô dạy Văn thì
muốn thế nào cũng được cô đồng ý...
Trong cuộc sống đời thường, nhất là đối với những người lạ chưa quen biết, lần
tiếp xúc đầu tiên thường là vừa giao tiếp, vừa thăm dò để hiểu đối tượng tiếp
xúc của mình. Mỗi lời nói, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười đều bao hàm những khía
cạnh thông tin quan trọng để giúp chúng ta giao tiếp có hiệu quả.
Qua phân tích trên, chúng ta có thể rút ra kết luận :
Quá trình giao tiếp giúp chúng ta khả năng xác định các mức độ nhu cầu, tư
tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm... của đối tượng giao tiếp. Nhờ đó, chủ
thể giao tiếp đáp ứng kịp thời, phù hợp với mục đích và nhiệm vụ giao tiếp.
b. Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi.
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc có mục đích, nội dung và nhiệm vụ cụ thể. Nói
một cách khác con người ý thức được cần phải làm gì ? Cần đạt được những gì
? Đó là mặt nhận thức. Trong thực tiễn khi tiến hành giao tiếp không ít trường
hợp chủ thể giao tiếp phải linh hoạt, tùy điều kiện, thời cơ mà thay đổi, lựa chọn
phương tiện ( kể cả ngôn ngữ, cách diễn đạt, giọng điệu...) tùy đối tượng giao
tiếp mà ứng xử.
Chẳng hạn, có lần Khổng Tử ( 551 – 479 TCN ) đang dạy học, học trò Tử Lộ hỏi
thầy “một việc tốt có nên làm ngay không ?” Khổng Tử trả lời “Bàn bạc với
người lớn chút đã rồi hãy làm !”. Lần khác học trò Nhiễm Hữu cũng hỏi thầy câu
hỏi trên. Ông trả lời “ Đương nhiên nên làm ngay đi !”.Tại sao cùng một câu hỏi
mà Khổng Tử lại trả lời mỗi trò một khác ? Bởi vì, Tử Lộ làm việc hay dông dài,
bộp chộp, vội vàng, hấp tấp, còn Nhiễm Hữu trước việc làm gì vẫn thường nhút
nhát, do dự, không dám làm nên Khổng Tử cổ vũ anh ta mạnh bạo làm ngay.
Phương pháp giáo dục cá biệt thể hiện rất rõ chức năng này của giao tiếp. Giáo
dục phải phù hợp trong hoàn cảnh cụ thể, từng con người cụ thể, từng công
việc, từng loại tiết học ..mới có thể đạt được chất lượng, hiệu quả cao. Phải qua
giao tiếp với học sinh, chúng ta mới điều chỉnh được các biện pháp giáo dục
của mình phù hợp với từng học sinh. Trong đời sống sinh hoạt thường ngày, có
biết bao nhiêu điều chúng ta đã trãi qua, cảm nhận do không xem xét linh hoạt,
mềm dẻo trong giao tiếp mà xảy ra những chuyện hiểu nhầm trong tình cảm
thầy trò, đồng nghiệp thậm chí ngay cả đối với vợ con, cha mẹ...
Giao tiếp còn có chức năng đặc thù xảy ra chính trong khi tiếp xúc giữa con
người và con người. Các nhà tâm lý học B.Ph.Lomov ; A.A.Bodaliov...đã chia
giao tiếp làm ba loại chức năng :
a. Chức năng thông tin ( thông báo, truyền tin )
 Chức năng này có cội nguồn sinh học, để thông báo cho nhau một tin tức gì
đó. Ở động vật thường phát ra âm thanh (ở mức độ tín hiệu đơn giản, bản năng,
ăn uống, tự vệ, sinh đẻ, bảo toàn giống loài)
Ví dụ : tiếng ré lên của con khỉ đầu đàn khi gặp con trăn – cả đàn bỏ chạy tán
loạn.
 Ở người nội dung thông tin rất phức tạp, rất xã hội. Chẳng hạn, Thầy giáo
nhận được một lá thư của một em học sinh cũ của trường thông báo về sự
trưởng thành của em trong quân đội. Thầy hồi tưởng lại quá khứ 10 năm về
trước bóng dáng mảnh mai của cậu học trò nghịch ngợm...
 Chức năng thông tin có cả ở hai phía của quá trình giao tiếp ( chủ thể – đối
tượng giao tiếp ) Chẳng hạn, Nhà nước ban hành một chế độ mới, nhà nước
cũng phải nắm thông tin phản hồi của dân chúng để điều chỉnh chế độ, chính
sách.
 Muốn quản lí, điều hành một nhóm xã hội, một lớp học, lớn hơn nữa là một
huyện, một tỉnh, cấp nhà nước phải có thông tin. Có thông tin đúng, chính xác,
nhanh mới điều hành có hiệu quả.
 Để đạt được mục đích điều hành trong quản lí, tổ chức trong nhóm xã hội
nhất thiết phải thông qua giao tiếp ( giao tiếp trực tiếp, gián tiếp thông qua các
phương tiện thông tin khác nhau).
b. Chức năng điều chỉnh, điều khiển hành vi (như đã nêu và phân tích ở phần
trên ).
c. Chức năng đánh giá thái độ của giao tiếp.
Trong giao tiếp con người bao giờ cũng biểu hiện những thái độ nhất định như :
thiện cảm, thờ ơ, lãnh đạm, vồn vã, cởi mở, chân thành, dấu diếm, trung thực...
Như trên đã phân tích giao tiếp bao giờ cũng được một con người cụ thể thực
hiện, thái độ của cá nhân bao giờ cũng được bộc lộ trong tiến trình giao tiếp.
 Trong quá trình giao tiếp, đối tượng giao tiếp có kinh nghiệm dự đoán được
chủ thể giao tiếp của mình muốn gì qua giọng điệu, hành vi, cách ứng xử... từ
ánh mắt, nụ cười, nhịp điệu ngôn ngữ nói ( ngập ngừng, mạch lạc, ngắn gọn,
đanh lạnh...) đều chứa đựng một thái độ, sắc thái khác nhau. Đại văn hào Nga,
Leptontôi đã tổng kết được trên 80 ánh mắt thể hiện các sắc thái khác nhau của
xúc cảm và tình cảm con người.
 Ý nghĩa của việc đánh giá thái độ của nhau trong giao tiếp góp phần quan
trọng làm cho hiệu quả giao tiếp đạt mức cao. Chẳng hạn, trong dạy học, giáo
viên gặp tâm trạng sợ sệt của học sinh khi không thuộc bài. Nhìn ánh mắt lấm lét
của học sinh khi đang làm bài kiểm tra, sớm muộn cũng bộc lộ hành vi gian dối...
Nhờ sự trung thực này trong giao tiếp, chúng ta hiểu nhau hơn, dễ dàng tiếp xúc
với nhau để hoàn thành những công việc chung của trường, lớp và xã hội.
Nếu xét chức năng giao tiếp trong một quá trình giao tiếp, thường trong tâm lý
học xã hội, người ta chia làm các loại sau :
a. Chức năng liên kết (nối mạch – tiếp xúc)
Bản chất của chức năng này là nhờ có giao tiếp, con người hợp đồng được với
nhau để làm việc cùng nhau, hiểu nhau, liên hệ được với nhau. Xuất phát từ
nhu cầu tránh cô đơn của con người, nhu cầu giao tiếp sớm xuất hiện ở con
người, từng lứa tuổi cường độ nhu cầu này mạnh, yếu khác nhau. Đứa trẻ ( từ
lọt lòng đến một tuổi) rất cần được bế ẳm, vỗ về mà các nhà tâm lý học trẻ em
gọi là nhu cầu gắn bó với người mẹ. Đối với học sinh trung học cơ sở, nếu bị
hình phạt không cho tiếp xúc với những người xung quanh, thì hình phạt này
khủng khiếp biết chừng nào.
Cảm giác an toàn thôi thúc con người kết đoàn với nhau.
b. Chức năng đồng nhất.
Là sự hòa nhập của cá nhân vào nhịp sống và hoạt động của một nhóm xã hội (
gia đình, lớp học, tổ sản xuất...) con người cảm thấy mình là một phần máu thịt
của tổ ấm gia đình, tổ chuyên môn, hội đồng nhà trường ...
“ Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ ”
Các thành viên trong nhóm chia vui, san sẻ nổi buồn với nhau... Nhờ chức năng
này mà con người thành đạt trong các quan hệ xã hội.
c. Chức năng đối lập, đối kháng.
Là sự bất đồng tâm lý của cá nhân với các thành viên trong nhóm, cộng đồng.
2 . Các kiểu loại giao tiếp
a . Căn cứ vào sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể và đối tượng
giao tiếp, người ta chia làm hai loại :
– Giao tiếp trực tiếp
Chẳng hạn, sự tiếp xúc của thầy giáo và học sinh trên lớp, sinh hoạt tổ chuyên
môn, sự gặp gỡ những người quen biết... là giao tiếp trực tiếp.
Giao tiếp trực tiếp là loại giao tiếp được tiến hành đồng thời một thời điểm có
mặt cả đối tượng và chủ thể giao tiếp.
Loại giao tiếp này có đặc điểm :
 Có thể sử dụng ngôn ngữ phụ ( giọng điệu, nhịp điệu, cường độ lời nói) và
những phương tiện ngôn ngữ (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ...) để nhấn mạnh hoặc
thể hiện thái độ.
 Giao tiếp trực tiếp rất linh hoạt, mềm dẻo, tùy hoàn cảnh, tùy phản ứng của
đối tượng giao tiếp mà ta ứng xử cho phù hợp.
– Giao tiếp gián tiếp
Những trường hợp giao tiếp được thực hiện qua các phương tiện trung gian
( thư từ, báo chí, truyền thanh, truyền hình v.v...) là giao tiếp gián tiếp.
Giao tiếp gián tiếp là loại giao tiếp mà đối tượng giao tiếp không có mặt ở thời
điểm cần tiếp xúc. Loại giao tiếp không tận dụng được những ưu điểm của giao
tiếp trực tiếp nhất là qua ngôn ngữ viết. Tuy nhiên, nếu tiếp xúc qua điện thoại
thì giọng điệu, cách phát âm... giúp cho đối tượng giao tiếp ở xa hiểu thêm thái
độ của chủ thể giao tiếp.
b. Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ hoạt động của nhóm xã hội, cá nhân mà
người ta chia giao tiếp ra làm hai loại :
– Giao tiếp chính thức
Ví dụ : giao tiếp giữa vợ chồng, con cái, cha mẹ được luật hôn nhân và gia đình
qui định (tuổi kết hôn, quyền lợi, trách nhiệm...), giao tiếp giữa thầy giáo và học
sinh được pháp luật qui định ... là giao tiếp chính thức.
Giao tiếp chính thức là sự giao tiếp giữa các thành viên trong một nhóm xã hội
hoặc các nhóm xã hội chính thức, nghi thức giao tiếp được dư luận xã hội hoặc
pháp luật, phong tục tập quán qui định.
– Giao tiếp không chính thức
Chẳng hạn, sự giao tiếp giữa các cá nhân trên một chuyến xe, tàu ; những
người cùng xem phim, nghệ thuật, cùng mua hàng...
Giao tiếp không chính thức là sự giao tiếp giữa các cá nhân trong nhóm không
chính thức với nhau.
c. Trong tâm lý học xã hội, người ta chia giao tiếp thành ba loại :
– Giao tiếp định hướng – xã hội : Chẳng hạn, nhân viên sở địa chính đến khu
dân cư ven lộ để thông báo việc mở rộng lộ giới và vận động bà con tự giác di
dời. Như vậy, giao tiếp định hướng – xã hội là loại giao tiếp mà chủ thể giao tiếp
với tư cách là đại diện cho xã hội nhằm truyền tin, thuyết phụcặcccc kích thích
đối tượng giao tiếp hoạt động.
– Giao tiếp định hướng – nhóm: Là loại giao tiếp mà chủ thể giao tiếp với tư
cách là đại diện cho một nhóm xã hội nhằm mục đích giải quyết những vấn đề
do nhóm đặt ra trong học tập, sản xuất, kinh doanh, chiến đấu...
– Giao tiếp định hướng – cá nhân: Là loại giao tiếp mà chủ thể giao tiếp không
đại diện quyền lợi cho nhóm xã hội nào cả mà hoàn toàn vì mục đích cá nhân,
xuất phát từ động cơ, nhu cầu, hứng thú, xúc cảm của cá nhân. Dựa vào
khoảng cách không gian để người ta đánh giá mức độ thân mật hay xã giao,
thân tình hay vì trách nhiệm. Khoảng cách không gian giữa chủ thể giao tiếp và
đối tượng giao tiếp ta thường gặp :
 Từ 400 cm tở lên : giao tiếp xã giao
 Từ 120 cm đến 400 cm : thân mật
 Từ 45 cm đến 120 cm : tình cảm
 Từ 45 cm trở xuống : rất tình cảm


