Giáo trình Phân tích kỹ thuật Phần 1

Chia sẻ: Nguyen Kieu Trinh | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:22

0
122
lượt xem
63
download

Giáo trình Phân tích kỹ thuật Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khi các hệ số nợ lớn quá mức, Cty có thể nhận thấy chi phí vốn của mình tăng lên. Giá trị các cổ phiếu của Cty cũng có thể giảm xuống tương ứng với mức độ rủi ro của Cty tăng lên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Phân tích kỹ thuật Phần 1

  1. • Nguồn: Các trang web về Ck trong và ngoài nước. Các  nguồn khác
  2. v Nhóm hệ số giá trị: Chỉ số EPS, P/E, P/B, chỉ số nợ D/E (Debt to Equity Ratio) i Nhóm các hệ số tài chính ROE, ROA, … i Cách phân tích các hệ số từ báo cáo tài chính và các bút toán tiểu xảo trong BCTC. i Cách tính dòng tiền và giá trị nội tại CP i Lựa chọn CP theo PP CANSLIM i Bí quyết đầu tư theo PP Benjamin Graham 
  3. H EPS – Thu nhập trên một CP. H Tổng thu nhập sau thuế - tổng số cổ tức của CP ưu đãi H EPS = H Tổng số CP đang lưu hành Nhận xét: › EPS là chỉ số cho biết khả năng sinh lợi của Cty trên mỗi cổ phần của cổ đông đóng góp là bao nhiêu. › Nếu chỉ số EPS càng cao thì nó càng cho thấy khả năng sinh lời của Cty càng lớn và ngược lại. › So sánh chỉ số EPS qua các thời kỳ sẽ giúp chúng ta biết được tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp đang phân tích.
  4. ¨ Thị giá hiện tại của CP   P/E = �  Thu nhập của CP (EPS) ( Nhận xét: PE cho biết NĐT sẵn sàng trả giá cho mỗi CP cao hơn  mức thu nhập hiện tại bao  nhiêu lần › PE là chỉ số cho biết giá CP đang ở mức được đánh giá cao hay thấp trên thị trường. › Nếu chỉ số PE càng cao thì nó cho thấy CP được thị trường đánh giá cao và ngược lại. › So sánh chỉ số PE giữa các Cty cùng ngành để đánh giá giá trị của CP mình quan tâm. › Theo quan điểm "bảo thủ", P/E dưới 10 thì nên mua. Nếu đang nắm giữ CP có mức P/E từ  10 ­ 12 lần thì không nên bán và có thể mua tiếp. P/E 12 ­ 18 có thể mua được khi thị  trường đang trong giai đoạn ổn định theo hướng tốt. P/E từ 18 trở lên xem xét bán CP. Tuy  nhiên, với NĐT theo trường phái "tăng trưởng", P/E có thể được chấp nhận cao hơn nếu  tốc độ tăng LN (E) cao › Đây là chỉ số mà các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư lớn như HSBC, ML đã lợi dụng tâm lý  yếu của NĐT VN khi tung ra các báo cáo xoay quanh chỉ số này nhằm đánh đổ thị trường  cho các NĐT của mình mua vào.
  5. ° Chỉ số Giá/Giá trị sổ sách (Price-to-Book ratio, P/B Ratio) ¼                     Giá hiện tại của CP (stock price)   P/B(ratio) = �    Tổng giá trị tài sản ­ giá trị  tài sản vô hình và nợ   Nhận xét: › giả sử rằng Cty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế toán là 100 tỷ, tổng nợ là 75 tỷ, như vậy giá trị ghi sổ của Cty là 25 tỷ. Nếu hiện tại Cty có 10 triệu CP đang lưu hành, mỗi CP sẽ đại diện cho 2.5k giá trị ghi sổ của Cty. Nếu mỗi CP này có giá thị trường là 50k, như vậy tỉ lệ P/B là 2=5/2.5. › P/B là công cụ giúp có thể tìm kiếm được các CP có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua. Nếu một Cty đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỉ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của Cty đã bị thổi phồng quá mức hoặc là thu nhập trên tài sản của Cty là quá thấp.
  6. › Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi xem xét các Cty có mức độ tập trung vốn cao hoặc các Cty tài chính bởi giá trị tài sản của các Cty này tương đối lớn. Vì công tác kế toán phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn ngặt nghèo, giá trị ghi sổ của TS hoàn toàn không tính tới các TSVH như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do Cty tạo ra. Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các Cty dịch vụ vì họ giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn › Ví dụ: Microsoft là Cty mà phần lớn tài sản của Cty này là tài sản trí tuệ, các bản quyền phần mềm chứ không phải là các tài sản hữu hình khác. Cổ phần của Cty này chẳng mấy khi được bán với giá thấp hơn 10 lần giá trị ghi sổ của chúng.
  7. H D/E : Debt to Equity Ratio - Nợ trên vốn CSH H Nợ phải trả H D/E = H Nguồn vốn chủ sở hữu › DE là chỉ số cho biết tài sản của Cty được hình thành chủ yếu là do nguồn nào, nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu › Chỉ số nợ trên vốn chủ sở hữu được dung để phân tích tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên có một số điều cần lưu ý khi sử dụng chỉ số này: › Giá trị của nợ phải trả trên báo cáo gần với giá trị thực tế hơn so với vốn chủ sở hữu. � Tùy thuộc vào quan điểm về nợ phải trả có bao gồm thuế thu nhập hoãn lại phải trả hay LN phải chuyển về cho Cty mẹ hay không mà chỉ số này mang lại những kết quả khác nhau. › .
  8. h ROE : LN trên vốn CSH h LN sau thuế h ROE = h Nguồn vốn chủ sở hữu h Nhận xét: › ROE được dùng để đo lường xem Cty tận dụng vốn của NĐT tốt đến mức nào. Hay hiểu một cách đơn giản ROE phản ánh mức độ sinh lời của một Cty, tính hiệu quả trong việc sử dụng tài sản được NĐT trang bị. › Thông thường thì một Cty tốt thì cần phải có ROE cao hơn mức trung bình của các Cty cùng ngành vì điều này cũng đồng nghĩa với việc Cty kiếm được nhiều tiền hơn trên đồng vốn bỏ ra đầu tư › Trung bình toàn thị trường là 20,55% - Chỉ số này tăng cao hàng năm phản ánh tiềm năng tăng LN và quản lý hiệu  quả của cty. c Nói chung, nên tránh những Cty có chỉ số này nhỏ hơn 15%. Hầu hết mọi  ngành, chỉ số này của những Cty hàng đầu thường đạt trong khoảng 20% đến  30%, cá biệt có những Cty đạt trên 40%. Chỉ số này có xu hướng cao lên theo  thời gian do việc áp dụng những công nghệ mới làm giảm chi phí và nâng cao  năng suất
  9. p ROA : LN trên tài sản p LN sau thuế p ROA = p Tổng tài sản p Nhận xét: Thể hiện Cty có được quản lý tốt hay không? Có hai chỉ số phản ánh  tính hiệu quả của bộ máy vận hành Cty: tỷ suất LN trên tổng tài sản (ROA) và  doanh sổ bán hàng trên một nhân viên › ROA cho ta biết Cty thu lợi bao nhiêu từ tổng số tài sản Cty sử dụng (gồm vốn  CSH (vốn góp của tất cả cổ đông) và các khoản vay ­ nợ) › nên tìm Cty có ROA cao hơn các Cty cùng ngành. Trung bình toàn thị trường  11,69%
  10. P Chỉ số LN thuần/doanh thu: Cty hoạt động có lãi nhiều không? Mức LN của Cty  phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược phát triển thị trường, khả năng tiết kiệm chi phí  và sức mạnh cạnh tranh của cty. Nhìn chung thì một cty tốt thường làm ăn có lãi  nhiều hơn các cty cùng ngành. Tuy nhiên, cũng có khá nhiều ngoại lệ, một số doanh  nghiệp phải hy sinh LN trong ngắn hạn để nhắm tới nguồn LN lâu dài. Trung bình  toàn thị trường 9,95% i Chỉ số nợ: Tổng Vay nợ/Vốn : Chính sách về nợ của Cty thế nào? Tỷ lệ nợ trên  tổng vốn giúp chúng ta thấy được khả năng chiếm dụng vốn của Cty. Mỗi ngành  nghề kinh doanh lại có mức độ nợ nần khác nhau, nên chúng ta cần so sánh tỷ suất  nợ với các Cty cùng ngành và với bản thân Cty đang phân tích. Nếu tỷ xuất này có  sự khác biệt lớn, hoặc thay đổi mạnh, đó có thể là tín hiệu rất không tốt. Nếu tỷ suất  này quá cao, Cty có thể đang chìm trong lâm nguy tài chính; nếu nó quá thấp,  doanh nghiệp có thể đã để lỡ cơ hội kiếm thêm tiền cho cổ đông (bằng việc chiếm  dụng thêm vốn của người khác, như vay tín dụng, mua trả chậm v.v.) Trung bình  toàn thị trường: 1,02   Lãi cổ tức (Yield)  ­ Tỷ lệ cổ tức của Cty ra sao? Cổ tức là khoản tiền mà cổ đông  được chia khi Cty làm ăn có lãi, cổ tức cao cũng có nghĩa là cổ đông bỏ túi đều đặn  nhiều tiền. Tuy nhiên bạn phải hết sức thận trọng với chính sách cổ tức của các Cty,  nhiều Cty đang cần vốn để phat triển sản xuất, thậm chí phải vay ngân hàng, nhưng  sợ giá CP sẽ xuống thấp nếu trả cổ tức thấp nên vẫn cố “rút ruột” mình ra, thậm chí  lấy “tạm” tiền vay nợ để trả cho cổ đông. Trong trường hợp này cổ đông giống chủ  nợ của Cty hơn là chủ sở hữu
  11. . Beta (mức biến động giá)  ­ Giá CP của Cty biến động thế nào so với biến động  chung của toàn thị trường? Beta được dùng để đo lường mức độ phản ứng giá của  một CP với các giao động của thị trường trong quá khứ. Bản thân thị trường sẽ có  chỉ số beta = 1. Những CP có beta lớn hơn 1 tức là có độ rủi ro cao hơn thị trường,  khi toàn thị trường bị mất giá, CP có xu hướng mất gia nhiều hơn, tuy nhiên khi thị  trường tăng giá đều đều thì những CP này có xu hướng tăng nhanh hơn. Trên lý  thuyết, NĐT chấp nhận CP có beta cao hơn thường được đền bù bằng thu nhập cao  hơn trong tương lai. l Vốn thị trường  ­ CP này có giúp bạn đa dạng hoá danh mục đầu tư của mình hay không?  Nhìn chung thì bạn nên đa dạng hoá đầu tư của mình để tránh rủi ro tổn thất lớn có thể sảy ra.  Trên thực tế tại các thị trường phát triển, các Cty có vốn thị trường càng lớn thì càng có độ rủi  ro thấp. Do ở Việt Nam hiện nay chưa có tiêu chí thống nhất phân nhóm các Cty theo giá trị thị  trường chúng tôi so sánh vốn thị trường của Cty với vốn thị trường trung bình của toàn thị  trường để bạn tự xác định phân loại CP.
  12. l ROI (Hệ số thu nhập trên đầu tư)  ­ được Cty Du Pont phát triển cho mục đích sử  dụng riêng, nhưng ngày nay nó được rất nhiều Cty lớn sử dụng như là một cách thức  tiện lợi để xác định tổng thể các ảnh hưởng của các biên lợi nhuận doanh thu tổng  tài sản Cách tính  � Thu nhập ròng    Doanh số bán          Thu nhập ròng   ROI   =  X  =         Doanh số bán        Tổng tài sản           Tổng tài sản   Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một Cty, và cách thức Cty  sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu quả, thì thu nhập (và ROI)  sẽ cao, và nếu ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.
  13. h Hệ số Tổng lợi nhuận  ­ Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng  nguyên liệu và lao động trong quy trình sản xuất của ban quản lý một Cty a Cách tính  a                          Doanh số bán    ­  Trị giá hàng bán tính theo giá mua á Tổng lợi nhuận   =         Doanh số bán � Khi chi phí lao động và chi phí nguyên vật liệu tăng nhanh, hệ số tổng lợi nhuận chắc chắn sẽ  giảm xuống, trừ khi Cty có thể chuyển các chi phí này cho khách hàng của mình dưới hình  thức nâng giá bán sản phẩm. Một cách để tìm xem các chi phí này có quá cao không là so  sánh hệ số tổng lợi nhuận của một Cty với hệ số của các Cty tương đồng. Nếu hệ số tổng lợi  nhuận của các Cty đối thủ cạnh tranh cao hơn, thì Cty cần phải thực hiện một biện pháp nào  đó để có được sự kiểm soát tốt hơn đối với chi phí lao động và nguyên liệu.
  14. h Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết Ban quản lý của một Cty đã thành công đến  mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của Cty Cách tính                                                  EBIT   lợi nhuận hoạt động   =         Doanh thu   EBIT là thu nhập trước thuế và lãi hay chính là thu nhập tính được sau khi lấy doanh thu trừ trị  giá hàng bán đã tính theo giá mua và các chi phí hoạt động. t Hệ số này là một thước đo đơn giản nhằm xác định đoàn bẩy hoạt động mà một Cty đạt được  trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết  một Đô la doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu EBIT. Hệ số lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là  quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà  quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ  đó họ có thể xác định xem Cty hoạt động có hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm  đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí vốn.
  15. ð Hệ số lợi nhuận ròng là hệ số từ mọi giai đoạn kinh doanh. Nói cách khác đây, là tỷ  số so sánh lợi nhuận ròng với doanh số bán. h Cách tính  h                                        Mức lãi ròng   Hệ số lợi nhuận ròng   =   Doanh thu r Một số Cty có mức lợi nhuận ròng hơn 20%, và một số khác có chỉ đạt khoảng từ 3% đến 5%.  Hệ số lợi nhuận ròng giữa các ngành khác nhau là khác nhau. Thông thường, các Cty được  quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao hơn vì các Cty này quản lý các nguồn  vốn của mình có hiệu quả hơn. Xét từ góc độ nhà đầu tư, một Cty sẽ ở vào tình trạng thuận lợi  sẽ có mức lợi nhuận ròng cao hơn lợi nhuận ròng trung bình của ngành và nếu có thể, có mức  lợi nhuận liên tục tăng. Ngoài ra, một Cty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả­ ở bất  kỳ doanh số nào thì mức lợi nhuận ròng của nó càng cao.
  16. ì Hệ số thu hồi nợ trung bình  cho bạn biết Cty đó phải mất bao lâu để chuyển các  khoản phải thu thành tiền mặt. Lưu ý rằng doanh số bán thu tiền ngay được loại khỏi  tổng doanh thu. h Cách tính  h                                         các khoản phải thu h Hệ số thu hồi nợ trung bình  =   Doanh số bán chịu hàng năm /360 ngày u Ví dụ: Nếu bảng cân đối kế toán của một Cty cho biết số liệu của các khoản phải thu là 700tr  và báo cáo thu nhập của nó cho biết doanh số bán chịu là 5tỷ5  thì h                                                    700.000 .000   Kỳ thu hồi nợ trung bình =        = 45.8 ngày. �                                             5.500.000.000/ 360 ngày Cũng như các hệ số khác, kỳ thu hồi nợ trung bình phải được xem xét trong mối liên hệ với các  thông tin khác
  17. v Hệ số thu hồi nợ trung bình  Nếu chính sách của Cty là bán chịu cho khách hàng  trong vòng 38 ngày thì thời hạn 45.8 ngày cho thấy là Cty gặp khó khăn trong việc  thu hồi nợ đúng hạn và cần xem xét lại chính sách bán chịu của mình. Ngược lại,  nếu chính sách thông thường của Cty là ấn định thời hạn thu hồi nợ là 55 ngày, thì  thời hạn trung bình 45.8 ngày cho thấy chính sách thu hồi nợ của Cty là có hiệu quả.  Cần chú ý là hệ số thu hồi nợ trung bình chỉ là một số trung bình và có thể dẫn đến  sự hiểu nhầm. Ví dụ, xem xét Cty A và b, có cùng giá trị các khoản phải thu nhưng  có thời biểu thu hồi nợ khác nhau. % nợ thu hồi được  % nợ thu hồi được trong  % nợ thu hồi được  trong 10 ngày 30 ngày trong 60 ngày Cty A 10 30 60 Cty B 60 30 10 Giả sử Cty A và Cty B có chung một số lượng khách hàng, khoản phải thu thì thời hạn  thu hồi nợ trung bình của hai Cty này sẽ giống nhau. Nhưng việc phần bổ các kỳ thu hồi  nợ lại là yếu tố không được đề cập đến trong hệ số, rõ ràng Cty B có lợi thế hơn nếu chỉ  nhìn trên bảng hệ số thu hồi nợ trung bình
  18. i Hệ số thanh toán trung bình  Đối lập với các khoản phải thu là các khoản phải trả.  Để tìm ra thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải thu, ta chia các  khoản phải trả cho tiền mua hàng chịu mỗi năm. h                                                                    Các khoản phải trả r Thời hạn thanh toán trung bình = o                                                                Tiền mua hàng chịu hàng năm / 360 ngày Tuy nhiên, tiền mua hàng chịu hàng năm không được đề cập trong một báo cáo tài chính. Để  có được số liệu này, phải dự tính tỷ lệ giá trị hàng hoá được mua chịu n Ví dụ: Giả định rằng số liệu các khoản phải trả của Cty là 275.000 USD. Nếu giá mua hàng là  3.000.000 USD và dự tính là 80% hàng hoá này được mua chịu thì thời hạn thanh toán trung  bình là bao nhiêu? Số tiền mua chịu hàng năm sẽ là 2.400.000 USD (3.000.000 x 0.80). Bây  giờ, thời hạn thanh toán trung bình đối với các khoản phải trả có thể được tính như sau: a                                                                           275.000 USD   Thời hạn thanh toán trung bình =    = 41.3 ngày o                                                                    0.8 * 3.000.000 / 360 ngày
  19. : Hệ số thanh toán trung bình: qua ví dụ trên Thời hạn thanh toán trung bình (đối với  các khoản phải trả) của Cty là 41.3 ngày. Bất kỳ thời hạn nào ngắn hơn có nghĩa là người bán  dành cho Cty một khoản chiết khấu hoặc người bán cho rằng Cty đang trong tình trạng rủi ro  cao nên đã đưa ra các điều khoản chặt chẽ hơn về thời hạn thanh toán nợ. Bất kỳ thời hạn nào  dài hơn cũng có nghĩa là Cty đã nhận được các điều khoản tín dụng ưu đãi, hay Cty là một  “người trả chậm”, tức là Cty đang sử dụng những người cung cấp nguyên liệu như một nguồn  tài trợ. ,  Người bán, nói chung bao giờ cũng muốn nhận được tiền càng sớm càng tốt, thường tính toán  hệ số này nhằm biết được bao lâu thì họ có thể thu hồi tiền của mình từ Cty. Do việc thanh  toán chậm thường có lợi cho Cty, nên nhà quản lý ­ người kiểm soát việc thanh toán có nhiệm  vụ phải làm cân bằng hai thái cực lợi ích giữa nhà cung cấp và Cty.  Nếu thời hạn thanh toán  trung bình của ngành vượt quá hệ số của Cty, thì nhà quản lý có thể tìm ra lý do tại sao việc  mua chịu của Cty lại bị hạn chế và phải làm gì để có được thời hạn mua chịu dài hơn từ những  nhà cung cấp.
  20. Œ Hệ số hàng lưu kho  Tỷ lệ doanh số hàng bán trên hàng lưu kho là quan trọng đối  với Cty bởi vì hàng lưu kho là loại tài sản ít lưu hoạt nhất trong các tài sản lưu động.  Vì Cty phải dùng một lượng vốn để duy trì hàng lưu kho nên Cty sẽ được lợi khi bán  hàng càng nhanh càng tốt lượng hàng này để giải phóng tiền mặt cho các mục đích  sử dụng khác c Cách tính  c                          Gía trị hàng đã bán tính theo giá mua b Hệ số hàng lưu kho  =   Giá trị hàng lưu kho trung bình    Ví dụ: Nếu giá trị hàng hoá bán hàng năm của một Cty là $ 3.000.000 (tính theo giá mua) và  giá trị hàng lưu kho trung bình là $ 300.000, thì tỷ lệ hàng đã bán trên hàng lưu kho của Cty  này sẽ là 10 lần   Số liệu này phải được so sánh với hệ số trung bình của ngành trước khi đưa ra bất kì một bình luận  nào, vì các hệ số trung bình của từng ngành khác nhau rất lớn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản