GIÁO TRÌNH KIẾN THỨC TRỒNG RAU

Chia sẻ: chinhlaanh102

Cây rau có vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với đời sống con người, bởi chúng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào có thể thay thế được. Rau xanh có tác dụng cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của cơ thể con người, chúng cung cấp phần lớn các chất thiết yếu như vitamin, chất khoáng mà cây trồng khác không cung cấp đủ.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: GIÁO TRÌNH KIẾN THỨC TRỒNG RAU

1




Tài liệu

Những kiến thức về trồng rau
2


CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY RAU
1.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây rau
1.1.1 Giá trị dinh dưỡng của cây rau
Cây rau có vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với đời sống con người,
bởi chúng cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết mà không loại thực phẩm nào có
thể thay thế được. Rau xanh có tác dụng cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn uống
của cơ thể con người, chúng cung cấp phần lớn các chất thiết yếu như vitamin, chất
khoáng mà cây trồng khác không cung cấp đủ. Kết quả nghiên cứu về mức tiêu thụ
rau xanh cho thấy, ở các nước phát triển thường có mức tiêu thụ rau trên đ ầu người
cao hơn các nước đang phát triển.
Bảng 1.1: Thành phần các chất trong rau Việt Nam
Muối khoáng Thành phần hoá học
Vitamin
Loại rau
Fe Nước Xenlulo Calo
B1 B2 C PP Ca P
Bí xanh 0,01 0,02 16 0,03 26,0 23,0 0,3 95,5 1,0 12
Cà tím 0,04 0,05 15 0,60 15,0 34,0 0,4 92,5 1,5 23
Cà chua 0,06 0,04 10 0,50 12,0 26,0 1,4 94,0 0,8 20
Đậu cô ve 0,34 0,19 25 2,60 26,0 122,0 0,7 80,0 1,0 75
Đậu đũa 0,29 0,18 3 1,80 47,0 26,0 1,6 83,0 2,0 59
Mướp ta 0,04 0,06 0,8 0,50 28,0 45,0 0,8 95,1 0,5 16
Mướp đắng 0,07 0,04 22 0,30 18,0 29,0 0,6 91,4 1,1 16
Dưa chuột 0,03 0,04 5 0,10 23,0 27,0 1,0 95,0 0,7 16
Ớt - - 25 - - - - 91,0 1,4 29
Cải bắp 0,06 0,05 36 0,40 48,0 31,0 1,1 90,0 1,6 30
Cải cúc 0,01 0,03 - 0,20 63,0 38,0 0,8 93,8 2,0 14
Cải xoong - - 25 - 69,0 28,0 1,6 93,7 2,0 16
Cần ta 0,04 0,03 6 0,30 310,0 64,0 - 95,3 1,5 10
Cần tây - - 150 - 325,0 128,0 8,0 85,0 1,5 48
Khoai tây 0,03 0,05 10 - 10,0 55,0 1,2 75,0 1,0 94
Hành hoa 0,03 0,10 60 0,90 80,0 - 1,0 92,5 2,0 23
Hành tây 0,04 0,04 10 0,20 38,0 58,0 0,8 88,0 0,9 41
0,04 0,09 23 0,50 100,0 37,0 1,4 92,0 1,5 23
Rau muống
Rau ngót - - 185 ,- 64,5 - 86,4 2,5 36
169,0
Rau đay - - 77 - 57,3 - 91,4 2,5 25
182,0
Su hào 0,06 0,05 40 0,20 46,0 50,0 0,6 88,0 1,7 37
Súp lơ 0,11 0,10 70 0,60 26,0 51,0 1,4 90,9 0,9 30
Nguồn: Theo bảng thành phần hoá học thức ăn Việt Nam - 1972
3
Có thể thấy nguồn dinh dưỡng từ rau xanh rất phong phú, chúng bao gồm:
vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng và chất xơ..., đáng chú ý là vitamin và
chất khoáng có trong rau ưu thế hơn một số cây trồng khác.
Rau xanh chứa nhiều vitamin A, vitamin C, tổ hợp vitamin B gồm B1, B2, B6,
B12, niacin, axit panthothenic, biotin và axit follic. Hiện nay, trong khẩu phần ăn của
con người, rau xanh đã cung cấp khoảng 90 - 99% nguồn vitamin A, 60-70% nguồn
vitamin B2 và gần 100% vitamin C. Vitamin giúp cho các hoạt động sinh lý di ễn ra
bình thường trong cơ thể, mỗi loại vitamin có một chức năng khác nhau, nếu thiếu
bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống của con
người cụ thể như nếu thiếu vitamin A sẽ gây ra bệnh quáng gà, hoặc mắt không có
khả năng thích nghi với ánh sáng mờ, khi sự thiếu hụt này tăng lên thì bệnh quáng gà
sẽ tiến triển thành bệnh Xeropthalmia, làm hỏng thị lực. Vita min nhóm B cần thiết
cho cơ thể sử dụng hydratcacbon, protein và ngăn ngừa bệnh thiếu máu, thiếu vitamin
nhóm B sẽ gây mệt mỏi, kém ăn, cơ thể tê phù. Thiếu vitamin C gây chảy máu chân
răng, chân tay mệt mỏi, cơ thể suy nhược, thiếu vitamin D làm cho trẻ em chậm lớn,
còi xương…
Như vậy, nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, giảm hiệu suất
làm việc, dễ phát sinh bệnh tật, do đó trong lao động, học tập và sinh hoạt hằng
ngày, mỗi người phải cần một lượng vitamin nhất định.
Ngoài việc cung cấp vitamin, rau còn cung cấp một lượng chất khoáng đáng kể
như Ca, P, Fe... Trong các chất khoáng cần thiết cho cơ thể con người thì can xi và sắt
được chú ý hơn cả, canxi rất cần cho việc đảm bảo chức năng xương và răng, sắt ngăn
ngừa bệnh thiếu máu. Các loại muối khoáng cần thiết cho cấu tạo tế bào, các loại
enzime, muối khoáng còn là tác nhân gây xúc tác và điều hoà các quá trình sinh tổng hợp
trong cơ thể con người, chúng có tác dụng trung hoà độ chua do dạ dày tiết ra, khi tiêu
hoá thức ăn như thịt, ngũ cốc, đồng thời làm tăng khả năng đồng hoá protit.
Lượng gluxit và protein trong rau luôn bổ sung cho cơ thể một phần năng lượng,
tuy không nhiều nhưng protein chứa nhiều lizin và mỗi loại rau lại có những tỷ l ệ
axit amin khác nhau nên khi ăn nhiều loại rau cùng một lúc, sẽ có tác dụng tốt trong
việc nâng cao giá trị sử dụng protein.
Rau xanh còn cung cấp một l ượng l ớn ch ất xơ, có kh ả năng làm tăng ho ạt
động của nhu mô ruột và hệ tiêu hoá, ngăn ngừa đ ược ch ứng táo bón. Ch ất x ơ ảnh
hưởng có lợi đến hàm lượng cholesterol trong máu, do v ậy ảnh h ưởng t ốt đ ến
huyết áp và tim, ngăn ngừa đ ược sỏi mật và ung th ư ruột. S ố l ượng ch ất x ơ l ớn
có trong rau và với giá tr ị năng l ượng thấp c ủa nó s ẽ có tác d ụng ngăn ng ừa b ệnh
béo phì. Bên cạnh đó nó có vai trò trong vi ệc đi ều tr ị b ệnh đái tháo đ ường. Nh ờ có
hàm lượng chất xơ này rau đ ược coi như một loại th ức ăn có l ợi cho s ức kho ẻ.
Nếu so sánh trên cùng một đơn vị diện tích đất trồng trọt thì rau xanh có hàm
lượng các chất dinh dưỡng nhiều hơn so với cây lương thực khác.
4


Bảng 1.2: Hàm lượng dinh dưỡng trong một số loại rau

suất
Năng
Protein carotene Vitamin C
Nông sản trung bình
(kg/ha) (g/ha) (kg/ha)
(tấn/ha)
Cải xanh 39,7 707 537 20,6
Súp lơ 23,9 229 6,9 8,0
Hành 59,5 941 - 2,8
Tỏi 9,5 565 0 0,6
Cà chua 60,1 535 299 20,2
Khoai tây 43,9 345 - 4,8
Lúa 5,6 414 0 0
Khoai Lang 24,6 216 116,9 6,7
Đậu tương 2,5 167 1,9 0,28


Nguồn: Số liệu của Trung tâm phát triển rau châu Á (2002)
Rau xanh rất phong phú về chủng loại, vì vậy thức ăn được chế biến từ rau rất
đa dạng với nhiều màu sắc đẹp mắt, hương vị đa dạng góp phần tạo nên những bữa
ăn ngon miệng và hấp dẫn.
Ngoài giá trị về dinh dưỡng, một số loại rau còn có ý nghĩa về mặt y học bởi chúng
là những vị thuốc rất có giá trị đối với sức khoẻ con người, ví dụ như hành, tỏi, nghệ, tía
tô, mướp đắng, rau diếp cá... đây là những loại gia vị vừa làm ngon miệng vừa làm tăng
sức đề kháng trong cơ thể. Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học thì mỗi người
cần 250-300g rau xanh/ngày, để đáp ứng cho sự hoạt động bình thường của con
người.
1.1.2. Ý nghiã kinh tế của cây rau
Trong nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu, rau xanh đóng góp nguồn thu nhập
ngoại tệ đáng kể. Những năm 1986- 1990, nước ta đã xuất khẩu rau sang Liên Xô và các
nước Đông Âu, nhưng do tình hình chính trị biến động nên việc xuất khẩu bị giảm. Từ
năm 1995 trở lại đây, hoạt động xuất khẩu rau xanh được phục hồi, hiện nay có tới hơn
40 nước là thị trường rau của Việt Nam, các mặt hàng rau xuất khẩu chủ yếu là: ớt cay,
cà chua, dưa chuột.
Rau là cây trồng quan trọng trong ngành trồng trọt, được trồng ở nhiều vùng sinh
thái khác nhau với lợi thế là thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng được nhiều vụ
trong năm, do vậy rau được coi là cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam. Mặt khác, rau có đặc điểm là kích
thước nhỏ nên cây rau rất thích hợp trồng xen hay gối vụ với những cây trồng khác,
như vậy trồng rau sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Trồng rau có hiệu quả hơn so
5
với các cây trồng khác về khả năng khai thác năng suất/một đơn vị diện tích/một đơn
vị thời gian, vì chúng có đặc điểm sinh trưởng và phát triển nhanh trong một thời gian
ngắn.
Tác giả Trần Khắc Thi cho biết, hiệu quả kinh tế của sản xuất rau cũng cao
hơn so với nhiều loại cây trồng khác. Giá trị sản xuất 1 ha rau gấp 2-3 lần so với cây
lúa. Theo số liệu điều tra của Nguyễn Tiến Mạnh năm 1999, ở 4 tỉnh Hà Nội, Hà
Tây, Nam Định và Thái Bình tổng thu nhập trên 1 ha lúa là 3.830.000 đồng, ngô là
3.333.000 đồng, khoai tây là 15.641.000 đồng, cải bắp là 11.743.000 đồng và dưa
chuột là 23.532.000 đồng. So sánh hiệu quả kinh tế giữa công thức luân canh ở đồng
bằng sông Hồng tác giả cho biết tổng thu nhập trên đất chuyên canh cao hơn 2 lần so
với trên đất 1 lúa - 2 màu và cao hơn 3 lần so với 2 lúa - 1 màu.
Kết quả điều tra của Tô Thị Thu Hà và Nguyên Văn Hiền (2005), tại vùng ven
đô Hà Nội thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực, trong
khi chi phí chỉ gấp 2 lần, điều này dẫn đến lãi thuần của cây rau cao hơn 14 lần so
với cây lương thực.
Theo số liệu Trung tâm phát triển rau châu Á cho biết ở Đài Loan năng suất của
cây rau cũng cao hơn nhiều so với cây lúa, trung bình tổng thu nhập rau cao hơn lúa từ
3 đến 10 lần.
Ngoài việc dùng rau làm cây thực phẩm, một số loại rau như khoai tây còn
được coi là một trong năm cây lương thực trên thế giới sau lúa, ngô, mỳ, mạch. Khoai
tây hiện là nguồn tinh bột chủ yếu của nhiều nước.
Bên cạnh đó rau còn là nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành thực phẩm như
công nghệ sản xuất nước giải khát, đồ hộp, bánh kẹo và làm hương liệu chế biến
thuốc, dược liệu. Ngoài ra rau còn góp phần phát triển ngành kinh tế khác như chăn
nuôi (là nguồn thức ăn trong chăn nuôi).
1.1.3. Ý nghĩa về mặt xã hội
Sản xuất rau phát triển sẽ góp phần sắp xếp lao động hợp lý, tăng thu nhập cho
người lao động, mở rộng thêm ngành nghề, giải quyết tốt việc làm cho nông dân lúc
nông nhàn, ngoài ra còn hỗ trợ các ngành khác trong nông nghiệp phát triển như làm
thức ăn cho chăn nuôi....
Nghề trồng rau phát triển, người nông dân có cơ hội được tiếp thu các kỹ thuật
tiến bộ mới trong sản xuất, từ đó góp phần nâng cao dân trí, thay đ ổi tập quán canh
tác lạc hậu từ bao đời nay của nông dân Việt Nam.
Như vậy, rau không chỉ là cây trồng xoá đói giảm nghèo mà còn là cây trồng
mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có lợi ích nhiều mặt cho người dân, từ cây
rau người nông dân có thể làm giàu chính đáng trên mảnh đất của mình.
1.2 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình phát triển rau trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diện tích trồng
rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân. Năm 1961 - 1965 tổng
6
lượng rau của thế giới là 200.234 tấn, nhưng từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt
293.657 tấn và từ năm 1981-1985 là 392.060 tấn, đến năm 1996 đã lên đến 565.523
tấn. Như vậy chúng ta thấy sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó
chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng.
Trong nhiều năm gần đây, tình hình sản xuất rau trên thế giới không ngừng phát
triển cả về diện tích và sản lượng, số liệu được FAO thống kê và được trình bày tại
bảng 1.2.

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau trên thế giới


Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
Diện tích
50.023.341 51.834.813 52.946.202 52.047.395 52.444.669
(ha)
Năng suất
168 168 170 170 170
(tạ/ha)
Sản lượng
841.460.320 873.417.121 891.182.896 889.742.585 893.432.504
(tấn)
Nguồn : F. A. O Stat Database Results, 2009
Theo thống kê của FAO, diện tích trồng rau năm 2003 là 50.023.341 ha nhưng đến
năm 2007 đã mở rộng lên tới 52.444.669 ha, tăng so với năm 2003 là 2.421.328 ha, bình
quân mỗi năm tăng 484.266 ha. Như vậy, diện tích trồng rau trên thế giới hiện đang tăng
lên, nguyên nhân là do người nông dân chuyển một phần diện tích trồng cây ngũ cốc và
cây lấy sợi sang trồng rau.
Năng suất rau bình quân trên thế giới không biến động nhiều đạt từ 168 – 170 tạ/ha
qua 5 năm, bởi hiện nay mục đích trồng rau không tập trung về tăng năng suất mà chú
trọng hơn đến việc tăng chất lượng của sản phẩm.
Về sản lượng rau, hàng năm thu được theo chiều hướng tăng dần, tính đến năm
2007 đạt 893.432.504 tấn, tăng hơn so với năm 2003 là 51.972.184 tấn. Nếu năm 2007
tổng sản lượng rau trên toàn thế giới đạt 893.432.504 tấn thì Châu Á chiếm khoảng 75
% tổng sản lượng toàn thế giới.
1.3 Tình hình sản xuất rau Châu Á


Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007
Diện tích
(ha) 35263666 36367719 37822942 38394191
suất
Năng
(tạ/ha) 172 173 173 174
Sản lượng
(tấn) 608765100 630432135 654367417 670763162
7


Nguồn : F. A. O Stat Database Results, 2009

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất rau Trung Quốc


Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
Diện tích
(ha) 20474144 21564190 22150677 22999771 23717182
Năng suất
(tạ/ha) 195 190 191 190 190
Sản lượng
(tấn) 399245808 409719610 423077930 436995649 450626458

Nguồn : F. A. O Stat Database Results, 2009
Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất thế giới đạt 448.982.800 tấn, cao
hơn nhiều so với Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác. Ở Châu Á,
Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất tiếp theo là Ấn Độ, còn ở nước ta sản
lượng rau ở mức thấp đạt 7.991.000 tấn. Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản
lượng thì chất lượng rau cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều công nghệ
tiên tiến ra đời và việc kiểm soát dư lượng hoá chất tồn đọng trong rau ngày càng được
thực hiện triệt để hơn.
Về nhu cầu tiêu thụ rau trên thế giới, theo FAO dự báo từ nay cho đến năm
2010 hàng năm tăng bình quân 3,6 %, trong khi đó tốc độ tăng trưởng về sản l ượng
chỉ khoảng 2,8 %, như vậy thị trường rau trên thế giới chưa đáp ứng được nhu cầu
tiêu thụ. Trong những năm qua nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng
1,8 % mỗi năm. Các nước và vùng lãnh thổ có nhu cầu nhập khẩu rau cao đó là Pháp,
Đức, Canada khoảng 155.000 tấn mỗi năm; Anh, Mỹ, Bỉ, Hồng Công, Singapo
khoảng 120.000 tấn mỗi năm. Một số nước có lượng rau xuất khẩu lớn trên thế giới
đó là: Trung Quốc (609.000 tấn/năm); Italia, Hà Lan mỗi nước xuất khẩu khoảng
140.000 tấn/ năm. Theo dự báo của FAO, ước tính đến năm 2010 giá xuất khẩu rau
tươi khoảng 526 USD/tấn và giá nhập khẩu khoảng 703 USD/tấn, như vậy rau tươi
là một trong những mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị, hơn nữa nhu cầu rau
trên thế giới ngày một tăng, bởi vậy rau có vị trí lớn trên thị trường thế giới.
1.2.2. Tình hình phát triển rau ở Việt Nam
Tác giả Tạ Thu Cúc cho biết, nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời, ngay từ đời
vua Hùng, người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong vườn gia đình. Theo sổ
sách ghi chép cây rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ thứ X. Thế kỷ thứ XVIII Lê Quý
Đôn đã tổng kết các vùng phân bố rau trong cả nước. Vào giữa thế kỷ thứ XVIII đến
thế kỷ thứ IXX nhân dân ta đã biết trồng cải trắng và cải bẹ đông dư, cuối thế kỷ thứ
IXX trồng được rất nhiều các loại rau có nguồn gốc từ Châu Âu như cải bắp, su hào,
8
súp lơ, cà rốt, hành tây… thế kỷ thứ XX các vùng trồng chuyên canh rau đã được hình
thành và phát triển. Mặc dù nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề
trồng lúa nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn,
diện tích và sản lượng rau thấp so với tiềm năng đất đai, khí hậu Việt Nam.
Tác giả Trần khắc Thi cho biết, năm 1995 cả nước có diện tích trồng rau là 368,5
ha, đạt sản lượng là 4145,56 triệu tấn, nếu so với năm 1985 thì diện tích tăng 46,4%,
bình quân mỗi năm tăng 10.000 ha. Diện tích trồng rau trong cả nước tính đ ến năm
2000 là 445.000 ha, tăng 261.090 ha vào khoảng 70% so với năm 1990. Bình quân hàng
năm tăng 18,4 nghìn ha (mức tăng trung bình 7%/ năm). Trong đó các tỉnh phía Bắc là
249.200 ha chiếm 56%, còn các tỉnh phía Nam là 196.000 ha chiếm 44% diện tích canh
tác.

Bảng 1.5. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam


Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
Diện tích
648.290 660.600 670.600 670.600 670.600
(Ha)
Năng suất
117 117 119 119 119
(tạ/ha)
Sản
lượng 7.601.175 7.781.000 7.991.000 7.991.000 7.991.000
(tấn)
Nguồn : F. A. O Stat Database Results, 2009
Theo số liệu thống kê của FAO, những năm gần đây, diện tích trồng rau của ta
ngày càng được mở rộng từ 648.290 ha năm 2003 lên 670.600 ha năm 2007. Diện tích
tăng nhanh nhất từ năm 2003 đến 2005, qua hai năm diện tích tăng 22,3 ha. Từ năm
2005 trở lại đây diện tích trồng rau không có biến động, cả nước đạt 670.600 ha.
Theo tài liệu của tác giả Phạm Thị Thuỳ, rau ở nước ta năng suất còn thấp và bấp
bênh, năm 1998 năng suất cao nhất cũng chỉ đạt 144,8 tạ/ha bằng 80% so với mức trung
bình của toàn thế giới (xấp xỉ 180 ta/ha). Nếu so với năm 1990 là 123,5 tạ thì năng suất
bình quân cả nước trong 10 năm cũng chỉ tăng 11,5 tạ/ha. Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng,
TP.Hồ Chí Minh, Đà Lạt là các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt năng
suất bình quân ở mức 160 tạ/ha. Năng suất trung bình thấp nhất là ở các tỉnh miền
Trung, chỉ bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nước. Nhưng theo số liệu thống
kê của FAO, những năm gần đây năng suất tương đối ổn định, đạt 119 tạ/ha.
Sản lượng rau có chiều hướng gia tăng, năm 2000 đạt hơn 6 triệu tấn, tăng 81%
so với năm 1990, mức tăng sản lượng trung bình hàng năm từ năm 1990 - 2000 là xấp
xỉ 260 ngàn tấn. Do diện tích tăng nhanh dẫn đến sản lượng rau ở nước ta tăng lên
đáng kể, từ 7.601.175 tấn năm 2003 tăng lên 7.991.000 tấn năm 2007, như vậy chỉ
trong 5 năm sản lượng tăng 389.825 tấn. Sản lượng rau của nước ta chủ y ếu thu
9
được từ hai vùng chính đó là vùng rau chuyên canh ven thành phố và vùng rau luân
canh với cây lương thực.
Tuy nhiên cùng với sự hình thành phát triển của các thành phố, khu công nghiệp,
khu dân cư thì các vùng trồng rau mới, được hình thành và phát triển nhằm cung cấp
thực phẩm cho người tiêu dùng.
Hiện nay, rau ở nước ta được sản xuất theo 2 phương thức tự cung tự cấp và hàng
hoá, trong đó rau hàng hoá được tập trung chính ở hai khu vực:
Vùng sản xuất rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông
dân cư. Sản phẩm chủ yếu cung cấp cho người dân phi nông nghiệp, với nhiều
chủng loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao
(4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá nhưng sản phẩm rau ở những
vùng này về mức độ an toàn đáng lo ngại.
Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau đ ược
trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu. Sản phẩm phục vụ cho dân cư
trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu.
Hiện nay chúng ta có một số vùng trồng rau hàng hoá tập trung:
Miền Bắc:
+ Vùng trồng rau chuyên canh ở Hà Nội có diện tích gieo trồng khoảng 81.000
ha, với các chủng loại rau đa dạng và phong phú, chiếm ưu thế cả về diện tích và
sản lượng, là vùng có tỷ suất hàng hoá cao.
+ Vùng sản xuất chuyên canh cà rốt, hành tỏi, dưa hấu tại Nam Sách, Bình
Giang, Kim Thành tỉnh Hải Dương.
+ Vùng chuyên canh dưa chuột tại Lý Nhân tỉnh Hà Nam
+ Vùng chuyên canh rau với một số loại rau chủ lực như: hành, tỏi, ớt, khoai
tây, dưa chuột, ngô bao tử tại Quỳnh Phụ, Thái Thuỵ - Thái Bình.
+ Vùng trồng măng tại Đan Phượng - Hà Nội.
+ Sản xuất rau xuất khẩu tại Quỳnh Lưu - Nghệ An.
Miền Nam:
+ Vùng trồng rau công nghệ cao ở thành Phố Hồ Chí Minh.
+ Vùng trồng nấm tại Vĩnh Long
+ Vùng trồng rau an toàn tỉnh Tiền Giang
+ Vùng sản xuất rau ôn đới tại Lâm Đồng.
Đánh giá về thực trạng sản xuất rau nước ta trong thời gian qua, nhiều tác giả
nhận định, sản xuất rau ở nước ta hiện nay đã có bước phát triển đáng kể về diện
tích và đa dạng về chủng loại, nhưng bên cạnh đó năng suất và sản lượng rau còn
thấp, quy mô phân tán, chất lượng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn
xuất khẩu tươi và chế biến công nghiệp. Lý do chất lượng rau không đảm bảo là,
thiếu cải tiến kỹ thuật, canh tác chủ yếu thiên về năng suất chưa chú trọng đến chất
lượng sản phẩm, việc quản lý về kiểm định chất lượng còn kém cho nên rau tươi ở
Việt Nam chưa bảo đảm an toàn cho người sử dụng, dẫn đến xuất khẩu rau còn quá
10
ít, khả năng cạnh tranh trên thị quốc tế kém. Rau quả của nước ta tuy đa dạng và
phong phú, nhưng sản xuất chưa gắn với thị trường, chất lượng thấp, bao bì mẫu mã
chưa thích hợp, thị trường rau còn đơn điệu và nghèo nàn. Hiện Việt Nam có trên 40
nước là thị trường để xuất khẩu nhưng chúng ta lại không có đủ điều kiện, mới chỉ
xuất khẩu được khoảng 3% sản lượng. Rau ở nước ta không thể cạnh tranh đ ược
với thị trường quốc tế mà ngay cả trong nước, rau tươi của ta cũng đang bị các s ản
phẩm nhập khẩu lấn át.
1.3 Đặc điểm chung của nghề trồng rau
Nghề trồng rau có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Hầu hết các hạt giống rau phải trải qua thời kỳ vườn ươm
Đặc điểm nổi bật của nghề trồng rau là hầu hết các hạt giống rau đều phải
trải qua thời kỳ vườn ươm bởi vậy trong thời kỳ này chúng ta cần chăm sóc cẩn thận,
để có được cây giống tốt tạo tiền đề cho sự sinh trưởng và phát triển của cây rau sau
này.
- Yêu cầu thời vụ nghiêm ngặt, chặt chẽ
Rau là loại cây trồng rất mẫn cảm với sự thay đổi của điều kiện khí hâụ thời
tiết như: nhiệt độ, ánh sáng, bởi vậy chúng yêu cầu thời vụ hết sức nghiêm ngặt.
Nếu bố trí sai thời vụ, dẫn đến giảm năng suất và chất lượng của rau, cá biệt còn
không thu được năng suất. Bởi vậy trong kỹ thuật trồng trọt cần phải bố trí thời vụ
cây rau cho thích hợp. Về nguyên tắc cần bố trí, sắp xếp thời vụ sao cho thời kỳ hình
thành bộ phận sử dụng gặp được điều kiện thuận lợi nhất.
- Rau là loại cây trồng bị nhiều sâu bệnh hại
Rau là loại cây trồng có chất dinh dưỡng phong phú, hàm l ượng n ước trong
thân lá non cao nên là môi trường thích hợp cho nhiều loại sâu bệnh sinh trưởng, phát
triển trên cây rau.
Chủng loại rau rất phong phú, nên sâu bệnh cũng rất đa dạng.
Sự phát sinh phát triển của sâu, bệnh phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại
cảnh đặc biệt là điều kiện thời tiết khí hậu, bởi vậy phòng trừ sâu, bệnh cho rau là
một nhiệm vụ quan trọng của nghề trồng rau.
- Cây rau thích hợp với chế độ trồng xen, trồng gối
Thời gian sinh trưởng của cây rau dài ngắn khác nhau, đặc điểm thực vật học
và sinh thái học khác nhau. Vì vậy có thể bố trí nhiều loại cây trồng trên cùng một
đơn vị diện tích, trong cùng thời gian để chúng cùng sinh trưởng và phát triển. Với
biện pháp kỹ thuật trồng xen và trồng gối làm tăng năng suất trên đơn vị diện tích.
- Yêu cầu kỹ thuật cao, đầu tư nhân lực và kinh phí lớn
Rau là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, muốn đạt năng suất cao,
chất lượng tốt, sản xuất rau trái vụ cao cần phải thực hiện nhiều biện pháp kỹ thuật
tiên tiến và hiện đại, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất. Bởi vậy muốn trồng rau
để có hiệu quả kinh tế yêu cầu người trồng rau phải có kỹ thuật cao.
1.4. Phương hướng và nhiệm vụ ngành sản xuất rau đến năm 2020
11
Định hướng quy hoạch theo Quyết định 150/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của
Thủ tướng Chính phủ
1.4.1. Phương hướng
- Tiếp tục chương trình phát triển rau, quả, hoa cây cảnh trên cơ sở khai thác
lợi thế về điều kiện khí hậu, sinh thái đa dạng. Cần trồng mới theo hướng chuyên
canh, sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường.
canh,
- Gắn sản xuất với thị trường, đẩy mạnh sản xuất và chế biến các sản phẩm
có giá trị cao nhằm cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.

- Sản xuất rau, hoa, quả phải trên cơ sở áp dụng công nghệ cao, trước hết
phải thực hiện quy trình sản xuất theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), bảo
ph
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu ngay tại thị
trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu. Trong thời kỳ 2010-2020, ngoài đáp ứng
tr
nhu cầu nội địa, kim ngạch xuất khẩu rau hoa quả Việt Nam phấn đấu đạt 1,2 tỷ
nhu
USD/năm.
USD/năm.
Các chỉ tiêu phát triển:
Về diện tích và sản lượng:
Diện tích rau đến năm 2010 đạt 700 ngàn ha và sản lượng đạt 14 triệu tấn,
đến năm 2020 diện tích gieo trồng khoảng 750 ngàn ha, t rong đó rau an toàn và rau
công nghệ cao khoảng 100 ngàn ha.
Về kim ngạch xuất khẩu: phấn đấu đến năm 2010 tổng kim ngạch xuất
khẩu rau hoa quả các loại đạt 760 triệu USD/năm, đến năm 2020 đạt 1,2 tỷ
USD/năm. Trong đó riêng rau đến năm 2010 đạt 200 ngàn tấn tổng kim ngạch xuất
khẩu đạt 155 triệu USD
1.4.2. Nhiệm vụ
- Tăng năng suất, sản lượng, chất lượng, hiệu quả kinh tế và kim ngạch xuất
khẩu
kh
- Nâng cao trình độ kỹ thuật và hiểu biết thị trường đối với người sản xuất rau
- Đầu tư khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng cho sản xuất rau
- Sản xuất rau quanh năm
12




CHƯƠNG 2
ĐẶC TÍNH SINH THÁI HỌC CỦA CÂY RAU
2.1. Phương pháp phân loại
2.1.1. Phương pháp phân loại theo đặc điểm thực vật học
Đây là phương pháp phân loại dựa vào đặc điểm thực vật học của cây rau như
rễ, thân, lá, hoa, quả để phân loại thành bộ, họ, chi, loài, giống theo tên gọi th ống
nhất bằng tiếng la tinh.
Phân loại theo phương pháp này rau được chia thành các họ như sau:
Thực vật bậc thấp
Họ nấm tán: Agricaeae
Gồm có:
Nấm rơm: Volvaria volvacea Fr. hoặc V.esculenta
Nấm mỡ: Psalliota bisporus (P.campestri Fr.)
Nấm hương: Coritellus shiitake P. Hen.
+ Họ mộc nhĩ: Auriculoria
Gồm họ mộc nhĩ: Auriculoria judae Shroter (hoặc A.fidae Shroter)
- Thực vật bậc cao:
* Lớp một lá mầm:
+ Họ hoà thảo: Gramineae
Măng tre: Phyllostachys edulis Riv.
Măng mai: Dendrrocalamus latifolius Munro
Ngô rau: Zea mays
Ngô đường: Zea mays L. var. rugosa hoặc Zea mays sacchrrata sturt
+ Họ hành tỏi: Alliaceae
Hành tây: Allium cepa L.
Hành hoa: Allium fistulosum L.
Hành ta: Syn.var.multiplicans Bailey.
Tỏi ta: Allium sativum L.
Tỏi tây: Allium porrum L.
Hẹ: Allium tuberosum
* Lớp hai lá mầm:
+ Họ thập tự: Cruciferae
Cải bắp: Brassica oleraceae L. Capitatal L.
Cải bi xen: Brassica oleraceae L. Gemmifera D.C
Cải làn: Brassica oleraceae L. Alloglabra Bailey
13
Cải xoăn: Brassica oleraceae L. Acephala D.C
Cải xanh: Brassica Juncea cosson
Cải củ: Raphanus sativus L.
Cải xoong: Nasturtium officinales R.Bd
Suplơ: Brassica oleraceae L.Botrytis L.
Su hào: Brassica oleraceae L. Caulorapa Pasq
Cải thìa: Brassica rapa L. Chinensis L.
Cải bẹ: Brassica rapa L. Pekinensis L.
+ Họ cà: Solanaceae
Cà chua: Licopersicon esculentum Mill.
Cà tím: Solanum melongena L. var. Serpentinum Bailey
Cà bát: Solanum melongena L. var. esculentum Ness
Cà pháo: Solanum melongena L. var. Depressum Bailey
Khoai tây: Solanum tuberosum L.
Ớt ngot: Capsicum annuum L.
Ớt cay: Capsicum frutescens L.
+ Họ bầu bí
Dưa chuột: Cucumis sativus L.
Dưa hấu: Citrullus vulgaris Schrad
Dưa thơm: Cucumis melo L.
Dưa gang: Cucumis melo L. var. Cocomon
Bí ngô: Cucurbita pepo L.
Bí xanh: Benincasa hispida (thunb)
Mướp: Luffa acutangula (L.) Roxb.
Su su: Sechium edule (Jacq) Swartz.
Bầu: Lagenaria vulgaris Ser.
+ Họ đậu: Leguminoceae
Đậu cô ve: Phaseolus vulgaris L
Đậu Hà lan: Pisum sativum L
Đậu đũa: Vigna umguiculata L. Walp
Đậu ván: Dolichos labla L.
Củ đậu: Pachyrhizus toberosus Spreng
Đậu rồng : Psophocarpius tetagonolabus.
+ Họ hoa tán: Unbeliferae
Cà rốt: Daucus carota L.
Cần tây: Apium graveolens L. Dulce Mill D.C
Cần ta: Apium graveolens L. Rapeceum.
Mùi ta: Petroselium crispum Mill. Manof
Mùi tầu: Erynginum odoratum.
Thìa là: Anethum graveolens L.Dulce Mill D.C
14
+ Họ cúc: Compositae
Rau diếp: Lactuaca sativa L.
Diếp xoăn: Cichorium endivia
Xà lách: Lactuaca sativa var. Capitata
Cải cúc: Chrysanthenum Coronanium var.Spatisum Bailey
+ Họ bìm bìm: Convulvulaceae
Rau muống: Ipomoea aquatica Forsk
Rau ngổ: Lepidium sativum (Forsk)
+ Họ rau muối: Chenopodiaceae
Củ cải đường: Beta vulgaris var. Saccarifera
+ Họ rau giền: Amaranthaceae
Rau giền: Amaranthus tricole L.
+ Họ mồng tơi: Basellaceae
Mồng tơi: Basella allra L.
+ Họ niễng: Trapaceae
Niễng: Trapanalans L.
Củ ấu: Trapa bicornis orbeck
+ Họ hoa môi: Labiatae
Húng: Ocinum bacilicum L.
Tía tô: Perilla frutescens var. Cripa
Kinh giới: Elsholtzia erislata (Willd)
+ Họ gừng: Zingiberaceae
Gừng: Zingiber officinale Roscoe
+ Họ nghể: Polygonaceae
Rau răm: Polygonum odoratum (Lour)
2.1.2 Phân loại theo bộ phận sử dụng
Phương pháp phân loại này dựa trên cơ sở những cây rau có bộ phận sử dụng
dùng làm thực phẩm giống nhau thì được xếp trong cùng một loại.
+ Rau ăn thân: su hào, khoai tây....
+ Rau ăn lá: rau cải, cải bắp, rau giền, rau muống ...
+ Rau ăn hoa: thiên lý, súp lơ.
+ Rau ăn củ: cải củ, cà rốt, củ đậu....
+ Rau ăn quả: cà chua, cà, ớt, đậu....
Ngoài những phương pháp phân loại trên, một số tác giả còn phân loại theo
khối lượng hạt, giá trị sử dụng, giá trị dinh dưỡng và yêu cầu đối với nhiệt độ.
2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đối với cây rau
Yếu tố quyết định thành công trong nghề sản xuất rau đó chính là sự am hiểu
một cách sâu sắc và triệt để đến các yếu tố môi trường, yêu cầu và khả năng thích
nghi của cây rau đối với yếu tố ngoại cảnh. Yếu tố ngoại cảnh chính là các yếu tố
bên ngoài tác động vào đời sống của cây rau như: nhiệt độ, ánh sáng, ẩm đ ộ, đ ất,
15
dinh dưỡng, gió, bão vvv... Những yếu tố này gây khó khăn trong quá trình sản xuất
rau và cũng là những vấn đề vượt quá khả năng khống chế của con người. Bởi vậy
trong sản xuất rau, cần phải hiểu rõ ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đ ến đ ời
sống cây rau, để có những tác động bằng biện pháp kỹ thuật, giúp cho cây sinh
trưởng và phát triển tốt trong sự thay đổi của điều kiện thời tiết, khí hậu diễn ra
hàng ngày.
2.2.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố hạn chế rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây rau, là
yếu tố nằm ngoài khả năng khống chế của con người.
Nhiệt độ thường là nhân tố quan trọng nhất để quyết định, mỗi loại cây rau có
thể trồng trong điều kiện ngoại cảnh cụ thể như thế nào. Nhiệt độ ảnh hưởng đến mọi
hoạt động sinh lý trong cây, bằng cách điều chỉnh tốc độ của phản ứng hoá học. Nó ảnh
hưởng đến quá trình phân hoá hoa, sự sống của hạt phấn, tạo quả, cân bằng hooc môn,
tỷ lệ chín, chất lượng, năng suất và thời gian bảo quản sản phẩm ăn được.
Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến thời gian thu hoạch của cây rau. Nếu nhiệt độ cao
gần thời kỳ thu hoạch sẽ làm tăng nhanh quá trình chín và làm ngắn thời gian giữa các
lần thu hoạch. Điều này có hại hay lợi phụ thuộc vào ý muốn của người sản suất.
Mỗi một loại rau đều yêu cầu một giới hạn nhiệt độ nhất định để sinh trưởng
và phát triển. Nếu vượt quá giới hạn cây rau sinh trưởng phát triển kém, dẫn đ ến
năng suất và chất lượng giảm.
Yêu cầu của cây rau đối với nhiệt độ cũng thay đổi tuỳ theo từng loài.
Hiệu suất quang hợp của hầu hết các loại rau đều ngừng ở nhiệt độ 300C
Nhiều loại rau thực hiện chức năng quang hợp có hiệu quả từ 12-240C
Trên cùng một cây rau nhưng ở thời kỳ khác nhau, yêu cầu đối với nhiệt đ ộ
cũng thay đổi.
Ví dụ: nhiệt độ thích hợp cho cây cà chua là 22-240C, nhiệt độ tối cao là 350C,
nhiệt độ tối thấp là 100C.
Cây khoai tây: nảy mầm tốt ở nhiệt độ 18-200C, sinh trưởng thân lá 20-220C,
hình thành thân củ 16-180C.
Thời kỳ nảy mầm
Điều kiện để hạt nảy mầm là nhiệt độ, ô xy và nước. Trong đó nhiệt độ là
yếu tố quyết định nhất đến sự nảy mầm của hạt. Hầu hết các giống rau đều nảy
mầm nhanh ở nhiệt độ 25-300C. Loại rau chịu rét bắt đầu nảy mầm ở nhiệt độ 10-
150C, nhưng nhiệt độ thích hợp là 18-200C.
Thời kỳ cây con
Ở thời kỳ này ta có thể quan sát thấy, lá mầm xuất hiện ló lên khỏi mặt đ ất.
Cây con có đặc điểm thân lá mềm yếu, khả năng quang hợp của bộ lá còn hạn chế
nên nhiệt độ thấp hơn thời kỳ nảy mầm sẽ có lợi cho cây sinh trưởng và phát triển.
16
Nhiệt độ thích hợp cho nhiều loại rau ở thời kỳ này là từ 18-20 0C. Nhiệt độ
cao sẽ làm cây hô hấp mạnh, tiêu hao chất dự trữ, do đó cây nhỏ bé còi c ọc, cuối
cùng cho cây giống xấu.
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng
Vào thời kỳ đầu, rau sinh trưởng thân lá, nhiệt độ cao hơn sẽ có lợi cho cây
quang hợp và phát triển thân lá.
Những cây rau ôn đới, nhiệt độ thích hợp cho quá trình tích luỹ chất dinh
dưỡng là 17-180C. Nếu nhiệt độ cao trên 250C làm cho cải bắp không cuốn, nụ hoa
súp lơ và thân củ khoai tây khó hình thành và phát triển.
Những cây rau ưa thích khí hậu ấm áp nhiệt độ thích hợp là 20-30 0C. Nhiệt độ
thấp sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây rau.
Thời kỳ sinh trưởng sinh thực
Nhiệt độ thích hợp ở thời kỳ này là 200C, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều
ảnh hưởng không tốt đến quá trình thụ phấn thụ tinh dẫn đến rụng nụ, rụng hoa.
Căn cứ vào yêu cầu của cây rau đối với yếu tố nhiệt độ trong quá trình sinh
trưởng và phát triển có thể phân loại như sau:
- Loại rau chịu rét: là những cây có khả năng đồng hoá mạnh ở nhiệt độ 15 0C-
200C và có khả chịu rét trong thời gian dài như hành, tỏi, măng tây, ngó xen...
Loại rau chịu rét trung bình: Là những cây có khả năng đồng hoá ở nhiệt độ
150C-200C và có khả chịu rét trong thời gian ngắn như cải trắng, cải bắp, cà rốt, đậu
hà lan, rau cần...
Loại rau ưa thích ấm áp: Là những cây có khả năng đồng hoá mạnh ở nhiệt
độ 20 C-300C và không có khả chịu rét như cà, cà chua, ớt, dưa chuột...
0


Loại rau chịu nóng: Là những cây có khả năng đồng hoá mạnh ở nhiệt độ
30 C, ở nhiệt độ cao 400C cây vẫn có thể sinh trưởng bình thường như bí ngô, bí
0


xanh, đậu đũa, dưa hấu...
Nhiệt độ xuân hoá khi nhiệt độ xuống thấp, thường là dưới 80C sẽ phá vỡ sự
ngủ nghỉ của hạt, chồi... Kết quả là hạt nảy mầm, chồi xoè ra nhiệt độ thấp như vậy có
tác dụng cảm ứng hình thành hoa, hiện tượng này gọi là hiện tượng xuân hoá.
2.2.2 Ảnh hưởng của ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố cần thiết đối với đời sống cây rau, bởi nó đóng vai trò quan
trọng trong quá trình quang hợp. Ánh sáng ảnh hưởng đến các quá trình quan trọng
như: quang tổng hợp, sự nảy mầm của hạt, sự lớn lên của lá, sự thoát hơi nước và
sự ra hoa,v.v...
Nếu ánh sáng đầy đủ sẽ tăng bề dày của mô, tăng hàm lượng diệp lục, thúc
đẩy quá trình quang hợp.
Nếu thiếu ánh sáng hàm lượng diệp lục giảm, thịt lá mềm xốp, gian bào chứa
đầy nước, giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận.
17
Sự ảnh hưởng của ánh sáng tự nhiên đến với cây rau còn phụ thuộc vào đ ộ
dài ngày, độ cao so với mặt biển, mùa vụ trong năm, mật độ trồng và vĩ độ, mây, bụi,
không khí, v.v...
Thời gian chiếu sáng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới phát triển một số
loại rau, nó là yêu cầu cơ bản của quang chu kỳ. Thời gian chiếu sáng dài l ượng
hydrat cacbon được sản xuất trong quang hợp lớn hơn thời gian chiếu sáng ngày
ngắn do vậy lượng hydrat cacbon đủ cho sinh trưởng, phát triển và cho năng suất.
Trên cơ sở độ dài chiếu sáng, các cây trồng đ ược chia thành cây ngày dài, ngày ngắn
và cây trung tính.
Cây ngày dài: cải bao, cải củ, rau diếp, cải bắp, cà rốt
Cây ngày ngắn: hành, su su, rau dền
Cây trung tính: cà chua, ớt, bầu bí, cà tím
Nếu cây ngày dài được trồng trong điều kiện ngày ngắn thì sự tích luỹ hydrat
cacbon giảm, protein trong giai đoạn sinh trưởng sinh thực giảm, do vậy cây không ra
hoa. Ngược lại nếu cây ngày ngắn trồng trong điều kiện ánh sáng ngày dài, l ượng
hydrat cacbon tăng nhanh dẫn đến cây sinh trưởng mạnh và không ra hoa.
Ngoài ra cường độ ánh sáng cũng rất quan trọng đối với sinh trưởng, phát
triển của các loại rau, nói chung cường độ ánh sáng khoảng 20000-40000 lux là thoả
mãn cho tất cả các loại rau.
Phản ứng của mỗi cây trồng với cường độ ánh sáng là khác nhau, phụ thuộc
vào loại cây, ưa bóng hay ưa nắng. Cây ưa nắng yêu cầu cường độ ánh sáng cao đ ể
duy trì tốc độ quang hợp và hô hấp cao do vậy sẽ cho tốc độ quang hợp thực thấp
hơn ở cường độ ánh sáng thấp.
Cây ưa bóng có thể có tốc độ quang hợp thấp hơn cây ưa nắng, song tốc độ
hô hấp cũng thấp tương ứng, nên quang hợp thực sẽ cao ở cường độ ánh sáng thấp.
Cây ưa nắng có điểm bù ánh sáng cao hơn cây ưa bóng.
Dựa vào nhu cầu của cây với cường độ ánh sáng có thể phân thành các nhóm sau:
Nhóm yêu cầu cường độ ánh sáng mạnh: dưa thơm, dưa hấu, bí ngô
Nhóm yêu cầu cường độ ánh sáng trung bình: cải bắp, cải trắng, cải củ, hành tỏi
Nhóm yêu cầu cường độ ánh sáng yếu: xà lách, rau diếp
- Chất lượng ánh sáng cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình
quang hợp của cây rau. Chất diệp lục hấp thụ ánh sáng đỏ nhiều nhất, tiếp theo là
ánh sáng lam tím.
Nhìn chung cây rau ưa thích ánh sáng tán xạ. Vì trong ánh sáng tán xạ, thành
phần ánh sáng đỏ và lam tím là chủ yếu.
2.2.3. Nước
Nước có ý nghĩa rất lớn trong đời sống cây rau, lượng nước trong rau cao
chiếm từ 75-95% và chúng phải tạo ra 5-25% trọng lượng nước còn lại của chúng
thông qua quang hợp. Có thể thấy rằng nước là nhân tố lớn nhất làm giảm năng suất
và chất lượng rau.
18
Nước là yếu tố cơ bản để quang hợp, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất
trong cây, đến trạng thái chất nguyên sinh. Nước còn có tác dụng trong quá trình vận
chuyển điều chế sự đóng mở khí khổng, sự giãn nở và lớn lên của lá. Vì vậy nước
có vai trò quyết định đến sự sinh trưởng phát triển của cây rau.
Nước là thành phần cơ bản tạo nên chất nguyên sinh, là nguyên liệu tham gia
vào quá trình quang hợp, nước cần thiết cho sự vận chuyển vật chất trong cây, là
dung môi hoà tan các chất, duy trì độ căng của tế bào, làm cho cây ở trạng thái cân
bằng.v.v..
Cung cấp đầy đủ nước là biện pháp cơ bản để đạt năng suất cao, chất lượng
tốt. Khi đầy đủ nước thì tất cả các hoạt động đều thực hiện tốt, cây sinh tr ưởng
bình thường. Khi trong đất thiếu nước hoặc sự thoát hơi nước qua khí khổng quá
mức, cây không cung cấp nước kịp thời, luôn ở tình trạng khủng hoảng nước và sinh
trưởng kém. Hầu hết các loại rau đều có những thời kỳ sinh trưởng tới hạn riêng.
Nếu khủng hoảng nước vào thời kỳ sinh trưởng tới hạn đó thì sẽ ảnh hưởng tr ực
tiếp đến năng suất và chất lượng rau. Như vậy thiếu nước cây sinh trưởng kém, cây
thấp bé còi cọc, năng suất và chất lượng giảm.
Thừa nước: cây sinh trưởng mềm yếu, nồng độ đường và chất hoà tan giảm,
cây chất lượng kém. Dư thừa nước các bộ phận của cây rau trở nên mềm dễ bị
hỏng và bị thối, giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận và bệnh hại.
Hầu hết cây rau đều sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất cao ở ẩm đ ộ
đất 65-80% và ẩm độ không khí 45-95%.
Các loại rau khác nhau, thời kỳ sinh trưởng khác nhau yêu cầu với nước cũng
luôn thay đổi.
Thời kỳ nảy mầm: hạt cần hút một khối lượng nước lớn để xúc tiến quá trình
nảy mầm. Để các chất phức tạp được phân giải thành các chất đơn giản cung cấp cho
phôi thì hạt cần hút lượng nước vào khoảng 70-100% của khối lượng bản thân.
Thời kỳ cây con: Mỗi một cá thể yêu cầu khối lượng nước không lớn, nhưng
do mật độ cây trên một đơn vị diện tích lớn nên cây yêu cầu độ ẩm đất trong vườn
ươm khá cao. Độ ẩm đất thích hợp cho nhiều loại rau là 70-80%.
Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng: Là thời kỳ sinh trưởng mạnh, các quá trình
trao đổi chất, quá trình tích luỹ vật chất vào cơ quan dinh dưỡng như thân, lá, rễ ...
diễn ra mạnh mẽ nên cây yêu cầu ẩm độ ở thời kỳ này cao: 80-85%. Một số loại rau
phát triển mạnh yêu cầu ẩm độ đất trong thời kỳ này là 85-95%.
Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Đây là thời kỳ cây ra nụ, hoa lúc này cây yêu cầu
ẩm độ thấp hơn thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, ẩm độ đất thích hợp vào khoảng 65-
70%. Độ ẩm quá cao hoặc quá thấp sẽ dẫn đến hiện tượng rụng nụ, rụng hoa.
Các loại rau khác nhau thì yêu cầu lượng nước khác nhau. Dựa vào yêu cầu
của rau đối với nước có thể phân nhóm như sau:
+ Loại rau tiêu hao nước nhiều, khả năng hút nước yếu: loại rau này có nguồn
gốc ở nơi ẩm ướt, diện tích lá lớn, mặt lá không có lông, bốc hơi nước nhiều, bộ rễ
19
phân bố ở tầng nông, đòi hỏi ẩm độ đất và ẩm độ không khí tương đối cao như: cải
bắp, cải bao, các loại cải ăn lá khác, dưa chuột....
+ Loại tiêu hao nước ít, khả năng hút nước mạnh: Loại rau này có bộ lá l ớn,
mặt lá có lông, bộ rễ khoẻ, phân nhánh nhiều, ăn sâu, có khả năng hút nước ở l ớp
đất sâu, chịu được hạn như bí ngô, dưa hấu, dưa thơm.
+ Loại rau tiêu hao nước ít, khả năng hút nước yếu: Loại rau này thường có
bộ lá nhỏ, mặt lá có sáp, bộ rễ kém phát triển, phân bố ở tầng đất mặt như hành tỏi.
+ Loại rau tiêu hao nước trung bình, khả năng hút nước trung bình: Loại rau
này thân lá thường có lông, lá nhỏ, bộ rễ phát triển hơn nhóm một nhưng kém hơn
nhóm hai, khả năng chịu hạn trung bình như các loại cải củ, cà chua, ớt, đậu..
+ Loại rau tiêu hao nước nhanh, khả năng hút nước yếu: Là loại rau sống ở
dưới nước, thân lá mềm yếu, bộ rễ phát triển kém, lông hút thoái hoá do sức hút kém
như các loại rau ngó sen, củ ấu, củ niễng.
2.2.4. Đất và chất dinh dưỡng
2.2.4.1 Đất:
Rau yêu cầu đất tốt và chế độ dinh dưỡng cao. Trong suốt quá trình sinh trưởng
cây rau hấp thu 70% N, 20% P và 80% K do vậy cần bón phân vào đất trong suốt vụ
trồng.
Cây rau hấp thu chất dinh dưỡng trong đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: rễ,
nhiệt độ, ô xy và nước ở trong đất. Ví dụ nếu đất khô cạn thì muối khoáng không thể hoà
tan được, nồng độ dung dịch cao sẽ làm giảm khả năng hút muối khoáng của hệ rễ. Nếu
nhiệt độ trong đất giảm đi thì khả năng hút nước và muối khoáng của hệ rễ giảm đi rõ
rệt.
Tổ chức và kết cấu đất cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng hút
dinh dưỡng của cây. Khi tính chín sớm là quan trọng nhất thì cây yêu cầu đ ất nhẹ,
nhưng những loại đất như thế thường có lượng dinh dưỡng thấp và giữ ẩm kém, do
vậy trong kỹ thuật canh tác cần bón nhiều phân. Các loại rau ăn củ như hành, tỏi, cà
rốt, củ cải..... thích hợp với loại đất này. Khi yếu tố năng suất là quan trọng thì đ ất
nặng lại có vai trò lớn. Trong trường hợp này cây sinh trưởng dài do vậy lượng phân
bón thường không cần nhiều, không nhất thiết phải tưới thường xuyên. Tuy nhiên
đất sét nặng không thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại rau, vì
chúng yếm khí làm cho hệ rễ kém phát triển.
Phản ứng của đất liên quan đến độ axit hoặc kiềm trong đất.
Độ chua của đất là nồng độ ion H+ trong dung dịch đất. Cây rau phản ứng đối
với độ pH thay đổi phụ thuộc vào từng chủng loại, phương pháp bón phân, thành phần
của phân bón, phương pháp tưới nước, kỹ thuật làm đất. Rau là loaị cây trồng có thể
sinh trưởng trên đất hơi kiềm hoặc trung tính. Ở độ pH từ 5,5-7 cây rau hút chất dinh
dưỡng thuận lợi, vi sinh vật hoạt động tốt, nhưng hầu hết các loại rau đều sinh
trưởng thuận lợi khi pH trong đất từ 6,0-6,8. Nếu đất bị chua, các nguyên tố Ca, P, Mg,
Mo bị thiếu hụt, phải bổ xung các chất dinh dưỡng trên thông qua việc bón phân.
20
Bảng 2.1. Phân loại đất theo độ pH
Loại đất pH
Cực kỳ Axít 1,25 quả có dạng ô van
Màu sắc của quả cà chua
phụ thuộc vào màu sắc của vỏ quả
và thịt quả. Màu sắc của quả thay
đổi trong quá trình chín, thường có
từ màu hồng nhạt đến đỏ thẫm
hoặc màu vàng đến màu vàng sáng.
Trong quá trình chín, nhiệt
độ tốt nhất cho quả phát dục là
220C, nhiệt độ ban đêm > 130C, ban
ngày 24-300C, độ ẩm thích hợp 80-
85%. Màu sắc của quả được quyết
định bởi sắc tố caroten (màu vàng),
lycopen (màu đỏ), các sắc tố này
nhiều hay ít phụ thuộc vào môi Hình 6.4: Quả cà chua
trường.
Ở nhiệt độ nhỏ hơn 100C không phát triển màu đỏ vàng
Ở nhiệt độ khoảng 250C
phát triển màu đỏ vàng
Ở nhiệt độ lớn hơn 400C
không phát triển màu đỏ
Quá trình chín của cà chua chia
thành 5 thời kỳ:
+ Thời kỳ quả xanh: Quả và
hạt phát triển chưa hoàn toàn, nếu
đem dấm quả chín không tốt, quả
không có mùi vị, không có màu sắc.
+ Thời kỳ chín xanh: Quả và
hạt đang phát triển, quả có màu
xanh sáng, keo xung quanh hạt
được hình thành, quả chưa có màu
hồng hoặc vàng, nếu đem dấm Hình 6.5: Cấu tạo quả cà chua
quả thể hiện màu sắc vốn có của nó.
+ Thời kỳ chín vàng: phần đỉnh của quả xuất hiện màu hồng. Xung quanh
cuống quả vẫn còn màu xanh.
+ Thời kỳ chín: Quả xuất hiện màu sắc vốn có của nó, màu sắc thể hiện hoàn
toàn, quả còn cứng.
+ Thời kỳ chín hoàn toàn: màu quả thẫm, quả mềm.
83
- Hạt: Hạt cà chua nhỏ, dẹt, nhọn, ở cuống hạt màu váng sáng, vàng tối hoặc
vàng nhạt, hạt của một số loài phủ lông tơ rất rõ.
Hạt cà chua nhỏ, 1g chứa 300-350 hạt, mỗi quả chứa 50-350 hạt. Thông
thường những giống quả to chứa số lượng hạt tương đối ít hơn so với giống quả
nhỏ. Hạt chín sớm hơn quả, khi quả chưa chín hoàn toàn thì hạt đã có thể nảy mầm.
Sức nảy mầm của hạt có thể giữ được từ 4-5 năm.
6.1.4. Giống cà chua
* Cà chua dây Đông Anh thân lá mảnh nhỏ, bò lan, lá xanh nhạt, bản lá mỏng.
Là giống chịu nhiệt chủ yếu gieo trồng trong vụ hè thu, xuân hè. Năng suất trung bình
15-17 tấn/ha. Thời gian sinh trưởng 120-125 ngày.
* Cà chua múi: Lóng dài phân nhánh mạnh, thuộc loại hình sinh trưởng vô hạn,
lá xanh vàng, răng cưa trung bình, hoa vàng nhạt, có thể trồng nhiều vụ trong năm.
Chống chịu bệnh virus tương đối tốt, thời gian sinh trưởng 130-140 ngày. Năng suất
trung bình 20-30 tấn/ha.
* Giống cà chua Ba lan xanh: cây cao trung bình, lá xanh nhạt, quả tròn. Năng
suất đạt 25-30 tấn/ha. Chống chịu bệnh đốm nâu và sâu đục quả tương đối tốt. Thời
gian sinh trưởng 115-120 ngày có thể gieo trong vụ đông xuân và xuân hè.
* Cà chua Hồng Lan: Thân lá gọn, dạng quả tròn không có múi, năng suất
trung bình 25-30 tấn/ha, chất lượng quả tốt, chống chịu bệnh mốc sương và nấm
khuẩn TB khá, chống chịu bệnh virus khá tốt. Thời gian sinh trưởng 105-115 ngày, có
thể gieo trong vụ đông xuân và xuân hè.
6.1.5. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây cà chua
6.1.5.1. Nhiệt độ
Cà chua ưa khí hậu ấm áp, khả năng thích nghi rộng, chịu được nhiệt độ cao,
nhưng mẫn cảm với rét. Cà chua sinh trưởng bình thường trong phạm vi nhiệt độ 15-
350C. Nhiệt độ thích hợp cho cà chua nằm trong giới hạn 22-240C. Giới hạn nhiệt độ
tối thấp là 100C và nhiệt độ tối cao là 350C. Hạt nảy mầm tốt ở nhiệt độ 25-300C,
nhưng nhiệt độ thích hợp là 290C. Quả sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 20-22 0C, sắc tố
hình thành ở nhiệt độ 200C, quả chín ở nhiệt độ 24-300C, lớn hơn 350C các sắc tố bị
phân giải.
Theo tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả khi cây cà chua còn non rễ ra ít,
mẫn cảm với nhiệt độ thấp mạnh hơn so với cà chua đã được trưởng thành, quả
mẫn cảm với nhiệt độ thấp hơn so với thân lá.
Cà chua yêu cầu nhiệt độ để thông qua giai đoạn xuân hoá ở phạm vi rộng. Dựa vào
yêu cầu về nhiệt độ để cà chua thông qua giai đoạn xuân hoá có thể phân thành 3 loại
sau:
- Yêu cầu nhiệt độ thấp để thông qua giai đoạn xuân hoá 2-30C
- Yêu cầu nhiệt độ cao để thông qua giai đoạn xuân hoá 20-250C
- Phản ứng không rõ ràng với nhiệt độ cao hay thấp
6.1.5.2. Ánh sáng
84
Cà chua là cây trồng không phản ứng với độ dài ngày, có thể ra hoa trong điều
kiện chiếu sáng cả ngày dài lẫn ngày ngắn.
Nhiều tác giả cho rằng tất cả các giống cà chua trồng trọt đều thông qua giai
đoạn ánh sáng với chế độ chiếu sáng 11-13 giờ.
Cà chua là cây ưa cường độ ánh sáng mạnh. Ánh sáng đầy đủ cây con sinh
trưởng tốt, cây ra quả thuận lợi, năng suất và chất lượng quả tốt. Cây thiếu ánh sáng
biểu hiện hình thái bên ngoài yếu ớt, lá nhỏ, mỏng, cây vống, ra hoa quả chậm, năng
suất, chất lượng giảm, hương vị quả nhạt. Nếu thiếu ánh sáng nghiêm trọng dẫn
đến rụng nụ, rụng hoa. Ánh sáng yếu ức chế quá trình sinh trưởng, làm chậm quá
trình chuyển giai đoạn từ sinh trưởng dinh dưỡng đến sinh trưởng sinh thực. Ánh
sáng yếu làm cho nhuỵ co rút lại, giảm khả năng tiếp thu hạt phấn của núm nhuỵ.
6.1.5.3. Nước
Chế độ nước trong cây ảnh hưởng nhiều đến các quá trình sinh lý diễn ra
trong cây như: quang hợp, hô hấp, sinh trưởng và phát triển. Cây cà chua chịu đ ược
hạn nhưng không chịu úng.
Mặc dù cà chua là cây chịu được hạn nhưng trong qúa trình sinh trưởng, phát
triển cà chua không thể thiếu nước. Hạt cà chua cần hút nước 325-364% so với khối
lượng bản thân để nảy mầm. Khi Ao đất 70% thì số hạt nảy mầm cao nhất và thu
được cây giống cao nhất. Độ ẩm đất thích hợp cho cà chua sinh trưởng phát triển là
70% - 80%. Thời kỳ khủng hoảng nước là từ khi hình thành hạt phấn hoa đ ến khi
hình thành quả. Thiếu nước cây sinh trưởng kém, lóng ngắn, lá nhỏ, rụng nụ, rụng
hoa, rụng quả. Thừa nước cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển
của cà chua. Trong điều kiện không khí cao (95%), cây sinh trưởng mạnh, lá mềm,
mỏng, giảm khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại. Hàm
lượng nước trong quả cao, giảm nồng độ các chất hoà tan, bảo quản và vận chuyển
gặp nhiều khó khăn.
Cà chua yêu cầu ẩm độ không khí thấp trong quá trình sinh trưởng và phát
triển, ẩm độ thích hợp là 45-55%. Khi độ ẩm trên 65% rất dễ bị nhiễm nhiều loại
bệnh hại. Độ ẩm không khí cao ảnh hưởng đến sự phát triển của hạt phấn, làm hạt
phấn bị vỡ, giảm nồng độ đường ở núm nhuỵ, v..v dẫn đến giảm số hoa trên chùm.
6.1.5.4. Đất và dinh dưỡng
Cà chua yêu cầu chế độ luân canh nghiêm ngặt, không bao giờ trồng cà chua
trên đất khi vụ trước đã trồng những cây trong họ cà, nhất là cà chua và khoai tây.
Đất thích hợp cho cây cà chua sinh trưởng và phát triển là đất thịt nhẹ, đất pha cát,
tơi xốp, tưới tiêu dễ dàng, có pH từ 5,5-7,5. Nếu đất có độ pH dưới 5,5 thì cần bổ
sung vôi để trung hoà độ chua cho đất. Nếu trồng cà chua trên đất có độ pH dưới 5
dễ bị bệnh héo xanh gây hại.
Cà chua là loại cây trồng có thân lá phát triển mạnh, khả năng ra hoa, đậu quả
nhiều bởi vậy cần cung cấp đủ dinh dưỡng để cung cấp cho cây.
85
Đạm có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng thân lá, phân hoá hoa sớm, số lượng
hoa trên cây nhiều, hoa to tăng năng suất trên một đơn vị diện tích.
Lân có tác dụng kích thích hệ rễ cà chua phát triển, nhất là thời kỳ cây con.
Bón phân đầy đủ sẽ phân hoá hoa sớm, hình thành chùm hoa sớm, hoa nở sớm, quả
chín sớm, rút ngắn thời gian sinh trưởng.
Kali cần thiết hình thành thân, bầu quả, kali làm cho cây cứng, chắc, tăng bề
dày của mô giác, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại. Kali có tác d ụng t ốt t ới
hình thái quả, quả nhẵn, thịt quả chắc, tăng hàm lượng đường, VTMC.
+ Các yếu tố vi lượng có tác dụng quan trọng đối với sự sinh tr ưởng và phát
triển của cây: B, Mn, Zn v..vv
6.1.6. Kỹ thuật trồng trọt
6.1.6.1. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý
Cà chua xuân hè (T2-6)- LMS (T6-T10)- Rau đông xuân (T10-T2)
Cà chua xuân hè (T2-6)- Mạ mùa (T6-7) - Cải (T7-T10)- Rau đông xuân (T10-
T2)
Rau đông xuân (T10-T2)- Cà chua xuân hè (T2-6)- LMùa (T6-T10)
Cà chua đông xuân (T10-T2)- Rau xuân hè (T2-T6)- LMùa (T6-T10)
6.1.6.2. Thời vụ
Vùng đồng bằng và Trung du, miền núi phía Bắc có thể gieo vào các thời vụ sau:
Vụ đông xuân sớm: gieo T9-T10
Vụ đông xuân chính vụ: gieo T10-T11
Vụ đông xuân muộn: gieo T11-12
Vụ xuân hè gieo vào cuối tháng T1,2-T3
6.1.6.3. Đất và phân bón
Đất trồng cà chua cần phải có thời gian để ải, nếu trồng một hàng, chiều
rộng luống là 0,7-0,8m, nếu trồng hai hàng thì chiều rộng luống từ 1,1-1,2m. Chiều
cao luống từ 0,25-0,35cm.
Phân bón:
Khối lượng phân bón cho 1 ha gieo trồng như sau: Phân hữu cơ 20-30 tấn +
90-120 kg N+ 60-90 kg P2O5+ 100-120 kg K2O.
Cách bón: Bón lót toàn bộ phân hữu cơ, phân lân và 1/3 phân ka li, lưu ý cần
trộn đều phân với đất ở độ sâu 15-20cm, sau đó lấp đất rồi tr ồng. Toàn b ộ l ượng
phân đạm và phân ka li còn lại dùng để bón thúc.



6.1.6.4. Cây giống
Cây giống cà chua đạt tiêu chuẩn cần phải có những chỉ số như sau: chiều cao
trung bình 18-20cm, số lá từ 5-6 lá, thân mập có một lớp lông tơ mềm, gốc cây mập
thường có mầu tím nhạt, cây không bị sâu bệnh hại.
86
Gieo một m2 vườn ươm cần 2,5-3g hạt, để trồng 1ha cần khoảng 150-200g
hạt. Thời vụ gieo cũng ảnh hưởng đến thời gian trong vườn ươm, trong vụ đông cần
25-30 ngày, vụ xuân hè cần 35-40 ngày.
6.1.6.5. Mật độ và khoảng cách
Khi xác định mật độ khoảng cách cần nghiên cứu điều kiện cụ thể như: đặc
điểm giống, tình hình thời tiết khí hậu, kỹ thuật trồng trọt. Hiện nay ở vùng chuyên
canh rau đối với những giống sinh trưởng vô hạn khoảng cách cây 40-50cm, khoảng
cách hàng 65-70cm, như vậy mật độ trồng khoảng 2,7- 3,3 vạn cây/ha.
6.1.6.6. Chăm sóc
- Xới vun: Đây là biện pháp quan trọng nhằm tạo điều kiện giúp cho cây sinh
trưởng và phát triển tốt. Số lần xới vun trung bình trong một vụ là 2-3 lần.
Lần một sau khi cây hồi xanh, cần thực hiện ngay công việc xới cho cây. Yêu
cầu về kỹ thuật ở thời điểm này cần phá váng làm cho đất mặt tơi xốp, thông thoáng
và làm sạch cỏ dại. Sau trồng 25-30 ngày xới lần hai kết hợp vun đất vào gốc cho
cây đứng vững, phạm vi xới lần này hẹp hơn. Sau trồng 35-40 ngày tr ước khi làm
giàn xới lần thứ ba, vét đất ở rãnh vun đất vào gốc cây.
- Tưới nước:
Trước khi cây hồi xanh tưới gáo 1-2 lần/ngày, khi cây sinh trưởng mạnh tưới
rãnh cho cây có hiệu quả nhất. Tưới rãnh đối với cà chua làm tăng năng suất, tăng
hàm lượng chất khô. Ẩm độ đất khoảng 70% -80% thích hợp cho cây cà chua sinh
trưởng, phát triển. Các thời kỳ phân hoá hoa, ra nụ, hoa rộ và thời kỳ có quả là những
thời kỳ khủng hoảng nước của cà chua, vào những thời điểm này cần cung cấp đủ
nước, chú ý không để thiếu nước. Cà chua là cây không chịu úng, vì vậy trong khi có
mưa lớn cần tiêu nước kịp thời.
- Bón thúc:
Cà chua là loại rau có khối lượng thân lá lớn, thời gian sinh trưởng tương đối
dài, khả năng ra hoa, quả rất lớn, năng suất trên đơn vị diện tích cao bởi vây có nhu
cầu dinh dưỡng lớn. Trong quá trình sinh trưởng, phát triển cần bổ sung thêm dinh
dưỡng kịp thời đặc biệt là các loại phân dễ hoà tan để cây dễ sử dụng. Trong một vụ
cà chua bón thúc khoảng 4-5 lần vào các thời kỳ: ra nụ, hoa rộ, quả non, quả phát triển
và sau lần thu hái đầu tiên. Tuỳ theo tình hình sinh trưởng của cây sau những lần thu
hoạch cần bổ sung dinh dưỡng để duy trì sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Phương pháp bón thúc: Có thể bón ở dạng dung dịch hoặc khô. Nếu bón ở
dạng dung dịch nên pha ở nồng độ từ 1-2%, tưới cách gốc từ 7-10cm. Khi bón ở
dạng khô nên rạch rãnh cách gốc 7-10cm, sâu 5-7cm, bón đạm vào hốc rồi lấp đất.
Sau khi bón phân đưa nước vào rãnh và tưới nước vào gốc cây để hoà tan phân bón.
- Làm giàn, tỉa cành, tạo hình
Các giống cà chua vô hạn và bán hữu hạn có đặc điểm cây cao, nhiều lá, thân
có nhiều nhánh và ra nhiều quả, vì vậy trong sản xuất cần làm giàn, tỉa cành và t ạo
hình sẽ cho năng suất cao.
87
Sau trồng 35-40 ngày tiến hành làm giàn, làm giàn tạo điều kiện cho cây tiếp
thu ánh sáng mặt trời, cải tạo khí hậu, tạo điều kiện thông thoáng cho vườn rau, hạn
chế sâu bệnh hại, chăm sóc thuận lợi.
Nguyên liệu làm giàn có thể dùng tre, nứa, dây.v.v.v. Sau đó buộc cây vào giàn,
dây buộc nêm mềm và phải nương cây theo giàn, khoảng 25-30cm buộc dây vào giàn.
Đặc điểm của cà chua là phân nhánh rất mạnh, mỗi một chồi nách đều có thể
phát triển thành cành và ra hoa kết quả. Do ở vị trí khác nhau nên khả năng sinh
trưởng, phát triển và sự hình thành quả có sự sai khác đáng kể. Những cành ở gần
chùm hoa thứ nhất cho sản lượng quả tương đương thân chính, vì vậy khi tỉa cành
nên lưu giữ một thân chính và một thân phụ dưới chùm hoa thứ nhất. Tác giả
Nguyễn Thành Quỳnh cho biết, trên thân chính lưu giữ 4 chùm, trên thân phụ đ ể 3
chùm sẽ cho năng suất cao. Khi trên cây đạt đủ số chùm hoa thì bấm ngọn, khi bấm
ngọn cần giữ lại một số lá để che cho chùm quả cuối cùng không bị ánh sáng trực sạ
chiếu vào. Theo tác giả Tạ Thu Cúc nên để từ 7-9 chùm trên hai cành, 4-5 quả/chùm
nếu giống quả nhỏ thì có thể để nhiều hơn.
Tỉa bỏ kịp thời những quả dị hình, quả nhỏ không đạt tiêu chuẩn.
Chồi nách của cà chua sinh trưởng rất mạnh cần phải tỉa bỏ kịp thời khi chồi
còn non. Khoảng 3-5 ngày phải bẻ chồi một lần. nên tỉa chồi thường xuyên, kết hợp
tỉa bỏ lá già, lá vàng, lá bệnh.
6.1.6.7. Phòng trừ sâu, bệnh
* Bọ phấn (Bemisia tabaci Gen)
Họ Aleyrodidae, bộ cánh đều Homoptera
- Đặc điểm hình thái:
Sâu trưởng thành cơ thể màu vàng nhạt, cánh màu trắng, toàn cơ thể được bao
phủ bởi một lớp phấn mầu trắng nên gọi là bọ phấn. Con đực thân dài 0,75-1mm, sải
cánh 1,1-1,5mm. Con cái lớn hơn, dài 1,1-1,4mm sải cánh 1,75-2mm (ảnh 16).
Trứng hình bầu dục nhỏ, mới đẻ mầu trong suốt, sắp nở màu nâu sẫm.
Sâu non có mầu vàng nhạt, mới nở có chân và bò dưới mặt lá, sau đó sâu ở cố
định dưới mặt lá, sang tuối 2 sâu không còn chân. Kích thước sâu đẫy sức dài 0,7- 0,9
mm rộng 0,5-0,6 mm. Sâu non có 3 tuổi..
Nhộng giả hình bầu dục, mầu trắng ngà, có một số lông thưa xếp hai bên sườn
(ảnh 17).
- Đặc điểm gây hại: Cả bọ phấn non và sâu trưởng thành đều chích hút dịch ở
búp non, lá, thân non làm cho cây kém phát triển, bị nặng lá vàng úa. Bọ phấn là môi giới
truyền bệnh xoăn lá cà chua (ảnh 18).
- Đặc điểm sinh học, sinh thái: Bọ phấn trưởng thành thường ở dưới mặt lá,
hoạt động nhanh nhẹn. Khi bị khua động bay lên cao 0,5m, bay xa 1-2m, sau đó xà xuống
ngọn cây. Khi trời nắng và mưa bọ phấn trưởng thành nấp dưói lá gần mặt đất. Bọ
phấn trưởng thành giao phối nhiều nhất vào 5-6 giờ sáng và 4-5 giờ chiều. Trứng được
đẻ thành ổ khoảng 4 đến 6 quả thường tập trung ở lá bánh tẻ, cũng có khi đẻ rải rác
88
trong mô lá. Mỗi sâu trưởng thành cái đẻ hàng 50-85 trứng. Vòng đời phụ thuộc vào điều
kiện thời tiết. Bọ phấn xuất hiện quanh năm trên đồng ruộng, diễn biến lứa phức tạp,
gối nhau lên khó xác định. Trong 1 năm có 2 đợt phát sinh rộ là đầu tháng 3 và đầu tháng
5.
- Biện pháp phòng trừ: áp dụng phương pháp phòng trừ tổng hợp, vệ sinh đồng
ruộng, thu gom tiêu huỷ lá già, tàn dư cây trồng. Luân canh và xen canh cây trồng không
phải là ký chủ của bọ phấn. Phân vùng trồng cà chua, khoai tây để dễ tổ chức phòng
chống. Theo dõi thường xuyên trên đồng ruộng, khi mật độ cao có thể phun thuốc
Applaud, Baythroid, Regent 800 WP, Actara 25 WG, Confidor 100 SL…
* Sâu xanh đục quả cà chua (Helicoverpa armigera Hubner)
Họ ngài đêm Noctuidae, bộ cánh vảy Lepidoptera
- Đặc điểm hình thái:
Sâu trưởng thành màu nâu xám, cánh trước màu vàng sẫm, màu tro, cánh sau màu
tro nhạt. Kích thước cơ thể dài 14-18mm, sải cánh 35-40mm, cánh trước có 7-8 chấm
đen nâu trên lề mép ngoài cánh và 1 băng rộng mầu nâu chay ngang cánh (ảnh 19, 20).
Trứng màu vàng sáng, hình bán cầu, chiều dài 0,4-0,6mm (ảnh 21). Sâu non có nhiều
màu (xanh nhạt, hồng nhạt, xanh đậm) (ảnh 22).
- Đặc điểm gây hại: Sâu non thường cắn phá ở búp non, cắn đứt cuống làm quả
rụng. Sâu còn cắn đỉnh sinh trưởng, nụ, hoa và đục vào thân làm rỗng thân. Trên quả cà
chua xanh thường đục từ giữa quả vào, vết lỗ đục gọn. Sâu thường chui một nửa thân
còn phía đuôi vẫn ở bên ngoài, phân bám bên ngoài quả. Khi quả đã già và chín thì sâu
thường đục từ cuống quả và chui vào nằm gọn bên trong. Những quả bị hại sẽ bị rụng
hoặc gặp trời mưa thì bị thối.
- Đặc điểm sinh học, sinh thái: Sâu trưởng thành thường đẻ trứng rải rác trên các
bộ phận non của cây. Mỗi sâu trưởng thành cái đẻ vài trăm quả trứng (400-600). Khi sâu
còn non chúng chui vào trong hoa, quả khi đẫy sức di chuyển xuống đất hoá nhộng.
Chúng phát sinh quanh năm nặng nhất trên cà chua xuân hè.
- Biện pháp phòng trừ: áp dụng phương pháp phòng trừ tổng hợp, vệ sinh đồng
ruộng, thu gom tiêu huỷ lá già, tàn dư cây trồng. Thường xuyên thu nhặt và hái những
quả cà chua bị sâu đục để giảm bớt sự lây lan và tích luỹ số lượng sâu trên đồng ruộng.
Luân canh và xen canh cây trồng không phải là ký chủ của sâu. Theo dõi thường xuyên
trên đồng ruộng, khi mật độ cao có thể phun thuốc chế phẩm sinh học NPV(1,5x10 9
PIB/g) hoặc thuốc hoá học Sherpa 25 EC, Success 25SC, Padan, Trebon, Regent…
* Bệnh thối nhũn vi khuẩn
- Triệu chứng bệnh (ảnh 32, 33):
+ Trên quả vết đốm ngậm nước lan rộng rất nhanh thành khối ủng nước. Ở
trên ruộng, quả gục xuống treo trên cây như một cái túi đầy nước. Sau khi thu hoạch,
sự hủy hoại thường bắt đầu thối từ gốc thân sau đó toàn bộ quả thối rụng.
- Điều kiện phát triển của bệnh:
+ Vi khuẩn bảo tồn trong tàn dư cây trồng, côn trùng, đất (số lượng ít).
89
+ Vi khuẩn xâm nhập qua vết thương do côn trùng, vết thương cơ giới, các
vết bệnh khác.
+ Mưa và nhiệt độ cao thuận lợi cho sự phát triển bệnh.
+ Quả sau khi thu hoạch có thể bị lây nhiễm do nước rửa nhiễm bệnh hoặc bị
nhiễm vi khuẩn bảo tồn trong tàn dư cây trồng, côn trùng, đất.
+ Vi khuẩn xâm nhập qua vết thương do côn trùng, vết thương cơ giới, các
vết bệnh khác.
+ Mưa và nhiệt độ cao thuận lợi cho sự phát triển bệnh.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Luân canh với các cây trồng không bị nhiễm bệnh như các cây ngũ cốc. Đảm
bảo tiêu thoát nước cho ruộng để tăng cường làm khô và giảm nước đọng ở đất.
* Bệnh Đốm vi khuẩn
- Triệu chứng bệnh:
+ Gây hại trên lá, quả và thân cây.
+ Trên lá đầu tiên vết bệnh là những đốm nhỏ ngậm nước, về sau đốm bệnh
trở thành hoại tử có viền không màu. Các vết bệnh có thể lõm xuống ở mặt trên lá
sau đó phát triển xuống mặt dưới lá.
+ Trên quả có vết đốm màu tối sẫm, nổi lên sần sùi như mụn cóc.
+ Trên thân, cuống lá có vết đốm hoại tử hình dài hoặc sọc dài.
+ Lá bị bệnh nặng trở nên vàng và rụng và gây nên hiện tượng cây không có lá.
- Điều kiện phát triển của bệnh:
+ Vi khuẩn tồn tại ở hạt giống, trên tàn dư cây bệnh.
+ Tưới nước quá mức, nhiều sương và nhiệt độ cao thúc đẩy bệnh phát triển mạnh.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Dùng hạt giống sạch bệnh và trồng cây giống khỏe, không bệnh.
+ Luân canh.
+ Phun thuốc chứa đồng hạn chế được bệnh.
+ Dùng vật che chắn mưa trong thời kỳ mưa lớn có thể giảm bệnh.
* Bệnh Héo xanh vi khuẩn
- Triệu chứng bệnh (ảnh 34, 35)
+ Triệu chứng ban đầu thể hiện héo ở lá dưới (những lá phía trên cây con), sau
đó héo đột ngột liên tục toàn cây, lá vẫn xanh không chuyển vàng. Bó mạch dẫn có
màu nâu và đôi khi vỏ thân gần mặt đất bị phá hủy. Cắt ngang đoạn thân gắn gốc
ngâm vào nước thấy từ bó mạch có dòng vi khuẩn trào ra.
- Điều kiện phát triển của bệnh:
+ Bệnh gây hại nghiêm tr ọng h ơn c ả trên cà chua, thu ốc lá, khoai tây, cà
tím và ớt
+ Vi khuẩn tồn tại ở trong đất với thời gian dài.
+ Vi khuẩn xâm nhập vào cây qua các vết thương tự nhiên ở rễ, qua vết
thương do côn trùng, tuyến trùng và canh tác gây ra.
90
+ Nhiệt độ cao và ẩm độ đất cao thuận lợi cho bệnh phát triển.
- Biện pháp phòng trừ
+ Dùng vườn ươm sạch bệnh để sản xuất cây giống, xử lý đất vườn ươm
bằng thuốc xông hơi hoặc hơi nóng. Luân canh với cây trồng không bị nhiễm bệnh.
Tránh gây tổn thương rễ trong quá trình trồng trọt chăm sóc.
* Bệnh Thán thư
- Triệu chứng (ảnh 36, 37, 38):
+ Bệnh xuất hiện ở trên quả ngoài đồng ruộng hoặc sau thu hoạch.
+ Trên quả vết bệnh ban đầu là những đốm lõm, sau mở rộng thành vết lõm
có đường kính từ 3-4cm. Trên vết bệnh sản sinh một khối lượng lớn bào tử màu
vàng sẫm da bò đến màu hồng da cam.
- Điều kiện phát triển của bệnh:
+ Nấm gây bệnh tồn tại ở hạt giống và trên tàn dư cây bệnh.
+ Tưới nước quá mức, mưa, thời gian có sương kéo dài v.v...thuận l ợi cho
bệnh phát triển.
+ Quả chín và còn xanh đều có thể bị lây nhiễm bệnh, nhưng thường thường
sự xâm nhiễm tiềm ẩn trên quả xanh.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Dùng hạt giống khỏe sạch bệnh.
+ Thực hiện luân canh.
+ Phun thuốc trừ nấm
+ Thu hoạch quả chín thường xuyên và cần chế biến xử lý ngay sau thu
hoạch.
* Bệnh Thối rễ
- Triệu chứng bệnh
+ Cây chết rạp trước và sau khi mọc lên khỏi mặt đất.
+ Cây yếu ớt chậm phát triển, lùn thấp do rễ bị thối, lở cổ rễ.
+ Thông thường bệnh làm chết từng đám, từng chòm cây trong vườn ươm
hoặc từng vùng rải rác phân tán ở ruộng đồng.
Điều kiện phát triển của bệnh:
+ Gieo trồng trên đất, môi trường sinh trưởng nhiễm bệnh.
+ Tưới nước quá mức, thoát nước kém.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Bố trí vườn ươm ở nơi thoát nước tốt, bảo đảm tiêu thoát nước tốt ở ruộng
sản xuất.
+ Khử trùng môi trường đất, khử trùng xông hơi vườn ươm.
+ Xử lý hạt giống bằng thuốc trừ nấm.
+ Tưới, xịt thuốc trừ nấm vào đất nếu bệnh xuất hiện.
+ Đảm bảo độ thông thoáng khí ở ruộng sản xuất giống.
* Bệnh Chết rũ
91
- Triệu chứng bệnh (ảnh 39)
+ Cây có thể bị nhiễm bệnh ở bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào. Tất cả các bộ
phận của cây đều nhiễm bệnh.
+ Triệu chứng chung nhất là rễ thối, héo và thân đen.
+ Cây con giống bị chết rạp.
+ Các vết đốm trên lá, vết bệnh trên thân và thối quả .
- Biện pháp phòng trừ:
+ Trồng cây ở những chân ruộng cao để đảm bảo tiêu thoát nước tốt ở vùng
rễ.
+ Thoát nước tốt không để đọng nước trên bề mặt ruộng.
+ Quản lý chế độ nước tốt.
+ Dùng thuốc trừ nấm phòng trừ bệnh (thuốc chứa đồng và thuốc trừ nấm nội
hấp metalaxyl).
+ Dùng giống kháng bệnh.
* Bệnh Thối thân (Mốc trắng thân)
- Triệu chứng bệnh (ảnh 40):
+ Rải rác có một số cây héo đột ngột lúc đầu còn xanh, về sau úa vàng.
+ Sự sinh trưởng của tản nấm trắng xốp với nhiều hạch nấm ở gốc thân và
trên mặt đất, gây ra hiện tượng thối cổ rễ.
+ Quả hay cành cây chạm mặt đất cũng có thể nhiễm bệnh.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Cần một thời gian dài để phơi ải đất trước khi trồng cây.
+ Cày sâu để vùi lấp hạch nấm.
+ Xử lý đất bằng thuốc trừ nấm có hiệu quả nhất định.
* Bệnh Tuyến trùng sưng rễ
- Triệu chứng bệnh:
+ Bộ phận cây trên mặt đất: cây còi cọc, lùn thấp, hơi vàng, cây b ị b ệnh có
thể héo.
+ Bộ rễ: nhiều nốt sưng, u sần nhỏ rất rõ tạo ra trên rễ.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Luân canh cây trồng, lúa nước làm giảm nhiều số lượng quần thể tuyến
trùng.
+ Đã có một vài giống kháng bệnh.
+ Xông hơi khử trùng đất hoặc bón thuốc trừ tuyến trùng vào đất có hiệu quả
phòng trừ tốt.
+ Cày đất để phơi khô tuyến trùng và tiêu diệt cỏ dại là ký chủ
* Bệnh thối đỉnh quả
- Triệu chứng bệnh:
92
Những vết thương sũng nước phát triển trên thùy gần đỉnh quả. Vết thương
này khô lại, ngả màu vàng và trở nên dai. Nấm hoại sinh và vi khuẩn thối nhũn có thể
xâm nhập vào vết thương này.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Bón vôi đối với đất có pH thấp và bón thạch cao (sunphát canxi) đối với đất
có pH cao và hàm lượng canxi thấp.
+ Quản lý nước tốt và bón phân nitơ hợp lý.
+ Tránh canh tác gần cây gây ra tổn thương rễ.
* Bệnh cháy nắng
- Triệu chứng bệnh:
Phần mô của thành quả lỏng ra và nhanh chóng khô tạo vết thương mỏng, trên
bề mặt phơi dưới ánh nắng mặt trời. Sau đó có thể xuất hiện biến màu do sự xâm
nhiễm của sinh vật thứ cấp.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Cẩn thận khi thu hoạch và canh tác để không làm tổn thương cây trồng.
+ Lựa chọn giống có bộ lá che chắn tốt.
* Bệnh Mốc sương (sương mai, dịch muộn)

- Triệu chứng bệnh (ảnh 4)

+ Tất cả các bộ phận trên mặt đất của cây đều bị nhiễm bệnh.
+ Vết bệnh ở lá có dạng không đều, từng đốm ngậm nước sau đó lan rộng
thành một mảng lá bị bệnh, các lớp bào tử màu trắng nhìn rất rõ ở mặt dưới lá, về
sau vết bệnh khô và có màu xỉn, có thể làm cháy lụi toàn bộ lá.
+ Vết bệnh trên thân lúc đầu là một vùng ngậm nước, không định hình, về sau
lan rộng, dài ra có thể làm khô chết từng đoạn thân, cuống lá, có màu nâu đen.
+ Vết bệnh trên quả không định hình, một mảng mô quả bị bệnh có màu nâu,
khô cứng, bề mặt xù xì. Vết bệnh có thể lan rộng trên toàn bộ quả.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Dùng cây giống sạch bệnh.
+ Phun thuốc trừ nấm như Ridomil.
+ Tránh trồng cà chua gần ruộng khoai tây.
* Bệnh Thối nâu
- Triệu chứng bệnh:
+ Vết đốm to dạng gần như hình tròn có nhiều đường vân của các vòng đồng
tâm màu nâu nhạt hoặc màu nâu đậm. Vết đốm lan rộng dần bao phủ cả nửa hoặc
hơn phần quả. Vết bệnh phẳng và nhẵn.
+ Triệu chứng phổ biến nhất ở trên quả xanh, nhưng cũng có thể xuất hiện
trên quả đã chín.
+ Thông thường lá không bị nhiễm bệnh, nhưng nấm P.capsici có thể hại lá
làm lá cháy lụi và cây rụng lá trong điều kiện nhiệt độ ấm áp, mưa kéo dài.
93
- Biện pháp phòng trừ:
+ Trồng cây ở những chân ruộng cao, thoát nước tốt.
+ Dùng rơm hay giấy nhựa che phủ quanh cây để làm giảm đất dây bám vào
quả, cây.
+ Làm cọc, giàn cho cà chua để tránh quả chạm đất.
+ Phun thuốc trừ nấm có hiệu quả rõ rệt.
* Bệnh Héo vàng
- Triệu chứng bệnh (ảnh 42, 43):
+ Lá héo vàng từ phía dưới lá lên lá phía trên, kéo theo lá gốc bị khô héo, màu
nâu. Cây bắt đầu héo ở ngọn vào ban ngày, hồi phục về ban đêm, nhưng hiện tượng
héo càng nghiêm trọng hơn cho đến khi cây héo chết không hồi phục.
+ Mạch dẫn có màu nâu kéo dài từ thân lên trên tới các cuống lá.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Dùng giống kháng bệnh đã có những giống kháng chủng 1 và chủng 1-2.
+ Nâng độ pH của đất lên 6,5 – 7,0.
+ Dùng nitrat đạm ít hơn đạm amôn.
+ Làm sạch dụng cụ lao động để tránh lây nhiễm sang ruộng mới.
+ Luân canh cà chua với cây trồng nước làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra.
* Bệnh Đốm vòng
- Triệu chứng bệnh (ảnh 44):
+ Đốm nhỏ dạng hình tròn màu thẫm về sau lan rộng ra thành vết tròn có
nhiều vòng đồng tâm.
+ Ở trên thân và cuống lá có những vệt bệnh hình bầu dục làm thân rất yếu
dễ gẫy ở chỗ có vết bệnh.
+ Thối quả (quả xanh hoặc chín): Vết bệnh to màu tối thẫm lan rộng ở vùng
đài quả, phần trên của vai quả.
- Biện pháp phòng trừ:
+ Xử lý hạt giống
+ Trồng cây giống sạch bệnh.
+ Luân canh.
+ Tránh trồng gối những loài cây ký chủ của bệnh.
+ Phun thuốc trừ nấm thường rất cần thiết để phòng trừ bệnh.
6.1.6.8. Thu hoạch và bảo quản
Cà chua ngoài mục đích phục vụ cho nhu cầu ăn tươi còn để lại phục vụ chế
biến và xuất khẩu.
Tuỳ theo mục đích sử dụng mà thu hái vào từng thời kỳ cho thích hợp. Nếu
phải vận chuyển đi xa thì có thể thu ngay ở thời kỳ chín xanh, nếu ăn tươi thì thu ở
thời kỳ chín, nêú để làm giống thu hoạch thời kỳ chín hoàn toàn.
Thu hái cà chua nên cẩn thận, nhẹ nhàng tránh để quả bị va đập, xây xát trong
khi thu hái và vận chuyển.
94
Thu hái về cần để quả ở nơi thoáng mát, không được chất đống. Dùng vải
mềm hoặc giấy mềm lau chùi quả sạch, tách bỏ lá đài, không để lại vết nứt, vết
rách, sau đó xếp quả vào khay gỗ hoặc nhựa để bảo quản.
6.1.6.9. Kỹ thuật để giống
* Điều kiện cách ly
Cà chua là cây tự thụ phấn nhưng gặp nhiệt độ cao hoặc một số giống có vòi
nhuỵ dài cũng dễ bị giao phấn. Vì vậy trong sản xuất hạt giống phải được cách ly từ
50-200m. Ngoài việc cách ly giữa các giống cần chú ý khi làm hạt giống hoặc khi thu
hoạch quả tránh lẫn cơ giới.
* Nhổ bỏ cây khác dạng
Khâu này được thực hiện trong 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Trong vườn ươm nhổ bỏ những cây xấu và cây khác dạng dựa
vào đặc điểm và màu sắc của thân cây con phía trụ dưới lá mầm.
Giai đoạn 2: Loại thải trước khi cây ra hoa, dựa vào đặc điểm của giống như
tán lá, dạng lá, màu sắc lá, độ đồng đều của cây để loại bỏ những cây khác dạng.
Giai đoạn 3: Loại thải cây ở dạng quả xanh trước lúc thu hoạch, dựa vào đặc
điểm của chùm hoa, màu sắc vai quả, màu sắc quả xanh, quả chín...loại bỏ những
cây không đúng dạng.
Giai đoạn 4: Sau khi thu hoạch về cần dựa vào đặc điểm kích cỡ quả, dạng
quả, số ngăn hạt để loại bỏ những quả lẫn.
Ngoài ra tất cả những cây bị sâu bệnh đều phải loại bỏ.
* Thu hoạch
Cà chua trồng để sản xuất hạt giống phải để quả chín trên cây và chỉ l ấy
giống từ chùm hoa thứ hai đến chùm hoa thứ tư (đối với giống hữu hạn) và chùm hoa
thứ hai đến chùm hoa thứ sáu (đối với giống vô hạn). Khi thu quả về đ ể quả nơi
thoáng mát từ 2-3 ngày cho hạt chín hoàn toàn rồi mới bổ lấy hạt.
* Lấy hạt giống
Quả sau khi đã chín hoàn toàn, bổ ngang quả vắt lấy hạt vào dụng cụ sành sứ.
Ngâm hạt 2-3 ngày tuỳ thuộc vào nhiệt độ. Nếu sản xuất hạt lớn khi thu cà về cho
vào bao vải dẫm nát rồi dùng a xít HCl 0,7%, ngâm 20-30 phút rồi đãi ngay.
* Đãi hạt
Khi đãi hạt cần lấy tay trà nhẹ rồi đãi, những hạt trắc sẽ lắng xuống dụng cụ
đãi hạt.
* Phơi hạt
Dùng túi lưới mắt nhỏ hoặc nong nia để phơi hạt dưới nắng nhẹ. Nếu trời
mưa có thể phơi hạt dưới bóng điện 28-30 0C. Khi dộ ẩm của hạt đạt từ 6-8% là hạt
đã khô, sau đó đưa vào kho bảo quản.
95
6.2 Cây khoai tây
Tên khoa học: Solanum tuberosum L.
6.2.1. Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế
- Giá trị dinh dưỡng
Khoai tây là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Trong củ khoai tây chứa
nhiều chất quan trọng như: tinh bột, đạm, đường, nhiều loại vitamin : A, B1, B2, B3,
PP, đặc biệt là VTM C.....
Trong khoai tây còn chứa các chất khoáng quan trọng, đứng đầu là kali (K), thứ
đến là canxi, phốtpho và magie...
Có thể dùng khoai tây để luộc, xào, nấu súp, chiên giòn, làm bánh, mứt và chế
biến tinh bột v...
- Ý nghĩa kinh tế
Khoai tây là một trong năm cây lương thực trên thế giới sau lúa, ngô, mì,
mạch. Khoai tây là cây lương thực quan trọng của nhiều nước, là nguồn cung c ấp
năng lượng chính trong bữa ăn thường ngày của người dân Châu Âu và một số nước
khác. Mức tiêu thụ khoai tây trung bình của các nước vào khoảng 33 kg/người/năm,
trong khi đó ở Đức mức tiêu dùng khoai tây lên tới 144kg/người/năm. Ngoài ra khoai
tây còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước.
Ở nước ta khoai tây vừa là cây thực phẩm lại vừa là cây lương thực. Ở vùng
đồng bằng sông Hồng khoai tây là cây vụ đông quan trọng trong công thức luân canh.
6.2.2. Đặc điểm thực vật học
- Hệ rễ: rễ khoai tây mọc từ hạt là r ễ chính, trên r ễ chính hình thành r ễ
phụ. Rễ sinh ra từ thân củ là rễ chùm. Trong quá trình mọc m ầm, trên g ốc m ầm
xuất hiện những chấm nhỏ, đó là mầm mống c ủa rễ. R ễ khoai tây ch ủ y ếu phân
bố ở tầng đất mặt. Là loại rễ cạn, ăn nông, do đó khoai tây không ch ịu khô h ạn và
cũng không chịu ngập úng. Hệ rễ phát tri ển mạnh nh ất khi cây xu ất hi ện tia c ủ và
thân củ phình to.
- Thân: hệ thống thân của khoai tây gồm có hai loại, thân trên mặt đất và thân
dưới mặt đất
+ Thân trên mặt đất:
Mầm phát triển từ hốc mắt trên củ
mẹ. Số mầm trong mỗi mắt tuỳ thuộc vào
đặc tính của giống. Sau khi trồng, những
mầm này phát triển thành thân. Số mầm trong
mỗi khóm thay đổi tuỳ theo giống, điều kiện
ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt. Nhìn
chung số thân trong mỗi khóm từ 3-4 hoặc 7-
8.
Chiều cao thân phụ thuộc vào đặc tính
Hình 6.6: Vườn khoai tây
của giống (30-150 cm). Ngoài ra chiều cao thân cũng phụ thuộc vào điều kiện ngoại
96
cảnh và kỹ thuật trồng trọt. Khả năng phân cành cũng phụ thuộc vào giống, nhìn
chung giống sớm phân cành yếu hơn giống muộn.
+ Thân dưới mặt đất:
Bộ phận dưới mặt đất chủ yếu là tia củ và củ. Tia củ còn gọi là thân ngầm
hay thân địa sinh. Gọi như vậy vì bộ phận này chỉ phát triển, phình to thành củ khi nó
còn nằm trong bóng tối (trong lòng đất). Nếu tia củ gặp điều kiện thuận lợi như: đất
đai tơi xốp, đủ dinh dưỡng, độ ẩm đầy đủ và bóng tối.....thì tia củ sẽ phát triển thành
củ khoai tây. Củ khoai tây thực chất là đoạn cành đã co rút lại độ cao. Khi thân củ
phát triển hoàn chỉnh, ta sẽ thấy rõ hình dạng, màu sắc và số hốc mắt của mỗi củ.
- Lá:
Lá mọc đầu tiên từ thân củ hoặc từ hạt là những lá nhỏ, đơn, mép nguyên. Lá
khoai tây thuộc loại lá kép lông chim lẻ. Những lá ra đầu tiên chưa hoàn chỉnh, trên
mỗi lá kép chỉ có 1 đến 2 đôi lá chéc. Những lá tiếp theo là những lá kép hoàn chỉnh.
Tốc độ hình thành các lá chéc biểu hiện tiềm năng về năng suất của giống. Diện tích
lá ảnh hưởng lớn đến năng suất. Khả năng quang hợp của tầng lá giữa thân thường
là mạnh nhất. Lá khoai tây thường có màu xanh nhạt, nhưng đôi khi chúng cũng có
màu tía hoặc hơi đỏ. Mặt lá có thể phẳng mượt hoặc gợn sóng.
- Hoa, quả, hạt:
+ Hoa khoai tây thường có 5 lá đài và 5 cánh hợp, hình bánh xe hoặc hình ngôi
sao. Mằu sắc của cánh hoa thay đổi theo giống (trắng, phớt hồng, phớt tím, tím hoa
cà, vàng…). Hoa khoai tây thuộc loại hoa lưỡng tính (nhị cái và nhị đực trên cùng một
hoa), có 5 nhị đực. Hoa không có mật nên không dẫn dụ được côn trùng vì vậy hoa
thụ phấn được là chủ yếu nhờ gió.
+ Quả:
Quả khoai tây thuộc dạng quả mọng, có màu xanh và có từ 2-3 ngăn. Khả năng
đậu quả thay đổi rất lớn trong các giống trồng trọt. Mỗi quả có từ 100-200 hạt.
+ Hạt:
Hạt khoai tây rất nhỏ, có màu xanh tối, hạt rất nhỏ, khối lượng 1000 hạt khoảng
0,5g. Thời gian ngủ nghỉ của hạt dài bởi vậy sau khi hạt chín nếu đem gieo ngay hạt
không mọc, cần phải xử lý bằng hoá chất để phá vỡ trạng thái ngủ nghỉ của hạt.
6.2.3 Các giống khoai tây:
* Giống khoai tây thường tín (Hà Tây)
Cây cao trung bình, cây đứng, có khả năng đẻ nhánh. lá màu xanh nhạt, lá chéc
nhỏ, phiến lá nhăn, bộ lá gọn. Vì vậy có thể tăng mật độ trồng hơn các giống khác.
Giống này có khả năng thích nghi với khí hậu nhiệt đới, chống chịu với sâu bệnh hại
vào loại khá. Thời gian sinh trưởng từ 90-100 ngày. Thân củ (củ) có hình tròn dẹt
hoặc hình trứng. Vỏ củ và thịt củ có màu vàng. Số mắt trên mỗi củ từ 7-8, mắt củ
sâu trung bình. Khối lượng trung bình củ từ 30-50g, củ to nặng từ 60-100g. năng suất
trung bình từ 11-13 tấn/ha, trong điều kiện thâm canh cao năng suất đạt 20 -22
tấn/ha.
97
Chất lượng củ tốt, ngon, thơm, thịt củ từ dẻo đ ến bở, hợp với th ị hi ếu
ngườ i tiêu dùng.
Là giống chịu bảo quản hơn nhiều giống nhập nội. Nhược điểm của giống
này là tỷ lệ củ nhỏ cao.
* Giống Ackersegen
Thân cây to mập, số thân trong mỗi khóm từ 2-5. Lá to và dày, có khả năng
chống chịu yếu với bệnh vi rút. Thời gian sinh trưởng từ 95-100 ngày. Củ hình tròn
dẹt hoặc tròn trứng, vỏ và thịt củ màu vàng. Số mắt từ 7-8 trên mỗi củ, mắt sâu trung
bình. Khối lượng củ trung bình từ 80-110g. Năng suất trung bình đạt 13-16 tấn/ha,
năng suất cao đạt 20-22 tấn/ha. Tỷ lệ củ xuất khẩu đạt 30-35%.
* Giống Mariella (Việt Đức 2)
Giống có đặc điểm thân to, mập, có từ 2-4 thân trong một khóm. Lá to, dày, xanh
thẫm. Có khả năng chống chịu với bệnh héo xanh vi khuẩn nhưng trong vụ xuân chống
chịu kém. Khả năng chịu hạn và chịu nhiệt ở mức trung bình, chịu rét ở mức khá. Thời
gian sinh trưởng từ 90-93 ngày. Củ hình tròn, vỏ và thịt củ màu vàng. Mắt củ sâu trung
bình. Khối lượng củ từ 60-120g. Năng suất trung bình đạt 13-17 tấn/ha, năng suất cao
đạt 20-23 tấn/ha. Chất lượng củ trung bình. Tỷ lệ củ xuất khẩu đạt 40-45%.
* Giống CV 386 (CIP)
Giống có đặc điểm thân to, mập, chiều cao cây từ 45-70 cm, số thân trong mỗi
khóm từ 3-7. Lá to, dày, xanh thẫm. Có khả năng chịu nhiệt tốt. Thời gian sinh trưởng
từ 105-110 ngày. Củ hình tròn dẹt hoặc tròn dài, vỏ và thịt củ màu vàng. Khối lượng
củ từ 60-120g. Năng suất trung bình đạt 13-16 tấn/ha, năng suất cao đạt 180-22
tấn/ha.
* Giống Diamant (Hà Lan)
Giống có đặc điểm thân to, mập, chiều cao cây từ 35-70 cm, có từ 2-5 thân
trong một khóm. Lá to, dày, xanh thẫm. Có khả năng chống chịu với bệnh héo xanh vi
khuẩn, chống chịu tương đối khá với bệnh vi rút. Thời gian sinh trưởng từ 90-100
ngày. Củ hình tròn bầu, vỏ và thịt củ màu vàng. Mắt củ nông. Khối lượng củ từ 80-
150g. Năng suất trung bình đạt 13-16 tấn/ha, năng suất cao đạt 20-23 tấn/ha.
6.2.4. Các thời kỳ sinh trưởng chủ yếu của khoai tây
* Thời kỳ ngủ nghỉ
Sau khi thu hoạch, củ khoai tây chuyển sang thời kỳ ngủ nghỉ. Thời gian ngủ
nghỉ của các giống khoai tây từ 3-6 tháng. Muốn khoai tây nảy mầm ngay sau khi thu
hoạch, cần phải xử lý bằng hoá chất.
* Thời kỳ nảy mầm
Trong quá trình ngủ nghỉ, sự trao đổi chất trong củ tăng lên, phá vỡ lớp vỏ bần
của củ. Chất điều hoà sinh trưởng được hình thành liên tục, do đó đã thúc đ ẩy s ự
nảy mầm. Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm từ 18-20oC.
98
Những mầm ở phía đỉnh ngọn khoẻ hơn, nảy mầm nhanh hơn những mầm
phía gốc. Trong một mắt củ, mầm ở giữa thường nảy mầm trước, nếu mầm này
không phát triển được thì mầm khác sẽ thay thế.
* Thời kỳ hình thành tia củ
Tia củ còn gọi là thân ngầm hay thân địa sinh. Tia củ có màu trắng, có một
hoặc nhiều nhánh, phía đầu mút của tia củ giống như đầu con lươn, trạch. Nếu gặp
điều kiện thuận lợi về nhiệt độ (170C-180C), độ ẩm đất (70-80%), bóng tối, dinh
dưỡng đầy đủ và tươi xốp... thì đầu mút tia củ sẽ phát triển thành một củ khoai tây.
Những tia củ hình thành gần gốc mầm sẽ có nhiều khả trở thành thân củ.
Thông thường, sau khi trồng 15-20 ngày thì tia củ bắt đầu xuất hiện. Thời gian
hình thành tia củ kéo dài trong 30-45 ngày tuỳ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh
và kỹ thuật trồng trọt. Những tia củ ra muộn thường không cho củ.
*Thời kỳ thân củ phát triển
Đây là thời kỳ quan trọng của cây khoai tây. Số củ nhiều hay ít, khối lượng củ
to hay nhỏ, sản lượng khóm cao hay thấp là những chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến
năng xuất. Những chỉ tiêu này bị chi phối bởi các yếu tố như: giống, điều kiện ngoại
cảnh và kỹ thuật trồng trọt... Sau khi trồng khoảng 35-40 ngày thì củ phát triển. Điều
đó được thể hiện ở tia củ ngừng kéo dài và đầu mút tăng trưởng mạnh. Số lượng củ
trong mỗi khóm thường ổn định sau trồng khoảng 55-60 ngày. Đây cũng là thời kỳ
kích thước và khối lượng củ tăng trưởng nhanh.
Nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh và khô hạn.... sẽ ảnh hưởng không có lợi đến sự
tăng trưởng của củ. Nếu tăng trưởng chậm củ sẽ nhỏ, chất lượng củ kém từ đó
năng suất giảm.
Sau khi củ phát triển hoàn chỉnh có hình dạng tròn, tròn trứng, tròn bầu. màu
sắc của củ từ trắng đến vàng nhạt, vàng, tím hoặc xanh nhạt.
Số mắt trên mỗi củ từ 1-8. Mỗi mắt thường có 3 mầm. Tuỳ theo đ ặc điểm
của giống mà mắt củ có thể nông hoặc sâu.
6.2.5 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh
6.2.5.1. Nhiệt độ
Khoai tây là loại cây trồng ưa khí hậu ôn hoà. Khả năng chịu nhiệt và chịu rét đều
không cao. Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau, yêu cầu đối với nhiệt độ cũng thay đổi.
Hạt có thể nảy mầm ở nhiệt độ từ 12-15 oC, nhưng nhiệt độ thích hợp từ
18-20oC. Nhiệt độ cho thân lá phát tri ển t ừ 21-22 oC. Nhiệt độ cho thân củ phát
triển từ 17-20oC, nhiệt độ thích hợp từ 16-18 oC. Nhiệt độ cao, quá trình hình thành
củ gặp khó khăn.
Khi Nhiệt độ không khí trên 25oC sẽ xảy ra hiện tượng vống các loại thân,
lóng vươn dài, thân củ kéo dài hình ô van.
Trong điều kiện nhiệt độ cao, khô hạn, ánh sáng mạnh, khoai tây có hiện
tượng sinh trưởng lần 2. Trong sản xuất cần hạn chế hiện tượng này.
6.3.5.2. Ánh sáng
99
Khoai tây là cây ưa ánh sáng. Ánh sáng yếu và thiếu sẽ làm cho mầm vươn
dài, mầm có màu trắng hoặc vàng úa. Ánh sáng không đầy đủ, cây sinh tr ưởng y ếu,
lá nhỏ dẫn đến năng suất và chất lượng giảm. Cường độ ánh sáng thích hợp cho
khoai tây đạt năng suất từ 20.000-50.000 lux.
Hầu hết các giống khoai tây đều yêu cầu thời gian chiếu sáng dài để phát triển
thân lá và xúc tiến nở hoa. Một số giống yêu cầu ánh sáng ngắn để sinh trưởng và
phát triển.
Khoai tây yêu cầu ánh sáng thay đổi theo thời kỳ sinh trưởng. Từ mọc đến khi
hình thành tia củ yêu cầu thời gian chiếu sáng dài. Thời kỳ hình thành củ và c ủ phát
triển, khoai tây cần ánh sáng ngắn 10-12 giờ/ngày. Trong điều kiện ánh sáng dài, củ
không hình thành. Nếu để ánh sáng chiếu trực tiếp lên củ, vỏ củ sẽ hình thành màu
xanh, làm giảm giá trị của sản phẩm. Vì vậy trong kỹ thuật chăm sóc cho khoai tây,
biện pháp xới vun là hết sức quan trọng. Vun đất vào gốc cây tạo điều kiện cho c ủ
có bóng tối tránh được ánh mặt trời.
6.2.5.3. Nước
Khoai tây xuất xứ từ vùng ẩm ướt, hệ rễ ăn nông, diện tích lá lớn, vì vậy
khoai tây cần nước trong suốt thời gian sinh trưởng. Tuy nhiên hệ rễ của khoai tây
yếu nên không chịu được úng và cũng không chịu được hạn.
Thiếu nước khi trồng cây mọc chậm, ở thời kỳ hình thành tia củ sẽ ảnh
hưởng đến kích cỡ và khối lượng củ. Thiếu nước còn làm vỏ xù xì, hình thành
những u nhỏ trên củ và sinh trưởng lần 2. Vì vậy duy trì độ ẩm đất là biện pháp kỹ
thuật cơ bản trong kỹ thuật trồng khoai tây.
Tuy nhiên nếu thừa nước cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và
phát triển khoai tây đặc biệt ở thời kỳ cuối gây khó khăn cho công việc thu hoạch.
Độ ẩm không khí cao khoai tây dễ bị bệnh hại.
Độ ẩm đất từ 70-80% sẽ thoả mãn được nhu cầu của khoai tây đối với nước
trong suốt thời kỳ sinh trưởng. Tuy nhiên cuối thời kỳ sinh trưởng độ ẩm đất cần từ
60-70%. Độ ẩm tối ưu cho quá trình tích luỹ tinh bột vào củ là 60-65%.
6.2.5.4. Dinh dưỡng
- Khoai tây là loại cây trồng có khả năng thích nghi rộng đối với nhiều loai đất
tuy nhiên trồng khoai tây trên đất cát pha và thịt nhẹ, pH từ 5,5-7,5 (tốt nhất là t ừ 6-
6,5) sẽ cho năng suất cao và chất lượng tốt.
- Khoai tây là loại cây trồng có nhu cầu về dinh dưỡng lớn, cần các nguyên tố
đa lượng như N,P,K và các nguyên tố vi lượng Mn, Zn trong suốt quá trình sinh
trưởng và phát triển. Trong các nguyên tố đa lượng khoai tây yêu cầu kali l ớn nhất,
gấp 2-5 lần so với lân và 1,5-2 lần so với đạm.
6.2.6. Kỹ thuật trồng khoai tây
6.2.6.1. Thời vụ
100
Khi bố trí, sắp xếp thời vụ khoai tây ta cần dựa vào điều kiện sinh thái của
từng vùng, đặc tính của giống và tập quán canh tác của địa phương.
Vùng đồng bằng và Trung du, miền núi phía Bắc có thể bố trí vào các
thời vụ sau :
Đông xuân sớm: trồng tháng 9
Đông xuân chính: trồng từ tháng 10 đến tháng 11
Đông xuân muộn : trồng từ tháng 12 đến tháng 1
Vụ xuân hè: trồng từ tháng 2 đến tháng 3
6.2.6.2 Xử lý giống
* Xử lý hạt
Hạt giống khoai tây có thời gian ngủ nghỉ dài, vì vậy trước khi gieo hạt phải
xử lý phá ngủ.
Dùng Gibberillin nồng độ 1500 ppm, ngâm hạt trong 24 giờ. Sau đó vớt hạt rửa
sạch, để róc nước rồi gieo vào vườn ươm hoặc bầu.
* Xử lý củ giống
Sau khi thu hoạch, muốn cho khoai tây nảy mầm cần phải xử lý phá ngủ.
Trước đây kinh nghiệm của người nông dân, phá ngủ đối với củ khoai cây
bằng cách: chà vỏ, gọt vỏ..như vậy khoai tây có thể này mầm, nhưng củ giống dễ bị
thối hỏng.
Hiện nay chúng ta có thể dùng hoá chất để xử lý phá ngủ khoai tây:
Dùng urê nồng độ từ 0,5-1%, ngâm từ 4-5 giờ, vớt ra để nơi thoáng mát hoặc
vùi vào cát ẩm. Sau 5-7 ngày khoai tây sẽ nảy mầm
Dùng Gibberillin nồng độ 2 ppm, ngâm từ 4-5 giờ.
6.2.6.3. Làm đất
- Làm đất kỹ, lên luống rộng 1-1,1m, rãnh luống 25-30cm, cao 30-35 cm.
- Mật độ trồng: 40.000-50.000 khóm/ ha (khoảng cách: 30cm x 35 cm )
6.2.6.4. Bón phân
Chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục, tuyệt đối không dùng phân tươi. Lượng
phân cho 1 ha là 20-30 tấn chuồng + 120-150 kg đạm nguyên chất + 60- 90 kg phân
lân nguyên chất + 100-120 kg ka li nguyên chất.
Bón lót vào hốc toàn bộ phân chuồng, phân lân và 1/3 phân kali, 1/4 phân đạm
Bón thúc toàn bộ phân đạm và phân ka li còn lại vào hai thời kỳ:
101
Lần 1: sau trồng 20-25 ngày, bón 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng phân ka li còn
lại.
Lần 2: sau lần 1 khoảng 15 ngày, kết hợp vun cao luống, bón nốt lượng phân
đạm và kali.
6.2.6.5. Phương pháp trồng
Khoai tây có thể trồng theo phương pháp hữu tính (từ hạt) và trồng theo
phương pháp vô tính (từ củ, mầm, cắt mầm và nuôi cấy mô).
- Trồng bằng củ vẫn đang là phương pháp phổ biến rộng rãi trên thế giới và ở
nước ta.
Trồng bằng củ thao tác đơn giản, dễ làm, nhưng chi phí về giống trên đơn vị
diện tích sẽ cao. Dùng củ giống trung bình từ 25-30g, không nhiễm sâu bệnh hại.
Mầm mập, to, khoẻ, trên mỗi củ ít nhất phải có 1-2 mầm, chiều dài mầm từ 1-2cm.
- Những củ có khối lượng 60g trở lên có thể cắt thành nhiều miếng, cắt theo
chiều dọc củ, mỗi miếng củ giống có khối lượng 20-30g, phải bảo đảm số lượng
mầm trên mỗi miếng củ giống. Mầm phải khoẻ mạnh, không bị tổn thương, ngay
sau khi cắt chấm nhẹ những miếng củ giống vào tro bếp, đất bột, cát khô để mặt cắt
nhanh khô và chóng thành sẹo. Nông dân vùng An Thuỵ (Hải Phòng) có kinh ngiệm :
Chấm miếng khoai tây vào bột xi măng khô để bảo vệ khoai giống tốt hơn. Sau khi
cắt và xử lý giống có thể trồng ngay hoặc để một thời gian tuỳ theo tình hình cụ thể
của nông dân.
Khi vận chuyển củ giống cần nhẹ nhàng để tránh cho mầm bị tổn thương và
gãy. Khi trồng đặt củ giống vào chính giữa hốc, lấp đất lên củ giống dày 4-5 cm.
Khối lượng củ giống cho 1000 m2 đất từ 84-140 kg.
- Cũng có thể trồng mầm khoai tây bằng cách cắt mầm đem giâm, sau khi
mầm phát triển thành cây đem trồng ngoài ruộng sản xuất.
- Một biện pháp nữa là trồng khoai tây bằng cách gieo hạt. Sau gieo 25-30
ngày có thể đem trồng ngoài ruộng sản xuất. Mỗi hốc trồng 3 cây, lấp đất đến dưới
lá thật đầu tiên, ấn xung quanh gốc. Trên 1000m2 đất trồng từ 1vạn đến 1,2 vạn cây.
6.2.6.6. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại
- Xới vun: Sau trồng 15-20 ngày thì xới vun lần 1, lúc này cần xới rộng, sâu và
vun nhẹ vào gốc. Vun xới lần 2 sau trồng 30-35 ngày, lúc này cần vun cao.
- Tưới nước
Tuyệt đối không được dùng nguồn nước thải, nước ao tù chưa được xử lý để
tưới. Có thể dùng nước giếng khoan đã được xử lý, nước sông ao hồ không bị ô
nhiễm.
102
Trong thời gian sinh trưởng, trung bình 10 ngày tưới một lần, tuỳ theo tình hình
thời tiết khí hậu. Đối với những thời kỳ quan trọng cần cung cấp đủ nước (sau trồng
25-30; 40; 50 và 60 ngày. Sau trồng 70 ngày ngừng tưới nước.
- Tỉa nhánh: Số thân trung bình mỗi nhóm để từ 4-5 thân nếu sản xuất củ
giống thì có thể nhiều hơn. Thời gian tỉa tốt nhất là sau trồng 15-20 ngày.
Phòng trừ sâu bệnh hại: Cần áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp một
cách triệt để
Các loại sâu thường gặp: Rệp sáp, sâu xám, sâu xanh.
+ Sâu xám: xử lý đất trước khi trồng, bắt bằng tay hoặc có thể dùng thuốc
Malathion 50% pha với nồng độ 0,1% phun vào lúc 4-6 h buổi chiều.
+ Rệp sáp: xử lý củ giống trước khi bảo quản. Tiêu độc giàn bằng cách phơi
nắng, ngâm nước và phun thuốc.
+ Sâu xanh: khi cây lớn mật độ sâu vượt quá ngưỡng cho phép sử dụng các loại
các loại thuốc Sherpa 20 EC, trebonl 10 EC. Kết thúc phun thuốc hoá học trước
thu hoạch 15-20 ngày.
Các loại bệnh hại thường gặp: bệnh mốc sương, bệnh héo xanh vi khuẩn,
bệnh thối nhũn.
Cần trồng luân canh đối với cây khác họ, trồng các loại giống kháng bệnh,
tránh để ruộng quá ẩm, úng kéo dài, thường xuyên làm cỏ, thu gom các lá già…. làm
cho ruộng sạch thông thoáng. Khi bệnh phát triển thành dịch có thể dùng thuốc:
+ Bệnh mốc sương dùng Zineb 80 WP, Booc đô 1%
+ Bệnh thối nhũn: bảo quản củ giống cần chọn những củ nguyên vẹn, không
bị xây xát
Cách dùng thuốc: Nồng độ thuốc và lượng dùng phải theo đúng hướng dẫn
ghi trên bao bì của mỗi loại thuốc.
6.2.6.7.Thu hoạch và bảo quản
* Thu hoạch
Thời gian thu hoạch: Khi xác định thời điểm thu hoạch khoai tây cần phải căn
cứ vào thời gian sinh trưởng, đặc tính của từng giống. Thời gian sinh trưởng của các
giống khoai tây có sự sai khác đáng kể và được phân chia theo các nhóm sau:
+ Nhóm cực sớm: Được thu hoạch sau trồng 65-70 ngày.
+ Nhóm sớm trung bình : Được thu hoạch sau khi trồng trên 70-90 ngày.
+ Nhóm trung bình : Được thu hoạch sau khi trồng trên 90-120 ngày.
+ Nhóm muộn : Được thu hoạch sau khi trồng trên 120 ngày trở lên.
Mặt khác khi thu hoạch cần dựa vào tình hình sinh trưởng của thân lá. Cuối
thời kỳ sinh trưởng, lá khoai tây vàng úa một cách tự nhiên, đặc điểm này đ ể nhận bi ết
103
lúc này khoai tây đã chín. Khi diện tích trồng có từ 1/2-2/3 diện tích trồng có thân lá vàng
úa thì có thể thu hoạch.
Trước khi thu hoạch khoảng 3-4 tuần ngừng tưới nước, để ruộng khô ráo.
Sau đó cách thu hoạch khoảng 7-10 ngày, cắt thân lá khoai tây. Khi thu hoạch c ần dùng
cày hoặc cuốc xả hai bên má luống, sau đó nhổ cả khóm.
Khi thu hoạch phải tránh làm củ bị sây sát, không dùng nước rửa củ. Nếu thời tiết
nắng ráo có thể trải khoai trên mặt luống nhằm làm cho vỏ củ nhanh khô. Sau khi thu
hoạch song cần phân loại theo mục đích sử dụng.
* Bảo quản
Thu hoạch về cần để nơi thoáng mát, không để mưa dột hoặc ánh nắng trực
tiếp chiếu vào kho. Khi vỏ củ có màu xanh cần tiến hành đảo khoai, khi hai mặt củ có
màu xanh thì xếp khoai lên giàn. Trong quá trình bảo quản cần thường xuyên kiểm tra,
loại bỏ những củ bị sâu bệnh hại.
Có thể bảo quản trong kho lạnh, đây là phương pháp bảo quản hiện đại và an
toàn nhưng chi phí cao. Nhiệt độ trong kho lạnh từ 1-30C, ẩm độ không khí từ 75-80%.
104


CHƯƠNG 7
RAU HỌ BẦU BÍ (Cucurbitaceae)
7.1. Đặc điểm chung của rau họ bầu bí
Họ bầu bí là loại rau ăn quả, được trồng khắp nơi làm thực phẩm. Hầu hết
các cây trong họ đều là cây dây leo hoặc mọc bò trên mặt đ ất. Bầu bí th ường đ ược
nhân giống bằng hạt, một số ít nhân giống vô tính và một số cây là cây lưu niên.
Trên thế giới có 120 chi, 1000 loài phân bố ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới ở cả
2 bán cầu, chỉ có một số phân bố ở vùng ôn đới. Một vài chi ở phía đông Himalaya, phía
đông và phía nam châu Á. Ở Việt Nam, họ bầu bí có 23 chi và 53 loài.
7.1.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của các cây trong họ bầu bí
Các cây trong họ bầu bí là nhóm rau lớn, được chế biến thành nhiều món ăn và
sử dụng bằng các cách khác nhạu: làm xa lát để ăn sống; dầm dấm như dưa chuột;
nấu canh như bầu, bí; làm quả tráng miệng như dưa thơm, dưa hấu và làm bánh,
mứt, kẹo như bầu bí..v..v...v....
Bộ phận được sử dụng của các cây trong họ bầu bí là quả non hoặc quả già.
Các loài trong họ bầu bí có giá trị dinh dưỡng cao, Quả trong họ bầu bí giàu
hydratcacbon, có nhiều đường, vitamin, muối khoáng và nhiều chất khoáng như K,
Ca, P, Fe…
Hàm lượng dầu trong hạt dưa chiếm tới trên 40% khối lượng hạt bởi vậy
người ta dùng để làm nguyên liệu chế biến dầu có giá trị.
Trong họ bầu bí có nhiều loài chịu bảo quản, vận chuyển điều đó có ý nghĩa
trong việc giải quyết giáp vụ.
Bầu bí có giá trị kinh tế cao hơn cây lúa và một số cây trồng khác. Một số cây
trong họ bầu bí có vị trí quan trọng trong xuất khẩu và chế biến như dưa chuột, dưa
hấu, dưa thơm, bí ngô và bí xanh.
7.1.2. Đặc điểm thực vật học họ bầu bí
7.1.2.1. Hệ rễ
Rễ ăn sâu từ 0,6-1m có thể tới 2m, chúng có khả năng hút nước ở tầng sâu và
có khả năng chịu hạn.
7.1.2.2. Thân
Thuộc loại thân thảo có đặc tính leo bò. Thời kỳ có 1-2 lá thật cây ở trạng thái
đứng, đốt ngắn, thân mảnh. Thời kỳ ra hoa thân phát triển mạnh nhất tốc độ sinh
trưởng nhanh, lóng dài. Đến cuối đời cây già đạt độ dài tối đa của mỗi loài. Chiều
dài thân của các loài bí ngô, dưa hấu, bí xanh trung bình có thể đạt từ 8-10m. Dưa
chuột, dưa lê, dưa gang có chiều dài biến động từ 0,6-5m.
7.1.2.3. Lá
Các loài trong họ bầu bí thuộc 2 lá mầm, 2 lá mầm đầu tiên mọc đối xứng
nhau qua đỉnh sinh trưởng, hình trứng. Lá thật của các loài trong họ bầu bí khác nhau
về kích cỡ, hình dạng. Lá thật mọc cách trên thân chính, lá có độ l ớn tối đa vào th ời
105
kỳ sinh trưởng mạnh, ra hoa rộ. Lá có hình chân vịt, xẻ thuỳ sâu hoặc không xẻ thuỳ.
Trên lá và cuống có lớp lông phủ dày, lớp lông này có tác dụng bảo vệ và chống thoát
hơi nước. Lá bí ngô, bí xanh, dưa hấu thuộc loại lá to, l ớp lông phủ trên lá c ứng. Lá
của loài dưa hấu xẻ thuỳ sâu, có màu xanh thẫm. Lá của các loài khác nhỏ, xanh vàng
như dưa chuột, dưa lê, bầu.
Bảng 7.1 Số lá và tuổi thọ lá của một số loài trong họ bầu bí
Tên Giống Tổng số lá trên thân Tuổi thọ trung bình của 1 lá (ngày)
chính Lá mầm Lá thật
Bí ngô 57,3 25,0 28,0
Bí xanh 49,4 23,0 26,0
Dưa hấu 49,1 27,0 27,0
Dưa lê 45,8 20,0 26,0
Dưa gang 47,6 22,0 24,0
Nguồn: Tạ Thu Cúc, 2000
7.1.2.4. Hoa
Hoa của các loài trong họ bầu bí hầu hết là hoa hoàn chỉnh. Đó là trên cùng
một hoa có cả nhuỵ và nhị, như vậy có khả năng tự thụ phấn hoặc là thụ phấn chéo.
Số lượng mỗi hoa trên cây khác nhau, nhiều nhất là hoa đực, thứ đến là hoa
cái và ít hơn là hoa lưỡng tính. Sự sắp xếp hoa trên nhóm này là đơn tính cùng gốc
chiếm ưu thế, tỷ lệ đực/cái ở một số loài là 24:1 trên cùng một cây. Ở một vài loài
sự sắp xếp hoa cái và hoa đực là khác gốc đặc biệt là loài C.melon. Trong họ bầu bí
còn sảy ra hiện tượng hỗn hợp cả 3 loại hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính trên cùng
một cây. Thường thì số lượng hoa đực trên cây nhiều hơn hoa cái, vì vậy trong s ản
xuất cần tỉa bỏ số hoa đực không cần thiết.
Khi thời tiết không có lợi cho ong bướm hoạt động cần thực hiện thụ phấn
bổ sung, trung bình 1 hoa đực thụ phấn cho 2-3 hoa cái.
7.1.2.5. Quả và hạt
Quả của họ bầu bí thuộc loại quả thịt, gồm 3 lá noãn. Hình dạng, khối lượng,
kích thước và màu sắc quả khác nhau rất lớn. Khối lượng quả từ 4-5g (dưa chuột
bao tử) đến 10-15 kg đối với bí xanh.
Hình dạng có nhiều dạng: tròn dài, tròn, hình trụ, tròn bẹt. Vỏ ngoài nhẵn
hoặc có sọc, có múi. Màu sắc quả nhiều màu như: vàng, xanh, xanh nhạt, xanh
thẫm...
Số lượng hạt rất khác nhau giữa các loài, quả thì có 1 hạt như su su, quả l ại
có nhiều hạt như dưa lê có tới 500-600hạt/quả.
7.1.3. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh
7.1.3.1 Nhiệt độ
Là nhóm cây ưa khí hậu ấm áp, có khả năng chịu nóng nhưng không chịu được
rét và sương giá. Hầu hết các các cây trong họ bầu bí sinh trưởng tốt trong điều kiện
nhiệt độ từ 23-300C. Nhiệt độ thấp dưới 100C sự sinh trưởng, phát triển gặp nhiều
106
khó khăn. Hầu hết các cây trong họ bầu bí thông qua giai đoạn xuân hoá ở nhiệt đ ộ
20-220C. Nếu nhiệt độ ban ngày là 25-30 0C và nhiệt độ ban đêm 16-180C trong thời
gian sinh trưởng thì hoa cái sẽ xuất hiện sớm.
7.1.3.2. Ánh sáng
Các cây trong họ bầu bí đều cần thời gian chiếu sáng ngắn để sinh trưởng và
phát triển. Yêu cầu về thời gian chiếu sáng không nghiêm khắc, nhiều cây biểu hiện
trung tính. Thường các cây trong họ bầu bí thông qua giai đoạn ánh sáng với chế độ
chiếu sáng từ 10-12 giờ. Ánh sáng ngắn có lợi cho sự phân hoá hoa cái trên một số cây.
Hầu hết các cây trong họ bầu bí yêu cầu về cường độ chiếu sáng mạnh. Gieo
trồng trong điều kiện ánh sáng yếu cây sinh trưởng kém, ra hoa, quả chậm, giảm
năng suất và chất lượng sản phẩm.
Trong điều kiện trời âm u, mưa phùn hạn chế ong hoạt động nên cần thụ
phấn bổ sung để tăng tỷ lệ đậu quả.
7.1.3.3. Nước
Hầu hết các cây trong họ bầu bí có khả năng chịu hạn nhưng không chịu được
úng. Hệ rễ của những cây này ăn sâu, rễ chính dài, phân nhánh nhiều nhưng có kh ối
lượng thân lá lớn, bởi vậy cần cung cấp đủ nước vào các thời kỳ quan tr ọng. Các
thời kỳ cần nước là: sinh trưởng thân lá, thời kỳ hình thành hoa và quả phát triển.
Những loại cây có khả năng chịu hạn khá đó là bí ngô, dưa bở và dưa hấu,v.v..
Cây chịu hạn kém hơn là dưa chuột. Nhìn chung độ ẩm thích hợp cho các cây trong
họ bầu bí từ 70-80%. Bầu bí không đòi hỏi nhiều nước, nhưng đất khô hạn kéo dài,
hạt nảy mầm khó, cây sinh trưởng kém, diện tích lá giảm, gây ra hiện tượng r ụng
nụ, rụng hoa, quả phát triển kém.
7.1.3.4. Đất và chất dinh dưỡng
Các cây trong họ bầu bí thích nghi trên nhiều loại đất khác nhau, thậm chí có
loài có thể sinh trưởng trên đất nghèo dinh dưỡng. Muốn đạt năng suất cao thì ch ọn
các loại đất: thịt nhẹ, thịt trung bình, cát pha, đất phù xa ven sông có pH trung bình,
giàu chất dinh dưỡng.
Đối với dinh dưỡng bầu bí yêu cầu kali nhiều nhất thứ đến là đ ạm, ít hơn là
lân. Nhìn chung muốn đạt năng suất cao 1ha cần bón:
20-30 tấn phân chuồng + 90-100 kg đạm nguyên chất, 60-90 kg supe lân, 90-180 kg
kali clorua.
7.2. Cây dưa chuột
Tên khoa học: Cucumis sativus L
7.2.1. Đặc điểm chung
Dưa chuột là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, là cây rau truy ền thống,
nó được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều
nước. Nước dẫn đầu về diện tích trồng dưa chuột là Trung Quốc, tiếp theo là Hoa
Kỳ, IRan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Ucraina, Nhật Bản, ...Hiện nay diện tích trồng dưa chuột
trên thế giới ngày càng được mở rộng dẫn đến sản lượng dưa chuột ngày càng tăng.
107




Bảng 7.2 Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới

Chỉ tiêu
Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Năm
2003 2.269.681 182,22 41.359.438
2004 2.435.721 172,33 41.976.677
2005 2.471.544 173,81 42.958.445
2006 2.524.109 174,57 44.065.865
2007 2.583.299 172,68 44.610.943
Nguồn: FAO.STAT ,2008
Bảng 7.3 Tình hình sản xuất dưa chuột ở một số nước trên thế giới năm 2007

Tên nước Diện tích (1000ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1000tấn)
Trung Quốc 1653,8 169,6 28.062,0
Hoa Kỳ 95,0 141,5 920,0
IRan 78,0 220,5 1.720,0
Thổ Nhĩ Kỳ 65,0 288,6 1.875,9
Nga 65,0 148,4 1.410,0
Ucraina 46,0 168,4 775,0
Nhật Bản 13,0 487,6 634,0
Nguồn: FAO.STAT ,2008
Hiện nay dưa chuột được trồng ở hầu khắp trên thế giới nhưng các nước
trồng nhiều tập trung ở châu Á và châu Âu. Trung Quốc là nước sản xuất dưa chuột
lớn nhất thế giới, sản lượng dưa chuột chiếm khoảng 63% tổng sản lượng dưa
chuột trên thế giới. Thứ đến là Thổ Nhĩ Kỳ với sản lượng tăng từ 1.780.000 tấn/năm
2003 lên đến 1.875.000 tấn/năm 2007. Tiếp theo là IRan sản l ượng dưa chuột đ ạt
1.720.000 tấn vào năm 2007.
Ở nước ta những năm gần đây dưa chuột đã trở thành cây rau quan trọng
trong sản xuất. Hiện nay dưa chuột được trồng rộng rãi ở khắp các tỉnh thành trong
cả nước. Những vùng sản xuất lớn thường tập trung ở các khu đô thị và khu vực có
nhà máy chế biến rau quả thuộc đồng bằng sông Hồng, chiếm gần 40% diện tích
như Thái Bình, Hà Tây, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hà
nam và một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích trồng dưa chuột của
ta ngày càng được mở rộng, vào năm 2000 diện tích trồng dưa chuột nước ta là
26.500 ha đến năm 2004 tăng lên 27.900 ha.
108




Bảng 7.4 Tình hình sản xuất dưa chuột ở Việt Nam

Diện tích (1000ha) Sản lượng (1000tấn)
Năm Miền Miền Miền Tổng Tiêu thụ Xuất
Tổng
Bắc nội địa khẩu
Trung Nam
2000 15,0 1,2 10,8 26,5 260,0 170,0 430,0
2001 16,3 1,4 9,7 27,0 250,0 187,0 437,0
2002 15,8 1,0 10,4 27,2 252,0 198,0 450,0
2003 16,0 1,3 10,5 27,8 250,0 190,0 440,0
2004 16,4 1,0 10,5 27,9 230,0 210,0 440,0
Nguồn: FAO.STAT ,2008
7.2.2. Đặc điểm thực vật học
- Rễ: Rễ dưa chuột ưa ẩm,
không chịu khô hạn, không chịu úng.
Rễ có thể ăn sâu dưới tầng đất 1m
nhưng chủ yếu phân bố ở tầng đ ất từ
0-30 cm.
Rễ dưa chuột phát triển yếu,
trong đất có thành phần cơ giới trung
bình chỉ ăn sâu 10-25 cm. Hệ rễ chiếm
1,5% toàn bộ khối lượng cây. Rễ phụ
phân bố trên bề mặt rộng từ 60-90 cm.
Ở nhóm có thời gian sinh trưởng dài,
Hình 7.3: Cây dưa chuột
bộ rễ cùng các cơ quan trên bề mặt
đất phát triển mạnh hơn.
- Thân: Thân dưa chuột thuộc loại thân leo, mảnh, nhỏ, chiều cao thân phụ
thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc.
Căn cứ vào chiều cao cây có thể phân thành 3 nhóm:
Loại lùn chiều cao cây từ 0,6-1m
Loại trung bình chiều cao cây từ trên 1m-1,5m
Loại cao chiều cao cây lớn hơn 1,5m
Trên thân có cạnh, có lông cứng và ngắn, có khả năng phân cành cấp 1 và cành
cấp 2, quả chủ yếu ra trên thân chính.
- Lá: Lá dưa chuột gồm có lá mầm và lá thật, 2 lá mầm mọc đối xứng qua trục
thân. Lá mầm có hình trứng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá dự đoán tình hình sinh
109
trưởng của cây. Người trồng dưa thường quan tâm tới độ lớn, sự cân đối và thời gian
duy trì lá mầm trên cây dài hay ngắn. Lá thật có 5 cánh, chia thuỳ nhọn hoặc có dạng
chân vịt, trên lá có lông cứng và ngắn, màu sắc lá thay đổi.
- Hoa: Hoa dưa chuột có màu vàng, đường kính từ 2-3 cm. Tính đực cái biểu
hiện rất phong phú, là dạng cây có hoa đơn tính cùng gốc (hoa đ ực và hoa cái trên
cùng một cây). Dạng hình khác là trên cây chỉ có hoa cái, hoặc đôi khi là cây đơn tính
khác gốc (trên cây tất cả là hoa đực hoặc tất cả là hoa cái).
Trong quá trình phát triển, dưa chuột còn sản sinh ra dạng hình hoa cái và hoa
lưỡng tính cùng gốc. Dạng hình cơ bản vẫn là trên cây có hoa cái ho ặc cây có t ập
tính ra hoa cái nhưng mang
thêm một số hoa lưỡng tính.
Tuy vậy hoa của dưa chuột
chủ yếu là hoa đơn tính cùng
gốc trong đó hoa cái chiếm ưu
thế.
Hoa đực thường mọc
thành chùm ở nách lá, hoa cái
mọc đơn nhưng ở vị trí cao
hơn hoa đực, cuống của hoa
cái ngắn và mập hơn hoa đực.
Hoa dưa chuột thụ phấn chéo
nhờ côn trùng, trừ những hoa
lưỡng tính.
- Quả: quả dưa chuột
thuôn dài, có 3 múi, hạt đính
vào giá noãn. Hình dạng, độ
dài, khối lượng, màu sắc quả Hình 7.2: Quả dưa chuột
phụ thuộc nhiều vào giống. Hầu hết quả dưa chuột màu xanh, xanh vàng, khi chín
quả thường nhẵn hoặc có gai.
Trong sản xuất dưa chuột xuất hiện hiện tượng quả dị hình, phát triển không
cân đối v..v.. đó là do sự biến đổi quá mạnh trong thời kỳ phôi thai. Sự thay đ ổi
không bình thường trong thời kỳ hình thành hạt sẽ sản sinh ra quả dị hình.
7.2.3. Giống dưa chuột
* Dưa chuột Yên Mỹ
Cây cao từ 2-2,5m, thân mảnh, nhỏ, lá có màu xanh vàng. Từ gieo đến thu quả lứa
đầu 50-54 ngày. Thời gian sinh trưởng 90-100 ngày. Khối lượng quả 93-102,8g. Đường
kính quả 3,1-3,2cm, chiều dài quả 17-18,4 cm. Năng suất trung bình đạt 26,9-28,0 tấn/ha.
Chống chịu được bệnh phấn trắng ở mức trung bình. Giống dưa chuột Yên Mỹ
có thể gieo trong vụ xuân và vụ đông ở vùng Đồng bằng sông Hồng.
* Giống dưa chuột lai PC4
110
Chiều cao cây 2,5 m, thân nhỏ, thân lá màu xanh đậm. Thời gian sinh trưởng
85-95 ngày. Từ gieo đến thu quả lứa đầu 42-45 ngày, thời gian thu quả 40-45 ngày.
Khối lượng quả 125g. Quả nhỏ cùi dầy khoảng 1,29 cm, đường kính quả 2,8-3,0 cm,
chiều dài quả 20-24 cm. Về cảm quan giống PC4 ăn giòn, có mùi thơm đặc tr ưng,
thích hợp thị hiếu người tiêu dùng, đạt yêu cầu chế biến muối mặn xuất khẩu . Năng
suất trung bình đạt 45-50 tấn/ha. Chống chịu khá với bệnh sương mai, bệnh phấn
trắng. Giống dưa chuột lai PC4 có thể gieo trong 2 vụ, xuân hè và thu đông.
* Giống dưa chuột lai PC1
Thời gian sinh trưởng 85-90 ngày. Từ gieo đến thu quả lứa đầu 35-45 ngày.
Khối lượng quả 100-110g. Quả nhỏ cùi dầy khoảng 1,2 cm, thích hợp cho chế biến
xuất khẩu, chất lượng tốt, ăn tươi giòn, thơm. Năng suất trung bình đạt 35-40 tấn/ha.
Chống chịu khá với bệnh sương mai, bệnh phấn trắng và bệnh héo rũ. Giống dưa
chuột lai PC1có thể gieo trong vụ xuân hè và thu đông.
* Giống dưa chuột lai CV5
Chiều cao cây 2,8-3,2 m, thân lá màu xanh. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày.
Từ gieo đến thu quả lứa đầu 40-45 ngày, thời gian thu quả 40-45 ngày. Khối lượng
quả 176- 188g. Quả nhỏ cùi dầy khoảng 1,5-1,8cm, đường kính quả 3,5-4,0cm, chiều
dài quả 20-24 cm. Về cảm quan giống CV5 ăn giòn, ngọt, quả có màu xanh trắng hợp
thị hiếu người tiêu dùng. Năng suất trung bình đạt 40-42 tấn/ha. Chống chịu tốt với
bệnh phấn trắng. Giống dưa chuột lai CV5 có thể gieo trong 2 vụ, xuân hè và thu
đông.
* Giống dưa chuột lai CV11
Chiều cao cây 2,6-3,0 m, lá màu xanh đậm. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày.
Từ gieo đến thu quả lứa đầu 40-45 ngày, thời gian thu quả 40-45 ngày. Khối lượng
quả 168-182g. Quả nhỏ cùi dầy khoảng 1,4-1,6 cm, đường kính quả 3,5-4,0cm, chiều
dài quả 20-22 cm. Về cảm quan giống CV11 ăn giòn và ngọt thích hợp thị hiếu người
tiêu dùng. Năng suất trung bình đạt 38-40 tấn/ha. Chống chịu với bệnh sương mai,
bệnh phấn trắng. Giống dưa chuột lai CV11 có thể gieo trong 2 vụ, xuân hè và thu
đông.
7.2.4. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh
- Nhiệt độ
Dưa chuột rất mẫn cảm với sương giá đặc biệt là nhiệt độ thấp dưới 0 0C. Vì
vậy dưa chuột cần khí hậu ấm áp để sinh trưởng và phát triển.
Nhiệt độ thích hợp cho hạt dưa chuột nảy mầm là 15,5 - 35 0C. Nhiệt độ thích
hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển là 200C. Ở 50C dưa chuột có nguy cơ bị
chết rét còn ở 400C cây ngừng sinh trưởng, hoa cái không xuất hiện. Hầu hết các
giống dưa chuột đều thông qua giai đoạn xuân hoá ở nhiệt độ 20-220C
- Ánh sáng : Dưa chuột là cây ưa ánh sáng ngày ngắn, thời gian chiếu sáng từ
10-12 h/ngày. Phản ứng của dưa chuột đối với ánh sáng còn phụ thuộc vào giống và
thời gian gieo trồng. Thời gian chiếu sáng dài, nhiệt độ cao sẽ thúc đẩy sinh trưởng
111
của thân lá, hoa cái xuất hiện muộn. Ngược lại ánh sáng thiếu và cây yếu thì cây sinh
trưởng, phát triển kém, ra hoa cái muộn, dễ bị rụng, năng suất thấp, chất lượng
giảm.
- Nước
Cây dưa chuột có nguồn gốc ở nơi ẩm ướt nên bộ rễ kém phát triển hơn các cây
trong cùng họ, bởi vậy dưa chuột là cây chịu hạn và chịu úng đều kém.
Đất khô hạn, hạt mọc chậm, thân lá sinh trưởng kém. Nếu thiếu nước nghiêm
trọng sẽ xuất hiện quả dị hình, quả bị đắng, cây dễ bị nhiễm bệnh virut.
Khi hạt nảy mầm yêu cầu lượng nước bằng 50% khối lượng hạt. Thời kỳ
sinh trưởng thân lá độ ẩm đất cần từ 70-80%, thời kỳ ra quả rộ và quả phát triển yêu
cầu độ ẩm từ 80-90%.
- Đất và chất dinh dưỡng
Cây dưa chuột ưa thích đất màu mỡ. Do bộ rễ kém phát triển, sức hấp thụ của
bộ rễ lại yếu nên dưa chuột yêu cầu nghiêm khắc về đất trồng hơn các cây trong họ.
Đất trồng dưa chuột nên chọn đất cát pha hoặc thịt nhẹ, pH từ 5,5-6,8.
Cây dưa chuột yêu cầu dinh dưỡng cao. Dinh dưỡng khoáng không đủ, ảnh
hưởng không tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Bón phân chuồng và phân
khoáng hợp lý sẽ làm tăng hàm lượng đường trong quả. Thời kỳ đ ầu dưa chuột c ần
nhiều đạm và lân, cuối thời kỳ sinh trưởng không cần nhiều đạm, nếu giảm bón
đạm sẽ làm tăng năng suất một cách rõ rệt. Trong 3 yếu tố đạm, lân, ka li, dưa chuột
sử dụng kali nhiều nhất, thứ đến là đạm và ít hơn là lân.
7.2.5. Kỹ thuật trồng dưa chuột
7.2.5.1. Thời vụ
Vùng đồng bằng và Trung du, miền núi phía Bắc có thể gieo trồng trong các vụ sau:
Đông xuân sớm: gieo tháng 7 đến tháng 8
Đông xuân chính: gieo tháng 9 đến tháng 10
Đông xuân muộn: gieo tháng 11 đến tháng 12
Xuân hè sớm: gieo tháng 1
Xuân hè chính: gieo tháng 2
Xuân hè muộn : gieo tháng 3
7.2.5.2. Làm đất
Nên trồng ở đất phù xa ven sông, độ pH khoảng 6-6,5, đất giàu mùn
- Làm đất kỹ, lên luống rộng 1,1-1,3m, rãnh luống 25-30cm, cao 30-35 cm.
- Mật độ trồng: 40.000-70.000 cây/ ha
7.2.5.3. Bón phân
112
Chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục, tuyệt đối không dùng phân tươi. Lượng
phân chuồng cho 1 ha là 20-25 tấn + 90-120 kg đạm nguyên chất + 60- 90 kg phân lân
+ 100-120 kg ka li .
Bón lót vào hốc toàn bộ phân chuồng, phân lân và 1/2 phân kali, 1/3 phân đạm.
Bón thúc toàn bộ phân đạm và phân ka li còn lại vào các thời kỳ:
+ Khi cây có 4-5 lá thật tưới thúc khoảng 2-3 lần, mỗi lần tưới cách nhau 5-7 ngày.
+ Khi cây ra hoa và sau lần thu hái đầu tiên tưới thúc khoảng 2-3 lần
7.2.5.4. Chăm sóc
- Tưới nước
Tuyệt đối không được dùng nguồn nước thải, nước ao tù chưa được xử lý để
tưới. Có thể dùng nước giếng khoan đã được xử lý, nước sông ao hồ không bị ô
nhiễm.
Sau khi trồng phải tưới ngay, ngày tưới 2 lần vào sáng sớm và chiều mát cho
đến khi cây hồi xanh, sau đó khi cây trưởng thành cần giữ ẩm thường xuyên khoảng
80-85%, thời kỳ cây sinh trưởng mạnh (thời kỳ mọc 1-2 lá đến 4-5 lá thật, khi cây ra
hoa, quả rộ) nên tưới nước bằng phương pháp tưới rãnh. Nếu để đất trồng dưa
chuột khô hạn thân lá còi cọc, ra hoa, quả muộn, ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và
chất lượng dưa chuột.
- Xới vun
Các đợt bón thúc đều phải kết hợp làm cỏ, xới xáo và vun gốc. Đối với dưa
chuột nên xới vun khoảng 2-3 lần vào thời kỳ cây có 2-3 lá và 4-5 lá thật. Khi cây có
tua cuốn thì vun cao.
- Làm giàn
Khi trên cây có tua cuốn cần làm giàn kịp thời, nếu thực hiện khâu này chậm
trễ sẽ ảnh hưởng đến sinh và phát triển của cây. Thường sau trồng 30-35 ngày thì
tiến hành làm giàn.
7.2.5.5. Phòng trừ sâu, bệnh hại
* Sâu hại dưa chuột
Thành phần sâu hại dưa chuột rất phong phú tuy nhiên mức độ gây hại phụ
thuộc vào giống, thời vụ, tình hình sinh trưởng, phát triển của cây.
Chúng gồm các loại như: rệp, ruồi đục lá
Biện pháp phòng trừ: Thực hiện quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM),
chú ý thực hiện vệ sinh đồng ruộng, tỉa bỏ lá già, lá bệnh, xử lý kịp thời, tạo điều
kiện môi trường thông thoáng. Điều tra phát hiện kịp thời sâu hại khi cây ra quả. Nếu
mật độ sâu hại quá ngưỡng cho phép phải dùng thuốc để trừ sâu hại:
113
Rệp : Regent 800 WP, Atara 25WG, Confidor 100 SL…
Ruồi đục lá: Vertimec 1,8 EC, Sherpa 25 EC, Pegasus 500 SC..
* Bệnh Héo xanh (héo rũ) vi khuẩn
- Triệu chứng bệnh (ảnh 45):
Tán lá bị héo đột ngột, thông thường ban đầu héo ở thân bò leo đơn lẻ, về sau
toàn cây bị héo vĩnh viễn, không hồi phục. Vi khuẩn có rất nhiều ở trong mô dẫn (bó
mạch dẫn) và tiết ra thành những giọt dịch màu trắng từ bó mạch khi cắt ngang thân.
Khối vi khuẩn nhầy nhớt sẽ “trào ra” khi bóp mạnh ở đầu lát cắt đoạn thân bị bệnh.
- Biện pháp phòng trừ:
Nhổ bỏ cây bệnh để ngăn ngừa sự lan truyền của vi khuẩn. Phòng trừ côn
trùng môi giới bằng thuốc trừ sâu. Hoặc có thể sử dụng một số giống có tính chống
chịu bệnh.
* Bệnh Đốm góc lá (Đốm lá vi khuẩn)
- Triệu chứng bệnh (ảnh 46):
Bệnh có thể gây hại trên hầu hết các cây họ bầu bí, nhưng phổ biến nhất trên
dưa chuột. Triệu chứng đặc trưng ở trên lá là những vết đốm hình góc cạnh, ngậm
nước, nằm giữa các thân lá. Dần dần vết bệnh chuyển sang màu nâu và tâm vết bệnh
thủng lỗ làm cho lá rách nát. Trên quả và thân cây có những vết đốm ngậm nước tiết
ra dịch vi khuẩn màu trắng sữa, sau khi khô tạo thành lớp màng(vẩy) cứng phủ trên
vết bệnh. Quả non bị bệnh có thể còi cọc, cong queo.
- Biện pháp phòng trừ:
Thực hiện luân canh cây trồng, dùng hạt giống sạch bệnh và sử dụng các
giống kháng bệnh.
Phun thuốc chứa đồng cố định khi mới chớm xuất hiện bệnh có thể giảm
thiểu tổn thất do bệnh gây ra.
* Bệnh Sương mai
- Triệu chứng bệnh:
Bệnh gây hại nghiêm trọng nhất trên cây dưa chuột và dưa thơm, nhưng có
thể lây nhiễm, gây hại trên tất cả các cây họ bầu bí. Triệu chứng bệnh xuất hiện
chủ yếu ở trên lá, vết đốm có góc cạnh (đa giác) ban đầu có màu vàng, dần dần
chuyển sang màu nâu nhạt đến màu nâu. Trong thời kỳ có độ ẩm cao có thể nhìn thấy
bằng mắt thường trên vết bệnh ở phía sau mặt dưới của lá có các cành bào tử nhô ra
qua lỗ khí khổng và sinh ra rất nhiều bào từ bọc có màu.
- Biện pháp phòng trừ:
Dùng giống kháng bệnh nếu có. Trong trường hợp không có giống kháng thì
cần phun thuốc trừ nấm đây là biện pháp rất quan trọng khi cây được trồng trong
những điều kiện thuận lợi cho bênh phát triển.
* Bệnh Thán thư
- Triệu chứng bệnh:
114
Bệnh gây hại đặc biệt trên dưa hấu, dưa chuột và dưa thơm nhưng cũng có
thể lây nhiễm trên hầu hết các cây họ bầu bí khác. Trên dưa chuột, dưa thơm, vết
bệnh ở lá có dạng tròn, mầu nâu, đường kính tới 1cm, trong khi đó trên cây dưa hấu
vết bệnh màu đen và kích thước nhỏ hơn. Vết bệnh trên cuống lá, trên thân, có hình
bầu dục, lõm xuống. Vết bệnh trên quả xuất hiện vào thời kỳ quả chín hoặc gần
chín có các vết đốm ngậm nước phát triển thành vết bệnh lõm tròn, có nhiều ổ bào
tử dạng đĩa cành màu đen sẫm chứa ở trong nhiều khối bào tử màu hồng.
- Biện pháp phòng trừ:
Dùng giống kháng bệnh khi có thể. Phun thuốc trừ nấm là cần thiết đối với
các giống mẫn cảm được trồng trong những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển.
* Bệnh Phấn trắng
- Triệu chứng bệnh (ảnh 47):
Triệu chứng ban đầu xuất hiện trên lá và thân ở dạng vết đốm màu vàng nhạt.
Ngay sau đó nấm sinh sản vô tính hình thành một khối bột trắng trên bề mặt vết
bệnh với các bào tử phân sinh. Thường thường trên lá có rất nhiều bệnh liên kết lại
phủ kín toàn bộ bề mặt lá. Lá bệnh dần dần mất màu, chuyển sang màu nâu và lá bị
khô sớm trước thời hạn.
- Biện pháp phòng trừ:
Dùng giống kháng bệnh: Phun thuốc trừ nấm có thể bảo vệ tốt đối với các
giống mẫn cảm.
* Bệnh Đốm vòng lá
- Triệu chứng bệnh:
Vết bệnh trên lá lúc đầu chỉ là một đốm nhỏ nâu vàng, có tâm vết bệnh màu
nhạt, sau có thể lan rộng, đường kính tới vài cm, tạo ra những vòng đồng tâm. Nhiều
vết bệnh có thể liên hợp lại với nhau làm rụng lá. Nấm cũng gây hại trên quả, tạo ra
những vết đốm hình tròn mầu nâu, lõm, ăn sâu vào trong, làm quả bị thối ở trên ruộng
hoặc sau thu hoạch.
Biện pháp phòng trừ:
Luân canh trong thời hạn 1 năm với các loại cây trồng khác không phải là họ
bầu bí. Dùng một số giống kháng bệnh. Cần phun thuốc trừ nấm khi bệnh phát triển.
* Bệnh Đốm nâu lá ( Đốm lá đỏ Corynesspora)
- Triệu chứng bệnh:
Bệnh gây thiệt hại nhất trên cây dưa chuột và dưa thơm, nhưng cũng có thể
hại trên các cây họ bầu bí khác. Trên lá vết bệnh lúc đầu chỉ là một số đốm nhỏ
ngậm nước, giới hạn bởi các gân lá, nhưng về sau đốm bệnh lan rộng rất nhanh
thành những vết bệnh hình tròn đôi khi phân tầng, màu hồng đến màu nâu sẫm. Do
các vết bệnh lan rộng làm lá bệnh chuyển sang màu vàng và chết. Bệnh không nhiễm
trên quả.
- Biện pháp phòng trừ:
115
Sử dụng một số giống ít nhiễm bệnh. Cần phun thuốc trừ nấm nếu cây trồng
trồng trong những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển. Nhà kính nên khử trùng
bằng thuốc khử trùng vào thời gian giữa các vụ trồng và cần quạt thông thoáng để
giữ cho ẩm độ thấp trong vườn.
* Bệnh Thối thân chảy gôm
- Triệu chứng bệnh:
Bệnh gây hại đặc biệt ở thân lá cây dưa chuột, dưa thơm và dưa hấu. Bệnh
cũng làm thối quả trên nhiều loại cây họ bầu bí. Cây non có thể bị chết do bị xâm
nhiễm ở thân, lá mầm. Trên cây lớn, vết bệnh trên lá có dạng tròn, màu nâu vàng đến
nâu sẫm. Trên vết bệnh có nhiều hạt đen nhỏ li ti là các quả thể của nấm. Trên thân
vết bệnh lúc đầu là vết đốm kéo dài, ngậm nước, thường chẩy nhựa, sau đó khô, vết
nứt mở ra thân khô chết. Triệu chứng bệnh trên quả thì khác nhau ở từng loại cây
trồng, nhưng nói chung đều dẫn đến sự hình thành các đốm mầu đen nâu gần bề mặt
quả là những cành hay quả thể của nấm.
- Biện pháp phòng trừ:
Trồng những giống kháng. Phun thuốc trừ nấm. Trong nhà kính cần duy trì sự
thông thoáng để làm giảm ẩm độ. Dùng đất khử trùng, vệ sinh và luân canh trong sản
xuất nhà kính.
* Bệnh Héo vàng
- Triệu chứng bệnh (ảnh 48):
Nấm gây bệnh có tính chuyên hóa cao, mỗi dạng nấm chỉ gây bệnh cho một
loài cây ký chủ. Cây có thể bị lây nhiễm ở bất ký giai đoạn sinh trưởng nào. Cây con
bị bệnh có thể chết lụi hoặc còi cọc lùn thấp. Cây lớn bị bệnh lúc đầu bị héo rũ vào
ban ngày kéo dài vài ba ngày, về sau héo liên tục và chết rũ. Bó mạch d ẫn có màu
vang hoặc nâu.
- Biện pháp phòng trừ:
Sử dụng các giống kháng bệnh. Giảm thiểu sự truyền lan bệnh trên đồng
ruộng bằng việc rửa sạch dụng cụ. Ngâm ngập nước để trồng lúa có thể làm giảm
khả năng bảo tồn của nấm gây bệnh trong đất.
* Bệnh Thối quả (Thối ướt, thối trắng, thối nâu).
- Triệu chứng bệnh (ảnh 49):
+ Thối ướt Choanephora đầu tiên lây nhiễm các chùm hoa, về sau lây nhiễm
vào trong quả non, gây ra hiện tượng thối đỉnh quả. Sự sinh sản bào tử của nấm trên
bề mặt mô bị bệnh xuất hiện như dạng lông gai đầu phình to mầu sẫm.
+ Thối trắng Pythium spp. Gây ra hiện tượng thối nhũn, xốp phát triển nhanh
và trên quả bao phủ một lớp sợi nấm màu trắng như lông tơ trong điều kiện thời tiết
ẩm ướt.
+ Thối nâu Rhizoctonia solani gây ra những vết thối hoại tử trên bề mặt quả ở
chỗ tiếp xúc với đất.
- Biện pháp phòng trừ:
116
Các biện pháp quản lý phòng bệnh, giảm độ ẩm đất, giảm gây vết thương
xây xát quả hoặc ngăn ngừa quả tiếp xúc với mặt đất v.v... phủ giấy nhựa, làm giàn
đều có thể làm giảm mức độ bệnh.
Phun thuốc trừ nấm không có hiệu quả nhưng trong một số trường hợp có thể
làm giảm sự tổn thất quả.
* Bệnh Tuyến trùng nốt sần rễ
- Triệu chứng bệnh:
Bệnh biểu hiện ở các bộ phận trên mặt đất, cây sinh trưởng kém, tán lá xanh
nhạt hoặc vàng, cây có xu hướng bị héo rũ. Triệu chứng dưới mặt đất là đ ặc tr ưng
nhất, có nhiều u sần ở rễ đường kính phình to gấp 2 – 3 lần so với rễ khỏe, làm cho
bộ rễ có nhiều u sưng. Các rễ bị bệnh dễ bị hủy hoại mục nát do s ự xâm nh ập c ủa
các ký sinh thứ cấp.
- Biện pháp phòng trừ:
Có thể sử dụng các giống kháng bệnh, nhưng tính kháng bệnh thường thường
có tính đặc hiệu đối với một loài Meloidogyne sp mà không thể hiện được trong mọi
trường hợp. Khử trùng đất bằng thuốc xông hơi hoặc bằng hơi nóng là biện pháp có
hiệu quả nhất để phòng trừ tuyến trùng nốt sần rễ. Luân canh cây trồng, xới đất, cày
sâu có thể làm giảm số lượng quần thể của tuyến trùng ở trong đất. Luân canh với
cây trồng nước như lúa nước có thể làm giảm số lượng tuyến trùng đáng kể.
7.2.5.6.Thu hoạch và sản xuất hạt giống
* Thu hoạch:
Thời kỳ thu hái phụ thuộc vào đặc tính của giống và mục đích sử dụng. Dưa
chuột bao tử sau 72 giờ thụ tinh thì thu hoạch. Dưa chuột quả lớn phụ thuộc vào
từng giống. Giống sớm sau gieo 35-40 ngày được thu hái, giống trung và giống muộn
sau gieo 50-60 ngày thì thu hái lượt quả đầu tiên. Thời điểm thu hái là khi quả phát
triển tối đa, cân đối, mang màu sắc của giống là màu xanh hoặc xanh thẫm.
Sản xuất hạt giống
Đối với những ruộng để giống cần chăm sóc đặc biệt. Khoảng cách ly giữa
các giống dưa chuột là 1000m cho tất cả những giống thương mại. Khoảng cách
giữa các giống nguyên chủng là 1500m.
Đặc điểm của quả dưa chuột là hạt phát triển chậm hơn so với thịt quả. Khi
quả có mầu vàng là thời kỳ phát triển của hạt, hạt chưa chín già. Khi quả có màu nâu
sẫm, cuống quả và quả héo là lúc hạt đã chín sinh lý.
Chọn những quả to, cân đối, mang đầy đủ đặc trưng, đặc tính của giống, thu
hái những quả ở vị trí thấp, hạt của những quả đó cho năng suất và chất l ượng hạt
giống cao.
Quả thu về xếp một lượt mỏng ở kho thoáng khí, giữ chúng trong thời gian
khoảng 7-10 ngày, quá trình này sẽ làm cho quả chín hoàn toàn và đặc biệt là hạt
được chắc thêm với những quả thu hoạch sớm.
117
Sau khi để chín sinh lý, quả được bổ đôi, cạo hết ruột quả cho vào thùng, xô
nhựa. Nếu dịch quả rữa ra thì đãi ngay trong nước. Tuy nhiên, hạt dưa chuột rất khó
tách ra khỏi dịch quả do vậy trước khi đãi hạt nên để 24 h rồi chuyển sang chậu khác
cho thêm nước vào và đãi nhiều lần đến khi sạch thì đem phơi.
7.3. Bí xanh
Tên khoa học: Benincasa hispida Cogn
7.3.1. Đặc điểm chung
7.3.1.
Bí xanh còn gọi là bí đao, bí phấn, bí
trắng là loại rau mùa hè. Trong quả bí xanh
tr
thành phần hoá học chủ yếu như: gluxit ,
thành
các chất khoáng và các chất vitamin trong
các
đó nhiều nhất là vitamin C. Hàm lượng
đó
nước trong bí xanh tương đối cao chiếm
khoảng 95 %. Nhìn chung lượng các chất
kho
dinh dưỡng không cao nhưng bí xanh là cây
dinh
rau quan trọng ở vùng nhiệt đới châu Á.
rau Hình 7.3: Dàn bí xanh
Bí xanh có thể dùng trong bữa ăn như
sào nấu, luộc, ngoài ra quả bí xanh còn là nguyên liệu tốt cho thực phẩm bánh kẹo và
sào
chế biến nước uống.
ch
Do đó lớp vỏ dày, cứng, hàm lượng nước thấp, bí xanh có khả năng vận chuy ển và
bảo quản tốt, là loại rau dự trữ cho thời kỳ giáp vụ và cho các vùng khan hiếm rau.
7.3.2. Đặc điểm thực vật học
7.3.2.1. Bộ rễ
Bộ rễ phát triển rất mạnh về bề sâu cũng như chiều rộng. Vì vậy mà khả
năng chịu hạn của chúng tương đối lớn. Khi gặp điều kiện thuận lợi rễ chính có thể
năng
ăn sâu tới 1,6 m, rễ phụ ăn sâu tới 0,5-0,6m nhưng tập chung chủ yếu ở tầng đất mặt
ăn
20-25 cm. Trên mỗi đốt thân nếu gặp đất và độ ẩm phù hợp thì r ễ bất đ ịnh ra r ất
20-25
mạnh, như vậy sẽ tăng khả năng hấp thu nước và chất dinh dưỡng từ đất.
Tuy nhiên ẩm độ đất quá cao, mạch nước ngầm nông sẽ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sinh trưởng của bộ rễ. Hơn nữa khả năng tái sinh của bộ r ễ kém nên ít
tr
được gieo ươm.
Khả năng sinh trưởng và phát triển của bộ rễ phụ thuộc vào giống, điều kiện đất đai,
giai đoạn sinh trưởng và điều kiện bảo quản hạt
giai
7.3.2.2. Thân
Thân của bí xanh thuộc loại thân thảo hàng năm, có khả năng leo bò rất lớn,
Thân
thân tròn hoặc không rõ cạnh, thân có màu xanh. Trên thân có lông cứng hoặc lông tơ,
thân
số lượng lông nhiều hay ít tuỳ thuộc vào ngoại cảnh, giống và tuổi cây
Đường kính thân phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật trồng trọt
Chiều dài thân từ 5-6m tuỳ theo giống và điều kiện trồng trọt. Khả năng phân
nhánh của bí xanh tương đối mạnh và có khả năng cho quả.
nhánh
118
7.3.2.3.Lá
7.3.2.3.Lá
Lá mầm thường rất lớn, hình trứng. Lá thật là lá đơn mọc cách, cuống dài và
rỗng, phiến lá xẻ 5 thuỳ. Hai mặt phiến và cuống đều có lông cứng.
Tốc độ ra lá và tăng kích thước lá ở cây con rất chậm, dặc biệt là khi gặp
nhiệt dộ thấp. Hai lá mầm có vị trí quan trọng khi cây còn non yếu, vì vậy cần chăm
nhi
sóc để duy trì tuổi thọ của hai lá mầm.
sóc
7.3.2.4. Hoa
Hoa của bí xanh có 5 cánh hợp, màu vàng. Thuộc loại hoa đơn tính cùng gốc,
thụ phấn nhờ côn trùng.
th
Kích thước hoa to nhỏ khác nhau, hoa cái có kích thước lớn hơn hoa đực.
Hoa đực có cuống dài và thường ra sớm, nhiều hơn hoa cái. Hoa cái chủ yếu ở
Hoa
thân chính, ở nhánh ra sớm và ít.
thân
Tỷ lệ hoa đực hoa cái không cân đối, phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại
cảnh và biện pháp kỹ thuật.
Giống chín sớm hoa cái xuất hiện ở nách lá thứ 6-7, mỗi cây có 2-3 qủa.
Giống chín muộn hoa cái đầu tiên xuất hiện ở nách lá 12-13, mỗi cây có 1-2 quả.
Gi
7.3.2.5. Quả và hạt
Quả thường có mầu xanh, khi còn non có màu xanh nhạt và phủ một lớp lông
dài và cứng, khi quả già có mầu xanh. Quả thuộc loại quả thịt, thường có 3 lá noãn,
dài
kích thước quả lớn, bề mặt quả thẳng, có lông, có phủ phấn trắng hoặc không.
kích
Hình dạng quả có loại tròn dài, tròn dẹt và trụ dài. Khối lượng và kích cỡ quả
thay đổi phụ thuộc chủ yếu vào giống từ 2-3 kg đến 5-7 kg.
thay
Hạt hình trứng hay bầu dục, màu trắng, hạt nhỏ. Số lượng hạt nhiều, mỗi
quả có từ 500-600 hạt.
qu
7.3.3. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh
7.3.3.1. Nhiệt độ
7.3.3.1. Nhi
o
Có khả năng chịu được nhiệt độ cao, 35-40 C thân lá vẫn có khả năng sinh
o
trưởng. Yêu cầu nhiệt độ cao để nảy mầm, tốt nhất là 25 C, có thể nảy mầm ở 13-
tr
o o o
15 C. Thời kỳ cây còn non, yêu cầu nhiệt độ thấp khoảng từ 17-22 C, dưới 17 C
cây sinh trưởng phát triển chậm. Nhiệt độ thích hợp cho hoa, quả phát triển tốt vào
cây
o o
khoảng 24- 25 C. Có thể sinh trưởng bình thường khi nhiệt độ là 30 C.
kho
7.3.3.2. Ánh sáng
7.3.3.2. Ánh
Bí xanh yêu cầu ánh sáng ngày ngắn, cần 10-12 giờ chiếu sáng trong ngày đ ể
thông qua giai đoạn ánh sáng.
thông
Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện cường độ chiếu sáng mạnh nhưng giảm
dần khi quả phát triển.
Quả đang lớn gặp ánh sáng chiếu trực tiếp dễ bị rám, thối và sớm rụng.
Nhưng ánh sáng yếu kèm theo nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp cũng dễ bị r ụng hoa,
Nh
quả.
qu
7.3.3.3.Nước
119
Hệ rễ phân bố ở tầng đất mặt, khối lượng thân lá lớn, năng suất cao, nên yêu
phân
cầu độ ẩm đất cao, nhưng không chịu ngập úng.
Bí xanh có khả năng chịu hạn tương đối tốt, thời kỳ ra hoa kết quả, đất quá
ẩm gây nên hiện tượng rụng hoa rụng quả hàng loạt làm giảm năng suất.
gây
Thời kỳ cây con đến bắt đầu ra hoa cần ẩm độ đất 65-70%, thời kỳ ra hoa kết
quả cần 70-80%, độ ẩm không khí 60-70%. Ẩm độ không khí cao, kèm theo điều
qu
kiện nhiệt độ thấp và ánh sáng yếu cây dễ bị bệnh xâm nhiễm. Thời kỳ ra hoa, ra
ki
quả và phát triển cần cung cấp đầy đủ nước. Khi quả vào chắc ngừng cung c ấp
qu
nước để tăng chất lượng và tăng khả năng bảo quản quả bí.
7.3.3.4. Đất và dinh dưỡng
Bí xanh yêu cầu đất không nghiêm nghặt, có thể sinh trưởng được trên đất
nghèo dinh dưõng. Đất thịt trung bình và hơi nặng đều trồng đ ược, tốt nhất là đ ất
nghèo
thịt nhẹ và đất phù sa. Độ pH thích hợp là 7-8.
th
Bí xanh yêu cầu đất có tầng canh tác sâu, đất không quá nặng.
Yêu cầu đầy đủ cân đối giữa đạm, lân, kali. Thời kỳ cây con cần nhiều đ ạm,
lân để tăng tốc độ sinh trưởng của rễ, thân, lá. Thời kỳ hoa quả rộ cần nhiều dinh
lân
dưỡng nhất. Phân chuồng và phân hữu cơ khác có ý nghĩa đặc biệt đối với năng suất.
Cây bí hút nhiều nhất là kali, thứ đến là đạm, ít nhất là lân. Canxi có ảnh
Cây
hưởng tốt đến sinh trưởng của cây, cải thiện chất lượng quả, thịt quả rắn chắc, tăng
khả năng bảo quản và vận chuyển.
kh
7.3.4. Kỹ thuật trồng trọt
7.3.4. 1. Thời vụ: Vùng đồng bằng và Trung du, miền núi phía Bắc có thể gieo trồng
7.3.4. Th
vào 2 vụ xuân hè và thu đông:
vào
Bí xanh có thể gieo trồng vào 2 vụ xuân hè và thu đông
Vụ xuân hè sớm gieo trồng từ tháng 12-1. Vụ chính gieo từ 5/2-15/2. Vụ muộn
gieo vào cuối tháng 2 đến đầu tháng 3.
gieo
Vụ đông: Gieo trồng cuối tháng 9, đầu tháng 10 tuy năng suất không cao bằng
vụ xuân hè nhưng bán được giá cho hiệu quả kinh tế cao.
xuân
7.3.4.2 Kỹ thuật trồng:
7.3.4.2 thu
Ngâm hạt trong nước lã từ 4-6 giờ, đãi sạch. Gói trong túi vải xô trộn lẫn cát,
Ngâm
ủ ấm trong nhiệt độ 25-30oC ngày dấp nước 2 lần khoảng 2-3 ngày hạt nứt nanh
đem gieo thẳng hoặc gieo trong khay nhựa, vỉ xốp, bầu nilon.
đem
- Làm đất bón phân, gieo hạt: Chọn đất cát pha, thịt nhẹ, chủ động tưới tiêu.
Cách ly khu vực có chất thải công nghiệp và bệnh viện từ 1-2km, với chất thải thành
Cách
phố, thị xã ít nhất 200m, cách xa đường quốc lộ ít nhất 100m. Không tồn dư hoá chất
ph
độc hại, dư lượng kim loại nặng rất nhỏ.
Bí xanh có thể trồng xen, trồng riêng biệt, do vậy cách làm đất có khác nhau.
Nếu trồng xen (gối sau rau đông xuân), khi cây trồng trước sắp thu hoạch thì tiến hành
gieo bí xanh. Khi thu hoạch cây trồng trước, bí xanh đã có 3-4 lá thật thì làm đất bổ
gieo
sung lên thành luống bí chính thức, kích thước luống phụ thuộc vào việc làm giàn cho
sung
120
cây. Nếu có giàn, làm luống rộng 1,2-1,4m, nếu để cây bò trên đất mặt luống rộng 2,7-
cây.
3m.
3m.

7.3.4.3. Phân bón
7.3.4.3.
Lượng phân bón cho 1 sào bí xanh như sau: Phân chuồng hoai mục: 6-7 tạ;
đạm urê: 6-11kg; Kaliclorua: 9-11kg; Supelân: 15-16kg. Nếu trồng trên đất chua
(pH
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản