GIÁO TRÌNH KIẾN THỨC TRỒNG RAU

Chia sẻ: Bui Van Ngoc Ngoc | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:141

1
642
lượt xem
291
download

GIÁO TRÌNH KIẾN THỨC TRỒNG RAU

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cây rau có vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với đời sống con người, bởi chúng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào có thể thay thế được. Rau xanh có tác dụng cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của cơ thể con người, chúng cung cấp phần lớn các chất thiết yếu như vitamin, chất khoáng mà cây trồng khác không cung cấp đủ.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: GIÁO TRÌNH KIẾN THỨC TRỒNG RAU

  1. 1 Tài liệu Những kiến thức về trồng rau
  2. 2 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY RAU 1.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây rau 1.1.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau Cây rau có vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với đời sống con người, bởi chúng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào có thể thay thế được. Rau xanh có tác dụng cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của cơ thể con người, chúng cung cấp phần lớn các chất thiết yếu như vitamin, chất khoáng mà cây trồng khác không cung cấp đủ. Kết quả nghiên cứu về mức tiêu thụ rau xanh cho thấy, ở các nước phát triển thường có mức tiêu thụ rau trên đ ầu người cao hơn các nước đang phát triển. Bảng 1.1: Thành phần các chất trong rau Việt Nam Muối khoáng Thành phần hoá học Vitamin Loại rau Fe Nước Xenlulo Calo B1 B2 C PP Ca P Bí xanh 0,01 0,02 16 0,03 26,0 23,0 0,3 95,5 1,0 12 Cà tím 0,04 0,05 15 0,60 15,0 34,0 0,4 92,5 1,5 23 Cà chua 0,06 0,04 10 0,50 12,0 26,0 1,4 94,0 0,8 20 Đậu cô ve 0,34 0,19 25 2,60 26,0 122,0 0,7 80,0 1,0 75 Đậu đũa 0,29 0,18 3 1,80 47,0 26,0 1,6 83,0 2,0 59 Mướp ta 0,04 0,06 0,8 0,50 28,0 45,0 0,8 95,1 0,5 16 Mướp đắng 0,07 0,04 22 0,30 18,0 29,0 0,6 91,4 1,1 16 Dưa chuột 0,03 0,04 5 0,10 23,0 27,0 1,0 95,0 0,7 16 Ớt - - 25 - - - - 91,0 1,4 29 Cải bắp 0,06 0,05 36 0,40 48,0 31,0 1,1 90,0 1,6 30 Cải cúc 0,01 0,03 - 0,20 63,0 38,0 0,8 93,8 2,0 14 Cải xoong - - 25 - 69,0 28,0 1,6 93,7 2,0 16 Cần ta 0,04 0,03 6 0,30 310,0 64,0 - 95,3 1,5 10 Cần tây - - 150 - 325,0 128,0 8,0 85,0 1,5 48 Khoai tây 0,03 0,05 10 - 10,0 55,0 1,2 75,0 1,0 94 Hành hoa 0,03 0,10 60 0,90 80,0 - 1,0 92,5 2,0 23 Hành tây 0,04 0,04 10 0,20 38,0 58,0 0,8 88,0 0,9 41 0,04 0,09 23 0,50 100,0 37,0 1,4 92,0 1,5 23 Rau muống Rau ngót - - 185 ,- 64,5 - 86,4 2,5 36 169,0 Rau đay - - 77 - 57,3 - 91,4 2,5 25 182,0 Su hào 0,06 0,05 40 0,20 46,0 50,0 0,6 88,0 1,7 37 Súp lơ 0,11 0,10 70 0,60 26,0 51,0 1,4 90,9 0,9 30 Nguồn: Theo bảng thành phần hoá học thức ăn Việt Nam - 1972
  3. 3 Có thể thấy nguồn dinh dưỡng từ rau xanh rất phong phú, chúng bao gồm: vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng và chất xơ..., đáng chú ý là vitamin và chất khoáng có trong rau ưu thế hơn một số cây trồng khác. Rau xanh chứa nhiều vitamin A, vitamin C, tổ hợp vitamin B gồm B1, B2, B6, B12, niacin, axit panthothenic, biotin và axit follic. Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con người, rau xanh đã cung cấp khoảng 90 - 99% nguồn vitamin A, 60-70% nguồn vitamin B2 và gần 100% vitamin C. Vitamin giúp cho các hoạt động sinh lý di ễn ra bình thường trong cơ thể, mỗi loại vitamin có một chức năng khác nhau, nếu thiếu bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống của con người cụ thể như nếu thiếu vitamin A sẽ gây ra bệnh quáng gà, hoặc mắt không có khả năng thích nghi với ánh sáng mờ, khi sự thiếu hụt này tăng lên thì bệnh quáng gà sẽ tiến triển thành bệnh Xeropthalmia, làm hỏng thị lực. Vita min nhóm B cần thiết cho cơ thể sử dụng hydratcacbon, protein và ngăn ngừa bệnh thiếu máu, thiếu vitamin nhóm B sẽ gây mệt mỏi, kém ăn, cơ thể tê phù. Thiếu vitamin C gây chảy máu chân răng, chân tay mệt mỏi, cơ thể suy nhược, thiếu vitamin D làm cho trẻ em chậm lớn, còi xương… Như vậy, nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, giảm hiệu suất làm việc, dễ phát sinh bệnh tật, do đó trong lao động, học tập và sinh hoạt hằng ngày, mỗi người phải cần một lượng vitamin nhất định. Ngoài việc cung cấp vitamin, rau còn cung cấp một lượng chất khoáng đáng kể như Ca, P, Fe... Trong các chất khoáng cần thiết cho cơ thể con người thì can xi và sắt được chú ý hơn cả, canxi rất cần cho việc đảm bảo chức năng xương và răng, sắt ngăn ngừa bệnh thiếu máu. Các loại muối khoáng cần thiết cho cấu tạo tế bào, các loại enzime, muối khoáng còn là tác nhân gây xúc tác và điều hoà các quá trình sinh tổng hợp trong cơ thể con người, chúng có tác dụng trung hoà độ chua do dạ dày tiết ra, khi tiêu hoá thức ăn như thịt, ngũ cốc, đồng thời làm tăng khả năng đồng hoá protit. Lượng gluxit và protein trong rau luôn bổ sung cho cơ thể một phần năng lượng, tuy không nhiều nhưng protein chứa nhiều lizin và mỗi loại rau lại có những tỷ l ệ axit amin khác nhau nên khi ăn nhiều loại rau cùng một lúc, sẽ có tác dụng tốt trong việc nâng cao giá trị sử dụng protein. Rau xanh còn cung cấp một l ượng l ớn ch ất xơ, có kh ả năng làm tăng ho ạt động của nhu mô ruột và hệ tiêu hoá, ngăn ngừa đ ược ch ứng táo bón. Ch ất x ơ ảnh hưởng có lợi đến hàm lượng cholesterol trong máu, do v ậy ảnh h ưởng t ốt đ ến huyết áp và tim, ngăn ngừa đ ược sỏi mật và ung th ư ruột. S ố l ượng ch ất x ơ l ớn có trong rau và với giá tr ị năng l ượng thấp c ủa nó s ẽ có tác d ụng ngăn ng ừa b ệnh béo phì. Bên cạnh đó nó có vai trò trong vi ệc đi ều tr ị b ệnh đái tháo đ ường. Nh ờ có hàm lượng chất xơ này rau đ ược coi như một loại th ức ăn có l ợi cho s ức kho ẻ. Nếu so sánh trên cùng một đơn vị diện tích đất trồng trọt thì rau xanh có hàm lượng các chất dinh dưỡng nhiều hơn so với cây lương thực khác.
  4. 4 Bảng 1.2: Hàm lượng dinh dưỡng trong một số loại rau suất Năng Protein carotene Vitamin C Nông sản trung bình (kg/ha) (g/ha) (kg/ha) (tấn/ha) Cải xanh 39,7 707 537 20,6 Súp lơ 23,9 229 6,9 8,0 Hành 59,5 941 - 2,8 Tỏi 9,5 565 0 0,6 Cà chua 60,1 535 299 20,2 Khoai tây 43,9 345 - 4,8 Lúa 5,6 414 0 0 Khoai Lang 24,6 216 116,9 6,7 Đậu tương 2,5 167 1,9 0,28 Nguồn: Số liệu của Trung tâm phát triển rau châu Á (2002) Rau xanh rất phong phú về chủng loại, vì vậy thức ăn được chế biến từ rau rất đa dạng với nhiều màu sắc đẹp mắt, hương vị đa dạng góp phần tạo nên những bữa ăn ngon miệng và hấp dẫn. Ngoài giá trị về dinh dưỡng, một số loại rau còn có ý nghĩa về mặt y học bởi chúng là những vị thuốc rất có giá trị đối với sức khoẻ con người, ví dụ như hành, tỏi, nghệ, tía tô, mướp đắng, rau diếp cá... đây là những loại gia vị vừa làm ngon miệng vừa làm tăng sức đề kháng trong cơ thể. Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học thì mỗi người cần 250-300g rau xanh/ngày, để đáp ứng cho sự hoạt động bình thường của con người. 1.1.2. Ý nghiã kinh tế của cây rau Trong nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu, rau xanh đóng góp nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể. Những năm 1986- 1990, nước ta đã xuất khẩu rau sang Liên Xô và các nước Đông Âu, nhưng do tình hình chính trị biến động nên việc xuất khẩu bị giảm. Từ năm 1995 trở lại đây, hoạt động xuất khẩu rau xanh được phục hồi, hiện nay có tới hơn 40 nước là thị trường rau của Việt Nam, các mặt hàng rau xuất khẩu chủ yếu là: ớt cay, cà chua, dưa chuột. Rau là cây trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau với lợi thế là thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng được nhiều vụ trong năm, do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam. Mặt khác, rau có đặc điểm là kích thước nhỏ nên cây rau rất thích hợp trồng xen hay gối vụ với những cây trồng khác, như vậy trồng rau sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Trồng rau có hiệu quả hơn so
  5. 5 với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn vị thời gian, vì chúng có đặc điểm sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian ngắn. Tác giả Trần Khắc Thi cho biết, hiệu quả kinh tế của sản xuất rau cũng cao hơn so với nhiều loại cây trồng khác. Giá trị sản xuất 1 ha rau gấp 2-3 lần so với cây lúa. Theo số liệu điều tra của Nguyễn Tiến Mạnh năm 1999, ở 4 tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Nam Định và Thái Bình tổng thu nhập trên 1 ha lúa là 3.830.000 đồng, ngô là 3.333.000 đồng, khoai tây là 15.641.000 đồng, cải bắp là 11.743.000 đồng và dưa chuột là 23.532.000 đồng. So sánh hiệu quả kinh tế giữa công thức luân canh ở đồng bằng sông Hồng tác giả cho biết tổng thu nhập trên đất chuyên canh cao hơn 2 lần so với trên đất 1 lúa - 2 màu và cao hơn 3 lần so với 2 lúa - 1 màu. Kết quả điều tra của Tô Thị Thu Hà và Nguyên Văn Hiền (2005), tại vùng ven đô Hà Nội thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần, điều này dẫn đến lãi thuần của cây rau cao hơn 14 lần so với cây lương thực. Theo số liệu Trung tâm phát triển rau châu Á cho biết ở Đài Loan năng suất của cây rau cũng cao hơn nhiều so với cây lúa, trung bình tổng thu nhập rau cao hơn lúa từ 3 đến 10 lần. Ngoài việc dùng rau làm cây thực phẩm, một số loại rau như khoai tây còn được coi là một trong năm cây lương thực trên thế giới sau lúa, ngô, mỳ, mạch. Khoai tây hiện là nguồn tinh bột chủ yếu của nhiều nước. Bên cạnh đó rau còn là nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành thực phẩm như công nghệ sản xuất nước giải khát, đồ hộp, bánh kẹo và làm hương liệu chế biến thuốc, dược liệu. Ngoài ra rau còn góp phần phát triển ngành kinh tế khác như chăn nuôi (là nguồn thức ăn trong chăn nuôi). 1.1.3. Ý nghĩa về mặt xã hội Sản xuất rau phát triển sẽ góp phần sắp xếp lao động hợp lý, tăng thu nhập cho người lao động, mở rộng thêm ngành nghề, giải quyết tốt việc làm cho nông dân lúc nông nhàn, ngoài ra còn hỗ trợ các ngành khác trong nông nghiệp phát triển như làm thức ăn cho chăn nuôi.... Nghề trồng rau phát triển, người nông dân có cơ hội được tiếp thu các kỹ thuật tiến bộ mới trong sản xuất, từ đó góp phần nâng cao dân trí, thay đ ổi tập quán canh tác lạc hậu từ bao đời nay của nông dân Việt Nam. Như vậy, rau không chỉ là cây trồng xoá đói giảm nghèo mà còn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có lợi ích nhiều mặt cho người dân, từ cây rau người nông dân có thể làm giàu chính đáng trên mảnh đất của mình. 1.2 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam 1.2.1. Tình hình phát triển rau trên thế giới Hiện nay trên thế giới có nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích trồng rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân. Năm 1961 - 1965 tổng
  6. 6 lượng rau của thế giới là 200.234 tấn, nhưng từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981-1985 là 392.060 tấn, đến năm 1996 đã lên đến 565.523 tấn. Như vậy chúng ta thấy sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng. Trong nhiều năm gần đây, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng, số liệu được FAO thống kê và được trình bày tại bảng 1.2. Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau trên thế giới Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Diện tích 50.023.341 51.834.813 52.946.202 52.047.395 52.444.669 (ha) Năng suất 168 168 170 170 170 (tạ/ha) Sản lượng 841.460.320 873.417.121 891.182.896 889.742.585 893.432.504 (tấn) Nguồn : F. A. O Stat Database Results, 2009 Theo thống kê của FAO, diện tích trồng rau năm 2003 là 50.023.341 ha nhưng đến năm 2007 đã mở rộng lên tới 52.444.669 ha, tăng so với năm 2003 là 2.421.328 ha, bình quân mỗi năm tăng 484.266 ha. Như vậy, diện tích trồng rau trên thế giới hiện đang tăng lên, nguyên nhân là do người nông dân chuyển một phần diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi sang trồng rau. Năng suất rau bình quân trên thế giới không biến động nhiều đạt từ 168 – 170 tạ/ha qua 5 năm, bởi hiện nay mục đích trồng rau không tập trung về tăng năng suất mà chú trọng hơn đến việc tăng chất lượng của sản phẩm. Về sản lượng rau, hàng năm thu được theo chiều hướng tăng dần, tính đến năm 2007 đạt 893.432.504 tấn, tăng hơn so với năm 2003 là 51.972.184 tấn. Nếu năm 2007 tổng sản lượng rau trên toàn thế giới đạt 893.432.504 tấn thì Châu Á chiếm khoảng 75 % tổng sản lượng toàn thế giới. 1.3 Tình hình sản xuất rau Châu Á Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 Diện tích (ha) 35263666 36367719 37822942 38394191 suất Năng (tạ/ha) 172 173 173 174 Sản lượng (tấn) 608765100 630432135 654367417 670763162
  7. 7 Nguồn : F. A. O Stat Database Results, 2009 Bảng 1.4 Tình hình sản xuất rau Trung Quốc Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Diện tích (ha) 20474144 21564190 22150677 22999771 23717182 Năng suất (tạ/ha) 195 190 191 190 190 Sản lượng (tấn) 399245808 409719610 423077930 436995649 450626458 Nguồn : F. A. O Stat Database Results, 2009 Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất thế giới đạt 448.982.800 tấn, cao hơn nhiều so với Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác. Ở Châu Á, Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất tiếp theo là Ấn Độ, còn ở nước ta sản lượng rau ở mức thấp đạt 7.991.000 tấn. Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản lượng thì chất lượng rau cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời và việc kiểm soát dư lượng hoá chất tồn đọng trong rau ngày càng được thực hiện triệt để hơn. Về nhu cầu tiêu thụ rau trên thế giới, theo FAO dự báo từ nay cho đến năm 2010 hàng năm tăng bình quân 3,6 %, trong khi đó tốc độ tăng trưởng về sản l ượng chỉ khoảng 2,8 %, như vậy thị trường rau trên thế giới chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ. Trong những năm qua nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng 1,8 % mỗi năm. Các nước và vùng lãnh thổ có nhu cầu nhập khẩu rau cao đó là Pháp, Đức, Canada khoảng 155.000 tấn mỗi năm; Anh, Mỹ, Bỉ, Hồng Công, Singapo khoảng 120.000 tấn mỗi năm. Một số nước có lượng rau xuất khẩu lớn trên thế giới đó là: Trung Quốc (609.000 tấn/năm); Italia, Hà Lan mỗi nước xuất khẩu khoảng 140.000 tấn/ năm. Theo dự báo của FAO, ước tính đến năm 2010 giá xuất khẩu rau tươi khoảng 526 USD/tấn và giá nhập khẩu khoảng 703 USD/tấn, như vậy rau tươi là một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị, hơn nữa nhu cầu rau trên thế giới ngày một tăng, bởi vậy rau có vị trí lớn trên thị trường thế giới. 1.2.2. Tình hình phát triển rau ở Việt Nam Tác giả Tạ Thu Cúc cho biết, nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời, ngay từ đời vua Hùng, người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườn gia đình. Theo sổ sách ghi chép cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ X. Thế kỷ thứ XVIII Lê Quý Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước. Vào giữa thế kỷ thứ XVIII đến thế kỷ thứ IXX nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư, cuối thế kỷ thứ IXX trồng được rất nhiều các loại rau có nguồn gốc từ Châu Âu như cải bắp, su hào,
  8. 8 súp lơ, cà rốt, hành tây… thế kỷ thứ XX các vùng trồng chuyên canh rau đã được hình thành và phát triển. Mặc dù nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn, diện tích và sản lượng rau thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam. Tác giả Trần khắc Thi cho biết, năm 1995 cả nước có diện tích trồng rau là 368,5 ha, đạt sản lượng là 4145,56 triệu tấn, nếu so với năm 1985 thì diện tích tăng 46,4%, bình quân mỗi năm tăng 10.000 ha. Diện tích trồng rau trong cả nước tính đ ến năm 2000 là 445.000 ha, tăng 261.090 ha vào khoảng 70% so với năm 1990. Bình quân hàng năm tăng 18,4 nghìn ha (mức tăng trung bình 7%/ năm). Trong đó các tỉnh phía Bắc là 249.200 ha chiếm 56%, còn các tỉnh phía Nam là 196.000 ha chiếm 44% diện tích canh tác. Bảng 1.5. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Diện tích 648.290 660.600 670.600 670.600 670.600 (Ha) Năng suất 117 117 119 119 119 (tạ/ha) Sản lượng 7.601.175 7.781.000 7.991.000 7.991.000 7.991.000 (tấn) Nguồn : F. A. O Stat Database Results, 2009 Theo số liệu thống kê của FAO, những năm gần đây, diện tích trồng rau của ta ngày càng được mở rộng từ 648.290 ha năm 2003 lên 670.600 ha năm 2007. Diện tích tăng nhanh nhất từ năm 2003 đến 2005, qua hai năm diện tích tăng 22,3 ha. Từ năm 2005 trở lại đây diện tích trồng rau không có biến động, cả nước đạt 670.600 ha. Theo tài liệu của tác giả Phạm Thị Thuỳ, rau ở nước ta năng suất còn thấp và bấp bênh, năm 1998 năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha bằng 80% so với mức trung bình của toàn thế giới (xấp xỉ 180 ta/ha). Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất bình quân cả nước trong 10 năm cũng chỉ tăng 11,5 tạ/ha. Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP.Hồ Chí Minh, Đà Lạt là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt năng suất bình quân ở mức 160 tạ/ha. Năng suất trung bình thấp nhất là ở các tỉnh miền Trung, chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nước. Nhưng theo số liệu thống kê của FAO, những năm gần đây năng suất tương đối ổn định, đạt 119 tạ/ha. Sản lượng rau có chiều hướng gia tăng, năm 2000 đạt hơn 6 triệu tấn, tăng 81% so với năm 1990, mức tăng sản lượng trung bình hàng năm từ năm 1990 - 2000 là xấp xỉ 260 ngàn tấn. Do diện tích tăng nhanh dẫn đến sản lượng rau ở nước ta tăng lên đáng kể, từ 7.601.175 tấn năm 2003 tăng lên 7.991.000 tấn năm 2007, như vậy chỉ trong 5 năm sản lượng tăng 389.825 tấn. Sản lượng rau của nước ta chủ y ếu thu
  9. 9 được từ hai vùng chính đó là vùng rau chuyên canh ven thành phố và vùng rau luân canh với cây lương thực. Tuy nhiên cùng với sự hình thành phát triển của các thành phố, khu công nghiệp, khu dân cư thì các vùng trồng rau mới, được hình thành và phát triển nhằm cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng. Hiện nay, rau ở nước ta được sản xuất theo 2 phương thức tự cung tự cấp và hàng hoá, trong đó rau hàng hoá được tập trung chính ở hai khu vực: Vùng sản xuất rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư. Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho người dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá nhưng sản phẩm rau ở những vùng này về mức độ an toàn đáng lo ngại. Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau đ ược trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu. Sản phẩm phục vụ cho dân cư trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu. Hiện nay chúng ta có một số vùng trồng rau hàng hoá tập trung: Miền Bắc: + Vùng trồng rau chuyên canh ở Hà Nội có diện tích gieo trồng khoảng 81.000 ha, với các chủng loại rau đa dạng và phong phú, chiếm ưu thế cả về diện tích và sản lượng, là vùng có tỷ suất hàng hoá cao. + Vùng sản xuất chuyên canh cà rốt, hành tỏi, dưa hấu tại Nam Sách, Bình Giang, Kim Thành tỉnh Hải Dương. + Vùng chuyên canh dưa chuột tại Lý Nhân tỉnh Hà Nam + Vùng chuyên canh rau với một số loại rau chủ lực như: hành, tỏi, ớt, khoai tây, dưa chuột, ngô bao tử tại Quỳnh Phụ, Thái Thuỵ - Thái Bình. + Vùng trồng măng tại Đan Phượng - Hà Nội. + Sản xuất rau xuất khẩu tại Quỳnh Lưu - Nghệ An. Miền Nam: + Vùng trồng rau công nghệ cao ở thành Phố Hồ Chí Minh. + Vùng trồng nấm tại Vĩnh Long + Vùng trồng rau an toàn tỉnh Tiền Giang + Vùng sản xuất rau ôn đới tại Lâm Đồng. Đánh giá về thực trạng sản xuất rau nước ta trong thời gian qua, nhiều tác giả nhận định, sản xuất rau ở nước ta hiện nay đã có bước phát triển đáng kể về diện tích và đa dạng về chủng loại, nhưng bên cạnh đó năng suất và sản lượng rau còn thấp, quy mô phân tán, chất lượng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu tươi và chế biến công nghiệp. Lý do chất lượng rau không đảm bảo là, thiếu cải tiến kỹ thuật, canh tác chủ yếu thiên về năng suất chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm, việc quản lý về kiểm định chất lượng còn kém cho nên rau tươi ở Việt Nam chưa bảo đảm an toàn cho người sử dụng, dẫn đến xuất khẩu rau còn quá
  10. 10 ít, khả năng cạnh tranh trên thị quốc tế kém. Rau quả của nước ta tuy đa dạng và phong phú, nhưng sản xuất chưa gắn với thị trường, chất lượng thấp, bao bì mẫu mã chưa thích hợp, thị trường rau còn đơn điệu và nghèo nàn. Hiện Việt Nam có trên 40 nước là thị trường để xuất khẩu nhưng chúng ta lại không có đủ điều kiện, mới chỉ xuất khẩu được khoảng 3% sản lượng. Rau ở nước ta không thể cạnh tranh đ ược với thị trường quốc tế mà ngay cả trong nước, rau tươi của ta cũng đang bị các s ản phẩm nhập khẩu lấn át. 1.3 Đặc điểm chung của nghề trồng rau Nghề trồng rau có những đặc điểm chủ yếu sau: - Hầu hết các hạt giống rau phải trải qua thời kỳ vườn ươm Đặc điểm nổi bật của nghề trồng rau là hầu hết các hạt giống rau đều phải trải qua thời kỳ vườn ươm bởi vậy trong thời kỳ này chúng ta cần chăm sóc cẩn thận, để có được cây giống tốt tạo tiền đề cho sự sinh trưởng và phát triển của cây rau sau này. - Yêu cầu thời vụ nghiêm ngặt, chặt chẽ Rau là loại cây trồng rất mẫn cảm với sự thay đổi của điều kiện khí hâụ thời tiết như: nhiệt độ, ánh sáng, bởi vậy chúng yêu cầu thời vụ hết sức nghiêm ngặt. Nếu bố trí sai thời vụ, dẫn đến giảm năng suất và chất lượng của rau, cá biệt còn không thu được năng suất. Bởi vậy trong kỹ thuật trồng trọt cần phải bố trí thời vụ cây rau cho thích hợp. Về nguyên tắc cần bố trí, sắp xếp thời vụ sao cho thời kỳ hình thành bộ phận sử dụng gặp được điều kiện thuận lợi nhất. - Rau là loại cây trồng bị nhiều sâu bệnh hại Rau là loại cây trồng có chất dinh dưỡng phong phú, hàm l ượng n ước trong thân lá non cao nên là môi trường thích hợp cho nhiều loại sâu bệnh sinh trưởng, phát triển trên cây rau. Chủng loại rau rất phong phú, nên sâu bệnh cũng rất đa dạng. Sự phát sinh phát triển của sâu, bệnh phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh đặc biệt là điều kiện thời tiết khí hậu, bởi vậy phòng trừ sâu, bệnh cho rau là một nhiệm vụ quan trọng của nghề trồng rau. - Cây rau thích hợp với chế độ trồng xen, trồng gối Thời gian sinh trưởng của cây rau dài ngắn khác nhau, đặc điểm thực vật học và sinh thái học khác nhau. Vì vậy có thể bố trí nhiều loại cây trồng trên cùng một đơn vị diện tích, trong cùng thời gian để chúng cùng sinh trưởng và phát triển. Với biện pháp kỹ thuật trồng xen và trồng gối làm tăng năng suất trên đơn vị diện tích. - Yêu cầu kỹ thuật cao, đầu tư nhân lực và kinh phí lớn Rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, muốn đạt năng suất cao, chất lượng tốt, sản xuất rau trái vụ cao cần phải thực hiện nhiều biện pháp kỹ thuật tiên tiến và hiện đại, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất. Bởi vậy muốn trồng rau để có hiệu quả kinh tế yêu cầu người trồng rau phải có kỹ thuật cao. 1.4. Phương hướng và nhiệm vụ ngành sản xuất rau đến năm 2020
  11. 11 Định hướng quy hoạch theo Quyết định 150/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ 1.4.1. Phương hướng - Tiếp tục chương trình phát triển rau, quả, hoa cây cảnh trên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện khí hậu, sinh thái đa dạng. Cần trồng mới theo hướng chuyên canh, sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. canh, - Gắn sản xuất với thị trường, đẩy mạnh sản xuất và chế biến các sản phẩm có giá trị cao nhằm cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới. có - Sản xuất rau, hoa, quả phải trên cơ sở áp dụng công nghệ cao, trước hết phải thực hiện quy trình sản xuất theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), bảo ph đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu ngay tại thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Trong thời kỳ 2010-2020, ngoài đáp ứng tr nhu cầu nội địa, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả Việt Nam phấn đấu đạt 1,2 tỷ nhu USD/năm. USD/năm. Các chỉ tiêu phát triển: Về diện tích và sản lượng: Diện tích rau đến năm 2010 đạt 700 ngàn ha và sản lượng đạt 14 triệu tấn, đến năm 2020 diện tích gieo trồng khoảng 750 ngàn ha, t rong đó rau an toàn và rau công nghệ cao khoảng 100 ngàn ha. Về kim ngạch xuất khẩu: phấn đấu đến năm 2010 tổng kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả các loại đạt 760 triệu USD/năm, đến năm 2020 đạt 1,2 tỷ USD/năm. Trong đó riêng rau đến năm 2010 đạt 200 ngàn tấn tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 155 triệu USD 1.4.2. Nhiệm vụ - Tăng năng suất, sản lượng, chất lượng, hiệu quả kinh tế và kim ngạch xuất khẩu kh - Nâng cao trình độ kỹ thuật và hiểu biết thị trường đối với người sản xuất rau - Đầu tư khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng cho sản xuất rau - Sản xuất rau quanh năm
  12. 12 CHƯƠNG 2 ĐẶC TÍNH SINH THÁI HỌC CỦA CÂY RAU 2.1. Phương pháp phân loại 2.1.1. Phương pháp phân loại theo đặc điểm thực vật học Đây là phương pháp phân loại dựa vào đặc điểm thực vật học của cây rau như rễ, thân, lá, hoa, quả để phân loại thành bộ, họ, chi, loài, giống theo tên gọi th ống nhất bằng tiếng la tinh. Phân loại theo phương pháp này rau được chia thành các họ như sau: Thực vật bậc thấp Họ nấm tán: Agricaeae Gồm có: Nấm rơm: Volvaria volvacea Fr. hoặc V.esculenta Nấm mỡ: Psalliota bisporus (P.campestri Fr.) Nấm hương: Coritellus shiitake P. Hen. + Họ mộc nhĩ: Auriculoria Gồm họ mộc nhĩ: Auriculoria judae Shroter (hoặc A.fidae Shroter) - Thực vật bậc cao: * Lớp một lá mầm: + Họ hoà thảo: Gramineae Măng tre: Phyllostachys edulis Riv. Măng mai: Dendrrocalamus latifolius Munro Ngô rau: Zea mays Ngô đường: Zea mays L. var. rugosa hoặc Zea mays sacchrrata sturt + Họ hành tỏi: Alliaceae Hành tây: Allium cepa L. Hành hoa: Allium fistulosum L. Hành ta: Syn.var.multiplicans Bailey. Tỏi ta: Allium sativum L. Tỏi tây: Allium porrum L. Hẹ: Allium tuberosum * Lớp hai lá mầm: + Họ thập tự: Cruciferae Cải bắp: Brassica oleraceae L. Capitatal L. Cải bi xen: Brassica oleraceae L. Gemmifera D.C Cải làn: Brassica oleraceae L. Alloglabra Bailey
  13. 13 Cải xoăn: Brassica oleraceae L. Acephala D.C Cải xanh: Brassica Juncea cosson Cải củ: Raphanus sativus L. Cải xoong: Nasturtium officinales R.Bd Suplơ: Brassica oleraceae L.Botrytis L. Su hào: Brassica oleraceae L. Caulorapa Pasq Cải thìa: Brassica rapa L. Chinensis L. Cải bẹ: Brassica rapa L. Pekinensis L. + Họ cà: Solanaceae Cà chua: Licopersicon esculentum Mill. Cà tím: Solanum melongena L. var. Serpentinum Bailey Cà bát: Solanum melongena L. var. esculentum Ness Cà pháo: Solanum melongena L. var. Depressum Bailey Khoai tây: Solanum tuberosum L. Ớt ngot: Capsicum annuum L. Ớt cay: Capsicum frutescens L. + Họ bầu bí Dưa chuột: Cucumis sativus L. Dưa hấu: Citrullus vulgaris Schrad Dưa thơm: Cucumis melo L. Dưa gang: Cucumis melo L. var. Cocomon Bí ngô: Cucurbita pepo L. Bí xanh: Benincasa hispida (thunb) Mướp: Luffa acutangula (L.) Roxb. Su su: Sechium edule (Jacq) Swartz. Bầu: Lagenaria vulgaris Ser. + Họ đậu: Leguminoceae Đậu cô ve: Phaseolus vulgaris L Đậu Hà lan: Pisum sativum L Đậu đũa: Vigna umguiculata L. Walp Đậu ván: Dolichos labla L. Củ đậu: Pachyrhizus toberosus Spreng Đậu rồng : Psophocarpius tetagonolabus. + Họ hoa tán: Unbeliferae Cà rốt: Daucus carota L. Cần tây: Apium graveolens L. Dulce Mill D.C Cần ta: Apium graveolens L. Rapeceum. Mùi ta: Petroselium crispum Mill. Manof Mùi tầu: Erynginum odoratum. Thìa là: Anethum graveolens L.Dulce Mill D.C
  14. 14 + Họ cúc: Compositae Rau diếp: Lactuaca sativa L. Diếp xoăn: Cichorium endivia Xà lách: Lactuaca sativa var. Capitata Cải cúc: Chrysanthenum Coronanium var.Spatisum Bailey + Họ bìm bìm: Convulvulaceae Rau muống: Ipomoea aquatica Forsk Rau ngổ: Lepidium sativum (Forsk) + Họ rau muối: Chenopodiaceae Củ cải đường: Beta vulgaris var. Saccarifera + Họ rau giền: Amaranthaceae Rau giền: Amaranthus tricole L. + Họ mồng tơi: Basellaceae Mồng tơi: Basella allra L. + Họ niễng: Trapaceae Niễng: Trapanalans L. Củ ấu: Trapa bicornis orbeck + Họ hoa môi: Labiatae Húng: Ocinum bacilicum L. Tía tô: Perilla frutescens var. Cripa Kinh giới: Elsholtzia erislata (Willd) + Họ gừng: Zingiberaceae Gừng: Zingiber officinale Roscoe + Họ nghể: Polygonaceae Rau răm: Polygonum odoratum (Lour) 2.1.2 Phân loại theo bộ phận sử dụng Phương pháp phân loại này dựa trên cơ sở những cây rau có bộ phận sử dụng dùng làm thực phẩm giống nhau thì được xếp trong cùng một loại. + Rau ăn thân: su hào, khoai tây.... + Rau ăn lá: rau cải, cải bắp, rau giền, rau muống ... + Rau ăn hoa: thiên lý, súp lơ. + Rau ăn củ: cải củ, cà rốt, củ đậu.... + Rau ăn quả: cà chua, cà, ớt, đậu.... Ngoài những phương pháp phân loại trên, một số tác giả còn phân loại theo khối lượng hạt, giá trị sử dụng, giá trị dinh dưỡng và yêu cầu đối với nhiệt độ. 2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đối với cây rau Yếu tố quyết định thành công trong nghề sản xuất rau đó chính là sự am hiểu một cách sâu sắc và triệt để đến các yếu tố môi trường, yêu cầu và khả năng thích nghi của cây rau đối với yếu tố ngoại cảnh. Yếu tố ngoại cảnh chính là các yếu tố bên ngoài tác động vào đời sống của cây rau như: nhiệt độ, ánh sáng, ẩm đ ộ, đ ất,
  15. 15 dinh dưỡng, gió, bão vvv... Những yếu tố này gây khó khăn trong quá trình sản xuất rau và cũng là những vấn đề vượt quá khả năng khống chế của con người. Bởi vậy trong sản xuất rau, cần phải hiểu rõ ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đ ến đ ời sống cây rau, để có những tác động bằng biện pháp kỹ thuật, giúp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt trong sự thay đổi của điều kiện thời tiết, khí hậu diễn ra hàng ngày. 2.2.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ Nhiệt độ là yếu tố hạn chế rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây rau, là yếu tố nằm ngoài khả năng khống chế của con người. Nhiệt độ thường là nhân tố quan trọng nhất để quyết định, mỗi loại cây rau có thể trồng trong điều kiện ngoại cảnh cụ thể như thế nào. Nhiệt độ ảnh hưởng đến mọi hoạt động sinh lý trong cây, bằng cách điều chỉnh tốc độ của phản ứng hoá học. Nó ảnh hưởng đến quá trình phân hoá hoa, sự sống của hạt phấn, tạo quả, cân bằng hooc môn, tỷ lệ chín, chất lượng, năng suất và thời gian bảo quản sản phẩm ăn được. Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến thời gian thu hoạch của cây rau. Nếu nhiệt độ cao gần thời kỳ thu hoạch sẽ làm tăng nhanh quá trình chín và làm ngắn thời gian giữa các lần thu hoạch. Điều này có hại hay lợi phụ thuộc vào ý muốn của người sản suất. Mỗi một loại rau đều yêu cầu một giới hạn nhiệt độ nhất định để sinh trưởng và phát triển. Nếu vượt quá giới hạn cây rau sinh trưởng phát triển kém, dẫn đ ến năng suất và chất lượng giảm. Yêu cầu của cây rau đối với nhiệt độ cũng thay đổi tuỳ theo từng loài. Hiệu suất quang hợp của hầu hết các loại rau đều ngừng ở nhiệt độ 300C Nhiều loại rau thực hiện chức năng quang hợp có hiệu quả từ 12-240C Trên cùng một cây rau nhưng ở thời kỳ khác nhau, yêu cầu đối với nhiệt đ ộ cũng thay đổi. Ví dụ: nhiệt độ thích hợp cho cây cà chua là 22-240C, nhiệt độ tối cao là 350C, nhiệt độ tối thấp là 100C. Cây khoai tây: nảy mầm tốt ở nhiệt độ 18-200C, sinh trưởng thân lá 20-220C, hình thành thân củ 16-180C. Thời kỳ nảy mầm Điều kiện để hạt nảy mầm là nhiệt độ, ô xy và nước. Trong đó nhiệt độ là yếu tố quyết định nhất đến sự nảy mầm của hạt. Hầu hết các giống rau đều nảy mầm nhanh ở nhiệt độ 25-300C. Loại rau chịu rét bắt đầu nảy mầm ở nhiệt độ 10- 150C, nhưng nhiệt độ thích hợp là 18-200C. Thời kỳ cây con Ở thời kỳ này ta có thể quan sát thấy, lá mầm xuất hiện ló lên khỏi mặt đ ất. Cây con có đặc điểm thân lá mềm yếu, khả năng quang hợp của bộ lá còn hạn chế nên nhiệt độ thấp hơn thời kỳ nảy mầm sẽ có lợi cho cây sinh trưởng và phát triển.
  16. 16 Nhiệt độ thích hợp cho nhiều loại rau ở thời kỳ này là từ 18-20 0C. Nhiệt độ cao sẽ làm cây hô hấp mạnh, tiêu hao chất dự trữ, do đó cây nhỏ bé còi c ọc, cuối cùng cho cây giống xấu. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng Vào thời kỳ đầu, rau sinh trưởng thân lá, nhiệt độ cao hơn sẽ có lợi cho cây quang hợp và phát triển thân lá. Những cây rau ôn đới, nhiệt độ thích hợp cho quá trình tích luỹ chất dinh dưỡng là 17-180C. Nếu nhiệt độ cao trên 250C làm cho cải bắp không cuốn, nụ hoa súp lơ và thân củ khoai tây khó hình thành và phát triển. Những cây rau ưa thích khí hậu ấm áp nhiệt độ thích hợp là 20-30 0C. Nhiệt độ thấp sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây rau. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực Nhiệt độ thích hợp ở thời kỳ này là 200C, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến quá trình thụ phấn thụ tinh dẫn đến rụng nụ, rụng hoa. Căn cứ vào yêu cầu của cây rau đối với yếu tố nhiệt độ trong quá trình sinh trưởng và phát triển có thể phân loại như sau: - Loại rau chịu rét: là những cây có khả năng đồng hoá mạnh ở nhiệt độ 15 0C- 200C và có khả chịu rét trong thời gian dài như hành, tỏi, măng tây, ngó xen... Loại rau chịu rét trung bình: Là những cây có khả năng đồng hoá ở nhiệt độ 150C-200C và có khả chịu rét trong thời gian ngắn như cải trắng, cải bắp, cà rốt, đậu hà lan, rau cần... Loại rau ưa thích ấm áp: Là những cây có khả năng đồng hoá mạnh ở nhiệt độ 20 C-300C và không có khả chịu rét như cà, cà chua, ớt, dưa chuột... 0 Loại rau chịu nóng: Là những cây có khả năng đồng hoá mạnh ở nhiệt độ 30 C, ở nhiệt độ cao 400C cây vẫn có thể sinh trưởng bình thường như bí ngô, bí 0 xanh, đậu đũa, dưa hấu... Nhiệt độ xuân hoá khi nhiệt độ xuống thấp, thường là dưới 80C sẽ phá vỡ sự ngủ nghỉ của hạt, chồi... Kết quả là hạt nảy mầm, chồi xoè ra nhiệt độ thấp như vậy có tác dụng cảm ứng hình thành hoa, hiện tượng này gọi là hiện tượng xuân hoá. 2.2.2 Ảnh hưởng của ánh sáng Ánh sáng là yếu tố cần thiết đối với đời sống cây rau, bởi nó đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp. Ánh sáng ảnh hưởng đến các quá trình quan trọng như: quang tổng hợp, sự nảy mầm của hạt, sự lớn lên của lá, sự thoát hơi nước và sự ra hoa,v.v... Nếu ánh sáng đầy đủ sẽ tăng bề dày của mô, tăng hàm lượng diệp lục, thúc đẩy quá trình quang hợp. Nếu thiếu ánh sáng hàm lượng diệp lục giảm, thịt lá mềm xốp, gian bào chứa đầy nước, giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận.
  17. 17 Sự ảnh hưởng của ánh sáng tự nhiên đến với cây rau còn phụ thuộc vào đ ộ dài ngày, độ cao so với mặt biển, mùa vụ trong năm, mật độ trồng và vĩ độ, mây, bụi, không khí, v.v... Thời gian chiếu sáng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới phát triển một số loại rau, nó là yêu cầu cơ bản của quang chu kỳ. Thời gian chiếu sáng dài l ượng hydrat cacbon được sản xuất trong quang hợp lớn hơn thời gian chiếu sáng ngày ngắn do vậy lượng hydrat cacbon đủ cho sinh trưởng, phát triển và cho năng suất. Trên cơ sở độ dài chiếu sáng, các cây trồng đ ược chia thành cây ngày dài, ngày ngắn và cây trung tính. Cây ngày dài: cải bao, cải củ, rau diếp, cải bắp, cà rốt Cây ngày ngắn: hành, su su, rau dền Cây trung tính: cà chua, ớt, bầu bí, cà tím Nếu cây ngày dài được trồng trong điều kiện ngày ngắn thì sự tích luỹ hydrat cacbon giảm, protein trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực giảm, do vậy cây không ra hoa. Ngược lại nếu cây ngày ngắn trồng trong điều kiện ánh sáng ngày dài, l ượng hydrat cacbon tăng nhanh dẫn đến cây sinh trưởng mạnh và không ra hoa. Ngoài ra cường độ ánh sáng cũng rất quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển của các loại rau, nói chung cường độ ánh sáng khoảng 20000-40000 lux là thoả mãn cho tất cả các loại rau. Phản ứng của mỗi cây trồng với cường độ ánh sáng là khác nhau, phụ thuộc vào loại cây, ưa bóng hay ưa nắng. Cây ưa nắng yêu cầu cường độ ánh sáng cao đ ể duy trì tốc độ quang hợp và hô hấp cao do vậy sẽ cho tốc độ quang hợp thực thấp hơn ở cường độ ánh sáng thấp. Cây ưa bóng có thể có tốc độ quang hợp thấp hơn cây ưa nắng, song tốc độ hô hấp cũng thấp tương ứng, nên quang hợp thực sẽ cao ở cường độ ánh sáng thấp. Cây ưa nắng có điểm bù ánh sáng cao hơn cây ưa bóng. Dựa vào nhu cầu của cây với cường độ ánh sáng có thể phân thành các nhóm sau: Nhóm yêu cầu cường độ ánh sáng mạnh: dưa thơm, dưa hấu, bí ngô Nhóm yêu cầu cường độ ánh sáng trung bình: cải bắp, cải trắng, cải củ, hành tỏi Nhóm yêu cầu cường độ ánh sáng yếu: xà lách, rau diếp - Chất lượng ánh sáng cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây rau. Chất diệp lục hấp thụ ánh sáng đỏ nhiều nhất, tiếp theo là ánh sáng lam tím. Nhìn chung cây rau ưa thích ánh sáng tán xạ. Vì trong ánh sáng tán xạ, thành phần ánh sáng đỏ và lam tím là chủ yếu. 2.2.3. Nước Nước có ý nghĩa rất lớn trong đời sống cây rau, lượng nước trong rau cao chiếm từ 75-95% và chúng phải tạo ra 5-25% trọng lượng nước còn lại của chúng thông qua quang hợp. Có thể thấy rằng nước là nhân tố lớn nhất làm giảm năng suất và chất lượng rau.
  18. 18 Nước là yếu tố cơ bản để quang hợp, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cây, đến trạng thái chất nguyên sinh. Nước còn có tác dụng trong quá trình vận chuyển điều chế sự đóng mở khí khổng, sự giãn nở và lớn lên của lá. Vì vậy nước có vai trò quyết định đến sự sinh trưởng phát triển của cây rau. Nước là thành phần cơ bản tạo nên chất nguyên sinh, là nguyên liệu tham gia vào quá trình quang hợp, nước cần thiết cho sự vận chuyển vật chất trong cây, là dung môi hoà tan các chất, duy trì độ căng của tế bào, làm cho cây ở trạng thái cân bằng.v.v.. Cung cấp đầy đủ nước là biện pháp cơ bản để đạt năng suất cao, chất lượng tốt. Khi đầy đủ nước thì tất cả các hoạt động đều thực hiện tốt, cây sinh tr ưởng bình thường. Khi trong đất thiếu nước hoặc sự thoát hơi nước qua khí khổng quá mức, cây không cung cấp nước kịp thời, luôn ở tình trạng khủng hoảng nước và sinh trưởng kém. Hầu hết các loại rau đều có những thời kỳ sinh trưởng tới hạn riêng. Nếu khủng hoảng nước vào thời kỳ sinh trưởng tới hạn đó thì sẽ ảnh hưởng tr ực tiếp đến năng suất và chất lượng rau. Như vậy thiếu nước cây sinh trưởng kém, cây thấp bé còi cọc, năng suất và chất lượng giảm. Thừa nước: cây sinh trưởng mềm yếu, nồng độ đường và chất hoà tan giảm, cây chất lượng kém. Dư thừa nước các bộ phận của cây rau trở nên mềm dễ bị hỏng và bị thối, giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận và bệnh hại. Hầu hết cây rau đều sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất cao ở ẩm đ ộ đất 65-80% và ẩm độ không khí 45-95%. Các loại rau khác nhau, thời kỳ sinh trưởng khác nhau yêu cầu với nước cũng luôn thay đổi. Thời kỳ nảy mầm: hạt cần hút một khối lượng nước lớn để xúc tiến quá trình nảy mầm. Để các chất phức tạp được phân giải thành các chất đơn giản cung cấp cho phôi thì hạt cần hút lượng nước vào khoảng 70-100% của khối lượng bản thân. Thời kỳ cây con: Mỗi một cá thể yêu cầu khối lượng nước không lớn, nhưng do mật độ cây trên một đơn vị diện tích lớn nên cây yêu cầu độ ẩm đất trong vườn ươm khá cao. Độ ẩm đất thích hợp cho nhiều loại rau là 70-80%. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: Là thời kỳ sinh trưởng mạnh, các quá trình trao đổi chất, quá trình tích luỹ vật chất vào cơ quan dinh dưỡng như thân, lá, rễ ... diễn ra mạnh mẽ nên cây yêu cầu ẩm độ ở thời kỳ này cao: 80-85%. Một số loại rau phát triển mạnh yêu cầu ẩm độ đất trong thời kỳ này là 85-95%. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Đây là thời kỳ cây ra nụ, hoa lúc này cây yêu cầu ẩm độ thấp hơn thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, ẩm độ đất thích hợp vào khoảng 65- 70%. Độ ẩm quá cao hoặc quá thấp sẽ dẫn đến hiện tượng rụng nụ, rụng hoa. Các loại rau khác nhau thì yêu cầu lượng nước khác nhau. Dựa vào yêu cầu của rau đối với nước có thể phân nhóm như sau: + Loại rau tiêu hao nước nhiều, khả năng hút nước yếu: loại rau này có nguồn gốc ở nơi ẩm ướt, diện tích lá lớn, mặt lá không có lông, bốc hơi nước nhiều, bộ rễ
  19. 19 phân bố ở tầng nông, đòi hỏi ẩm độ đất và ẩm độ không khí tương đối cao như: cải bắp, cải bao, các loại cải ăn lá khác, dưa chuột.... + Loại tiêu hao nước ít, khả năng hút nước mạnh: Loại rau này có bộ lá l ớn, mặt lá có lông, bộ rễ khoẻ, phân nhánh nhiều, ăn sâu, có khả năng hút nước ở l ớp đất sâu, chịu được hạn như bí ngô, dưa hấu, dưa thơm. + Loại rau tiêu hao nước ít, khả năng hút nước yếu: Loại rau này thường có bộ lá nhỏ, mặt lá có sáp, bộ rễ kém phát triển, phân bố ở tầng đất mặt như hành tỏi. + Loại rau tiêu hao nước trung bình, khả năng hút nước trung bình: Loại rau này thân lá thường có lông, lá nhỏ, bộ rễ phát triển hơn nhóm một nhưng kém hơn nhóm hai, khả năng chịu hạn trung bình như các loại cải củ, cà chua, ớt, đậu.. + Loại rau tiêu hao nước nhanh, khả năng hút nước yếu: Là loại rau sống ở dưới nước, thân lá mềm yếu, bộ rễ phát triển kém, lông hút thoái hoá do sức hút kém như các loại rau ngó sen, củ ấu, củ niễng. 2.2.4. Đất và chất dinh dưỡng 2.2.4.1 Đất: Rau yêu cầu đất tốt và chế độ dinh dưỡng cao. Trong suốt quá trình sinh trưởng cây rau hấp thu 70% N, 20% P và 80% K do vậy cần bón phân vào đất trong suốt vụ trồng. Cây rau hấp thu chất dinh dưỡng trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: rễ, nhiệt độ, ô xy và nước ở trong đất. Ví dụ nếu đất khô cạn thì muối khoáng không thể hoà tan được, nồng độ dung dịch cao sẽ làm giảm khả năng hút muối khoáng của hệ rễ. Nếu nhiệt độ trong đất giảm đi thì khả năng hút nước và muối khoáng của hệ rễ giảm đi rõ rệt. Tổ chức và kết cấu đất cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hút dinh dưỡng của cây. Khi tính chín sớm là quan trọng nhất thì cây yêu cầu đ ất nhẹ, nhưng những loại đất như thế thường có lượng dinh dưỡng thấp và giữ ẩm kém, do vậy trong kỹ thuật canh tác cần bón nhiều phân. Các loại rau ăn củ như hành, tỏi, cà rốt, củ cải..... thích hợp với loại đất này. Khi yếu tố năng suất là quan trọng thì đ ất nặng lại có vai trò lớn. Trong trường hợp này cây sinh trưởng dài do vậy lượng phân bón thường không cần nhiều, không nhất thiết phải tưới thường xuyên. Tuy nhiên đất sét nặng không thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại rau, vì chúng yếm khí làm cho hệ rễ kém phát triển. Phản ứng của đất liên quan đến độ axit hoặc kiềm trong đất. Độ chua của đất là nồng độ ion H+ trong dung dịch đất. Cây rau phản ứng đối với độ pH thay đổi phụ thuộc vào từng chủng loại, phương pháp bón phân, thành phần của phân bón, phương pháp tưới nước, kỹ thuật làm đất. Rau là loaị cây trồng có thể sinh trưởng trên đất hơi kiềm hoặc trung tính. Ở độ pH từ 5,5-7 cây rau hút chất dinh dưỡng thuận lợi, vi sinh vật hoạt động tốt, nhưng hầu hết các loại rau đều sinh trưởng thuận lợi khi pH trong đất từ 6,0-6,8. Nếu đất bị chua, các nguyên tố Ca, P, Mg, Mo bị thiếu hụt, phải bổ xung các chất dinh dưỡng trên thông qua việc bón phân.
  20. 20 Bảng 2.1. Phân loại đất theo độ pH Loại đất pH Cực kỳ Axít <4,5 Axít rất mạnh 4,5-5,0 Axít vừa 5,1-5,5 Axít rất mạnh 5,6-6,0 Axít rất nhẹ 6,1-6,5 Trung tính 6,6-7,3 Kiềm nhẹ 7,4-7,8 Kiềm vừa 7,9-8,4 Kiềm mạnh 8,5-9,0 Kiềm rất mạnh 9,1+ Nguồn: Cẩm nang trồng rau (2002) Bảng 2.2. Khung pH đất tối ưu cho các loại rau khác nhau [ơ Cây trồng Phạm vi tối ưu Cây trồng Phạm vi tối ưu Đậu tương Cải bắp 5,5-7 6,0-7,0 đậu ván Cải bẹ 5,5-6,7 6,0-7,5 Đậu cô ve leo 5,5-6,7 Cà tím 6,0-6,5 Lạc 5,3-6,6 Cà chua 6,0-7,0 Dưa chuột Khoai lang 5,5-7,0 5,5-7,0 Bí đỏ Khoai tây 5,0-6,5 5,5-6,5 Củ cải 6,0-7,5 Dâu tây 5,5-6,5 Củ cải tròn Dưa hấu 5,5-7,0 5,5-6,5 Cà rốt 5,5-7,0 Xà lách 6,0-6,5 Khoai sọ Súp lơ 5,5-7,0 5,5-7,0 Cải bao 6,0-6,5 Măng tây 6,0-8,0 Nguồn: Cẩm nang trồng rau (2002) 2.2.4.2. Chất dinh dưỡng: * Đạm: Đạm là yếu tố dinh dưỡng cơ bản, thành phần chính của protein. Đạm đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các cơ quan sinh vật, là thành phần của nhiều hợp chất như: các ancaloit, các chất điều hoà sinh trưởng, glucozit, photphatit, enzym và diệp lục... Đạm là yếu tố có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng của cây, kích thích thân lá phát triển, kéo dài thời gian sinh trưởng và tuổi thọ của lá. Đạm là yếu tố có tính chất quyết định đến năng suất và chất l ượng những loại rau ăn lá. Là chất dinh dưỡng cần thiết ở thời kỳ đầu của các loại rau ăn thân, rễ củ, hoa và quả.
Đồng bộ tài khoản