Giao tiếp và sự phát triển nhân cách
1 . Giao tiếp giúp con người có dáng đi thẳng và cách ứng xử của con người.
Để cho trẻ biết đi đứng dáng người thì ông, bà, cha, mẹ và người lớn xung
quanh phải dạy cho trẻ tập đi. Không có những lần dắt tay bé đi, cho bé men
theo thành giường, bậc cửa ... thì làm sao trẻ biết đi giống người. Không có sự
tiếp xúc của người lớn, trẻ không có dáng đi của người.
Sau khi trẻ biết đi, người lớn làm mẫu dạy trẻ ai cho gì, cháu muốn lấy phải đưa
hai tay ra đón, miệng nói “ con cám ơn !”...
Khi được ăn trẻ gián tiếp tiếp xúc với con người qua sản phẩm của họ. Trước
khi ăn trẻ đều nhìn người lớn ăn, làm mẫu để chúng tập cầm muỗng, cầm đũa...
ăn đúng như người lớn, phong cách ăn của người – con người có nhân cách.
2 . Giao tiếp giúp con người hình thành và phát triển ngôn ngữ:
Trẻ sinh ra chưa biết nói, hơn một năm tuổi, trẻ được người lớn dạy phát âm “
ba ba”, “măm, măm”... lúc đầu một từ, một âm đơn giản, kèm với âm thanh, cha
mẹ và người lớn xung quanh dung điệu bộ, cử chỉ, ánh mắtớnnnng và đồ vật và
gọi tên đồ vật đó. Dần dần trẻ hiểu được ngôn ngữ và sử dụng được ngôn ngữ
đơn giản để thỏa mãn một số nhu cầu sinh học, nhận thức của trẻ.
Suốt cả đời người, con người vẫn còn phải học, nhiều khái niệm mới xuất hiện
trong quá trình con người cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Cách nói, cách dùng từ, nhịp điệu ngôn ngữ ... thể hiện con người có nhân
cách, phải nhờ có tiếp xúc với những người xung quanh. Nhân cách được hình
thành và phát triển chính trong quá trình giao tiếp.
3. Trí tuệ của con người được hình thành và phát triển trong quá trình giao tiếp với
những người xung quanh.
Thông qua giao tiếp hàng loạt các chức năng tâm lý được hình thành như :
tưởng tượng, tư duy, ý thức, những chức năng tâm lý này tạo thành một chất
lượng tâm lý mới, đó là trí tuệ của con người.
Các cụ đã từng nói : “ Học ăn, học nói, học gói, học mở ”. Dưới sự hướng dẫn
của người lớn, trẻ học cách nhìn, cách nghe, cách nghĩ, cách hành động, ứng
xử phù hợp với quy luật tự nhiên, xã hội trong quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội,
cải tạo chính mình để trở thành một nhân cách.
4. Giao tiếp giúp cho lao động của con người mang tính xã hội, tính tập thể.
Lao động của con người trớc hết đặc trưng ở sự liên kết giữa các cá nhân, phối
hợp, điều hòa theo sự phân công lao động của xã hội. Lao động liên kết cùng
nhau phải thông qua sự tiếp xúc, giao tiếp với nhau theo sự phân công của xã
hội. Không có giao tiếp sẽ không có lao động. Đơn giản và cổ xưa nhất khi kéo
một vật nặng mà cần sức của nhiều người, người ta hô lên “ Hò dô ta nào ”, một
tín hiệu giao tiếp trong lao động.
Lao động ở dạng phức tạp hơn nữa thể hiện trong nền công nghiệp hiện đại,
mỗi người một mắt xích dây chuyền công nghệ, không giao tiếp thì không hiểu ý
nghĩa công việc của mình làm.
5. Ý thức của con người được hình thành và phát triển trong quá trình giao tiếp với
những người xung quanh.
Ý thức được hình thành cùng với sự ra đời của ngôn ngữ, lao động, trên nền
tảng của sự phát triển hoạt động nhận thức ở mức độ nhận thức nhất định.
Năng lực làm chủ hành động, ngôn ngữ, thái độ của mình trong các quan hệ
người đó là biểu hiện của ý thức.
Năng lực đó chỉ được hình thành và phát triển trong giao tiếp với những người
xung quanh, các quan hệ xã hội mà con ngườiaang sống và hoạt động.
Học sinh có ý thức làm bài đầy đủ, học thuộc bài ở nhà, chuẩn bị bài đầy đủ,
chu đáo khi đến lớp học, được hình thành và phát triển qua nhiều lần, nhiều
năm học, nhiều thầy cô rèn luyện mới có được ý thức đó, như vậy, thiếu giao
tiếp với thầy cô, học sinh sẽ không có ý thức học tập nghiêm túc.
CHƯƠNG II: GIAO TIẾP SƯ PHẠM
Khái niệm về giao tiếp sư phạm
1 . Giao tiếp sư phạm là gì ?
Giao tiếp giữa con người với con người trong hoạt động sư phạm được gọi là
giao tiếp sư phạm. Vậy, hoạt động nào được gọi là hoạt động sư phạm ?
Chúng ta biết rằng giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, nó được tiến hành ở
mọi ngành, mọi cấp, trong từng khu phố, thôn xóm và gia đình, ở tất cả các cơ
sở kinh tế và văn hóa... bên cạnh nhà trường, giáo dục còn được diễn ra ngoài
xã hội, trong gia đình, tất nhiên giáo dục nhà trường quyết định chiều hướn phát
triển nhân cách học sinh. Vì nhà trường là cơ quan chuyên trách công tác giáo
dục, là tổ chức xã hội dẫn đầu với những phương pháp giảng dạy khoa học
nhằm xây dựng cho con người một nhân cách phát triển toàn diện.
Như vậy, hoạt động giáo dục rộng lớn bao hàm trong đó cả hoạt động sư phạm.
Hoạt động giáo dục chỉ diễn ra trong nhà trường, trong đó chủ yếu là sự giao
tiếp giữa giáo viên và học sinh. Giáo viên là người tổ chức, điều khiển quá trình
giáo dục trong nhà trường được gọi là chủ thể giao tiếp với nghĩa chung nhất.
Học sinh là người lĩnh hội tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp do
giáo viên truyền đạt cho. Với ý nghĩa này học sinh là khách thể trong hoạt động
giao tiếp sư phạm.
Tuy nhiên, để giáo dục, dạy học đạt kết quả cao, chúng ta không thể coi học
sinh là khách thể thụ động, mà các em thực sự là một chủ thể có ý thức, hoạt
động tích cực để đón nhận tri thức khoa học của giáo viên. Vì vậy, quá trình
giao tiếp giữa giáo viên và học sinh có thể khái quát theo sơ đồ sau :
Giáo viên Hocjsinh ( 1 )
Chủ thể hách thể ( 2 )
Chủ thể giao tiếp Đối tượng giao tiếp ( 3 )
Chủ thể giao tiếp Chủ thể tiếp nhận ( 4 )
Chủ thể Chủ thể ( 5 )
Mối quan hệ giữa thầy giáo và học sinh có thể xảy ra theo 5 sơ đồ trên.
(1), (2), (3) : Xảy ra khi thầy giáo trên lớp giảng bài, truyền đạt tri thức cho học
sinh theo nội dung, chương trình, sách giáo khoa lớp học, cấp học.
(4), (5) : Khi học sinh thắc mắc, hỏi những vấn đề mà các em quan tâm trong
quá trình học tập.
(5) : Còn nói lên quan hệ chủ động của học sinh đối với các giáo viên mà họ
quan tâm. Ở sơ đồ này còn có ý nghĩa khác là các em tiếp thu cái gì là tùy thuộc
vào nhu cầu nhận thức, hứng thú, nguyện vọng, thái độ của học sinh đối với
môn học, tiết học, giáo viên.
Giao tiếp sư phạm có những đặc thù :
 Giáo viên không chỉ giao tiếp với học sinh qua nội dung bài giảng mà họ còn
phải là tấm gương sáng mẫu mực về nhân cách. Phải thống nhất giữa lời nói,
việc làm với hành vi ứng xử. Có như vậy, thầy giáo mới tạo cho mình có uy tín,
uy tín là phương tiện tinh thần giúp thầy giáo hành nghề đạt hiệu quả cao.
 Trong giao tiếp sư phạm, thầy giáo dùng các biện pháp giáo dục tình cảm,
thuyết phục, vận động đối với học sinh.
 Nhà nước và xã hội ta rất tôn trọng giáo viên. Nhân dân ta có truyền thống tôn
sư trọng đạo, trọng đạo lí làm người nên rất tôn trọng đối với nghề thầy giáo.
“ Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy ”
Bác Hồ đã từng phát biểu : “ Không có thầy giáo thì không có giáo dục, không
có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế và văn hóa ”.
Qua phân tích trên, chúng ta có thể định nghĩa : Giao tiếp sư phạm là sự tiếp
xúc giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền đạt và lĩnh hội những tri thức khoa
học, vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, nghề nghiệp, xây dựng và phát
triển nhân cách toàn diện ở học sinh.
Để giao tiếp sư phạm đạt hiệu quả cao :
 Giáo viên chủ động, gần gũi, động viên học sinh phải có lòng y thương trẻ.
Biết tạo những xúc cảm, tình cảm tích cực ở cả giáo viên và học sinh.
 Học sinh phải biết kính trọng giáo viên, và thực hiện tốt những yêu cầu do
giáo viên đề ra.
2 . Mục tiêu giao tiếp sư phạm
a . Mục đích của giao tiếp sư phạm
Mục đích giao tiếp sư phạm nằm ngay chính trong khái niệm giao tiếp sư phạm
: Nhằm truyền đạt vốn sống, kinh nghiệm, những tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ
xảo, thói quen nghề nghiệp, xây dựng và phát triển nhân cách tòan diện ở học
sinh.
Mục đích này cũng chính là mục tiêu khái quát của nhà trường phổ thông trong
suốt một thời gian dài, nhiều năm, chia ra nhiều bậc học. Giao tiếp sư phạm ở
các bậc học có những mục đích nhỏ, nhiều nội dung tiếp xúc cụ thể khác nhau.
Đó chính là mục tiêu cấp học.
b. Mục tiêu giao tiếp ở trường phổ thông trung học.
Mục tiêu giáo dục của phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nựa hình thành nhân cách
con người Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,
tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc...
Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những
hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao
đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Nội dung giao tiếp sư phạm
1 . Nội dung tâm lý trong giao tiếp sư phạm
Khác với những hoạt động khác, hoạt động giao tiếp giữa giáo viên và học sinh
không nhìn thấy được trực tiếp kết quả.
Ví dụ : người thợ mộc mang cây gỗ về nhà xẻ ra thành tấm... đóng thành
giường, tủ ... bán hết tiền lãi thu nhiều, hoạt động của thợ mộc xem như có hiệu
quả cao.
Kết quả nhận thứcở học sinh rất trừu tượng, thường đánh giá kết quả học tập
của học sinh bằng kiểm tra, mà ở bài kiểm tra và thi cũng có thể chưa phản ánh
chính xác mức độ nhận thức ở các em.
Nội dung tâm lý trong giao tiếp sư phạm bao gồm :
a. Nhận thức
Ở bất kỳ một cuộc tiếp xúc nào giữa con người với con người, giữa thầy giáo
với học sinh đều để lại một sản phẩm nhất định về nhận thức. Chẳng hạn, hỏi
học sinh về một cô giáo mới, các em học sinh trả lời : Cô có dáng cao, nước da
trắng, dễ thương, cô giảng bài dễ hiểu và ...
Ngược lại khi hỏi cô về lớp học, cô trả lời : Lớp đông đến 48 em, nhưng các em
ngoan, trật tự, khi tôi hỏi bài, cả lớp dơ tay phát biểu...
Nội dung nhận thức trong giao tiếp sư phạm rất phong phú, đa dạng và sinh
động thường xảy ra trong hoạt động sư phạm như :
 Giao tiếp trao đổi vốn sống, kinh nghiệm, tranh luận về quan điểm, thái độ,
chính trị ... thương xảy ra trong tổ chuyên môn, trong giờ giảng bài mới mà học
sinh có thắc mắc nhất là các vấn đề tri thức thuộc nội dung cải cách giáo dục
phổ thông. Sau mỗi lần sinh hoạt tổ chuyên môn, trả lời thắc mắc của học sinh
mọi thành viên trong quá trình giao tiếp lại nhận thức thêm được những điều
mới.
 Giao tiếp truyền đạt tri thức khoa học tự nhiên, xã hội ...
Ví dụ : từ khi có môn giáo dục công dân, từ học sinh đến phụ huynh đều nhận
thức thấy sự cần thiết phải có bộ môn này nhằm hướng dãn học sinh có thái độ
và hành vi ứng xử đúng đắn đối với các tổ chức xã hội, chuẩn mực xã hội và
quan hệ xã hội đương thời.
 Giao tiếp thường ngày giữa thầy giáo và học sinh trên lớp học, học sinh
không chỉ nhận thức tri thức khoa học, mà còn học hỏi những phương pháp tư
duy của thầy, phong cách tiếp xúc của thầy với mọi người, cách lập luận, dẫn
giải, gợi ý của thầy cô.
 Giao tiếp cá nhân với cá nhân ( giữa thầy giáo và học sinh ) để thầy cô giáo
hiểu hoàn cảnh của từng học sinh cá biệt để có biện pháp ứng xử phù hợp với
từng em ; ngược lại, học sinh hiểu thầy cô, tin thầy cô, dám nói những trăn trở
thầm kín của cá nhân mình.
 Hoạt động cac hoạt động lao động và hoạt động xã hội ( tổ chức lễ hội, văn
nghệ, thể dục, thể thao, sinh hoạt đội, đoàn thanh niên... giúp thầy cô giáo nhận
thức về khả năng của học sinh. Học sinh tự nhận thức về khả năng, vị trí của
mình trong lớp và trong các hoạt động trên.
Nội dung nhận thức có thể xảy ra suốt cả tiến trình giao tiếpặcccc chỉ xảy ra
mạnh mẽ thời điểm đầu gặp gỡ. Để hoạt động sư phạm thành công, thầy cô
giáo luôn tạo cho mình những giá trị mới về tinh thần trước học sinh,eể trong
giao tiếp các em luôn nhận thức được nhiều cái mới, tốt đẹpở thầy cô giáo của
mình, tự hào về thầy cô gio của mình, đó cũng là mộtt điều kiện cần thiết tạo ra
sự hấp dẫn cá nhân đối với các em, vì cất lượng và hiệu quả của quá trình giáo
dục.
b. Cảm xúc
Từ thời điểm bắt đầu, qua diễn biến rồi đến lúc kết thúc một quá trình giao tiếp
sư phạm đều biểu hiện một trạng thái xúc cảm nhất định.
 Trước khi giao tiếp, con người đều dự đóan ề hình dạng, diện mạo “lời ăn,
tiếng nói” của đối tượng mình cần tiếp xúc và dự kiến thái độ của mình trước khi
tiếp xúc. Chẳng hạn, thiện chí, quan tâm, cởi mở, rụt rè, hữu nghị, thiện cảm, thờ
ơ, bàng quan, thăm dò, lãnh đạm, tốt xấu, vui vẻ, độc ác, bực dọc, xu nịnh, bợ
đỡ, khúm núm, khoe khoang, tự kiêu, tự ti, hèn nhát... Những xúc cảm này ảnh
hưởng quan trọng mang tính chất định hướng cho quá trình giao tiếp, chúng
thay đổi cùng với nội dung và hoàn cảnh giao tiếp. Trường hợp ta chưa tiếp xúc
với ông ấy lần nào, nhưng nghe đồn ông ta không tốt, khi giao tiếp ta dè dặt, quá
trình giao tiếp ta nhận thấy ông ta không xấu như người ta tưởng... ta thay đổi
thái độ.
 Trong giao tiếp sư phạm giáo viên cần gợi lên cho học sinh những xúc cảm
tích cực, say mê, hứng thú, hồn nhiên và thiện cảm để quá trình tiếp xúc trên lớp
và ngoài trường đạt kết quả cao.
 Xúc cảm không chỉ định hướng và nảy sinh trong giao tiếp sư phạm mà ở thời
điểm kết thúc quá trình giao tiếp sư phạm cũng nảy sinh những xúc cảm mới.
Một xúc cảm dễ chịu, ấm áp tình người, sau khi tiếp xúc với thầy, cô giáo tăng
thêm nghị lực cho học sinh vượt qua khó khăn, vươn lên trong học tập.
c. Hành vi.
Hành vi trong giao tiếp sư phạm được hiểu là hệ thống những vận động của
đầu, mình, chân, tay, đặc biệt là sự vận động của các bộ phận phân bố trên mặt
của con người như : mắt, trán, miệng, ngôn ngữ ... sự vận động đó hợp thành
hành vi giao tiếp xảy ra trong quá trình sư phạm gọi là hành vi giao tiếp sư
phạm. Những vận động riêng lẻ của từng bộ phận cơ thể, trên nét mặt của thầy
giáo, học sinh đều có ý nghĩa định hướng nhất định trong giao tiếp sư phạm.
Chẳng hạn, người ta đã tìm thấy trong các tác phẩm văn học của L.N.Tolxtôi,
chỉ riêng tiếng cười cũng có 97 sắc thái khác nhau.
Từ “ Lại đây ” Macarencô, có đến 30 giong điệu khác nhau để gọi học sinh.
Những cử động nhỏ trên nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, dáng đi, tư thế ngồi... đều
chứa đựng nội dung tâm lý nhất định. Học sinh chăm chú nhìn vào mặt thầy, cô
giáo như nuốt từng lời giảng (đó là sự kính trọng thầy, cô, lời giảng hay, hấp
dẫn...), ngược lại, học sinh không chú ý nghe giảng, nói chuyện riêng, làm việc
riêng, nhìn ra cửa sổ... (xem thường giáo viên hoặc không hiểu bài...)
Hành vi trong giao tiếp sư phạm là một thứ “ ngôn ngữ đặc biệt ”, ngôn ngữ của
thái độ cá nhân, của thế giới nội tâm, đôi khi nó không chịu sự kiểm sóat của ý
thức, vì vậy nhìn vào hành vi đôi khi người ta hiểu nhau hơn là qua ngôn ngữ
nói. Hành vi trong giao tiếp sư phạm biểu hiện rõ rệt, mờ nhạt, sâu sắc hoặc hời
hợt, cường độ của chúng biểu hiện mạnh hay yếu... tùy thuộc vào mức độ quan
hệ giữa thầy, cô giáo và học sinh. Hành vi trong giao tiếp sư phạm không chỉ
dừng lại ở các cử chỉ, điệu bộ... mà còn bao hàm cả những hành động với quy
mô rộng lớn, mức độ khái quát tạo ra giá trị vật chất, tinh thần, chiếm được
niềm tin ở học sinh của thầy, cô giáo.
Trong hành vi giao tiếp của cá nhân được thể hiện ở các ý và các nghĩa :
Các ý : Là toàn bộ thái độ, lòng mong muốn, nhu cầu, động cơ, hứng thú và
niềm tin của cá nhân biểu hiện ở hành vi giao tiếp. Nói cách khác là đằng sau
hành vi giao tiếp là nội dung tâm lý cá nhân ẩn ở đó.
Các nghĩa : Là nội dung tâm lý được quy định bởi xã hội bộc lộ trong hành vi
giao tiếp của cá nhân.
Ví dụ : cười là biểu hiện sự vui mừng, khóc là biểu hiện của sự buồn chán, đau
khổ.
Trong hành vi giao tiếp, ý và nghĩa không phải lúc nào cũng thống nhất với
nhau. Có lúc ý và nghĩa trái ngược nhau.
“ Mừng ra nước mắt, nén đau lại cười ” ( Tố Hữu )
Cũng có cái cười vui, có tiếng cười mỉa mai, châm chọc, thậm chí có cái cười
đau khổ.
Tóm lại, hành vi giao tiếp sư phạm biểu lộ mối quan hệ chặt chẽ giữa nhu cầu,
động cơ, nhận thức, niềm tin, thái độ của cá nhân hòa quyện với yêu cầu đòi hỏi
của xã hội tạo thành nội dung tâm lý có vai trò quan trọng cho hoạt động giao
tiếp của thầy, cô với học sinh đạt hiệu quả cao.
2 . Nội dung công việc trong giao tiếp sư phạm
Nội dung công việc trong giao tiếp sư phạm là những nội dung giao tiếp mang
tính chất tạm thời, vụ việc, xảy ra trong quan hệ giữa giáo viên và học sinh. Đó
là các nội dung mang tính chất kinh tế ( thu học phí, qũy lớp...), chính trị ( sinh
hoạt cá tổ chức đoàn, đội, hội phụ huynh học sinh ...), pháp quyền ( về việc vi
phạm nội quy của học sinh, các hình thức kỷ luật tương ứng ), giáo dục thuyết
phục (đối với học sinh cá biệt )...
Để khai thác nội dung công việc trong giao tiếp sư phạm, chúng ta chỉ phân tích
một số công việc thường xảy ra trong nhà trường.
a. Công việc mang tính chất kinh tế, bao gồm các công việc như : thu học phí,
những đóng góp xây dựng quỹ trường, quỹ lớp... Những công việc này có liên
quan đến tiền.
Giáo viên không nên giữ tiền mặt mà chỉ nên là chủ tài khoản ( học sinh hoặc
phụ huynh giữ tiền ), khi chi tiêu phải có hóa đơn, chứng từ rõ ràng, quyết toán
công khai, tránh sự nghi ngờ của học sinh đối với thầy, cô giáo.
Xây dựng cho học sinh ý thức trách nhiệm trong việc góp phần tạo cơ sở vật
chất và những điều kiện cần thiết đảm bảo cho quá trình dạy và học. Ngăn chặn
ý nghỉ “ kinh tế đơn thuần ”, học phí để nuôi thầy cô vậy thầy cô phải dạy tốt.
Hướng cho học sinh có tinh thần sẵn sàng giúp đỡ những gia đình khó khăn,
gia đình thương binh, liệt sĩ , những học sinh nghèo vượt khó.
b. Công việc về rèn luyện ý thức, kỷ luật.
Các thầy cô giáo thường xuyên nhắc nhở học sinh và bản thân mình phải
gương mẫu, thực hiện quy chế.
Ví dụ : đi học đúng giờ...
Đối với học sinh có khuyết điểm, thầy giáo cần tìm rõ nguyên nhân, đến với các
em bàng tình cảm khoan dung, độ lượng, không trù úm, định kiến với học sinh.
c. Vui chơi, giải trí : công việc này thường xảy ra trong giờ chơi, các ngày lễ hội,
nếu có sự tiếp xúc giữa thầy cô với các em sẽ tiếp thêm niềm vui cho các em.
Những cong việc trong nhà trường bao giờ cũng chứa đựng một nội dung giáo
dục rèn luyện nhất định cho sự phát triển nhân cách của học sinh. Do đó, giáo
viên bằng cách giao tiếp ứng xử của mình, bằng những việc làm của mình tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho các em học tập và rèn luyện.
Qua công việc được thầy cô giao cho các em học sinh thực hiện, những khả
năng của các em được bộc lộ, nhiều phẩm chất nhân cách được hình thành và
phát triển, các em sửa được nhiều thói xấu.
Như trường hợp đi học trễ được giao làm đội trưởng đội cờ đỏ. Hay g gỗ, đánh
nhau được giao làm đội trưởng đội bóng đá. Rùt rè, ít nói được giao làm lớp
phó học tập.
Công việc hằng ngày diễn ra trong nhà trường thể hiện một cách chân thực
nhất cách đời thường của giáo viên và học sinh.
Giao tiếp trong công việc bao giờ cũng mang tính chất hoàn cảnh, tình huống
tạm thời, xảy ra trong thời gian ngắn. Nhưng chính thái độ và hành vi ứng xử
của thầy cô giáo và học sinh ở những tình huống này chứa đựng một bản chất
thực vốn có của mỗi người.


Những nguyên tắc giao tiếp sư phạm
1. Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp
Chúng ta biết rằng : ai cũng có lòng tự trọng. Nếu ta gọi một học sinh lên bảng,
rồi chửi học sinh thế này, thế nọ thì chẳng những không có tác dụng giáo dục
mà còn ngược lại.
Tôn trọng nhân cách đối tượng là đánh giá đúng nhân phẩm của học sinh, đôí
xử bình đẳng, dân chủ với các em. Tin tưởng, tôn trọng cái riêng và thương yêu
học sinh.
 Hãy để cho đối tượng bộc lộ những nét tính cách, thái độ, nhu cầu riêng,
không nên áp đặt bắt học sinh phải theo ý của thầy cô hoặc cha mẹ.
 Biết lắng nghe và gợi lên nhu cầu chính đáng của học sinh.
 Tôn trọng nhân cách học sinh thể hiện rõ nét nhất ở ngôn ngữ nói, giọng điệu,
cách phát âm, việc sử dụng từ sao cho đảm bảo được tính văn hóa. Không nên
dùng ngôn ngữ nói xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của các em nhất là ở nơi
công cộng, đông người, trước lớp học.
 Trong khi tiếp xúc với học sinh, giáo viên phải tế nhị, không nên đang tiếp học
sinh mà xem đồng hồ, nói chuyện với người khác, thậm chí nhổ nước miếng
hoặc càng không nên cười cợt, ngắt lời học sinh khi các em đang trình bày say
sưa một ý kiến gì đó.
 Giáo viên phải luôn có ý thức tôn trọng học sinh mặc dù đó là những học trò,
các em đã ý thức được trách nhiệm của mình trước thầy cô và nhà trường.
 Aên mặc, trang điểm của giáo viên cũng là một biểu hiện sự tôn trọng nhân
cách của học sinh.
2. Có niềm tin trong giao tiếp sư phạm:
Một điều kiện tiên quyết của mọi sự tiếp xúc giữa con người với con người là tin
ở đối tượng giao tiếp của mình.
Học sinh đi thi mà không tin ở trình độ học vấn của mình thì dễ bị trượt. Người
lính ra trận mà không tin vào sự chiến thắng của mình thì khó có những sự tích
anh hùng ...
 Tin tưởng vào học sinh là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao, là nguồn sức mạnh
giúp thầy cô vượt qua những khó khăn thường nhật của đời thường để hoàn
thành tốt nhiệm vụ
 Niềm tin có một sức mạnh giáo dục to lớn đối với học sinh.
Trong dạy học và giáo dục, thầy cô giáo luôn luôn biết đặt niềm tin của mình
một cách chân thực vào những học sinh chưa ngoan hoặc chậm hiểu. Chính từ
đó, các em học sinh này sẽ cố gắng pấnấu để khỏi phụ niềm tin của thầy cô
giáo và nhiều trong số những em đó sẽ thành đạt.
3. Nguyên tắc vô tư, xây dựng ( không vụ lợi ):
Nguyên tắc này thể hiện :
 Biết đặt lợi ích của học sinh vì học sinh là trước hết. Không vì lợi ích bản thân
mà gây thiệt hại uy tín nhân cách của học sinh. Khẩu hiệu : “ Tất cả vì học sinh
thân yêu ”, thực chất là một trong những nguyên tắc ứng xử, giao tiếp của thầy
cô giáo đối với học sinh.
 Không được phép tính toán thiệt hơn, suy bì, ghen tị với những thành công
hoặc cười cợt chế giễu trước những thất bại của học sinh.
 Đối xử với học sinh phải công bằng, không định kiến.
4. Nhạy bén, đồng cảm trong giao tiếp:
 Các thầy cô gio phải biết đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của các em để tiếp
xúc, để cùng rung cảm, cùng suy nghĩ với các em.
 Biết sống trong niềm tin và nổi buồn của các em, phải yêu thương, đồng cảm
với các em.
 Ứng xử khéo léo trong các tình huống giao tiếp cụ thể đối với học sinh.
Để có khả năng đồng cảm với học sinh, giáo viên cần lưu ý :
 Thành thật chú ý đến học sinh, quan tâm đến các em.
 Biết mĩm cười thân mật khi tiếp xúc với học sinh.
 Giong nói biểu hiện một thái độ thiện cảm, nhẹ nhàng, dịu hiền, ôn tồn, ngay
cả lúc kiên quyết, dứt khoát.
 Không nên gây căng thẳng trong tâm trí học sinh, sau mỗi lần tiếp xúc nên tạo
cho các em những niềm vui mới.
 Luôn luôn tạo cho học sinh một cảm giác an toàn, dễ chịu trong suốt quá trình
giao tiếp.
 Nếu phải nghe một học sinh tâm sự, hãy cố gắng khuyến khích để các em nói
thỏa mãn.
 Chỉ nhận xét học sinh trước lớp khi đã đủ thông tin từ mọi phía.
 Cần có lời khen thành thật đối với học sinh.
Ai cũng thích khen, đặc biệt là học sinh, tuy nhiên khi khen cần lưu ý :
 Chỉ những hành vi đáng khen hãy khen, trương hợp nào cũng khen thì không
có tác dụng.
 Chỉ khen những hành vi biểu hiện sự cố gắng.
 Khen nhiều mặt, khen phải công minh, tạo ra đồng tình của tập thể.
 Khen phải đúng lúc.

Câu hỏi ôn tập
1. Giao tiếp sư phạm là gì ? Phân tích các nội dung tâm lý trong giao tiếp sư
phạm.
2. Hãy phân tích nội dung nguyên tắc tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp
sư phạm ? Cho ví dụ sâu sắc về việc thực hiện nguyên tắc này đạt hiệu quả
giáo dục cao mà anh ( chị ) đã gặp hoặc nghe kể lại ?
3. Anh ( chị ) hiểu câu : “ Mất niềm tin là mất tất cả ” như thế nào ?
4. Phân tích nội dung của nguyên tắc vô tư, xây dựng và nhạy bén, đồng cảm
trong giao tiếp ? Cho ví dụ minh họa.


Phong cách giao tiếp sư phạm và ý nghĩa của nó
1 . Thế nào là phong cách giao tiếp?
Trước khi phát biểu phong cách là gì? Chúng ta hãy xem xét những dấu hiệu cơ
bản của nó, đó là:
 Hệ thống những phương pháp, thủ thuật tiếp nhận, phản ứng hành động
tương đối ổn định, bền vững của cá nhân. Có nghĩa là, con người hoạt động,
ứng xử ... tương đối như nhau trong tình huống khác nhau.
Ví dụ: Người giáo viên có phong cách giảng bài chậm rãi, ung dung, thư thái thì
không chỉ trên lớp mà ngay cả với đồng nghiệp, người thân trong gia đình, họ
cũng nói chậm rãi ung dung như vậy.
 Hệ thống những phương pháp, thủ thuật ... qui định những đặc điểm khác biệt
giữa các cá nhân. Chẳng hạn, Cũng vẫn phong cách giảng bài ung dung, thư
thái nhưng thầy A khác với cô B. Thầy A cường độ, âm điệu ngôn ngữ mạnh mẽ
hơn, dứt khoát, rõ ràng. Còn cô B thì hiền dịu, nhẹ nhàng, êm ái.
 Hệ thống những phương tiện có hiệu quả giúp cá nhân thích nghi với những
thay đổi môi trường ( nhất là môi trường xã hội ). Dấu hiệu này nói lên sự linh
hoạt, cơ động, mềm dẻo của các phương pháp, thủ thuật...ứng xử của cá nhân.
Trong giao tiếp sư phạm, dấu hiệu này có thể coi là sự khéo léo đối xử sư phạm
của giáo viên.
Qua phân tích trên ta có thể phát biểu định nghĩa phong cách giao tiếp như sau:
Phong cách là toàn bộ những phương pháp, thủ ật tiếp nhận, phản ứng hành
động tương đối ổn định, bền vững của mỗi cá nhân, chúng qui định sự khác biệt
giữa cá nhân, giúp cá nhân thích nghi với môi trường sống ( đặc biệt là môi
trường xã hội ) để tồn tại và phát triển.
Từ định nghĩa trên ta thấy phong cách cá nhân có hai phần:
 Phần ổn định, tương đối bền vững của phong cách. Phần ổn định này qui
định sự khác biệt cá nhân, biểu hiện thói quen phản ứng trả lời kích thích tác
động.
Ví dụ: có người nói nhanh, người nói chậm. Có học sinh khi trả bài bao giờ cũng
run run, sợ sệt lúc ban đầu, sau đó ít giây mới ổn định nói được rõ ràng, mạch
lạc. Có thầy giáo khi giảng bài lại ưa đi đi lại lại trên bục giảng.
Tư thế đi đứng đều góp phần quan trọng vào phong cách cá nhân, chẳng thế
mà ngày xưa thời phong kiến, các vua, quan lại triều đình đều được học tập
cách đi đứng cho hiên ngang, oai vệ, thậm chí còn có cả những qui định về y
phục, sắc phục để khi mặc vào tạo ngay dáng đi hợp với vị trí xã hội mà họ
chiếm giữ.

• Phần ổn định, một phần do cấu tạo cơ thể và các chức năng hoạt động
của cơ thể tạo nên.
Ví dụ: người phụ nữ có cổ cao, tiếng nói thanh, nhẹ nhàng hơn người phụ
nữ có cổ ngắn (cổ rụt).
• Vai trò xã hội của cá nhân có ý nghĩa lớn lao trong việc tạo ra phong cách.

Do sự phân công lao động của xã hội đòi hỏi những đặc trưng tâm lý đối với
mỗi nghề tạo ra phong cách mới.
Thay đổi các quan hệ xã hội buộc con người phải có phong cách ứng xử phù
hợp.
Ví dụ: vì lương thấp, một số cô giáo xin thôi việc để buôn bán, quan hệ với
khách hàng... nên buộc cô phải thay đổi cách ứng xử.
 Phần linh hoạt, cơ động của phong cách giúp cá nhân thích ứng với môi
trường sống thay đổi. Sự thay đổi của môi trường sống là nguyên nhân trực tiếp
làm thay đổi phong cách của con người.
 Phong cách thay đổi theo lứa tuổi.
Ví dụ: phong cách của thanh niên khác với phong cách của người già.
 Do quan hệ với từng loại đối tượng mà phong cách cũng thay đổi.
 Chẳng hạn, quan hệ với con cái, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp thì phong thái
cũng khác nhau.
 Sự thay đổi nghề nghiệp, cách làm ăn, sinh sống cũng là điều kiện làm thay
đổi phong cách ứng xử của con người.
 Sự thay đổi các yếu tố tâm sinh lí đều phản ánh vào sắc thái phong cách của
con người.
Tóm lại:
Phần linh hoạt, cơ động của phong cách do mỗi cá nhân tự tạo lập trong cuộc
sống và hoạt động đặc biệt là trong mối quan hệ xã hội. Nhờ đặc điểm này,
chúng ta mới xây dựng cho học sinh những thói quen hành vi có văn hóa.
2 . Phong cách giao tiếp sư phạm và ý nghĩa của nó trong việc hình thành nhân cách của
học sinh:
a. Phong cách giao tiếp sư phạm là gì?
Phong cách giao tiếp sư phạm là toàn bộ hệ thống những phương pháp, thủ
thuật tiếp nhận, phản ứng hành động tương đối ổn định, bền vững của giáo viên
và học sinh trong quá trình giao tiếp sư phạm.
b. Các loại phong cách giao tiếp sư phạm:
b1. Phong cách dân chủ trong giao tiếp sư phạm:
Là phong cách giao tiếp mà thầy cô giáo coi trọng những đặc điểm tâm lý cá
nhân, vốn sống, kinh nghiệm, trình độ nhận thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú
và các mức độ tích cực nhận thức của học sinh. Biết lắng nghe, tôn trọng và
đáp ứng kịp thời nguyện vọng chính đáng của học sinh.
Phong cách này có tác dụng tích cực như sau:

• Tạo ra một niềm tin yêu, kính trọng ở các em đối với thầy cô giáo.
• Tạo ra ở các em học sinh tính độc lập, sáng tạo, sự ham mê hiểu biết,
kích thích hoạt động nhận thức ở các em.
• Tạo cho các em tính tích cực, tự giáo dục, tự rèn luyện để nhân cách
càng phát triển và hoàn thiện từng bước theo yêu cầu của xã hội.

Tuy nhiên, khi giáo viên sử dụng phong cách giao tiếp này cũng cần lưu ý:

• Không nên “ nuông chiều thả mặc ” học sinh.
• Không đề cao cá nhân, không theo đuôi những đòi hỏi không xuất phát tư
ø lợi ích chung.
• Không dân chủ quá trớn, dễ mất đi ranh giới giữa thầy và trò “ cá mè một
lứa ” .
b2. Phong cách độc đoán:
Phong cách độc đóan trong giao tiếp là phong cách giao tiếp mà giáo viên chỉ
chú ý đến nội dung công việc và giới hạn thời gian thực hiện công việc một cách
cứng nhắc mà không chú ý đến đặc điểm tâm lý riêng của đối tượng.
Phong cách giao tiếp này có một số điểm cần lưu ý:

• Dễ gây ra sự chống đối của học sinh đối với giáo viên.
• Thẳng thắn quá, nhiều khi thiếu tế nhị.

Tuy nhiên phong cách này cũng có một số tác dụng:

• Những công việc đòi hỏi thời gian ngắn, nếu không kiên quyết, dứt khoát,
cứng rắn... thì không hoàn thành được.
• Phong cách này phù hợp với những học sinh có khí chất linh hoạt, nóng
nảy thường có thói quen dứt điểm nhanh chóng khi thực hiện công việc.

b3. Phong cách tự do:
Phong cách tự do là phong cách mà giáo viên linh hoạt thay đổi cách ứng xử
theo sự thay đổi của hoàn cảnh giao tiếp.
Phong cách giao tiếp này co ưu điểm:

• Mềm dẻo, linh hoạt trong giao tiếp.
• Dễ dàng thay đổi nội dung, mục đích thậm chí thay đổi cả đối tượng giao
tiếp.

Tuy nhiên, loại phong cách giao tiếp này cũng có nhược điểm:

• Đôi khi không làm chủ được xúc cảm của mình.
• Thường những người có phong cách giao tiếp hay dễ dãi đến mức quá
đáng.
• Ba loại phong cách giao tiếp trên đây đều có những ưu điểm và những
hạn chế nhất định. Để quá trình giao tiếp đạt hiệu qủa cao, giáo viên cần
phải biết phối hợp cả ba loại phong cách giao tiếp trên.

3. Những phẩm chất tâm lý cần thiết đảm bảo cho phong cách giao tiếp của thầy, cô giáo
thành công:
a. Một số phẩm chất tâm lý cần có của giáo viên để dễ dàng thiết lập và đạt hiệu
qủa cao trong giao tiếp.

• Cởi mở, vui tươi, dễ mến, dễ gần.
• Công bằng, thẳng thắn, trung thực.
• Dễ thông cảm với người khác.
• Có chí hướng vươn lên trong chuyên môn, trong công tác.
• Khiêm tốn, giản dị.
• Thận trọng trong suy nghĩ, lời nói và việc làm.
• Biết nhìn người giao việc.
• Biết lôi kéo học sinh vào công việc.
• Độc lập, sáng tạo.
• Có khả năng tập hợp, đoàn kết mọi người.

b. Những phẩm chất tâm lý, điệu bộ, cử chỉ, hành vi cần thiết để thiết lập mối
quan hệ ban đầu trong giao tiếp sư phạm.

• Nét mặt vui tươi, rạng rỡ, mĩm cười thiện cảm.
• Cởi mở, tự nhiên trong cách nói và hành vi.
• Cử chỉ, điệu bộ ung dung, chậm rãi, lời nói nhẹ nhàng, ôn tồn.
• Thực sự quan tâm đến đối tượng giao tiếp một cách thành thật.
• Thực sự chú ý đến nhu cầu, nguyện vọng của học sinh.
• Nếu tiếp xúc với một em học sinh thì hãy nên biết tên em đó và dùng tên
đó trong khi nói chuyện, giao tiếp.
• Biết chăm chú nghe và khuyến khích học sinh nói thật lòng mình.

c. Những phẩm chất tâm lý, cử chỉ, điệu bộ, hành vi có ảnh hưởng tốt trong quá
trình giao tiếp với học sinh.

• Hãy nói và khuyến khích những sở thích của học sinh.
• Lắng nghe và khích lệ, động viên các em nói hết những mong muốn, băn
khoăn của họ.
• Khen ngợi một cách thành thật những ưu điểm của các em.
• Không nên quát tháo, xỉ nhục các em.
• Tạo bầu không khí tiếp xúc thoải mái, tin tưởng ở các em và để lại ấn
tượng tốt đẹp trong suốt quá trình tiếp xúc.

Câu hỏi ôn tập

1. Thế nào là phong cách? Phong cách giao tiếp sư phạm là gì? Có mấy loại
phong cách giao tiếp sư phạm? Ý nghĩa của phong cách này đối với việc
xây dựng nhân cách học sinh.
2. Phân tích và lấy ví dụ minh họa những phẩm chất tâm lý cần thiết đảm
bảo cho phong cách giao tiếp thành công.
3. Vì sao phong cách giao tiếp sư phạm lại ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của
quá trình dạy học? Cho ví dụ minh họa.


Các kỹ năng giao tiếp sư phạm
1 . Kỹ năng giao tiếp sư phạm là gì?
Kỹ năng giao tiếp sư phạm là toàn bộ những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ phối
hợp hài hòa, hợp lý của giáo viên nhằm đảm bảo cho sự tiếp xúc với học sinh
đạt kết quả trong hoạt động sư phạm với sự tiêu hao năng lượng tinh thần, cơ
bắp ít nhất trong điều kiện thay đổi.
2. Những kỹ năng giao tiếp sư phạm:
a . Nhóm các kỹ năng định hướng giao tiếp sư phạm:


• Nhóm kỹ năng định hướng trớc khi tiếp xúc với học sinh. Đó là một thói
quen khi tiếp xúc với một học sinh nào đó, cần có những thông tin cần
thiết về em đó. Ví dụ , tên em là gì? Em học lớp nào? Học giỏi hay kém...
ở môn nào? Về nhân cách: em ngoan hay hư...? Hiện nay em có nhu cầu
gì?... Ba mẹ em làm nghề gì? ... Những thông tin này rất cần thiết giúp
thầy cô giáo “ phác thảo chân dung ” con người của em học sinh, mình
cần tiếp xúc. Định hướng trước khi tiếp xúc là để có một mô hình tâm lý
về con người học sinh mà mình sẽ tiếp xúc. Dự đoán trước những phản
ứng sẽ xảy ra của học sinh trong quá trình giao tiếp, từ đó giáo viên có
cách ứng xử phù hợp để đạt hiệu quả giao tiếp cao.
• Định hướng bắt đầu tiếp xúc. Khi tiếp xúc với học sinh, thầy cô giáo gặp
mặt trực tiếp với các em. Tuy đã có dự đóan trước, nhưng đó chỉ là mô
hình giả định. Sự dự kiến trước có thể trùng khớp, có thể chỉ đúng một số
chi tiết, có thể sai nhiều chi tiết...

Do đó, để tránh những định kiến, những sai lầm trong giao tiếp , giáo viên phải
linh hoạt, mềm dẻo, khi tiếp xúc phải quan sát học sinh để kiểm nghiệm đúng,
sai của mô hình giả định, từ đó giúp cho sự giao tiếp của giáo viên và học sinh
đạt kết quả cao.
 Định hướng trong quá trình giao tiếp.
Thực chất là sự thành lập các thao tác trí tuệ cơ động, linh hoạt của chủ thể
giao tiếp cho phù hợp với những thay đổi liên tục của thái độ, hành vi, cử chỉ,
nội dung ngôn ngữ ... mà đối tượng giao tiếp phản ứng trong quá trình giao tiếp.
Có thể định hướng trước và thời gian đầu tiếp xúc giống nhau, nhưng trong quá
trình giao tiếp do nhiều nguyên nhân khác nhau, đối tượng giao tiếp thay đổi
quan điểm, chính kiến, thái độ, nhu cầu ... thì chủ thể giao tiếp phải thay đổi
hướng tiếp xúc để đạt mục đích của quá trình giao tiếp.
b. Nhóm kỹ năng nhận biết những dấu hiệu bên ngoài của học sinh:
Nhóm kỹ năng nhận biết những dấu hiệu bên ngoài của học sinh được khái
quát thành hai dấu hiệu:

• Nhóm dấu hiệu bên ngoài. Được nhận biết bằng dấu hiệu cảm tính,
những dấu hiệu này như: chiều cao, dáng, đầu, tóc, răng, miệng, tay
chân, quần áo... giới tính, lứa tuổi...
• Nhóm dấu hiệu về nhân cách: tính tình, trí tuệ, xúc cảm, tình cảm, đạo
đức...

Kỹ năng nhận biết những dấu hiệu bên ngoài là nhằm xây dựng được “mô hình
nhân cách” chính xác về đối tượng giao tiếp để quá trình giao tiếp đạt hiệu quả
cao.
c. Kỹ năng định vị:
Kỹ năng định vị là kỹ năng xây dựng “mô hình hóa tâm lý”, “phác thảo chân
dung tâm lý” về đối tượng giao tiếp một cách tương đối chính xác và ổn định.
Kỹ năng này có một số đặc điểm:

• Phác thảo chân dung tâm lý tương đối ổn định về đối tượng giao tiếp.
• Nhờ đó mà chủ thể giao tiếp ứng xử phù hợp với nhu cầu, mong muốn
của đối tượng giao tiếp.

Nội dung chủ yếu của kỹ năng này là phác thảo về dấu hiệu nhân cách, vị trí
của học sinh trong các quan hệ xã hội. Đồng thời nó còn xác định những xu
hướng của nhân cách đối tượng giao tiếp.
Nhờ kỹ năng này con người mới đồng cảm được với nhau, chia ngọt xẻ bùi
cùng với nhau.
d. Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp:
Cổ nhân đã từng hướng dẫn con người tự điều khiển mình trong các trường
hợp ứng xử khó khăn: “ Xử những việc khó xử, càng nên khoan dung; xử với
người khó xử càng nên trung hậu; xử những buổi khó khăn, ngờ vực... càng
nên tự nhiên như vô tâm ”
Để điều khiển quá trình giao tiếp, giáo viên phải biết “đọc được qua nét mặt,
ngôn ngữ, xúc cảm, biểu cảm, qua cử chỉ, điệu bộ, dáng đi... biết học sinh muốn
gì? có nhu cầu gì?
Trong nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp gồm các thành phần sau:

• Biết phát hiện (bằng mắt quan sát) những thay đổi trên nét mặt, cử chỉ,
điệu bộ... sự vận động của toàn cơ thể của đối tượng giao tiếp. Những cử
chỉ, ánh mắt ngượng ngùng, lúng túng không ăn nhập, không hợp lí... đều
ẩn dấu một thái độ,một ý nghĩa nhất định.
• Biết nghe. Ta phải biết lắng nghe, nghĩa là biết tập trung chú ý để lắng
nghe đối tượng giao tiếp nói, để hiểu nội dung ngôn ngữ nói.
• Biết xử lí thông tin. Trong khi nhìn, nghe, tiếp nhận thông tin từ phía học
sinh, giáo viên phải có quá trình sànglọc, đối chiếu, so sánh các loại thông
tin vốn có trong kinh nghiệm của mình, trong đầu óc của mình nhằm kiểm
nghiệm, đánh giá các loại thông tin đó.
• Biết điều khiển. Biết điều khiển, nghĩa là có hành vi ứng xử phù hợp, khoa
học, đúng, chính xác với nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của đối
tượng giao tiếp trong hoạt động sư phạm.

Biết điều khiển là người có khả năng linh hoạt, uyển chuyển, cơ động trong
hành vi ứng xử của chủ thể cho phù hợp với những thay đổi nhỏ của đối tượng
giao tiếp.
Để điều khiển tốt quá trình giao tiếp, chủ thể giao tiếp còn phải biết lựa chọn
thời cơ, giới tính, lứa tuổi, trình độ nhận thức... của đối tượng giao tiếp.
e. Kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp:
Phương tiện ngôn ngữ.
Ngôn ngữ nói.
Ngôn ngữ nói là phương tiện được sử dụng nhiều nhất, có hiệu quả cao trong
quá trình giao tiếp sư phạm, đặc biệt trên lớp học. Có hai hình thức sử dụng:
Ngôn ngữ độc thoại: Ngôn ngữ độc thoại là hình thức nói của một người,
những người khác chỉ nghe, đó là hình thức thầy giáo giảng bài, học sinh
nghe.Để giao tiếp sư phạm trên lớp có hiệu quả, ngôn ngữ nói của thầy cô cần
đạt được những yêu cầu sau:

• Dễ hiểu, mạch lạc, rõ ràng, dễ nhớ.
• Lời giảng xúc tích, có nhiều thông tin hữu ích.
• Đảm bảo được tính hợp lý, khoa học, hệ thống trong bài giảng và phù hợp
với học sinh.
• Cách nói của thầy phải hấp dẫn học sinh.
• Phải có kỹ năng làm chủ lời nói của mình.

Muốn vậy, giáo viên cần lưu ý:

• Phải nắm vững nội dung bài giảng một cách nhuần nhuyễn.
• Được luyện tập, rèn luyện nói nhiều lần.
• Nói phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh.

Ngôn ngữ đối thoại:
Ngôn ngữ đối thoại là hình thức thầy cô hỏi, học sinh trả lời hoặc ngược lại.
Đặc điểm của ngôn ngữ đối thoại:

• Ngắn gọn, dễ hiểu.
• Nằm trong văn cảnh, hoàn cảnh cụ thể.
• Có nội dung cụ thể.
• Rút gọn, khái quát cao.

Ngôn ngữ Viết:

• Ngôn ngữ viết trên bảng: Cần phải trình bày bảng một cách khoa học để
giúp học sinh dễ hiểu bài, dễ ghi bài, theo dõi bài một cách hệ thống.
• Ngôn ngữ viết vào bài vở, kiểm tra của học sinh: Ngôn ngữ giao tiếp qua
chữ viết vào vở, bài kiểm tra của học sinh có ý nghĩa khích lệ, động viên,
đánh giá sự hiểu bài ở mức độ khác nhau của các em.

Khi viết lời phê, giáo viên cần lưu ý:

• Chữ viết rõ ràng, dễ đọc, rõ ý nghĩa của lời phê.
• Cách viết rõ ý, ví dụ: bài làm tốt, khá, kém...
• Có thể nhận xét tỉ mỉ hơn về nội dung tri thức, công thức, bài tập nào đó.
• Có thể sửa chửa công thức, lời văn... bằng viết đỏ để học sinh dễ nhận ra
chỗ sai, đúng của mình.
• Nếu nhận xét vào vở thì nên ghi cả ngày tháng nhận xét để học sinh ý
thức rõ mức độ phấn đấu của mình trong học tập.

Phương tiện phi ngôn ngữ:
Điệu bộ, cử chỉ, tư thế, dáng đi, đứng... Giao tiếp phi ngôn ngữ là những biểu
hiện thông qua cơ thể như cử chỉ, tư thế, điệu bộ hoặc một số đồ vật gắn với cơ
thể như: nón, áo, quần, kính... Thường khi giảng bài mới, tốt nhất là tư thế
đứng, mắt hướng về phía học sinh, miệng thoáng nở nụ cười hiền dịu, tay ghi
bảng, đứng chếch người về bên phải bảng để học sinh dễ theo dõi, ghi bài. Khi
kiểm tra tốt nhất là ngồi trên bục giảng để quan sát các em làm bài, có thể ngồi
ở cuối lớp, thỉnh thoảng có thể đi lại trong lớp để quan sát các em làm bài. Cần
tránh đi lại quá nhiều làm cho sự chú ý của học sinh căng thẳng. Điệu bộ, cử chỉ
dù vận động như thế nào cũng ần giữ được một thái độ thiện cảm với các em,
với thiện ý tốt, luôn luôn đứng về vị trí của các em mà đồng cảm với trình độ
nhận thức của các em.
Các vật dụng giáo viên sử dụng trong giao tiếp: Trong giao tiếp, ngoài ngôn ngữ
và các cử động của cơ thể, giáo viên còn sử dụng các vật dụng khác như: đồ
dùng giảng dạy, sơ đồ, biểu đồ, công thức, các ký hiệu tượng trưng khác giúp
học sinh hiểu bài, hiểu ý thầy trên lớp học.
Ví dụ: Thầy gõ thước lên bàn, bảng là muốn lưu ý học sinh giữ trật tự; hoặc
muốn nhắc nhở một em học sinh nào đó vi phạm nội quy học tập.



Phần II: Một số bài tập thực hành kỹ năng giao tiếp

CHƯƠNG I: MỘT SỐ TRẮC NGHIỆM TÂM LÝ LIÊN QUAN ĐẾN
GIAO TIẾP
Trước khi tự thực hiện bài tập rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Anh (chị) hãy làm một
số thực nghiệm để tìm hiểu mức độ nhu cầu giao tiếp, mức độ cởi mở và khả
năng giao tiếp của chính bản thân mình.
Trắc nghiệm nhu cầu giao tiếp
a. Mục đích: Thử tìm hiểu nhu cầu giao tiếp
b. Dụng cụ: Giấy, bút
c. Cách tiến hành:
Anh chị hãy trả lời các câu hỏi sau, nếu thấy phù hợp với ý kiến của mình thì ghi
chữ "đúng", nếu không tán thành thì ghi chữ "không", không cần bổ sung gì hết.
Sau khi đọc câu hỏi thấy xuất hiện trong đầu ý nghĩ đầu tiên là "đúng" hay
"không" thì ghi ngay không cần phải ghi lâu. Hãy trả lời từng câu hỏi theo đúng
thứ tự đã cho. Có thể gặp một số câu hỏi khó nhưng vẫn cứ trả lời dứt khóat là
"đúng" hay "không". Hãy thể hiện ý kiến tự do của mình bởi vì ở đây không có
câu trả lời là tốt hay không tốt.
Sau khi trả lời xong, bạn đối chiếu kết quả với bảng sẽ cho ở cuối bản câu hỏi
để tự cho điểm và phân tích nhu cầu giao tiếp của mình từ mức độ 1 đến 5.
Test “ đo ” nhu cầu giao tiếp (PO)
STT Câu hỏi thực nghiệm Trả lời

1. Tham gia vào các ngày kỉ niệm làm tôi rất vui mừng.
2. Tôi có thể nén lại những ý muốn, nếu chúng mâu thuẫn với những mong
muốn của các bạn tôi.
3. Tôi thích bày tỏ sự thiện cảm của mình đối với một người nào đó.
4. Tôi chú ý nhiều đến việc gây ảnh hưởng hơn là tình hữu nghị.
5. Tôi cảm thấy rằng trong quan hệ với bạn của mình tôi có quyền hơn là có
trách nhiệm.
6. Khi tôi được biết về thành tích của bạn tôi, không hiểu vì sao tôi cảm thấy
kém vui.
7. Để được thỏa mãn, tôi cần phải giúp đỡ ai một điều gì đó.
8. Những boăn khoăn, lo lắng của tôi sẽ mất đi khi tôi đang ở chỗ những bạn
đồng nghiệp
9. Tôi ớn các bạn của tôi lắm rồi
10. Khi tôi làm một công việc rất quan trọng, sự có mặt của các bạn tôi làm tôi
rất bực mình.
11. Khi bị dồn vào thế bí, tôi cũng chỉ nói ra một phần sự thật, mà theo tôi
không có hại gì cho các bạn và các người quen biết
12. Trong hoàn cảnh khó khăn, tôi không chỉ nghĩ nhiều về bản thân mà chủ
yếu là về những người thân của mình.
13. Nỗi đau buồn của bạn tôi làm tôi thương đến nổi có thể sẽ bị ốm.
14. Tôi thích giúp đỡ mọi người, ngay cả khi điều đó gây cho tôi những khó
khăn lớn.
15. Vì tôn trọng đối với bạn, tôi có thể tán thành ý kiến của anh ta ngay cả khi
bạn đó không đúng.
16. Tôi thích những câu chuyên thám hiểm hơn những câu chuyện về tình
yêu.
17. Những cảnh bạo lực trong phim làm tôi kinh tởm
18. Khi có một mình tôi thường lo lắng, căng thẳng hơn khi ở giữa mọi người.
19. Tôi cho rằng niềm vui cơ bản trong cuộc sống là sự giao tiếp.
20. Tôi rất thương những con chó và con mèo hoang.
21. Tôi thích có ít bạn thôi nhưng mà thân thiết.
22. Tôi thích thường xuyên ở chỗ các bạn bè.
23. Tôi bị xúc động lâu, sau lần cãi cọ với người thân.
24. Chắc chắn là tôi có nhiều người thân hơn những người khác.
25. Đối với tôi thì lòng mong muốn đạt được kết quả (thành tích) lớn hơn là
tình hữu nghị.
26. Tôi tin vào linh tính và tưởng tượng của tôi khi nhận xét về người khác
hơn là phán đoán họ từ phía mọi người.
27. Tôi coi trọng sự sung túc về vật chất và uy tín có ý hơn là sự sung sướng
khi được tiếp xúc với những cởi mở đối với mình.
28. Tôi rất thông cảm đối với những người không có bạn thân.
29. Trong quan hệ đối với tôi, người ta thường vô ơn.
30. Tôi thích những câu chuyện về tình cảm hào hiệp và hữu nghị.
31. Vì bạn bè, tôi có thể hi sinh quyền lợi của mình.
32. Hồi còn nhỏ tôi ở trong nhóm mà thường xuyên cùng ở với nhau.
33. Giả sử tôi là nhà báo, tôi rất thích viết về sức mạnh của tình yêu và tình
hữu nghị.

d. Cách cho điểm ở test PO và tính kết quả.
Cho một điểm mỗi câu trả lời "đúng" ở những câu sau : 1,2,7,8,11, 12, 13, 14,
17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 26, 28, 30, 31, 32, 33.
Cho một điểm mỗi câu trả lời "đúng" ở những câu sau :3, 4, 5, 6, 9, 10, 15, 16,
25, 27, 29.
Sau đó tính tổng số điểm và phân loại theo bảng chuẩn dưới:
Mức độ Các loại mức độ
Giới Mức I Mức II Mức III Mức IV Mức V
Nam 3-21 22-23 24-25 25-26 26-28
Nữ 9-23 25-26 27-28 29-30 30-31
Dựa vào kết quả của mình, đối chiếu với bảng chuẩn anh (chị) có thể so sánh
mức độ nhu cầu giao tiếp của bản thân với những người khác cùng tham gia
trắc nghiệm.

Trắc nghiệm khả năng giao tiếp của V.I.Dakharov
a. Mục đích: Thử tìm hiểu những khả năng tiềm tàng trong giao tiếp của mỗi cá
nhân. Qua trắc nghiệm mỗi người thấy được cái mạnh, cái hạn chế của mình
trong quan hệ giao tiếp.
b. Dụng cụ: Giấy, bút
c. Cách tiến hành:

• Sau khi đọc kĩ từng câu hỏi và câu trả lời tương ứng a, b, c, nếu câu trả
lời phù hợp với bạn sẽ đánh dấu " +" trên bảng ghi kết quả tương ứng.
• Không mất nhiều thời gian suy nghĩ khi trả lời. Thời gian dùng để trả lời
tất cả các câu hỏi là 30 phút.
• Không gạch, xóa và ghi gì trên các câu hỏi, chú ý kiểâm tra số thứ tự câu
hỏi và trả lời trên bảng ghi kết quả cho phù hợp, tránh nhầm lẫn, bỏ sót.

Mong các bạn trả lời đầy đủ, chính xác, trung thực để nghiệm thu được kết quả
tốt.
1. Tiếp xúc quan hệ với mọi ngưòi dễ dàng và tự nhiện.
a.đúng b.đôi khi c. Không đúng
2. Khi giao tiếp tôi biết kết hơp hài hòa nhu cầu sở thích của mình và mọi người
a.đúng b. Không hoàn toàn c. Không
3. Tôi ít suy nghĩ việc riêng và chú ý nghe khi tiếp xúc, nói chuyên với người
khác.
a.đúng b.đôi khi c. Không
4. Không dễ dàng tự kiềm chế mình khi người khác trêu chọc, nói xấu tôi.
a.Đúng b. Hiếm khi c. Không
5. Tôi cảm thấy ái náy khi xen vào câu chuyên của người khác
a.Đúng b. Còn tuỳ người c. Không
6. Mọi người cho rằng tôi hấp dẫn, có duyên.
a.Đúng b. Không hoàn toàn c. Không
7. Tôi gặp khó khăn khi phải tiếp thu ý kiến, quan điểm của người khác.
a.Đúng b. Gần như thế c. Không
8. Trong tiếp xúc, tôi không cố dùng tình cảm để tranh thủ sự đồng tình của
người khác.
a.Đúng b. Không hoàn toàn c. Không
9. Tôi có thể tự mình duy trì được nề nếp trong cơ quan, trong tổ chức của
mình.
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
10. Tôi rất áy náy khi làm phiền người khác.
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
11. Tôi thường cúi đầu hoặc quay mặt hướng khác khi tiếp xúc với người lạ.
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
12. Nói chuyện với bạn bè không cần phải chú ý đến nhu cầu, sở thích của họ
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
13. Tôi cảm thấy có thể nhắc lại bằng lời của mình những gì mà người tiếp xúc
đã nói
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
14. Tôi khó mà giữ được bình tĩnh khi tiếp xúc với người có định kiến chụp mũ
tôi
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
15. Không phải ai cũng biết rõ ngay là mình phải làm gì, khi nào và làm như thế
nào, vì thế cần phải chỉ dẫn khuyên bảo họ ngay
a.Đúng b. Không hoàn toàn c. Không
16. Täôi thường diễn đạt ngắn gọn ý kiến của mình
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
17. Thậm chí khi người nói chuyên đưa ra lý lẽ tôi cũng không chú ý và thường
bỏ ngoài tai
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
18. Tôi thường " nói có sách mách có chứng" khi tranh luận
a.Đúng b.Còn tuỳ lúc c. Không
19. Khi tôi tin điều gì đó 100%, tôi cũng không nói như đinh đóng cột
a.Đúng b.Đôi khi c . Không
20. Không phải lúc nào tôi cũng biết được thái độ đối xử của người khác với tôi
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
21. Tôi không đồng tình với những người niềm nở ngay lập tức khi tiếp chuyện
với những người chưa quen lắm.
a.Đúng b.Khó trả lời c. Không
22. Tôi khôngthú vị khi quan tâm đến công việc của người khác
a.Đúng b.Còn tuỳ lúc c. Không
23. Tôi có thể diễn đạt chính xác ý đồ của người nói chuyện khi họ tiếp xúc với
tôi.
a.Đúng b.Còn tuỳ lúc c. Không
24. Tôi thường không bình tĩnh lắm khi tranh cãi
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
25. Kinh nghiệm cho thấy rằng tôi biết cách an ủi người đang có điều lo lắng,
buồn phiền
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
26. Tôi không thích nhiều lời vì rằng đằng sau những lời lẽ ấy chẳng có gì đàng
chú ý cả
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
27. Những vấn đề không giải quyết được, vì mọi người không chịu nhường nhịn
nhau khi tranh luận
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
28. Tôi chưa học được cách thuyết phục có hiệu quả người khác
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
29. Tôi bíêt cách xây dựng bầu không khí tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau trong cơ
quan
a.Đúng b.Không tin tưởng lắm c. Không
30. Ngay laop tức tôi không thể thờ ơ, lãnh đạm khi tháy đứa trẻ khóc
a.Đúng b.Hiếm khi c. Không
31. Trong giao tiếp, mở đầu câu chuyện đối với tôi rất khó khăn
a.Đúng b.Còn tuỳ lúc c. Không
32. Tôi ít khi có ý định tìm hiểu ý đồ của người khác khi họ tíêp xúc với tôi
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
33. Tôi hay để ý đến chỗ ngập ngừng, lưỡng lự, khó nói của người nói chuyện
vì những chỗ đó cho tôi nhiều thông tin quan trọng về họ hơn cả những gì họ
nói ra
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
34. Mọi người nói rằng tôi không có khả ănng tự chủ cảm xúc khi tranh luận
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
35. Tôi có cách ngăn cản người hay nói
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
36. Tôi luôn học cách nói gọn gàng, sáng sủa, dễ hiểu
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
37. Không nên giữ khư khư ý kiến nếu biết rằng nó chỉ sai lầm trong khi tranh
luận
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
38. Nếu người khác có ý kiến trái ngược, tôi sẽ thuyết phục họ
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
39. Tôi thường tổ chức, đề xướng các hoạt động tập thể và các cuộc vui của
bạn bè
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
40. Tôi rất nhạy cảm với nổi đau của bạn bè, người thân
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
41. Tôi cần nhiều thời gian để thích nghi với đơn vị mới
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
42. Nhiều việc mà người khsc quan tâm, tôi cũng để ý
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
43. Trong thực tế thường xảy xa là người nói chuyện một đằng, còn tôi biết họ
ngụ ý về vấn đề gì
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
44. Mọi người đã làm tôi mất cân bằng cảm giác
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
45. Tôi không biết làm cách nào ngăn cản người hung hăng trong khi tranh luận
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
46. Tôi có kỹ năng diễn đạt nguyện vọng của mình một cách ngắn gọn
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
47. Nhiều khi tôi nhận thấy đại đa số, người ta giữ nguyên ý kiến của mình đến
cùng khi tranh luận
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
48. Thực tế cho thấy tôi thuyết phục lại người nói chuyện với mình không khó
khăn lắm
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
49. Trongnói chuyện tôi thường giữ vai trò tích cực, sôi nổi
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
50. Điều khó chịu của người thân làm tôi áy náy, buâng khuâng khá lâu
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
51. Tôi không bao giờ từ chói tiếp xúc với người lạ
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
52. Nếu quan tâm, để ý tới tất cả những gì mà người làm thì chỉ tốn thời giờ vô
ích mà thôi
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
53. Đôi khi mọi người nói rằng tôi không quan tâm tới bạn bè lắm
a.Đúng b.Khó trả lời c. Không
54. Tôi biết tự kiềm chế mình
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
55. Khi người càng lúng túng, bối rối, toi càng ít tác động vào họ
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
56. Không phải lúc nào tôi cũng diễn đạt suy nghĩ của mình dễ hiểu, ngắn gọn
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
57. Tiếc rằng nhiều người hay thay đổi quan điểm khi nghe ý kiến của người
khác
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
58. Người ta cho rằng tôi hơn hẳn họ trong việc thuyết phục người khác
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
59. Khi giải quyết việc gì trong tập thể, tôi cố gắng hướng mọi người tập trung
dứt điểm vào việc đó
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
60. Nhiều lần người ta nói rằng tôi không nhạy cảm với thái độ tiếp xúc của
người khác
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
61. Täôi không gặp khó khăn khi tiếp xúc với (đại đa số mọi người) đám đông
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
62. Không hiểu người khác muốn gì thì không thể nói chuyện với người đó có
kết quả được
a.Đúng b.Không hẳn thế c. Không
63. Tôi khó tập trung theo dõi lời người khác nói chuyện
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
64. Mọi người khó lòng làm tôi mất bình tĩnh
a.Đúng b.Còn tuỳ lúc c. Không
65. Khi người nói chuyện bị xúc động chi phối, tôi không làm họ ngừng lời
a.Đúng b.Còn tuỳ lúc c. Không
66. Tôi cảm thấy nhiều người nói chuyện rời rạc, không chính xác cần phải uốn
nắn cho họ ngay
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
67. Tôi rất ngạc nhiên vì nhiều người không để ý đến thái độ phản ứng của
người nói chuyện
a.Đúng b.Khó trả lời c. Không
68. Nếu tôi cần thuyết phục người nào đó thì tôi thường thành công
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
69. Tôi hay thiếu tự tin khi nói chuyện
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
70. Tôi không thường xuyên " nắm bắt " được trạng thái của người khác
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
71. Tôi biết cách làm cho người lạ gần gũi tôi hơn
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
72. Tôi thường cố gắng tìm hiểu nhu cầu của người khác
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
73. Tôi biết ngay khi người nói chuyện lạc đề
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
74. Nhiều người nói rằng họ muốn giữ cách bình tĩnh như tôi
a.Đúng b.Còn tuỳ lúc c. Không
75. Tôi thường buộc phải giương lên những đặc điểm mấu chốt, hốc búa trong
khi tranh lụân
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
76. Tôi không hài lòng về mình vì còn nói hơi nhiều
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
77. Tôi gặp phải khó khăn khi thay đổi quan điểm trong tình thế câu chuyện đã
theo hướng khác
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
78. Tôi không thể làm cho người khác đồng tình với quan điểm của tôi cả khi họ
không tin vào chính mình nữa
a.Đúng b.Không hoàn toàn c. Không
79. Tôi không có tham vọng đóng vai trò chủ chốt trong tập thể
a.Đúng b.Đôi khi c. Không
80. Nếu ai đó cạnh tôi mà đau khổ, buồn phiền thì tôi cũng cảm thấy động lòng
a.Đúng b.Đôi khi c. Không, Xin chân thành cảm ơn bạn
d. Cách xử lý phân tích số liệu
Trắc nghiệm khả năng giao tiếp của Dakharov bao gồm các khả năng cụ thể
sau đây:
Khả năng thiết lập mối quan hệ bao gồm các tình huống: 1, 11, 21, 31, 41, 51,
61, 71.
Khả năng nghe đối tượng giao tiếp bao gồm các tình huống: 3, 13, 23, 33, 43,
53, 63, 73.
Năng lực tự chủ cảm xúc hành vi bao gồm các tình huống: 5, 15, 25, 35, 45, 55,
65, 75.
Kỷ năng diễn đạt dễ hiểu cụ thể bao gồm các tình huống: 6, 16, 26, 36, 46, 56,
66, 76.
Khả năng linh hoatj, mềm dẻo trong giao tiếp bao gồm các tình huống: 7, 17, 27,
37, 47, 57, 67, 77.
Năng lực thuyết phục đối tượng giao tiếp bao gồm các tình huống: 8, 18, 28, 38,
48, 58, 68, 78.
Năng lực chủ động, điều khiển quá trình giao tiếp bao gồm các tình huống sau:
9, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79.
Nhạy cảm trong giao tiếp bao gồm các tình huống: 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70,
80.
e. Cách tính điểm:
Mäùỗi câu hỏi tình huống có 3 mức điểm: 0, 1, 2.
Điểm 0: Ứng vớùi không có dấu hiệu của năng lực tương ứng
Điểm 1: Năng lực xuất hiện không thường xuyên, đôi khi
Điểm 2: Có năng lực tương ứng và được thể hiện thường xuyên trong nhiều
trường hợp
Điểm lý thuyết "lý tưởng" cao nhất có thể đạt được là 16, điểm thấp nhất có thể
xảy ra là 0 ở từng kỹ năng.

Trắc nghiệm xác định độ cởi mở của cá nhân
a) Mục đích: đo mức độ cởi mở của cá nhân.
b) Dụng cụ: Giấy, bút.
c) Các thức tiến hành:
Bạn hãy trả lời các câu hỏi sau một cách hoàn toàn thoải mái sau khi đọc và
hiển câu hỏi. Nếu thấy phù hợp với mình thì bạn đánh dấu (+) vào các cột có
chữ "đúng"; nếu có một số lần đúng thì bạn đánh dấu (-) vào cột có chữ "đôi khi"
và thấy không phù hợp thì đánh dấu (-) vào cột có chữ "không đúng". Trong mỗi
câu hỏi chỉ được đánh vào một trong 3 cột nói trên. Sau khi trả lời chính xác bạn
sẽ nhận được thông tin về mình.
Số Trả lời
Câu hỏi
TT Đúng Đôi khi Không
Khi có những cuộc hẹn gặp thông
thường hay để giải quyết công việc thì
1 sự chờ đợi cuộc gặp gỡ đó đã làm cho
bạn bị đảo lộn nề nép sinh hoạt bình
thường có phải không?
Bạn thường trì hoãn việc đi khám bệnh
2 cho đến khi không thể chịu đựng được
nữa có phải không?
Được giao nhiệm vụ báo cáo hay phát
biểu trong cuộc hợp thì điều đó gây ra
3
cho bạn nổi lo lắng, bối rối có phải
không?
Người ta cử bạn đi công tác đến một
thành phố hoàn toàn xa lạ. Bạn cố gắng
4
hết sức tìm mọi cách để tránh đợt đi đó
có phải không?
Bạn thường thích chia sẽ nỗi buồn hay
5 niềm vui của mình với ai đó có phải
không?
Bạn có cảm thấy khó chịu khi có người
lạ trên đường phố xin bạn chỉ đường,
6
hỏi giờ hoặc đề nghị trả lời một vấn đề
gì đó có phải không?
Bạn tin rằng có vấn đề xung đột giữa
cha và con, và con người của các thế
7
hệ khác nhau là rất khó có thể hiểu biết
lẫn nhau được có phải không?
Bạn e ngại khi phải nhắc người quen trả
8 bạn mười ngàn đồng mà bạn đã cho
vay cách đây mấy tháng có phải không?
Trong nhà ăn tập thể hay ở cửa hàng ăn
uống, người ta đem đến bàn ăn cho bạn
9 một dĩa thức ăn bị ối. Bạn chỉ đẩy chiếc
đĩa đó ra xa mà không nói năng gì cả có
phải không?
Khi có một người bạn ngồi đối diện với
một người lạ, bạn không nói gì với họ
10 mà cảm thấy rất nặng nề nếu anh ta
không bắt đầu nói chuyện trước với
mình. Có đúng như vậy không?
11 Bạn định mua vé xem phim, nhưng bạn
nhìn thấy mọi người xếp hàng dài trước
cửa bán vé. Bạn thường từ bỏ ý định
của mình vì không muốn đứng cuối
hàng và khổ sở vì phải chờ đợi, có phải
như vậy không?
Bạn thường ngại tham gia vào một ban
12 hòa giải những tình trạng bất đồng giữa
mọi người có phải không?
Bạn có tiêu chuẩn riêng khi đánh giá các
tác phẩm văn học nghệ thuật, kể cả các
13 ý kiến nào đó, nhưng rốt cuộc bè bạn
không thừa nhận đúng. Đã thường xảy
ra như vậy có phải không?
Khi nghe được ở đâu đó ( ngoài hành
lang chẳng hạn) những câu chuyện thể
hiện cách nhìn nhận sự vật một cách sai
14 lầm mà bạn đã biết rất rõ ràng. Tuy
nhiên, bạn vẫn im lặng mà không tham
gia vào cuộc tranh luận đó.có phải như
vậy không?
Bạn thường bực mình về những yêu
15 cầu giúp đỡ của ai đó về sinh hoạt hay
học tập có phải không?
Bạn thích trình bày ý kiến, quan điểm,
16 sự đánh giá của mình bằng hình thức
viết hơn là nói có phải không?
Bạn thích trình bày ý kiến, quan điểm, sự đánh giá của mình bằng hình thức viết
hơn là nói có phải không?
c. Cách tính điểm theo test nói trên:

• Mỗi câu trả lời "đúng" được 2 điểm.
• Trả lời "đôi khi" được 1 điểm.
• Trả lời "không" được 0 điểm.

Bảng phân chia mức độ cởi mở của cá nhân:
Mức độ I II III IV V VI VII
Điểm 30-32 25-29 19-24 14-18 9-13 4-8 0-3
d. Phân tích kết quả
Đối chiếu tổng số điểm với các mức độ sau sẽ cho một số thông tin về bản thân:

• Mức 1 ( từ 30-32 điểm): Bạn là người không thích giao tiếp. Điều đó thật
bất hạnh vì bạn phải tự mình chịu đựng tất cả. Mọi người không dễ dàng
gần gũi được với bạn. Bạn khó trông cậy vào những công việc đòi hỏi sức
lực của nhóm. Bạn hãy kiểm tra lại mình và hãy cố gắng trở thành người
cởi mở hơn trong quan hệ với mọi người.
• Mức II ( từ 25-29 điểm): Bạn là người kín đáo, ít nói chuyện, thích cô đơn
và vì vậy ở bạn có ít bạn bè. Những công việc mới và những cuộc tiếp
xúc mới cần thiết nếu không đẩy bạn vào nổi kinh hoàng thì cũng làm cho
bạn mất bình tĩnh khá lâu. Bạn biết mình có đăhc điểm này và thường
không bằng lòng về bản thân mình. Bỗng nhiên, có một lúc nào đó bạn
thích có sự tiếp xúc nhiều nhưng chỉ là để bớt phiền muộn mà thôi
• M ức III (từ 19-24 điểm): Rõ ràng bạn là một người cởi mở và trong hoàn
cảnh không quen biêt bạn vẫn cảm thấy hoàn toàn yên tâm. Bạn không bị
đe doạ bởi những vấn đề mới mẽ. Bạn thường kết bạn có cân nhắc cẩn
thận và không tự nguyện tham gia vào các cuộc tranh luận với những
người lạ trong những câu chuyện của anh thường dư thừa những câu
châm biếm về bất kì lĩnh vực nào. Đây là những thiếu sót cần phải được
sửa chữa
• M ức IV (từ 14-18 điểm): Mức độ giao tiếp, tính cởi mở ở anh ( chị) là vừa
phải. Anh (chị) là người ham hiểu biết, tự nguyện lắng nghe những cuộc
chuyện trò lý thú thân mật trong giao tiếp với người khác và sẵn sàng rút
lui quan điểm của mình mà không cáo gắt. Bạn không gây ra những trạng
thái khó chịu trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với những người lạ, đồng thời
cũng không thích những nhóm người ồn ào và rời bỏ những người nhiều
lời gây ra những kích động đối với bạn.
• Mức V ( từ 9 - 13 điểm): Bạn là người rất cởi mở, là người hiếu kì ( tò mò)
thích chuyện trò, thích thể hiện những vấn đề khác nhau và thường gây ra
kíhc thích đối với mọi người xung quanh; tự nguyện làm quen với những
người mới gặp; thích mình trở thành trung tâm của sự chú ý của mọi
người; không từ chối yêu cầu của bất cứ ai mặc dù không phải bao giờ
bạn cũng có thể thực hiện được các yêu cầu đó. Bạn thường nổi nóng
nhưng lại nguộingay. Bạn có nhược điểm sau: tính tình dễ "bốc" nhưng
dễ "xẹp" ít kiên nhẫn đối với những ván đề đòi hỏi tính cần mẫn và
nghiêm túc. Tuy nhiên, khi muốn bạn sẽ có thể không lùi bước.
• Mức VI ( từ 4-8 điểm): Có lẽ bạn là con người tẳhng ruột ngựa, tính cởi
mở như là bản tính của bạn. Bạn thường có mặt ở mọi công việc, thích
tham gia vào tất cả các cuộc tranh luận, mặc dù những đề tài nghiêm túc
có thể gây ra đau đầu cho bạn và thậm chí làm cho bạn buồn chán. Bạn
thường tự nguyện giữ lời hứa về bất cứ vấn đề gì, ngay cả vấn đề có ý
đùa cợt, ở đâu bạn cũng thấy không yên tâm, giữ được công việc bất kì,
mặc dù thường ít có thể thực hiện được nó đến cùng. Vì thế người lãnh
đạo và tập thể thường nghi ngờ và thận trọng khi giao việc cho bạn. Bạn
hãy suy nghĩ về thực tế này để sửa chữa.
• Mức VII (từ 0-3 điểm): Tính hay tiếp xúc của bạn mang tính chất bệnh lý.
Bạn là ngươi nói nhiều, lắm lời gây cản trở cả những công việc không có
liên quan gì đến bạn. Bạn thường vơ lấy việc để phán đoán về các vấn đề
mà bạn hoàn toàn chẳng có hiểu biết gì về nó cả. Bạn vô tình hay hữu ý,
bạn thường là nghuyên nhân gây ra các xung đột khác nhau cho những
người xung quanh, bạn hay phát khùng, giận giữ một cách vô cớ. Bạn
không có được những công việc nghiêm túc. Mọi người cảm thấy khó
chịu về bạn ở nơi công tác, ở gia đình hay ở bất cứ đâu. Vâng, đúng như
thế đó, vì vậy bạn hãy tự rèn luyện tính cách của mình. Trước hết hãy tự
giáo dục tính kiên trì. Tính điềm tĩnh, thaiù độ kính trọng người khác và
cuối cùng hãy chú ý đến sức khoẻ và loại bỏ những cách sống như trên.


Test về khả năng giao tiếp
a) Mục đích : thử phát hiện khả năng giao tiếp của cá nhân.
b) Dụng cụ : giấy, bút.
c) Cách thức tiến hành : Để tự đánh gía về khả năng giao tiếp của bản thân và
giúp cho việc rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, anh (chị) hãy thử làm thực
nghiệm đối với mình bằng cách trả lời các câu hỏi sau (trong bản câu hỏi), nếu
thấy phù hợp với ý kiến của mình thì ghi chữ “đúng”, nếu không phù hợp thì ghi
chữ “không”.
Trong quá trình trả lời cần chú ý một số điểm sau :

• Sau khi đọc và hiểu ý câu hỏi thì trả lời ngay tức khắc, không cần suy
nghĩ lâu và không nên sửa chửa câu trả lời.
• Câu trả lời cần theo thứ tự và đầy đủ cho các câu hỏi.
• Trả lời càng chính xác, trung thực, anh (chị) càng nhận được thông tin
đúng về bản thân.

Bản câu hỏi
Số
Câu hỏi Trả lời
TT
Kinh nghiệm cho thấy rằng tôi biết cách
1 an ủi người đang có điều gì lo lắng,
buồn phiền.
Tôi hay suy nghĩ việc riêng và ít chú ý
2 nghe khi tiếp xúc, nói chuyện với người
khác.
3 Tôi tiếp xúc, quan hệ với mọi người dễ
dàng và tự nhiên.
4 Mọi người cho rằng tôi nói hấp dẫn.

5 Khi người nói chuyện càng lúng túng,
bối rối, tôi càng ít tác động vào họ.
6 Tôi có thể diễn đạt chính xác ý đồ của
người nói chuyện khi họ tiếp xúc với tôi.
7 Tôi biết cách làm cho người lạ gần gũi
tôi hơn.
8 Tôi thường diễn đạt ngắn gọn ý kiến của
mình.
9 Nếu người khác có ý kiến trái ngược, tôi
không phí thời giờ để thuyết phục họ.
Tôi hay để ý đến những chỗ ngập
ngừng, lưỡng lự, khó nói của người nói
10 chuyện với tôi, bởi vì những chỗ đó cho
tôi nhiều thông tin quan trọng về họ hơn
cả những gì họ đã nói ra.
11 Tôi ít khi có ý định tìm hiểu ý đồ của
người tiếp xúc với tôi.
Tôi không thích nhiều lời vì đằng sau
12 những lời lẽ ấy chẳng có gì đáng chú ý
cả.
13 Nếu tôi cần thuyết phục một người nào
đó thì tôi thường thành công.
14 Tôi biết ngay khi người nói chuyện lạc
đề.
Khi không hiểu người khác muốn gì thì
15 không thể nói chuyện với người đó có
kết quả được.
16 Tôi chưa có kỹ năng diễn đạt nguyện
vọng của mình một cách ngắn gọn.
Tôi không thể làm cho người khác đồng
17 tình với quan điểm của tôi, kể cả khi họ
không tin vào chính mình nữa.
18 Tôi rất áy náy khi làm phiền người khác.
Tôi dễ dàng tự kiềm chế mình khi bị
19 người khác trêu chọc, khích bác, nói
xấu tôi.
20 Không phải lúc nào tôi cũng diễn đạt suy
nghĩ của mình một cách ngắn gọn.
Khi giải quyết việc gì trong nhóm (lớp)
21 tôi cố gắng hướng mọi người tập trung
dứt điểm việc đó.
22 Tôi rất nhạy cảm với nổi đau của bạn bè
và người thân.
23 Mọi người nói rằng tôi không có khả
năng tự chủ về xúc cảm khi tranh luận.
24 Tôi cảm thấy nhiều người nói chuyện rời
rạc, không chính xác, cần phải uốn nắn
lại cho họ ngay.
25 Trong quá trình nói chuyện tôi thường
giữ vai trò chủ động dẫn dắt các đề tài.
Nhiều lần người ta nói rằng tôi không
26 nhạy cảm đến thái độ tiếp xúc của
người khác.
27 Tiếc rằng nhiều người hay thay đổi quan
điểm khi nghe ý kiến người khác.
28 Tôi không hài lòng về mình vì còn nói
hơi nhiều.
c) Cách xử lý kết quả các câu trả lời

• Những câu trả lời “đúng” ở câu : 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 12, 13, 14, 15, 18,
19, 21, 22, 24, 25 và 27 thì mỗi câu được 1 điểm.
• Trả lời “không” ở các câu : 2, 9, 11, 16, 17, 20, 23 và 26 thì cho mỗi câu 1
điểm.
• Hãy tính điểm cho từng câu một rồi điền kết quả vào bảng (trang43).

Theo số điểm : mỗi nhóm kỹ năng được chia thành 4 mức độ :

• Mức độ cao : 7 điểm
• Mức độ tương đối cao : 5 – 6 điểm
• Mức trung bình : 3 và 4 điểm
• Mức độ thấp : 2 và 3 điểm



Nhóm I Nhóm II Nhóm III Nhóm IV
Câu hỏi/ điểm số Câu hỏi/ điểm số Câu hỏi/ Điểm số Câu hỏi/điểm số
1 2 3 4
5 6 7 8
9 10 11 12
13 14 15 16
17 18 19 20
21 22 23 24
25 26 27 28
Tổng số điểm
• Sau khi tính tổng số điểm từng nhóm và đối chiếu với các mức độ, anh
(chị) biết mình có trình độ cao hay thấp ở mỗi nhóm kỹ năng giao tiếp
(mỗi nhóm gồm 7 kỹ năng).
• Để biết chi tiết hơn nữa kỹ năng trong từng nhóm ta dựa vào sự giải thích
sau :

Nhóm I : Thể hiện tính chủ động, tích cực trong giao tiếp và bao gồm các kỹ
năng (biết hành động ) :

• Biết kiềm chế và kiểm tra người giao tiếp với mình ( câu hỏi 1, 5, 9)
• Biết thuyết phục ( 13, 17 )
• Biết chủ động, điều khiển quá trình giao tiếp ( 21, 25 )

Nhóm II: Thể hiện tính bị động trong giao tiếp :

• Biết nghe người nói chuyện với mình ( 2, 6, 10, 14 )
• Nhạy cảm trong giao tiếp ( 18, 22, 26

Nhóm III : Thể hiện sự cân bằng, phù hợp trong giao tiếp.

• Biết cách tiếp xúc và thiết lập được mối quan hệ với người khác (3, 7)
• Biết cân bằng nhu cầu của cá nhân và đối tượng trong khi tiếp xúc (11, 15
)
• Biết tự chủ về xúc cảm và hành vi của mình trong giao tiếp ( 19, 23 )
• Biết thay đổi cần thiết trong quá trình giao tiếp ( 27 )

Nhóm IV : Thể hiện năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ trong giao tiếp ( gọn, dễ
hiểu, cụ thể ), ( 4, 8, 12, 16, 20, 24, 28 )
Vậy, sau khi trả lời các câu hỏi và xử lý kết qủa, cho phép ta tự đánh giá:
 Đã có nhóm kỹ năng giao tiếp nào cao hơn, nhóm nào thấp hơn để đề ra biện
pháp rèn luyện tiếp tục.
 Ta có biết từng kỹ năng trong mỗi nhóm mà ta đã có hay chưa, giúp cho việc
luyện tập giao tiếp.
 Có thể so sánh kết quả của mình với các bạn để có hướng luyện kỹ năng
giao tiếp đạt kết quả cao
Tìm hiểu khả năng ứng xử sư phạm của bản thân
Cách tiến hành: Trước mắt bạn là một phép thử gồm các tình huống khác nhau.
Mõi tình huống có nhiều cách giải quyết, bạn hãy lựa chọn cách giải quyết phù
hợp với suy nghĩ và cách xử sự của bạn.
5.1 Trừng phạt học sinh phạm lỗi nhưng hóa ra là nó không có lỗi. Bạn hành
động như thế nào?
a. Không đá động gì đến chuyện đó nữa vì sợ mất uy tín
b. Xin lỗi học sinh đó ngay
c. Không nói đến sự việc xảy ra, sau đó nhan dịp nào đó bạn nói với học sinh
rằng: "Người lớn cũng có lúc sai lầm"
5.2 Khi sắp hết giờ học, có học sinh làm bạn bực mình vì những cau thắc mắc "
hóc búa" ngoài sự chuẩn bị của bạn. Bạn sẽ giải quyết như thế nào?
a. Ngắt lời học sinh ngay.
b. Giễu cợt câu hỏi của học sinh và từ chối yêu cầu của em đó.
c. Giải thích cho học sinh rằng chính bạn đang muốn đặt câu hỏi đó cho tất cả
các em suy nghĩ, giờ học sau bạn và học sinh sẽ tìm cách trả lời
5.3 Cô em bạn ngây thơ kể rằng: Nó vừa được bầu làm lớp trưởng, bạn tỏ thái
độ như thế nào?
a. Không nói gì đó xem đó chuyện của trẻ con
b. Giải thích cho nó, ở cương vị mới này nó phải làm gì
c. Nói với nó: " Em thông minh nhất lớp nên làm lớp trưởng là chuyện dĩ nhiên"
5.4 Một học sinh trong lớp rụt rè đưa cho bạn một mảnh giấy đã nhàu nát và nói
đây là một bức thư của N gởi cho một bạn gái cùng lơp. Cuối thư ấy có dòng
chữ của bạn gái ấy; " đồ mất dại". Nhận ra đúng chữ của N. Bạn sẽ giải quyết
như thế nào?
a. Phê bình N trước lớp để ngăn chặn các trường hợp tương tự
b. Nổi giận mắng học sinh
c. Gặp riêng truyện trò với N và gặp gỡ cha mẹ N để phối hợp khuyên nhủ
5.5 Theo kế hoạch hộm nay có 15 phút kiểm tra viết. Khi bạn yêu cầu học sinh
làm bài thì lớp trưởng đứng dậy báo cáo: Hôm qua cả lớp tỏ chức đi tham quan
xin khuất lại ( cô giáo) chuyển bài kiểm tra sang buôi học sau. Bjan xử trí như
thế nào?
a. Rầy la học sinh. Cương quyết tiến hành kiểm tra để xây dựng nề nếp học tập
b. Cho học sinh 15 phút xem lại bài để học sinh nào thường xuyên học bài thì
nhớ lại được, còn em nào lười học thì không " cứu vãn " nổi sau đó vẫn kiểm tra
c. Thông cảm với học sinh để buổi sau kiểm tra cũng được
5.6 Có học sinh hay gây gổ với bạn, học lực lại quá yếu. Một hôm em dũng cảm
cùng người khác bắt được kẻ gian. Bạn đánh giá thế nào về hành động này?
a. Coi hành động của học sinh này là bộc phát nên không cần quan tâm đến
b. Không dám khen việc làm này sợ em đó không sửa chữa khuyết điểm của
mình
c. Kịp thời khen em trước lớp, đề nghị trường khen và thông báo về gia đình
CHƯƠNG II: BÀI TẬP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP

Bài tập rèn luyện kỹ năng giao tiếp

A. Bài tập :
Bài tập rèn luyện kỹ năng giao tiếp gồm 8 bàiợcccc chia thành hai nhóm. Nhóm
thứ nhất gồm những bài tập phát triển kỹ năng định hướng. Nhóm thứ hai gồm
một số bài tập phát triển kỹ năng giao tiếp.
Nhóm I : Phát triển kỹ năng định hướng giao tiếp :
Bài tập 1 :
Phán đoán các trạng thái xúc cảm khác nhau ( vui, buồn, ngạc nhiên...) của đối
tượng giao tiếp (xem 8 ảnh trang sau).

• Hãy nhìn vào các ảnh từ 1,2,3.....8.
• Dựa vào những biểu hiện qua nét mặt, ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, vận
động của lông mày... mà phán đoán trạng thái xúc cảm.
• Hãy mô tả bằng ngôn ngữ viết về các trạng thái xúc cảm đó và nêu lí do vì
sao kết luận người trong ảnh có trạng thái xúc cảm như đã đoán (nêu
những dấu hiệu cơ bản giúp anh (chị) phán đoán được trạng thái này).

Bài tập 2 :
a. Xây dựng mô hình nhân cách của đối tượng giao tiếp.
Hãy dự giờ của một giáo viên lần đầu anh (chị) gặp gỡ và thực hiện việc xây
dựng mô hình nhân cách của giáo viên đó theo các yêu cầu sau đây :
Phán đoán trạng thái xúc cảm của giáo viên (có thể dựa vào 8 ảnh mẫu ở bài
tập 1) vào 4 thời điểm :

• Lúc vào lớp, hai sắc thái điển hình trong lúc giảng và lúc kết thúc giờ lên
lớp.
• Quan sát y phục, đầu tóc, giày dép... của đối tượng giao tiếp.

Để photo hình trang này. Xem tiếp P55

• Quan sát các cử động chân tay, tư thế đi đứng của người giao tiếp.

b. Xác định những cơ sở xây dựng mô hình nhân cách :

• Mô tả giọng nói : hách dịch, sang sảng, lè nhè, dứt khoát.
• Mô tả nhịp điệu nói : ngập ngừng, đứt đoạn, nhanh, liến thoắng, thong
thả.
• Mô tả âm điệu : to, nhỏ, ấp úng, lanh lảnh, ồm ồm, khàn khàn, thong thả...
c. Xác định những phẩm chất tâm lý quan trọng :
Đánh dấu vào phẩm chất hợp với đối tượng và cố gắng giải thích về những
phán đoán của mình và chỉ được đánh dấu vào một trong hai vế sau. Ví dụ : đã
đánh dấu và xác định người này là “ có thiện chí” thì không được đánh dấu chỗ
ngược lại là “ không có thiện chí”.
Dãy A Dãy B
1. Thiện chí, vì sao ? 1. Không thiện chí, vì sao ?
2. Khuyến khích học sinh, 2. Không khuyến khích học sinh,
vì sao ? vì sao ?
3. Quan tâm đến học sinh, 3. Không quan tâm đến học sinh,
vì sao ? vì sao ?
4. Cởi mở, vì sao ? 4. Kín đáo, vì sao ?
5. Linh hoạt, vì sao ? 5. Cứng nhắc, vì sao ?
6. Dân chủ, vì sao ? 6. Độc đóan, vì sao ?
7. Thông cảm, vì sao ? 7. Không thông cảm, vì sao ?
8. Chủ động, vì sao ? 8. Bị động, vì sao ?
Dùng công thức tính hệ số K sau đây có thể tính được những phẩm chất ưu
thế, có lợi hay không thuận tiện trong giao tiếp của người giáo viên hay của một
người mà ta nghiên cứu.
K=(X–Y)/8
Trong đó : X là tổng số phán đoán ở dãy A
Y là tổng số phán đoán ở dãy B
Nếu K > 0 người đó có điều kiện giao tiếp tốt
K = 0 trung tính.
K < 0 phẩm chất ưu thế không thuận lợi cho giao tiếp.
Bài tập 3 :
Dự giờ ở một lớp (sinh viên, học sinh) hay một buổi sinh hoạt của các em thiếu
niên hoặc buổi sinh hoạt đoàn thanh niên.
Hãy quan sát để trả lời các câu hỏi sau :
a. Ai được bạn bè yêu mến hơn cả ? Vì sao ?
b. Ai là người ít được bạn bè yêu mến nhất ? Vì sao ?
a. Nhóm những người nào có quan hệ gần gũi với nhau và họ gắn bó với nhau.
Vì cái gì ? (Có thể nêu ra 2, 3 nhóm có từ 2 đến 4, 5 người)
Bài tập 4 :
Anh (chị) hãy xem một nhân vật nào đó trong một phim truyện hay một vở kịch
qua buổi chiếu phim hay qua vô tuyến truyền hình trong 5 phút.
Sau đó vì không thích phim, hay có việc bận, anh (chị) không tiếp tục xem nữa.
Dựa trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói của nhân vật trong phim mà ta đa quan
sát, qua 5 phút đó, hãy tập phán đoán về tính cách của nhân vật đó (tốt hay
xấu, thiện hay ác, v.v...)
Anh (chị) có thể kiểm tra nhận xét của mình đúng hay sai nhờ vào việc hỏi lại
người đã xem hết bộ phim truyện đó về nhân vật mà mình đã quan tâm, hoặc
các bạn đã xem phim đó kể lại.
Nhóm II : Rèn luyện và phát triển kỹ năng giao tiếp :
Bài tập 5 :
Trong giờ ra chơi anh (chị) đi ra ngoài và quay trở lại lớp mình. Trong lớp đang
ồn ào anh hãy mời các bạn hay học sinh chú ý vào một câu chuyện. Anh đưa ra
một thông tin nào đó của anh nhất thiết cần thông báo. Cố gắng làm cho tất cả
mọi người chú ý. Nếu không đạt kết quả này thì anh hãy quan sát xem các bạn
đồng nghiệp có năng lực làm việc này như thế nào trong hoàn cảnh tương tự
Bài tập 6 :
Anh (chị) hãy làm như bài tập 5 nhưng ở một lớp sinh viên hay học sinh mà anh
hoàn toàn không quen biết.
Bài tập 7 :
Anh (chị) hãy tìm một đoạn văn hay của một nhân vật nổi tiếng. Hãy gạch chân
5 từ “ đắt ”, nhất là những từ diễn cảm gây tác động mạnh mẽ đến người nghe.
Hãy tìm những từ đồng nghĩa thay cho các từ đó.
Bài tập 8 :
Trong trường hợp phải trình bày một vấn đề trong buổi học, xêmina ở tổ, nhóm
hay trong một buổi họp đoàn thể, anh (chị) thường soạn vấn đề đó theo kiểu
nào sau đây :
– Kiểu a : Soạn chi tiết, cụ thể tất cả những gì sẽ nói ra.
– Kiểu b : Soạn dàn bài chi tiết.
– Kiểu c : Soạn dàn bài cơ bản.
Trình bày : Anh (chị) sẽ chọn bài soạn nào ở trên để trình bày vấn đề trước mọi
người (tổ, lớp, buổi họp...)



B. Thang điểm tự đánh giá các kỹ năng giao tiếp.
Nhóm I : Bài tập rèn luyện kỹ năng định hướng giao tiếp :
Bài 1 : Khi phán đoán trạng thái xúc cảm qua bộ ảnh chuẩn :
– Chỉ đúng trạng thái tâm lý trong mỗi ảnh : 1 điểm ( 8 ảnh x 1 = 8 điểm )
Bài 2 : Kỹ năng định hướng giao tiếp.
1. Định hướng tổng hợp :
– Chỉ đúng trạng thái tâm lý lúc vào lớp ½ điểm
Phân tích đúng vì sao ? ½ điểm
– Chỉ đúng trạng tâm lý điển hình thời điểm 1 của bài giảng ½ điểm
Giải thích đúng vì sao ? ½ điểm
– Chỉ đúng trạng thái xúc cảm ở thời điểm 2 của bài giảng ½ điểm
Giải thích đúng vì sao ? ½ điểm
– Chỉ đúng trạng thái tâm lý lúc kết thúc bài giảng ½ điểm
Giải thích đúng vì sao ? ½ điểm
Có 4 thời điểm, nên điểm tối đa sẽ là 4 điểm.
– Mô tả đúng bề ngoài 2 điểm
– Mô tả đúng tư thế, cử chỉ 2 điểm
Tổng cộng phần 1 là 8 điểm.
2 . Những cơ sở xây dựng mô hình nhân cách.
a . Xác định đúng giọng nói 1 điểm
b. Xác định đúng ngữ điệu. 1 điểm
c. Xác định đúng âm điệu 1 điểm
3. Xác định những phẩm chất tâm lý quan trọng
a. Xác định đúng mỗi phẩm chất tâm lý ½ điểm
b. Giải thích có cơ sở mỗi phẩm chất đó ½ điểm
c. Khái quát đúng về nhân cách qua hệ số K 1 điểm
Tổng cộng bài tập này là 5 điểm
Bài tập 3
a. Chỉ đúng người được quý nhất ½ điểm Giải thích có cơ sở đúng. ½ điểm b.
Chỉ đúng người bị cô lập ½ điểm Giải thích đúng, vì sao ? ½ điểm c. Chỉ đúng từ
1 đến 2 nhóm có quan hệ với nhau ½ điểm
Giải thích đúng nguyên nhân gắn bó giữa họ với
nhau trong nhóm ½ điểm
Tổng cộng 3 điểm
Bài tập 4 :
Nội dung tính cách của nhân vật trong phim hay trong vở kịch 1 điểm
Giải thích đúng 1 điểm
Tổng cộng 2 điểm
Nhóm II :
Bài tập 5 : Tiến hành ở lớp mình quen biết đạt kết quả thì được điểm tối đa là
10.
Bài tập 6 : Tiến hành ở lớp không quen biết đạt kết quả được điểm tối đa là 12.
Ở bài tập 5 và 6 cho điểm như sau :
Nếu tập trung 70% số người trong lớp trong thời gian :
1 phút được 10 – 12 điểm
2 phút được 8 – 10 –
3 phút được 6 – 8 –
4 phút được 4 – 6 –
5 phút được 2 – 4 –
Trên 5 phút được 1 – 2 –
Không tập trung được thì được 0 –
Nhóm III.
Bài tập 7
Xác định đúng mỗi từ được 1 điểm
Thay mỗi từ được 1 điểm
Bài tập 8
Soạn vấn đề sẽ trình bày theo kiểu a được 1 điểm
Soạn vấn đề sẽ trình bày theo kiểu b được 2 điểm
Soạn vấn đề sẽ trình bày theo kiểu c được 3 điểm
Trình bày vấn đề đó theo kiểu a được 3 điểm
Trình bày vấn đề đó theo kiểu b được 6 điểm
Trình bày vấn đề đó theo kiểu c được 9 điểm
C. Bảng chuẩn để cho điểm các bài tập
Bài tập 1 Theo mẫu xác định cho từng ảnh
Ảnh 1 : vui sướng ảnh 5 : sợ hãi
Ảnh 2 : đau khổ ảnh 6 : khinh bỉ
Ảnh 3 : ngạc nhiên ảnh 7 : biết lỗi
Ảnh 4 : giận dữ ảnh 8 : say mê
Bài tập 2 Làm thực nghiệm cùng với 2 bạn khác ngồi ở 2 vị trí khác xa nhau
trong lớp. Nếu 3 hoặc ít nhất là 2 trong số 3 người có ý kiến giống nhau về
giọng nói, hay một phẩm chất nào đó của giáo viên thì được coi là chuẩn đúng. (
Nếu có số đông cùng thực nghiệm càng tốt và khi đó lấy 70% số ý kiến về sự
kiện cùng quan tâm làm chuẩn vì đó là những đánh giá độc lập của mọi người
về cùng một vấn đề).
Bài tập 3 : Kiểm tra sự đánh giá của mình qua ý kiến của lớp trưởng hay của
giáo viên chủ nhiệm lớp ( nếu là học sinh phổ thông )
Bài tập 4 : Đã hướng dẫn trong bài tập
Bài tập 5 và 6 : Tự kiểm tra và đánh giá.
Bài tập 7 : Có thể 3 người cùng đánh dấu từ “đắt” một cách độc lập về một đoạn
văn rồi đối chiếu với nhau.
Bài tập 8 : Tự mình thể hiện cả 3 kiểu rồi tự rút kinh nghiệm và luyện tập đến khi
nào có thể soạn vấn đề cần trình bày theo kiểu c và trình bày theo kiểu c. (Phải
qua nhiều lần tập trình bày những vấn đề khác nhau ở trước lớp, trước một tập
thể học sinh hay tổ chức hướng dẫn, trình bày những điều cần thiết cho thiếu
niên địa phương trong dịp hè ).



Tài Liệu Tham Khảo
1. Nguyễn Khắc Viện. Bài giảng tâm lý học tập 4. NXB. Phụ Nữ .1992.
2. Dale Carnegie. Đắc nhân tâm. NXB. Long An. 1989.
3. Luật giáo dục.
4. Văn hóa và giáo dục, giáo dục và văn hóa. NXB.GD. Hà Nội. 1998.
5. Nguyễn Văn Lê. Giao tiếp sư phạm. TP.HCM. 1994.
6. Ngô Công Hoàn. Giao tiếp sư phạm. Hà Nội. 1992.
7. Luyện giao tiếp sư phạm. Nguyễn Thạc – Hoàng Anh. Hà Nội.1991.
8. Giao tiếp sư phạm. Tài liệu dùng cho các trường Đại học sư phạm và Cao
đẳng sư phạm. Hà Nội 1995; 1996
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản