Giáo trình Kinh tế đầu tư Chương 4

Chia sẻ: Minh Nguyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
383
lượt xem
272
download

Giáo trình Kinh tế đầu tư Chương 4

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án Có thể coi tình hình kinh tế xã hội là nền tảng của dự án đầu tư.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Kinh tế đầu tư Chương 4

  1. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án CHƯƠNG IV PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ, THỊ TRƯỜNG VÀ KỸ THUẬT CỦA DỰ ÁN 4.1 NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ : Có thể coi tình hình kinh tế xã hội là nền tảng của dự án đầu tư. Nó thể hiện khung cảnh đầu tư, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển và hiệu quả kinh tế tài chính của dự án đầu tư. Tình hình kinh tế được đề cập trong dự án bao gồm các vấn đề sau đây: 1. Các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển ngành, các chủ trương của các cấp chính quyền có liên quan đến phát triển ngành, vùng của dự án. 2. Điều kiện về địa lý tự nhiên (địa hình, khí hậu, địa chất .v.v. ..) có liên quan đến việc lựa chọn, thực hiện và phát huy hiệu quả của dự án sau này. 3. Điều kiện về dân số và lao động có liên quan đến nhu cầu và khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm, đến nguồn lao động cung cấp cho dự án. 4. Tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương, tình hình phát triển sản xuất kinh doanh của ngành, của cơ sở (tốc độ gia tăng GDP, tỷ lệ đầu tư so với GDP, quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, GDP/đầu người, tỷ suất lợi nhuận sản xuất kinh doanh... ) có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện và sự phát huy hiệu quả của dự án. 5. Hệ thống kinh tế và các chính sách, bao gồm : - Cơ cấu tổ chức hệ thống kinh tế theo ngành, theo quan hệ sơ hữu, theo vùng lãnh thổ để đánh giá trình độ và lợi thế so sánh của dự án đầu tư. - Các chính sách phát triển, cải cách kinh tế, chuyển dịch cơ cấu nhằm đánh giá trình độ nhận thức, đổi mới tư duy và môi trường thuận lợi cho đầu tư đến đâu. - Thực trạng kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân theo thời hạn, theo mức độ chi tiết, theo các mục tiêu, các ưu tiên, các công cụ tác động để từ đó thấy được các khó khăn, thuận lợi, mức độ ưu tiên mà dự án sẽ được hưởng, những chế định mà dự án phải tuân theo. 6. Tình hình ngoại thương và các chế định có liên quan như tình hình xuất nhập khẩu, thuế xuất nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái, các luật lệ đầu tư cho người nước ngoài, cán cân thanh toán quốc tế... Những vấn đề này đặc biết quan trọng đối với các dự án sản xuất hàng xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu máy móc. Chẳng hạn chính sách tỷ giá hối đoái không thích hợp (tỉ giá đồng tiền nội địa so với ngoại tệ thấp) sẽ gây ra tình trạng càng xuất khẩu càng lỗ, thuế xuất khẩu quá cao sẽ gây khó khăn trong cạnh tranh với hàng hóa của các các nước khác trên thị KTĐT&QTDA 1/22
  2. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án trường ở ngoài nước, các luật lệ đầu tư nước ngoài có tác dụng khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài. Các dữ kiện và số liệu để nghiên cứu tình hình kinh tế tổng quá của dự án trên đâu có thể thu thập dễ dàng trong các niên giám, báo cáo thống kê, tạp chí, sách báo và tài liệu kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, những dự án nhỏ không cần nhiều dữ liệu kinh tế vĩ mô như vậy. Còn các dự án lớn thì tùy thuộc vào mục tiêu, đặc điểm và phạm vi tác dụng của dự án mà lựa chọn trong các vấn đề kinh tế tổng quát trên đây, những vấn đề nào có liên quan đến dự án để xem xét. Đối với các cấp thẩm định dự án, các vấn đề về kinh tế vĩ mô được xem xét không chỉ ở góc độ tác động của nó đối với dự án, mà cả tác động của dự án đối với nền kinh tế ở góc độ vĩ mô như lợi ích kinh tế - xã hội do dự án đem lại, tác động của dự án đối với sự phát triển của nền kinh tế, của ngành đối với cải cách cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế đối ngoại. 4.2. NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG CHO SẢN PHẨM CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ : Thị trường là một nhân tốt quyết định việc lựa chọn mục tiêu và quy mô của dự án. Ngay cả trong trường hợp dự án ký được các hợp đồng bao tiêu cũng phải nghiên cứu thị trường, nơi người bao tiêu sẽ bán sản phẩm. 4.2.1 Mục đích nghiên cứu thị trường : Nghiên cứu thị trường nhằm xác định các yếu tố sau : - Thị trường cung cầu sản phẩm hoặc dịch vụ mà dự án dự kiến sản xuất hoặc cung cấp ở thời điểm hiện tại, tiềm năng phát triển của thị trường này trong tương lai, các yếu tốt kinh tế và phí kinh tế tác động đến nhu cầu sản phẩm dịch vụ này. - Các biện pháp khuyến thị và tiếp thị cần thiêt giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ của các dự án được thuận lợi (bao gồm cả chính sách, giá cả, hệ thống phân phối, các vấn đề về quảng cáo, về trang trí, về bao bì..) - Khả năng cạnh tranh sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại có sẵn và các sản phẩm có thể được sản xuất sau này. 4.2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu thị trường trong lập dự án đầu tư : 4.2.2.1 Xem xét loại thị trường của sản phẩm : Mọi sản phẩm làm ra đều nhằm đáp ứng những nhu cầu nào đó của xã hội. Các nhu cầu này rất đa dạng và có tầm quan trọng khác nhau đối với mỗi cá nhân và mỗi xã hội. Vì vậy trước khi đi vào nghiên cứu thị trường của sản phẩm cần làm rõ những đối tượng tiêu thụ sản phẩm của dự án là như thế nào và sản phẩm của dự án thuộc loại gì? Về phương diện kinh tế có thể phân chia sản phẩm theo 2 tiêu thức: KTĐT&QTDA 2/22
  3. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án - Theo loại thị trường: Bao gồm thị trường nội địa, thị trường quốc tế - Theo loại sản phẩm: Bao gồm các sản phẩm thô (xi măng, sắt, thép, phân bón, lúa, gạo, khoáng sản...), các sản phẩm tiêu dùng (như xe hơi, máy móc, các sản phẩm công nghệ tiêu dùng...), các sản phẩm không luân chuyển được (nhà đất, các công trình kiến trúc...) Đối với mỗi loại sản phẩm và mỗi loại thị trường đòi hỏi phải có một phương pháp nghiên cứu và tiếp thị riêng biệt tuy rằng về đại thể chúng tương tự nhau. Để xác định thị trường của một sản phẩm cần tuân thủ các bước nghiên cứu sau đây. a. Xem xét các mức tiêu thụ hiện tại và trong quá khứ : Để xác định mức tiêu thụ của thị trường mà dự án định thâm nhập cần những dự kiện thống kê sau đây : Khối lượng sản phẩm từng năm của các cơ sở đang hoạt động, khối lượng nhập khẩu hàng năm, mức tồn kho cuối năm của sản phẩm (tách riêng hàng nội địa và nhập khâu), giá cả sản phẩm. Nếu sản phẩm thuộc loại có tính năng tương tự thì sự khác nhau về nhãn hiệu có thể dẫn đến sự khác biệt khá lớn về giá cả từng sản phẩm và trường hợp này phải chia sản phẩm ra nhiều loại mức giá. b. Dự báo cầu thị trường trong tương lai : Có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để dự báo cầu thị trường về sản phẩm của dự án, tùy thuộc và nguồn thông tin thu nhập. Các phương pháp sau đây thường được sử dụng trong dự báo cầu thị trường. - Phương pháp ngoại suy thống kê: Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là những gì xảy ra trong quá khứ theo quy luật này thì sẽ tiếp tục xảy ra trong tương lai theo quy luật đó. Bởi vậy trong một số khá lớn trường hợp việc áp dụng phương pháp này có thể đưa đến các kết quả không chính xác, chẳng hạn : khi có những biến đổi quan trọng trong lĩnh vực kinh tế xã hội của vùng lãnh thổ mà dự án dự định tiêu thụ sản phẩm (việc điện khí hóa một vùng nào đó làm cho mức tiêu thụ tủ lạnh và các hàng điện dân dụng vùng đó tăng vụt lên), khi các sản phẩm của dự án có tính chất thay thế như kim loại và chất dẻo, bột mì và gạo, thịt và cá... phương pháp dự báo này không phù hợp khi sản phẩm của dự án hoàn toán mới đối với thị trường, để thực hiện phương pháp dự báo này cần phải thu thập được mức tiêu thụ về sản phẩm của dự án qua các năm quá khứ và hiện tại. Từ đó hình thành dãy số thời gian, xác định xu hướng, quy luật phát triển của chúng và xây dựng hàm xu thế. Sử dụng hàm xu thế này để ngoại suy dự báo cho những năm trong tương lai. Phương pháp này thường được vận dụng để dự báo ngắn hạn, cho kết quả tương đối chính xác đối với những sản phẩm có tính ổn định cao trong một khoảng thời gian ngắn. - Phương pháp mô hình hồi quy tương quan: Phương pháp dự báo cầu thị trường bằng mô hình hồi quy tương quan là phương pháp dự báo rất thông dụng, phương pháp này dựa trên cơ sở phân tích mối liên hệ giữa cầu thị trường với các KTĐT&QTDA 3/22
  4. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án nhân tốt ảnh hưởng đến nó (biến độc lập) như : giá cả của hàng hóa. Thông thường khi giá sản phẩm ngày càng cao thì người mua càng phải đắn đo cân nhắc khi định mua sản phẩm này. Như vậy, mức tiêu thu hiện tại chỉ là mức tiêu thu tương ứng với giá cả hiện tại. Cầu sẽ thay đổi khi giá thay đổi. Thu nhập của người tiêu dùng cũng là nhân tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa. Khi thu nhập của người tiêu dùng cũng là nhân tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa. Khi thu nhập của người tiêu dùng cao thì cầu về hàng hóa cũng thay đổi không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng của sản phẩm đó. Ngoài ra còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến cầu thị trường về hàng hóa của dự án như giá cả của hàng hóa có liên quan, sở thích của người tiêu dùng... Mối liên hệ của cầu sản phẩm với các nhân tố ảnh hưởng đến nó được phản ánh thông qua hàm hồi quy tương quan. Mô hình hồi quy tương quan có dạng mô hình hồi quy đơn (một biến độc lập) và mô hình hồi quy (có nhiều biến độc lập). Để tiến hành dự báo cầu thị trường về hàng hóa bằng mô hình hồi quy tương quan trước hết phải xác định được những nhân tố ảnh hưởng lớn đến cầu thị trường về hàng hóa của dự án (xác định biến số). Tùy theo đặc điểm, tính chất của mối liên hệ đó xây dựng mô hình, kiểm tra mô hình. Nếu mô hình được chấp nhận thì tiến hành dự báo. Phương pháp này thường được sử dụng để dự báo dài hạn. - Phương pháp hệ số co giãn: Cầu thị trường về sản phẩm của dự án chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Sự ảnh hưởng của các nhân tố đến cầu thị trường được lượng hóa thông qua hệ số co giãn (ED). Hệ số co giãn cho biết khi nhân tố (X) thay đổi 1% lượng cầu thay đổi bao nhiêu %. Công thức xác định hệ số co giãn như sau : ∆Q Q ∆Q Q ED = = * ∆X ∆X X X Trong đó : ED : là hệ số co giãn cầu Q theo nhân tố X Q : là lượng cầu, X là nhân tố ảnh hưởng, ∆Q là mức gia tăng lượng cầu, ∆X là mức gia tăng nhân tố X Hệ số co giãn được sử dụng để dự báo nhu cầu thị trường về sản phẩm (dịch vụ) của dự án. Để thực hiện dự báo theo phương pháp này cần phải thu thập số liệu về cầu (Q) và nhân tố ảnh hưởng (X) theo thời gian từ đó tính hệ số co giãn qua các năm, các định xu hướng biến đổi của hệ số co giãn trong năm dự báo và xác định giá trị của hệ số co giãn trong năm dự báo. Trên cơ sở hệ số co giãn xác định trong năm dự báo và mức thay đổi của nhân tố đã biết, dự báo cầu về sản phẩm của dự án. Ngoài các phương pháp nêu trên, trong dự báo cầu thị trường về sản phẩm của dự án còn có thể sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp chuyên gia, phương pháp định mức... KTĐT&QTDA 4/22
  5. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án Các dữ liệu thông tin cần thiết để nghiên cứu nhu cầu sản phẩm trong tương lai cần phải có bao gồm : Các dữ liệu về kinh tế tổng thể : + Tổng sản lượng, tổng sản phẩm quốc nội, tốc độ tăng trưởng + Thu nhập gia đình và thu nhập đầu người + Biểu đồ phân phối thu nhập + Phân phối thu nhập theo từng địa phương + Dân số: phân phối dân số theo khu vực, tốc độ tăng dân số + Cơ cấu sản xuất của nền kinh tế + Cơ cấu nhân lực theo ngành nghề + Các chỉ số giá cả tiền tệ, các dữ liệu về ngân sách + Tình hình xây dựng, dự trữ ngoại tệ + Các kế hoạch định hướng lớn về phát triển kinh tế xã hội của đất nước Các dữ liệu thông tin về thị trường sản phẩm : + Khối lượng sản xuất, xuất khẩu hoặc nhập khẩu sản phẩm trong khoảng 5 đến 10 năm. + Giá cả sản phẩm theo thời gian, biểu thuế của sản phẩm, sự khác biệt về giá cả giữa các sản phẩm cùng loại nhưng do các nhà sản xuất khác nhau làm ra. + Sự biến động của thị trường các sản phẩm bổ sung (như bánh mì và bơ) và cạnh tranh (như sắt và nhôm). Các dữ liệu khác của nền kinh tế đối với từng loại sản phẩm : Trong trường hợp nghiên cứu cầu tương lai mà thiếu hoặc không có các dữ liệu thì việc dự đoán thị trường có thể dựa vào nhiều phương pháp khác nhay tùy thuộc vào mức độ thiếu thông tin, chẳng hạn như phương pháp ngoại suy từ những trường hợp tương tự, phương pháp điều tra bằng cách phỏng vấn hoặc lấy mẫu rồi tiến hành các phân tích kinh tế vĩ mô và vi mô để xác định các nhu cầu tiềm ẩn. c. Dự báo cung tương lai : Sau khi xác định được lượng cầu của thị trường sản phẩm của dự án trong tương lai công việc tiếp theo phải xác định lượng cung về hàng hóa và dịch vụ đó trong tương lai bao gồm của cơ sở hiện có hoặc của các dự án khác có thể có trong tương lai. Để xác định cung về sản phẩm dự án cần phải thu thập được thông tin: - Khả năng mở rộng sản xuất trong tương lai của các cơ sở hiện có về hàng hóa dịch vụ đang nghiên cứu (dự tính cơ sở khác có thể có). KTĐT&QTDA 5/22
  6. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án - Dự kiến khả năng xuất nhập khẩu hàng hóa đó trong tương lai. Phương pháp dự báo cung cũng tương tự như dự báo cầu. Tùy khối lượng thông tin thu thập được mà lựa chọn phương pháp dự báo thích hợp. Trên cơ sở xác định được cầu và cung của thị trường trong tương lai, xác định được chênh lệch giữa cung và cầu. Chênh lệch giữa cung và cầu của thị trường trong tương lai chi phối trực tiếp đến việc hình thành dự án và quy mô của dự án. d. Nghiên cứu vấn đề tiếp thị và khuyến thị : Việc xác định có nhu cầu của thị trường về sản phẩm của dự án mới chỉ cho phép giải quyết một số vấn đề về tiêu thụ sản phẩm (khả năng tiêu thụ sản phẩm), còn làm thế nào để người tiêu thụ sử dụng sản phẩm của mình thay vì sử dụng sản phẩm của các dự án khác lại thuộc về khâu tiếp thị. Tiếp thị có nghĩa là xác định bằng cách nào, với chi phí bao nhiêu để có thể tiêu thị được sản phẩm của dự án. Để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách hữu hiệu nhất cần phải xem xét các vấn đề sau đây: sản phẩm, giá cả, khuyến thị và biện pháp phân phối. Để nghiên cứu và đề ra được phương án tiếp thị tối ưu phải xem xét các vấn đề sau đây : - Xác định đối tượng của sản phẩm : Bao gồm đặc tính của đối tượng, khu vực phân phối, các yêu cầu và thị hiếu của đối tượng đối với sản phẩm. Thông thường nếu sản phẩm thuộc loại sản phẩm thô thì vấn đề quan trọng nhất là giá cả và chất lượng có đạt được yêu cầu của quốc tế hay không. Trong trường hợp này nếu số lượng tiêu thụ nhỏ, việc khảo sát những yêu cầu của họ có thể được thực hiện bằng các biện pháp chào hàng trực tiếp và tiếp xúc trực tiếp để từ đó ký kết hợp đồng. Đối với các loại sản phẩm có tính năng tương tự có nhiều phức tạp hơn và đòi hỏi phải có chương trình nghiên cứu kỹ càng hơn. Các chương trình nghiên cứu này bao gồm các phương pháp điều tra chọn mẫu nhu cầu... của từng thành phần đối ượng, từ đó rút ra các tính năng cần thiết của sản phẩm cần phải có để được đối tượng chấp nhận. Với trường hợp này chỉ cần những thay đổi không đáng kêt cũng có thể đưa đến những hậu quả, kết quả khá lớn. Ví dụ : tên sản phẩm, hình thức sản phẩm... - Phương pháp giới thiệu sản phẩm : Căn cứ vào các đặc tính của đối tượng sản phẩm để lựa chọn các phương pháp giới thiệu sản phẩm khác nhau sau đây : + Tiếp xúc trực tiếp bằng thư từ, gửi mẫu... + Quảng cáo trên các tạp chí hoặc các hình thức thông tin đại chúng, phát thanh truyền hình.. + Các hình thức quảng cáo khác như: hội chợ, triễn lãm... e. Xem xét khả năng cạnh tranh của sản phẩm : KTĐT&QTDA 6/22
  7. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án Việc nghiên cứu vấn đề cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu được, nó ảnh hưởng đến sự sống còn của dự án. Để chứng minh khả năng cạnh tranh sản phẩm của dự án người ta áp dụng phương pháp điều tra mẫu, so sánh sản phẩm của dự án với các sản phẩm của các nhà cạnh tranh. Trường hợp giá cả là vấn đề chính cho việc chiếm lĩnh thị trường thì cần phải xem xét giá cả ở khâu tiêu thụ cuối cùng với sản phẩm cạnh tranh, phải xem xét những ưu điểm vốn có thể chiếm lĩnh thị trường cũng như những rủi ro có thể xảy ra khi thực hiện đầu tư. Sau khi xem xét các vấn đề trên đây phải đi đến những kết luận chủ yếu dưới đây (các kết luận này phải làm sao chứng minh được rằng dự án có một thị trường tiêu thụ và khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trong và ngoài nước): - Danh sách tất cả những nhà cạnh tranh chính hiện có với đầy đủ những thông tin về khả năng sản xuất của họ, những mặt mạnh, mặt yếu của họ và uy tín của họ trên thị trường. Trường hợp phải cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài phải đánh giá tính gay gắt của việc cạnh tranh theo những yếu tố chi phí sản xuất, khả năng tài chính, kỹ năng quản lý và trình độ kỹ thuật. - Vị thế cạnh tranh của dự án: Sau khi đã xác định được thị trường, triển vọng sự phát triển, giải thích tính chất của sự cạnh tranh phải tiếp tục làm rõ sản phẩm của dự án sẽ được bán ở thị trường này như thế nào? Và chứng tỏ dự án có thể cạnh tranh một cách có hiệu quả ở thị trường này trên cơ sở phân tích những lợi thế về chi phí hoặc sự khác biệt của sản phẩm. Đối với các nhà cạnh tranh nước ngoài cần làm rõ lợi thế của dự án về mặt thuế quan, về tiết kiệm chi phí vận chuyển, đồng thời những hạn chế về ngoại tệ và nhập khẩu của dự án. 4.2.3 Xem xét tính khả thi của dự án về mặt thị trường : Để xem xét và khẳng định tính khả thi của dự án về mặt thị trường cần rà soát lại các kết quả nghiên cứu trên theo những vấn đề sau: 4.2.3.1 Đặc tính của sản phẩm : Sản phẩm của dự án có những đặc điểm gì về phẩm chất mẫu mã, hình thức trình bày so với những sản phẩm tương tự của những dự án khác đang lưu hành trong nước (sản xuất trong nước và nhập khẩu) nếu sản phẩm của dự án để xuất khẩu thì phải so sánh với sản phẩm cùng loại đang lưu hành tại thị trường mà dự án dự kiến sẽ xuất khẩu. Để tiến hành so sánh có thể căn cứ vào các hàng mẫu thông qua các quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên việc so sánh này chỉ có tính định tính và mang tính chủ quan. 4.2.3.2 Thị trường trong nước : Xem xét thị trường nội địa để trả lời được một số câu hỏi sau : KTĐT&QTDA 7/22
  8. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án - Hiện trong nước đã có nhu cầu về sản phẩm mà dự án dự định sản xuất hay chưa? Ai là người tiêu thụ chủ yếu và ai sẽ là người tiêu thụ mới có thể ? - Nhu cầu về loại sản phẩm này được thỏa mãn bằng cách nào, ai là người đáp ứng nhu cầu này, trong đó bao nhiêu phần trăm nhu cầu được đáp ứng là sản xuất nội địa và bao nhiêu là do nhập khẩu. - Nhu cầu của sản phẩm nàu có thay đổi theo mùa không? Có bị sản phẩm khác thay thế không? Dự kiến trong những năm tới khi dự án bắt đầu hoạt động nhu cầu này sẽ thay đổi như thế nào? Giá cả sản phẩm có gì thay đổi không? - Giá cả và chất lượng sản phẩm của dự án có thể giúp cho việc cạnh tranh của sản phẩm dự án với các sản phẩm tương tự nhập khẩu trước mắt và về lâu dài đạt kết quả hay không? - Dự án có dự kiến các giải pháp phải đối phó với hàng giả và hàng có thể nhập khẩu bất thường hay không? Những chi phí cho việc thông tin quảng cáo mở rộng thị trường là bao nhiêu. 4.2.3.3 Thị trường nước ngoài : - Sản phẩm dự án có thể cạnh tranh nổi ở thị trường ngoài nước về mặt giá cả, hình thức, phẩm chất... hay không? - Khả năng mở rộng thị trường ngoài nước và điều kiện để có thể mở rộng, mở như thế nào? - Dự án đã có sẵn các khế ước tiêu thụ sản phẩm chưa? nếu có, thời hạn bao lâu? số lượng và giá cả là bao nhiêu? - Dự án có dự kiến khai thác những điều kiện ưu tiên, ưu đãi dành cho sản phẩm của Việt nam (ví dự như quota) được ghi trong các hiệp ước song phương hay các thỏa ước quốc tế khác hay không? - Dự án có dự trù thị trường thay thế không khi có các biến động quan trọng (các hạn ngạch do nước nhập khẩu ban hành, tình trạng bán phá giá ở nước nhập khẩu sản phẩm của dự án). - Để có thể xuất khẩu có cần phải được trợ cấp xuất khẩu từ phía nhà nước hay không? trợ cấp bao nhiêu? 4.2.3.4 Về tiêu thụ sản phẩm : - Kiểm tra lại trong giá thành sản phẩm xem đã tính toán các chi phí của hệ thống tiêu thụ sản phẩm (thông tin quảng cáo bán hàng, chiêu hàng) hay chưa? - Xem xét các cơ sở tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm đã có chưa có cần phải thiết lập các cơ sở mới không? Chi phí là bao nhiêu, sản phẩm sẽ phân phối qua các kênh nào? Có phải dự trữ hàng tồn kho không? số lượng bao nhiêu? Các kênh tiêu thụ có đảm bảo cho việc phân phối một cách tốt nhất, nhanh nhất và rẻ nhất không? Việc thanh toán trong khâu tiêu thụ bằng tiền mặt hay chuyển khoản. Đối với hàng KTĐT&QTDA 8/22
  9. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án xuất khẩu sẽ phân phối theo cách nào? Hoa hồng thay đổi ra sao? Có kế hoạch bán chịu không? Có dự trù tỉ lệ thất thoát sản phẩm tồn kho vận chuyển cho đến khi tiêu thụ được hay không? 4.3. PHÂN TÍCH KỸ THUẬT DỰ ÁN ĐẦU TƯ : 4.3.1 Vị trí của phân tích kỹ thuật : Phân tích kỹ thuật là phần tiền đề cho việc tiến hành phân tích mặt kinh tế tài chính của dự án đầu tư. Không có số liệu của phân tích kỹ thuật thì không thể tiến hành phân tích mặt kinh tế, tài chính, tuy rằng các thông số kinh tế có ảnh hưởng đến các quyết định về mặt kỹ thuật. Các dự án không khả thi về mặt kỹ thuật phải được bác bỏ để tránh những tổn thất trong quá trình thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư sau này (chẳng hạn địa điểm thực hiện dự án có địa chất không ổn định, hoặc gây ô nhiễm quá nặng nề cho khu vực dân cư đòi hỏi cho phí xử lý quá lớn..) Phân tích kỹ thuật là công việc phức tạp, đòi hỏi phải có các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹ thuật của dự án. Chi phí nghiên cứu mặt kỹ thuật của dự án chiếm tới trên dưới 80% chi phí nghiên cứu khả thi và từ 1÷5% tổng chi phí đầu tư của dự án. 4.3.2 Nội dung của phân tích kỹ thuật : Tuỳ thuộc vào dự án cụ thể mà nội dung phân tích kỹ thuật có mức độ phức tạp khác nhau. Không có một mô hình tiếp cận nào về mặt phân tích kỹ thuật có thể thích ứng với tất cả các loại dự án được. Trong đó mô hình phân tích kỹ thuật của các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghiệp bao gồm tương đối đầy đủ các vấn đề kỹ thuật cơ bản như đặc tính sản phẩm và kiểm tra chất lượng, phương pháp và kỹ thuật sản xuất, đặc tính và công suất máy móc thiết bị, đặc tính và nhu cầu nguồn vốn, các cơ sở hạ tầng, địa điểm xây dựng nhà máy, vấn đề xử lý chất thải... Do đó, tuỳ theo từng dự án cụ thể mà các vấn đề kỹ thuật được chú trọng xem xét ở mức độ khác nhau trong nghiên cứu. Dự án càng lớn các vấn đề kỹ thuật càng phức tạp, càng cần phải xử lý nhiều thông tin. Ở đây chúng ta xem xét nội dung phân tích kỹ thuật của các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghiệp với các vấn đề sau đây: 4.3.2.1 Mô tả sản phẩm sẽ sản xuất của dự án: a. Đặc tính của sản phẩm: Các đặc tính về mặt vật lý, hoá học so sánh với các sản phẩm tương tự trong và ngoài nước hoặc với tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm đo lường trong nước và quốc tế. Các hình thức bao bì đóng gói, các công dụng và cách sử dụng của sản phẩm. Các sản phẩm ở đây bao gồm: sản phẩm chính, sản phẩm phụ và chất thải. b. Đánh giá chất lượng sản phẩm: Để đánh giá chất lượng của sản phẩm phải xem xét các phương pháp và KTĐT&QTDA 9/22
  10. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án phương tiện để kiểm tra sản xuất. Xác định các yêu cầu về chất lượng của sản phẩm phải đạt, dự kiến bộ phận kiểm tra chất lượng sau khi đã xác định phương pháp kiểm tra, dự kiến các thiết bị và dụng cụ cần cho việc kiểm tra chất lượng, dự kiến chi phí cho công tác kiểm tra. 4.3.2.2 Lựa chọn công nghệ kỹ thuật: Để lựa chọn công nghệ kỹ thuật thích hợp cần xem xét các vấn đề sau đây: a. Lựa chọn công nghệ: - Tiêu chuẩn lựa chọn công nghệ: + Cho phép sản xuất ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước. + Cho phép sử dụng có hiệu quả những lợi thế so sánh của Việt Nam (lao động, tài nguyên, khí hậu...) + Xem xét xu hướng lâu dài của công nghệ để đảm bảo tránh sự lạc hậu hoặc những khó khăn gây trở ngại cho việc sử dụng công nghệ (sự khan hiếm về loại năng lượng hoặc nguyên vật liệu mà công nghệ sử dụng) trong khi còn chưa thu hồi đủ vốn. + Khả năng vận hành và quản lý công nghệ có hiệu quả. Việc áp dụng công nghệ quá hiện đại hoặc còn đang được thử nghiệm sẽ có nhiều mạo hiểm (do kiến thức hiểu biết về công nghệ chưa nhiều gây khó khăn trong quản lý và vận hành): chi phí mua công nghệ quá lớn, công suất sản xuất lớn, chất lượng sản phẩm cao, giá bán cao nhiều khi không thích hợp với điều kiện thị trường của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, việc sử dụng công nghệ quá lạc hậu dẫn đến sản phẩm sản xuất ra có chất lượng kém, khó tiêu thụ trên thị trường, ngay cả thị trường trong nước. + Ngoài ra trong việc lựa chọn công nghệ cần xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng hiện có hoặc có khả năng bố sung thích hợp với công nghệ dự kiến chọn hay không, điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương, phong tục tập quán của dân cư nơi sử dụng công nghệ. Đó là sự đáp ứng của cơ sở hạ tầng, sự chấp nhận và có thể tiếp thu công nghệ của dân cư... và các yếu tố rủi ro có thể xảy ra trong quá trình sử dụng công nghệ. - Một số lưu ý khi lựa chọn công nghệ: + Nên xây dựng nhiều phương án với những đặc điểm khác nhau để lựa chọn công nghệ thích hợp. Vì mỗi loại công nghệ có những ưu nhược điểm khác nhau. Có loại tiết kiệm năng lượng nhưng lại sử dụng nhiều nguyên vật liệu, lao động hoặc các chi phí khác và ngược lại. Phải xem xét ở nhiều nơi, nhiều nước để lựa chọn được công nghệ tối ưu phù hợp với điều kiện của đất nước, của cơ sở. + Khi mua công nghệ phải đặt vấn đề chuyển giao bí quyết công nghệ (kinh nghiệm, tay nghề) KTĐT&QTDA 10/22
  11. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án + Phải quan tâm đến vấn đề chuyên gia hướng dẫn lắp đặt, vận hành, sử dụng và bảo hành thiết bị công nghệ. + Khi mua công nghệ cần chú ý đến quyền sở hữu công nghiệp. Đối với một số lớn sản phẩm có thể có tầm quan trọng đáng kể tại thị trường trong và ngoài nước (chẳng hạn việc sản xuất các động cơ điện, các hàng điện tử, các phương tiện vận chuyển, nếu sử dụng tên, nhãn hiệu quốc tế của nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu thụ). Sau khi đã lựa chọn công nghệ thích hợp cần xác định phương thức mua công nghệ: mua đứt, mua quyền sử dụng, liên doanh với các nhà cung cấp công nghệ. Phải mô tả chi tiết và làm rõ lý do chọn công nghệ. Tiếp đó là lập sơ đồ quy trình công nghệ đã chọn. Sơ đồ này cho thấy một cách đơn giản hoặc chi tiết tiến trình từ đầu vào (nguyên liệu) qua các công đoạn sản xuất chế biến đến đầu ra (thành phẩm). Các sơ đồ chi tiết hơn có thể cho thấy cả các nhu cầu về vị trí, không gian, kích thước, khoảng cách của máy móc thiết bị, về điện, về các tiện nghi phục vụ sản xuất khác. b. Chọn máy móc thiết bị: Tuỳ thuộc công nghệ mà lựa chọn máy móc thiết bị thích hợp. Đồng thời còn căn cứ vào trình độ tiến bộ kỹ thuật, chất lượng, giá cả phù hợp với khả năng vận hành và vốn đầu tư, với điều kiện bảo dưỡng, sửa chữa, công suất, tính năng, điều kiện vận hành, năng lượng sử dụng, điều kiện khí hậu... Đối với máy móc thiết bị thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến cần đảm bảo sự phù hợp về mặt công suất của chúng ở mỗi giai đoạn chế biến khác nhau, kế tiếp nhau. Ngoài ra đối với bất kỳ loại thiết bị nào nếu nhập khẩu thì nên nhập luôn cùng một lúc số phụ tùng thay thế. Thông thường chi phí dự trù cho số phụ tùng thay thế khoảng 10 - 20% chi phí thiết bị của dự án. Trong số các thiết bị nhập khẩu, có thể có một số đòi hỏi phải thuê chuyên gia hướng dẫn. Sau khi đã chọn được loại máy móc thiết bị cho dự án phải lập bảng liệt kê mô tả đầy đủ các loại máy móc thiết bị đã lựa chọn. Trong bảng liệt kê phải sắp xếp các thiết bị máy móc thành các nhóm sau đây: + Máy móc thiết bị chính trực tiếp sản xuất. + Thiết bị phụ trợ. + Thiết bị vận chuyển, bốc xếp, băng chuyền. + Thiết bị và dụng cụ điện. + Máy móc và thiết bị đo lường, kiểm tra chất lượng dụng cụ, phòng thí nghiệm. + Thiết bị và dụng cụ bảo dưỡng, sửa chữa, phụ tùng thay thế. + Thiết bị an toàn, bảo hộ lao động, phòng cháy chữa cháy, sử dụng chất thải. KTĐT&QTDA 11/22
  12. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án + Các loại xe đưa đón công nhân, xe con, xe tải. + Các máy móc, thiết bị khác. Giá mua các loại thiết bị này có thể sử dụng bảng hiện giá, hoặc tham khảo các thông tin qua các cơ quan đại diện, các chuyên gia kỹ thuật. Để có thể mua được thiết bị mong muốn với giá phải chăng nên dùng phương thức đấu thầu. Giá này bao gồm chi phí sản xuất, chi phí mua bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, tên hiệu thương mại, chi phí huấn luyện chuyên môn, chi phí lắp ráp, vận chuyển... Đối với máy nhập, dùng giá CIF + chi phí bảo hiểm, bốc dỡ, vận chuyển đến tận nhà máy. Nếu chi phí lắp đặt máy móc thiết bị tách riêng thi có thể ước lượng từ (1÷15%) hay hơn nữa tuỳ thuộc vào loại thiết bị và tính chất phức tạp của việc lắp đặt. Nếu thời gian giao máy trên 18 tháng thì phải dự kiến tốc độ trượt giá. 4.3.2.3 Xác định công suất của máy móc thiết bị và của dự án: a. Công suất của máy móc thiết bị: Cần phân biệt các loại công suất: - Công suất thiết kế: là khả năng sản xuất sản phẩm trong một giờ của thiết bị. - Công suất lý thuyết: là công suất tối đa trên lý thuyết mà thiết bị có thể thực hiện được với giả thiết là thiết bị hoạt động liên tục không bị gián đoạn vì bất kỳ một lý do nào như: mất điện, máy hỏng... trong thời gian quy định (bao nhiêu ca trong một ngày, bao nhiêu ngày trong một năm). Công suất lý thuyết / năm = (Công suất /giờ)*(Số giờ làm việc/ ngày)*(số ngày làm việc/năm) - Công suất thực tế: là công suất thực tế đạt được, công suất này luôn nhỏ hơn công suất lý thuyết. Trong điều kiện hoạt động tốt nhất công suất thực tế cũng chỉ đạt trên dưới 90% công suất lý thuyết. Điều này do nhiều nguyên nhân nảy sinh trong quá trình hoạt động (lý do về kỹ thuật, về sử dụng thời gian, về đảm bảo các điều kiện khác cho máy hoạt động...) - Công suất kinh tế tối thiểu: biểu hiện mức sản phẩm tối thiểu cần thiết phải được sản xuất trong một đơn vị thời gian để dự án không bị lỗ. Có nhiều loại thiết bị nếu công suất quá nhỏ là không kinh tế vì chi phí sản xuất bình quân của một đơn vị sản phẩm rất cao (thí dụ các thiết bị của nhà máy ximăng, nhà máy lọc dầu, nhà máy sản xuất phân bón). b. Công suất của dự án: Nội dung và trình tự của việc xác định công suất của dự án bao gồm các bước sau đây: + Xác định công suất bình thường có thể của dự án. Công suất bình thường có thể của dự án là số sản phẩm cần sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường mà dự án dự kiến sẽ chiếm lĩnh. KTĐT&QTDA 12/22
  13. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án Ví dụ 4.1: Một dự án sản xuất bia, sau khi nghiên cứu thị trường đã xác định được phần nhu cầu mà dự án sẽ đáp ứng là 9.600.000 người uống bia, với mức uống bình quân 1 người 1 ngày là 0,25 lít. Vậy công suất bình thường có thể của dự án này là: 9.600.000 x 0,25 x 365 = 876.000.000 lít/năm. Biết rằng 1 năm có 8.760 giờ, thì công suất bình thường có thể của dự án này là: 876.000.000 l / n = 100.000 lít/giờ 8.760 h / n + Công suất tối đa danh nghĩa: Công suất tối đa danh nghĩa biểu hiện bằng số sản phẩm cần sản xuất vừa để đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường mà dự án sẽ chiếm lĩnh, vừa để bù vào những hao hụt tổn thất trong quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển và bốc dỡ. Trong thí dụ trên, giả sử hao hụt trong bốc dỡ là 5%. Vậy để có được số bia đưa ra thị trường là 876.000.000lít/năm thì số bia trước khi bốc dỡ phải là: 876.000.000 l / n x 100 = 922.105.000 lít/năm. 95 Nếu mức độ hao hụt trong vận chuyển là 10%, thì số bia cần đưa ra để vận chuyển là: 922.105.000 l / n x 100 = 1.024.061.000 lít/năm 90 Ngoài ra, mức hao hụt trong sản xuất và lưu kho là 5%. Vậy số bia cần sản xuất là: 1.024.061.000 l / n x 100 = 1.078.500.000 lít/năm. 95 Số lượng bia 1.078.500.000 lít/năm chính là công suất tối đa danh nghĩa. + Công suất sản xuất của dự án : Là số sản phẩm mà dự án cần sản xuất trong một đơn vị thời gian nhỏ nhất (giờ hoặc ca) để đáp ứng nhu cầu của thị trường mà dự án có thể và cần chiếm lĩnh có tính đến thời gian và chế độ làm việc của lao động, của máy móc thiết bị trong năm. Trong thí dụ trên, nếu nhà máy làm việc 261 ngày/năm, mỗi ngày làm việc 1 ca (8 giờ) thì số bia cần sản xuất 1 giờ là: 1. 078. 500. 000 = 516.500 lít/ giờ. 261* 8 Nếu thời gian nghỉ việc giữa ca là 10% thì mỗi giờ phải sản xuất là: 516. 500 x 100 = 573.889 lít/giờ. 90 Như vậy: 573.889 lít/giờ chính là công suất sản xuất của dự án. c. Công suất khả thi của dự án và mức sản xuất dự kiến: KTĐT&QTDA 13/22
  14. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án Để xác định công suất khả thi của dự án cần căn cứ vào các yếu tố sau đây: - Nhu cầu thị trường (công suất sản xuất) - Trình độ kỹ thuật của máy móc thiết bị (công suất của loại máy móc thiết bị đã được lựa chọn) - Khả năng cung cấp nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, khả năng và chi phí về vốn đầu tư. Thông thường, những năm đầu do những khó khăn khác nhau về kỹ thuật sản xuất và tiêu thụ chỉ dự kiến sử dụng 40÷50% công suất. Chỉ từ năm thứ ba và thứ tư trở đi mới có thể đạt được mức công suất thực tế khả thi. Tuy nhiên, mức sản xuất dự kiến trong các năm đầu của dự án khác nhau có thể có sự khác nhau đáng kể tuỳ thuộc vào nhu cầu của thị trường, vào đặc điểm của sản phẩm và quy trình công nghệ (loại đơn sản phẩm như ximăng: loại đa sản phẩm như dầu hoả; loại sản xuất từng mẻ, từng mặt hàng đặt trước như cơ khí, công nghệ phẩm; loại sản xuất từng khối, từng dàn hay theo bộ phận như xe hơi...) Từ việc xác định công suất khả thi của dự án sẽ lựa chọn loại công suất của máy móc thiết bị tối ưu. Nếu nguyên liệu không đủ cung cấp thì phải sử dụng loại công suất thấp. Công suất này có thể nhỏ hơn công suất kinh tế tối thiểu. Bảng mức sản xuất dự kiến cả đời dự án có dạng sau đây Năm Tên sản phẩm Thứ 1 Thứ 2 Thứ 3 sản xuất % công Sản % công Sản % công Sản ... suất lượng suất lượng suất lượng A. Sản phẩm chính A B B. Sản phẩm phụ C 4.3.2.4 Nguyên vật liệu đầu vào: Nguyên vật liệu đầu vào bao gồm tất cả các nguyên vật liệu chính và phụ, vật liệu bao bì đóng gói. Đây là một khía cạnh kỹ thuật quan trọng của dự án, cần phải được xem xét một cách kỹ càng. Trước hết phải xem xét nguyên vật liệu sẽ sử dụng cho dự án thuộc loại nào trong các loại sau đây: - Nguyên liệu là nông sản: đây là loại nguyên liệu cung cấp có tính thời vụ, hư hỏng hao hụt trong vận chuyển lớn, có những hạn chế về điều kiện địa lý và tự nhiên. KTĐT&QTDA 14/22
  15. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án - Nguyên liệu là lâm sản và gia cầm gia súc: khả năng cung cấp phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng và thu gom nguyên liệu từ nơi có về đến nhà máy. - Nguyên liệu là các sản phẩm dưới nước (thuỷ, hải sản chẳng hạn). Để có thể chủ động và đảm bảo được chất lượng và khả năng cung cấp đều đặn theo kế hoạch phải trang bị cho dự án các phương tiện cần thiết cho hoạt động dưới nước như ghe, tàu đánh cá, đánh bắt tôm... Đối với loại nguyên liệu này vấn đề quan trọng là tiềm năng cung cấp, hiệu suất và chi phí thu gom. - Nguyên liệu là khoáng sản (kim loại, phi kim loại, cả đất sét) loại này cần đặc biệt thông tin chi tiết về trữ lượng có thể khai thác, địa điểm, kích thước, chiều sâu và thành phần của mỏ với các tạp chất, đặc tính lý hoá và các đặc tính khác. Tất cả điều này ảnh hưởng đến quy trình chế biến, đến lựa chọn máy móc thiết bị. - Các nguyên liệu là sản phẩm công nghiệp gồm có kim loại cơ bản, sản phẩm công nghiệp trung gian, linh kiện. Đối với kim loại cơ bản cần tìm loại có khả năng thay thế cho nhau (thay đồng bằng nhôm trong hệ thống phân phối điện năng vì nhôm giá rẻ hơn). Đối với nguyên liệu là sản phẩm công nghiệp trung gian (của ngành công nghiệp hoá dầu, dầu hỏa...) phải xem xét cẩn thận khả năng cung cấp và chi phí của nguyên liệu đó. Nếu nhập từ nước ngoài thì ảnh hưởng đến nền sản xuất trong nước ra sao? Đối với nguyên liệu của ngành chế tạo máy là lắp ráp, ngoài thép ra còn có sự kết hợp của nhiều bộ phận hoặc linh kiện làm sẵn ở các cơ sở khác. Dự án cần xác định phương thức lắp ráp hay phải tự làm từ A đến Z thì có lợi hơn. - Nguyên vật liệu phụ: các hoá chất, các chất phụ gia, sơn, dầu bóng, bao bì, chất rửa, vật liệu bảo dưỡng, dầu nhờn... Đặc tính và chất lượng nguyên vật liệu sử dụng cho dự án: thông thường người ta chọn nguyên vật liệu có chất lượng thích hợp với chất lượng sản phẩm sẽ được sản xuất. Chất lượng của nguyên vật liệu được thể hiện ở các đặc tính sau đây: - Tính chất vật lý: kích cỡ, dạng, tỷ trọng, thể trạng (khí, lỏng, rắn) điểm nóng chảy, điểm sôi... + Tính chất hoá học: thành phần hoá học, độ tinh khiết, độ cứng của nước, chỉ số ôxi hoá, tính nóng chảy, tính dẫn nhiệt... + Tính chất cơ học: độ biến dạng, độ dẻo, độ cứng, sức nén... + Các đặc tính về điện và từ: khả năng dẫn điện, điện trở, từ tính, hằng số điện môi... Nguồn và khả năng cung cấp nguyên vật liệu có ảnh hưởng đến sự sống còn và quy mô của dự án sau khi đã xác định được quy trình công nghệ, máy móc thiết bị. Nguồn cung cấp nguyên liệu cơ bản phải đảm bảo đủ sử dụng cho dự án hoạt KTĐT&QTDA 15/22
  16. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án động hết đời. Nếu không đủ thì có thể phải chọn địa điểm khác hoặc giảm quy mô của dự án (xây lò gạch ở nơi có lượng đất sét đủ cung cấp cho hoạt động từ 10 ÷ 15 năm). Khi nguyên liệu chính dự kiến sử dụng cho dự án cũng có thể được sử dụng cho các dự án khác (chẳng hạn khí thiên nhiên được dự kiến sử dụng để sản xuất điện năng cho dự án, trong khi đó nó cũng có thể được sử dụng để sản xuất các sản phẩm khác như phân bón, các hoá chất từ dầu hoả) thì phải cân nhắc tính kinh tế nếu xảy ra trường hợp thứ hai. Khi nguyên liệu chính phải nhập từ nước ngoài từng phần hoặc toàn bộ, cần xem xét đầy đủ các ảnh hưởng của việc nhập này: khả năng ngoại tệ, sự ràng buộc bởi thiết bị mua sắm (đặc biệt đối với các nguyên liệu là các sản phẩm trung gian của các nhà cung cấp thiết bị), sự phụ thuộc vào nước cung cấp nguyên liệu (linh kiện, sản phẩm trung gian, các bộ phận của máy móc), sự ảnh hưởng của nó tới sản xuất nguyên liệu trong nước buộc Nhà nước phải thực hiện các chính sách bảo hộ hoặc kiểm soát nhập khẩu. Giá thu mua, vận chuyển và kế hoạch cung ứng: Đối với nguyên vật liệu trong nước, giá mua hiện tại có đối chiếu với giá trong quá khứ và chiều hướng trong tương lai. Chi phí thu gom, chuyên chở phải được tính đầy đủ. Nếu là nguyên vật liệu nhập thì tính theo giá CIF cùng với chi phí bốc dỡ, lệ phí cảng, phí bảo hiểm, các loại thuế, chi phí vận chuyển đến nhà máy. Phải lập kế hoạch thu mua, vận chuyển nguyên vật liệu theo yêu cầu của sản xuất. Có thể tổ chức thu mua qua các mạng lưới, tổ chức khác. Phải ước tính tổng nhu cầu và chi phí các loại nguyên vật liệu hằng năm cho dự án căn cứ vào kế hoạch sản xuất hàng năm, định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm. Lượng vật liệu và số ngày dự trữ, tồn kho, lượng vật liệu đang nằm trong sản xuất chế biến, lượng hao hụt khi thu mua vận chuyển và sử dụng. Biểu tính toán có dạng như sau: Nhu cầu và chi phí vật liệu dự kiến Năm sản xuất Nguồn Đơn TT Tên nguyên vật liệu I II III gốc giá SL TG SL TG SL TG 1 Nguyên liệu nhập 1 2 ... KTĐT&QTDA 16/22
  17. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án 2 Nguyên liệu nội địa 1 2 ... 3 Tổng cộng (SL: Số lượng; TG: trị giá) 4.3.2.5 Cơ sở hạ tầng: Nhu cầu về năng lượng, nước, giao thông, thông tin liên lạc... của dự án phải được xem xét, nó sẽ ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và chi phí sản xuất do có hay không có sẵn các cơ sở hạ tầng này. a. Năng lượng: Có nhiều loại có thể sử dụng như điện, các nguồn từ dầu hoả (dầu hôi, xăng, diezen, dầu đốt, khí đốt) các nguồn từ thực vật (than đá, than bùn, củi) từ mặt trời, gió, thuỷ triều, điện nguyên từ, biogaz... phải xem xét nhu cầu sử dụng, nguồn cung cấp, đặc tính, chất lượng, tính kinh tế khi sử dụng, chính sách của Nhà nước đối với các loại năng lượng phải nhập, vấn đề ô nhiễm môi trường... của mỗi loại được sử dụng để tính chi phí. Trong các nguồn trên, điện năng được sử dụng trong hầu hết các nhà máy. Đối với nguồn điện năng thì cần xem xét các vấn đề sau: + Tổng công suất cần thiết cho các nhà máy. + Nguồn cung cấp (số lượng có thể cung cấp từ nguồn điện hiện có, cường độ dòng điện, tính ổn định của sự cung cấp), có cần trang bị máy phát điện dự phòng không (nếu nguồn điện cung cấp không ổn định), có cần xây dựng hệ thống đường dây mới phục vụ cho nhà máy (nếu địa điểm của nhà máy không có đường dây điện đi qua). Đối với các dự án tiêu thụ điện năng lớn (điện giải, nấu chảy, xay nghiền...) cần phải ký kết hợp đồng với các cơ sở của ngành điện về cung cấp điện. + Chi phí đầu tư và đầu tư sử dụng: chi phí đầu tư bao gồm chi phí mua và lắp đặt máy phát điện, chi phí thiết kế hệ thống điện ban đầu. Chi phí sử dụng tính theo Kwh nếu sử dụng nguồn điện do các cơ quan sở điện lực cung cấp và giá điện do ngành điện quy định. Nếu sử dụng máy phát điện thì căn cứ vào số lượng nhiên liệu tiêu hao, mức khấu hao máy phát điện, tiền lương công nhân vận hành máy phát điện... chi phí sử dụng tính vào giá thành sản xuất của nhà máy. b. Nước: Cần xem xét các vấn đề sau: - Nhu cầu sử dụng theo từng mục đích (để sản xuất, chế biến sinh hoạt của công nhân, chạy lò hơi, làm nguội máy...) - Nguồn cung cấp: từ công ty cấp nước, từ nước giếng, sông ngòi. Phải xét KTĐT&QTDA 17/22
  18. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án nghiệm tính thích hợp của nước. Nếu có nhu cầu lớn phải xây dựng hệ thống cung cấp đầy đủ (như tháp nước, hồ chứa, máy bơm, hệ thống đường ống). - Thoát nước: cống rãnh, hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra các công trình công cộng hay sông ngòi để tránh gây ô nhiễm. - Chi phí đầu tư và chi phí sử dụng: + Chi phí đầu tư xây dựng hệ thống cung cấp nước và các thiết bị kèm theo. + Chi phí sử dụng căn cứ vào lượng nước tiêu thụ và giá nước (nếu do công ty cấp nước cung cấp) chi phí tính cho một đơn vị khối lượng nước sử dụng (nếu tự cung cấp). c. Cơ sở hạ tầng khác: Hệ thống giao thông để cung cấp đầu vào và tiêu thụ đầu ra, hệ thống thông tin liên lạc (điện thoại, điện tín...) hệ thống xử lý các chất thải, hệ thống an toàn lao động, hệ thống phòng cháy, chữa cháy... đều cần được xem xét tuỳ thuộc vào loại dự án. Những gì có sẵn, những gì phải xây dựng mới tuỳ thuộc vào loại dự án. Chi phí đầu tư và chi phí vận hành của từng hệ thống. 4.3.2.6 Lao động và trợ giúp kỹ thuật của nước ngoài: a. Lao động: + Nhu cầu về lao động: căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật của sản xuất hoạt động điều hành dự án để ước tính số lượng lao động trực tiếp và bậc thợ tương ứng cho mỗi loại công việc, số lượng lao động gián tiếp với trình độ đào tạo thích hợp. + Nguồn lao động: cần ưu tiên xem xét số lao động sẵn có tại địa phương để tuyển dụng đào tạo. Nếu cần đào tạo, phải có chương trình đào tạo lao động chuyên môn, lập kế hoạch và dự tính chi phí, việc đào tạo có thể tiến hành ở trong nước hoặc nước ngoài (nếu trong nước không có đủ điều kiện) hoặc thuê chuyên gia nước ngoài huấn luyện ở trong nước. + Chi phí lao động : bao gồm chi phí để tuyển dụng đào tạo và chi phí lao động trong các năm hoạt động của dự án sau này. Dự án có thể áp dụng trả lương khoán, lương sản phẩm hay lương thời gian. Căn cứ vào hình thức trả lương được áp dụng, số lao động mỗi loại sử dụng, các chi phí có liên quan để tính ra quỹ lương hàng năm mỗi loại lao động và cho tất cả lao động của dự án. b. Trợ giúp của chuyên gia nước ngoài: Đối với dự án mà trình độ khoa học của chúng ta chưa đủ khả năng để tiếp nhận một số kỹ thuật hoặc đảm nhận một số khâu công việc thì khi chuyển giao công nghệ sản xuất chúng ta phải thoả thuận với bên bán công nghệ đưa chuyên gia sang trợ giúp. KTĐT&QTDA 18/22
  19. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án + Nghiên cứu soạn thảo các dự án khả thi có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp. + Thiết kế thi công, lắp đặt các thiết bị mà trong nước không thể đảm nhiệm được. Chi phí trả cho chuyên gia có thể được tính vào giá mua công nghệ và phải được ghi rõ trong hàng hóa mua bán công nghệ. Nếu chưa tính trong giá mua công nghệ (vì thường là người bán công nghệ cung cấp chuyên gia kỹ thuật loại này) thì người thuê phải trả. Chi phí trả cho chuyên gia nước ngoài gồm chi phí bằng ngoại tệ (tiền lương, tiền vé máy bay...) và tiền Việt Nam (ăn ở, đi lại trong nước Việt Nam có liên quan đến công việc) trong một thời gian nào đó. Chi phí trả cho chuyên gia nước ngoài rất cao nên phải được xem xét kỹ lưỡng. 4.3.2.7 Địa điểm thực hiện dự án: Xem xét lựa chọn địa điểm thực hiện dự án thực chất là xem xét các khía cạnh về địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội, kỹ thuật ... có liên quan đến sự hoạt động và hiệu quả hoạt động sau này của dự án. Các vấn đề cụ thể cần xem xét ở từng khía cạnh bao gồm: - Các chính sách kinh tế xã hội tại khu vực hoạt động của dự án, đặc biệt là chính sách khuyến khích đầu tư và các chính sách tài chính có liên quan. Các chủ trương chính sách về phân bố các ngành, các cơ sở sản xuất để tránh ô nhiễm môi trường, để phát triển kinh tế ở các vùng dân tộc... - Ảnh hưởng của địa điểm đến sự thuận tiện và chi phí trong cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm. Đối với các dự án khác nhau yêu cầu về địa điểm khác nhau. Ví dụ các dự án khai thác và chế biến tài nguyên phải được thực hiện ở nơi có tài nguyên đó sẽ làm cho giá thành sản phẩm thấp vì chi phí vận chuyển thấp. - Cơ sở hạ tầng thích hợp đến mức nào? Có cần phải đầu tư thêm không? Mức độ đầu tư có chấp nhận được không? - Môi trường kinh tế xã hội. Môi trường kinh tế xã hội bao gồm nhiều vấn đề có liên quan đến sự hoạt động của dự án như: + Về lao động, có thể tuyển chọn lao động nói chung và lao động có chuyên môn hoặc đào tạo chuyên môn từ dân cư của địa phương là tốt nhất. Điều này sẽ làm giảm chi phí và tạo nhiều thuận lợi cho sự hoạt động của dự án sau này. + Về trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, luật lệ, phong tục tập quán và vấn đề an ninh. Bộ máy tổ chức quản lý hành chính kinh tế xã hội của địa phương sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự hoạt động của dự án. + Các điều kiện về địa hình, khí hậu sẽ ảnh hưởng đến tuổi thọ và sự hoạt động liên tục của công trình. Chẳng hạn, sự ổn định của điều kiện địa KTĐT&QTDA 19/22
  20. Chương IV: Phân tích môi trường đầu tư, thị trường và kỹ thuật của dự án chất (núi lửa, động đất), của thời tiết, khí hậu (mưa, nắng, bão lụt, độ ẩm, nhiệt độ...) + Khả năng xử lý chất thải chống ô nhiễm môi trường và tình hình ô nhiễm môi trường hiện có. Cả hai vấn đề này đều phải được xem xét đến khi lựa chọn địa điểm cho dự án. + Các vấn đề về đất đai và mặt bằng có đủ rộng để dự án có thể hoạt động và mở rộng sự hoạt động khi cần thiết sau này từ 5 đến 15 năm. Mặt bằng được chọn phải đủ rộng để đảm bảo không chỉ cho sự thuận lợi trong hoạt động của dự án, mà còn đảm bảo cả sự an tòan cho lao động và không gây ô nhiễm môi trường. Như vậy, khi nghiên cứu chọn địa điểm để thực hiện dự án, phải biết rõ vị trí (tỉnh, thành phố, quận, huyện,… hướng), diện tích. Phải khảo sát các điều kiện về địa lý, địa hình, thủy văn tự nhiên ở các điểm khác nhau để cân nhắc giá mua hoặc thuê quyền sử dụng đất đai, mặt bằng, để tính tóan chi phí san lấp mặt bằng, làm nền móng cho xây dựng nhà xưởng, lắp đặt thiết bị máy móc. Đối với các dự án nông nghiệp thì vấn đề đất đai là một trong các yếu tố chính cần phải nghiên cứu sâu rộng. 4.3.2.8 Kỹ thuật xây dựng công trình của dự án: Công trình xây dựng của dự án bao gồm các hạng mục xây dựng nhằm tạo điều kiện và đảm bảo cho dây chuyền thiết bị sản xuất, công nhân hoạt động được thuận lợi và an toàn. Để xác định các hạng mục công trình cần xây dựng, phải căn cứ vào yêu cầu về đặc tính kỹ thuật của máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, cơ sở hạ tầng, cách tổ chức điều hành, nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu và sản phẩm, về lao động sẽ sử dụng. Đối với mỗi hạng mục công trình phải xem xét: diện tích xây dựng, đặc điểm kiến trúc (bêtông cốt thép, gạch khung sắt, lắp ghép...) kích thước... và chi phí dự kiến. Việc xác định chi phí ở đây có thể căn cứ vào đơn giá xây dựng của đơn vị, diện tích xây dựng cho từng hạng mục công trình để lập dự tính chi phí xây dựng. Tuy nhiên, việc dự tính theo phương pháp trên chỉ có tính tương đối và nhanh, mức độ sai số có thể lên tới 30% so với cách tính chi tiết trong dự tóan sau này. Tổ chức xây dựng: sau khi xem xét các hạng mục công trình của dự án phải lập hồ sơ bố trí mặt bằng của toàn bộ nhà máy, sơ đồ thiết kế của từng hạng mục công trình, sơ đồ bố trí máy móc thiết bị, bản vẽ thi công, tiến độ thi công... Các sơ đồ này cho phép thấy rõ thứ tự sắp xếp các yếu tố cấu trúc, kích thước của các hạng mục sẽ được xây dựng tại địa điểm đã chọn. Việc thi công các hạng mục công trình có KTĐT&QTDA 20/22
Đồng bộ tài khoản