Giáo trình sinh sản gia súc - chương 2

Chia sẻ: Le Quang Hoang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:20

0
267
lượt xem
113
download

Giáo trình sinh sản gia súc - chương 2

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

CHƯƠNG II. QUÁ TRÌNH MANG THAI Ở GIA SÚC Mục đích: Trình bày những biến đổi khi mang thai của gia súc mẹ (cùng với bào thai) và các phương pháp chẩn đoán gia súc có thai, từ đó có biện pháp chăm sóc, quản lý hợp lý. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình sinh sản gia súc - chương 2

  1. CHƯƠNG II. QUÁ TRÌNH MANG THAI Ở GIA SÚC Mục đích: Trình bày những biến đổi khi mang thai của gia súc mẹ (cùng với bào thai) và các phương pháp chẩn đoán gia súc có thai, từ đó có biện pháp chăm sóc, quản lý hợp lý. Thời lượng giảng dạy: 7 tiết I. THỜI GIAN MANG THAI VÀ SỐ LƯỢNG THAI 1. Thời gian mang thai Thời gian mang thai được tính từ lúc con vật thụ thai (thường tính từ khi phối giống) đến khi đẻ. Bò: 9 tháng 10 ngày; Trâu: 11 tháng; Ngựa: 11 tháng; Dê, cừu: 5 tháng; Lợn: 3 tháng 3 tuần 3 ngày; Chó, mèo: 2 tháng; Hươu: 7 – 7.5 tháng, thỏ: 1 tháng... [3] Số liệu trên chỉ là tương đối trong thực tế còn phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi (già >non, lứa 1>lứa 2), giống, thời tiết khí hậu, dinh dưỡng, số thai (1 thai>2 thai), thai đực>cái... 2. Số lượng thai + Đơn thai: 1-2 con như ở trâu bò, ngựa + Đa thai: - Tuỳ theo giống và loài và thậm chí từng cá thể: Lợn nội trung bình 12-16 con, lợn ngoại từ 8-12 con, dê cừu: 3-5 con, thỏ 2-4 con, chó 2-5 con, mèo: 2-4 con... - Do tuổi khác nhau, ở gia súc đa thai lứa đầu thường ít hơn lứa sau. - Do điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc mùa vụ. - Do kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (thời điểm, phẩm chất tinh, kỹ thuật dẫn tinh). 23
  2. II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA THAI 1. Sự làm tổ của hợp tử Hình 15. Quá trình làm tổ của phôi [4] Sau khi thành hợp tử, hợp tử sống ở ống dẫn trứng và tiếp tục phát triển nhờ dinh dưỡng của noãn hoàng và dịch tiết ống dẫn trứng. Ít ngày sau (tuỳ từng loài gia súc, khoảng 3-4 ngày) hợp tử di chuyển về làm tổ tại nơi cư trú ở tử cung. Sự di chuyển được của hợp tử nhờ chất dịch của vòi trứng, hoạt động của lông nhung ở vòi trứng và tác dụng co giãn của vòi trứng dưới tác động của hormone Progesteron. Trong quá trình di chuyển thì hợp tử đã thực hiện nhiều giai đoạn của quá trình phân chia, khi đến tử cung hợp tử có dạng phôi dâu (32-64 tế bào). Khi đến nơi cư trú hợp tử tiết ra một loại men ăn mòn niêm mạc tử cung và cư trú tại đó và phát triển thành bào thai. Thời gian làm tổ của hợp tử cũng tuỳ từng loài gia súc, ví dụ như ở bò là 1- 3,4 tháng, ngựa 7-14 tuần, cừu 30-80 ngày, lợn 12-24 ngày… Ngay trong những giai đoạn phát triển đầu lá phôi nằm sát và dính với niêm mạc tử cung, lúc đầu liên kết còn yếu sau đó dần dần bền chặt hơn. Vì vậy trong giai đoạn đầu của gia súc có chửa chúng ta cần chú ý trong chăm sóc, nuôi dưỡng và sử dụng gia súc hợp lý để tránh sẩy thai. 2. Màng thai Sau khi làm tổ ở thành tử cung, phôi tiếp tục được phát triển và nhau thai được hình thành. Trong một số tuần đầu các tế bào trên bề mặt túi phôi đã bài tiết ra enzim để 24
  3. phân huỷ tế bào của thành tử cung ở vùng xung quanh phôi để cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi tiếp tục sinh trưởng và phát triển. Trong nhau thai cũng đã bắt đầu cung cấp một ít chất dinh dưỡng và oxy ngay từ những tuần lễ đầu, sau đó thì nhau thai hoàn toàn đảm nhiệm được chức năng dinh dưỡng cho phôi. Máu của con mẹ và máu của thai không được trộn lẫn với nhau mà chỉ trao đổi chất dinh dưỡng, khi đi qua màng ngăn cách thông qua cuống rốn cho đến khi sinh đẻ. 2.1. Màng ối: Là màng trong cùng, gần thai nhất, có hình bầu dục, ở lỗ rốn của thai màng ối và da của thai dính lại. Màng ối thường trong suốt, qua màng có thể nhìn thấy thai nhi. Giữa màng ối và màng niệu có mạng lưới huyết quản phân bố đều do từ dây rốn lại. Túi trong của màng ối có nước ối. Nước ối lúc đầu có màu trong sau đó vàng nhạt. Nước ối giảm vào thời kì cuối có thai như ở bò: 5-7 lít, ngựa 3-4 lít, ở lợn thì ít hơn. Thành phần hoá học chủ yếu của nước ối chủ yếu là các chất: Protein, Ure, kích tố nhau thai, sinh tố, muối, đường. Trong nước ối còn chứa chất giống kích tố hậu yên (oxytoxin) có tác dụng làm con bóp tử cung -> khi đẻ thường lấy nước ối cho uống để kích thích bong nhau. Tác dụng chính của nước ối: - Giữ cho thai nhi ở vị trí cân bằng tránh sự chèn ép của cơ quan phủ tạng con mẹ. - Giúp cho thai nhi tránh được tác nhân cơ học bên ngoài - Làm cho các tổ chức xung quanh không dính vào thai nhi.- Khi đẻ túi màng ối chưa vỡ đè lên và kích thích cổ tử cung và khung xương chậu mở, nước ối vỡ ra có tác dụng bôi trơn âm đạo. 25
  4. Hình 16. Mối liên hệ mẹ và thai qua hệ thống nhau 2.2. Màng niệu Nằm giữa màng đệm và màng ối. Màng niệu có thể coi như là bóng đái ngoài cơ thể. Trong màng niệu có nước niệu có thành phần hoá học chủ yếu là Ure và một số muối. Thời kỳ đầu nước ối lớn hơn nước niệu, thời kì sau thì ngược lại. * Lưu ý: Sự khác nhau giữa màng niệu ngựa và các loài gia súc khác. - Ở ngựa: lớp màng niệu phủ lên toàn bộ bề mặt của màng ối cho nên khi đỡ đẻ cần chú ý vì khi đẻ màng niệu đệm đã rách, túi màng niệu ối bao mặt ngoài của thai nhi cùng với thai nhi lọt vào chỗ rách của màng niệu đệm để sổ ra ngoài, ngựa khi đẻ thường nằm nên thai ra nhẹ, màng niệu ối dầy không rách được do vậy dễ làm cho thai nhi bị ngạt. Gặp trường hợp trên phải lập tức xé màng niệu ối ngay để cứu thai nhi. - Màng niệu của các gia súc khác không bao toàn bộ bề mặt ngoài của màng ối mà chỉ che phủ mặt dưới và hai bên, vì vậy khi gia súc đẻ trước tiên là màng ối ló ra âm môn nên bị vỡ trước. 2.3. Màng nhung (còn gọi là màng đệm) Là màng ngoài cùng, trên màng nhung có lông nhung (núm nhau). Cấu tạo núm nhau của trâu bò theo hình đít bát khác với một số loài gia súc khác nên dễ bị sát nhau. Lông nhung tiếp xúc với nhau mẹ ở niêm mạc của tử cung và ở đây xảy ra trao đổi chất giữa cơ thể con mẹ và con con. 26
  5. Hình 17. Sơ đồ màng thai gia súc [5] 27
  6. 3. Sự biến đổi của gia súc cái khi có thai 3.1. Sự biến đổi toàn thân Khi gia súc có thai, các kích tố nhau thai và kích tố của thể vàng làm ảnh hưởng đến cơ năng các tuyến khác. Do đó ở thời kỳ đầu quá trình trao đổi chất tăng lên, dẫn đến con vật ăn khoẻ, tiêu hoá manh, khả năng tích luỹ lớn dần dẫ đến con vật nhanh béo. Ở thời kỳ cuối của thai do yêu cầu phát triển mạnh của bào thai nó phải hấp thụ chất dinh dưỡng từ con mẹ, nên con mẹ thường gầy đi. Vì vậy, trong thực tế chăn nuôi giai đoạn chửa cuối chúng ta cần phải chú ý chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo nhất là về chế độ dinh dưỡng. Trong thời gian có chửa Glycogen tích luỹ ở gan, mỡ trung tính và Colesteron trong máu tăng lên. Lượng Hemoglobin trong máu bình thường, máu nhanh đông hơn. Lượng Ca, P trong máu giảm xuống vào thời kỳ có chửa sau (có thể dẫn đến bại liệt), nhưng lượng K lại tăng lên. Hoạt động của tim, phổi trở nên khó khăn do áp lực của bào thai đè lên xoang bụng và xoang ngực. Qúa trình lưu thông máu, sự hô hấp và bài tiết đều bị ảnh hưởng. Do vậy, ở kỳ cuối có chửa con vật thường bị phù nề, khó thở, hay đi tiểu tiện, có thể mệt mỏi, toát mồ hôi. Sự chèn ép của thai có thể làm thay đổi tuần hoàn xoang chậu, phù thũng hai chân sau. 3.2. Sự biến đổi của bộ máy sinh dục - Buồng trứng: thể tích buồng trứng to lên, khi khám qua trực tràng ta thấy thể vàng, ở trâu bò thường là một thể vàng còn ở lợn thì số thể vàng thường nhiều hơn thai nhi do trứng rụng mà không được thụ thai hoặc bị sẩy thai. 28
  7. - Tử cung: thể tích và trọng lượng tử cung tăng lên, dây chằng tử cung căng do đó buồng trứng kéo về phía trước và hơi xuống thấp. Máu được lưu thông đến tử cung rất nhiều tạo điều kiện tăng chất dinh dưỡng để nuối bào thai. - Cổ tử cung: bình thường cổ tử cung đóng kín tách biệt tử cung với âm đạo. Nhưng khi có chửa thì tử cung đóng chặt hơn, niêm mạc dày lên, trên niêm mạc có tế bào thượng bì tiết ra niêm dịch keo dính gây hiện tượng đóng nút cổ tử cung. Niêm dịch này lúc đầu có màu trăng sau đó chuyển sang màu vàng, đến nâu tuỳ theo tuổi của thai. Trước khi đẻ khoảng 1 tuần dịch này long ra và chảy ra ngoài. 4. Chẩn đoán có thai ở gia súc Gia súc cần chẩn đoán có thai sớm, chính xác. Nếu không có thì có thể do cơ quan sinh dục, hiện tượng động dục, rụng trứng, thời gian, phương pháp phối, phẩm chất tinh... Nếu có thai thì có kế hoạch nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng, khai thác... 4.1. Chẩn đoán theo phương pháp lâm sàng 4.1.1. Dùng đực thí tình Người ta cho đực thí tình vào chuồng gia súc cái đã được thụ tinh qua một chu kỳ, nếu con cái chịu đực là chưa có thai. Thường dùng cho trâu bò và rất thuận lợi cho các cơ sở chăn nuôi tập thể, chăn nuôi công nghiệp. 4.1.2. Quan sát bên ngoài Kết hợp quan sát với sờ, nắn, gõ, nghe. Khi con vật có thai thì: - Không động dục ở các chu kỳ tiếp theo - Thời gian đầu con vật ăn tốt, hay uống nước -> béo sau đó gầy đi - Ép tay vào thành bụng, nghe tim thai... thấy máy động của bào thai - Con vật yên tĩnh, đi lại chậm chạp, thận trọng, chóng mệt Hình 18. Khám thai qua trực tràng 29
  8. - Phù tứ chi, phía dưới thành bụng, tuyến vú - Thay đổi trạng thái cân bằng, đối xứng hai bên thành bụng, độ lớn của bụng... Phương pháp này thường chỉ phát hiện được ở những tháng chửa cuối. 4.1.3. Phương pháp khám qua âm đạo Dùng mỏ vịt đưa vào cơ quan sinh dục con cái, mở nó ra và thông qua hệ thống đèn soi hay ánh sáng tự nhiên để phát hiện có thai qua sự thay đổi thể tích, màu sắc, dịch tiết... Phương pháp này khó, không phát hiện được tuổi của thai và dễ dàng làm sẩy thai, gây viêm đường sinh dục nên rất ít làm. 4.1.4. Phương pháp khám qua trực tràng Dùng tay đưa vào trực tràng thông qua đó kiểm tra các bộ phận của cơ quan sinh dục cái và bào thai. Được áp dụng cho trâu bò, lợn ngoại, ngựa. Đây là phương pháp tiên tiến, dễ tiến hành đối với các cơ sở sản xuất không có trang thiết bị chẩn đoán. a. Mục đích - Chẩn đoán được con vật có thai hay không - Đoán được thai tháng thứ mấy - Xác định và phát hiện những gia súc mang bệnh sản khoa b. Các căn cứ để khám thai - Sự thay đổi của rãnh tử cung - Sự thay đổi thể tích của sừng tử cung - Hoạt động của động mạch tử cung - Kích thước của thai và thể tích núm nhau - Vị trí của bào thai - Thể tích và sự thay đổi bề mặt buồng trứng c. Phương pháp khám thai đối với bò Giới thiệu 30
  9. Chẩn đoán có thai cung cấp một công cụ hữu ích trong quản lý các hệ thống chăn nuôi bò thịt. Trong chương này, những lợi ích của kỹ thuật này đối với các nhà chăn nuôi bò vùng Bắc Australia cũng như việc đưa ra sự đánh giá các giai đoạn khác nhau của quá trình có chửa ở bò thịt sẽ được thảo luận ngắn gọn. Không bao giờ được đánh giá thấp tầm quan trọng của việc xác định tuổi thai. Tỷ lệ có chửa của lần phối giống đầu tiên, liên quan với tuổi của con giống và lượng mưa, hình thành nên một cơ sở cần thiết để giải thích các kết quả. Lập các chương trình một cách hợp lý để tác động đến tỷ lệ sinh sản chỉ có thể thực hiện được với những ghi chép đầy đủ. Những lợi ích có thể đạt được từ việc chẩn đoán có chửa hiệu quả bao gồm: 1. Lựa chọn những bò giống không có chửa để loại thải, thay vì loại thải vì tuổi. 2. Phát hiện và đánh giá những những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của đàn. 3. Đưa ra các biện pháp nhằm giảm nhẹ ảnh hưởng của hạn hán đối với bò giống. 4. Hình thành các nhóm bò theo giai đoạn mang thai, hoặc là theo mục đích bán, hay chỉ đơn giản là để quản lý. 5. Lựa chọn một cách có hiệu quả để điều trị khi có bệnh chậm sinh. 6. Tránh phối giống những con bò có biểu hiện động dục trong lúc có chửa. 7. Mua bán hợp lý, ví dụ, bán những con giống bị loại thải, và bán lại những con bò không có chửa ngay lập tức. 8. Lựa chọn những con cái cho mục đích thí nghiệm khi mà tình trạng, và/hay giai đoạn có chửa có thể ảnh hưởng đến kết quả. 9. Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản. Kiểm tra bò bằng sờ khám qua trực tràng được chấp nhận rộng rãi vì là phương pháp thực tế đáng tin tưởng nhất để phát hiện có chửa, và ước lượng tuổi của thai khi không có số liệu phối giống. Điều này là do sự chính xác và tốc độ nhanh của sờ khám qua trực tràng đối với tuổi. Mức độ dễ mà theo đó chẩn đoán có thể thực hiện được ở mỗi cá thể gia súc đầu tiên phụ thuộc vào các yếu tố: 1. Giai đoạn có chửa. 2. Sự kháng cự của gia súc (nhu động). 3. Sự kháng cự của gia súc phụ thuộc vào tính khí và phương pháp cố định gia súc. 4. Số lứa đẻ của gia súc. Mỗi một yếu tố, đặc biệt là sự kháng cự của gia súc, ảnh hưởng đến tốc độ kiểm tra số lượng lớn bò. Những yếu tố bổ xung quan trọng hơn bao gồm: 1. Thiết kế và xây dựng gióng giá và sân kiểm tra. 2. Nhân công sẵn có để lùa gia súc và để làm những công việc tại chỗ kiểm tra bò. 31
  10. 3. Tỷ lệ có chửa của đàn. 4. Sự có mặt, và tỷ lệ đàn hồi phục tử cung sau khi đẻ hay sẩy thai, và 5. Sự thống nhất của người kiểm tra có kinh nghiệm khi kiểm tra một số lượng lớn gia súc. Các bước được tiến hành, và những dấu hiệu đặc biệt của sự có chửa để phát hiện việc có chửa, và việc xác định tuổi của thai, rất dao động giữa các cá thể. Vì hầu hết những dao động này phụ thuộc vào giai đoạn có chửa, nên xác định có chửa ở giai đoạn đầu thuận lợi hơn so với việc xác định có chửa ở giai đoạn giữa và giai đoạn cuối của quá trình có chửa. Những đặc điểm không có chửa Bốn đặc điểm chính phân biệt tử cung bình thường không có chửa: 1. Không có dịch trong sừng tử cung. 2. Cả hai sừng tử cung đều có thành dày. 3. Cả hai sừng tử cung đều thuôn nhỏ về phía cuối. 4. Cả hai sừng tử cung đều cong nhẹ. Kích thước, sự ổn định và vị trí của tử cung bình thường không có chửa là do sự thành thục giới tính, lứa đẻ, giống, giai đoạn của chu kỳ động dục. Kích thước của sừng tử cung từ trước khi thành thục giới tính đến khi bắt đầu có chửa có đường kính khoảng 12,7mm và dài khoảng 203mm. Tăng kích thước tử cung xuất hiện khi bắt đầu có chửa đến khi sừng tử cung đạt tới đường kính 38mm, độ dài 356mm. Có những sự khác biệt nhỏ xuất hiện ở kích thước sừng tử cung tương ứng.Trương lực cơ tử cung rất nhỏ trong thời kỳ không động dục và trước khi gia súc thành thục giới tính. Trương lực cơ tử cung dao động ở những gia súc có chu kỳ. Trương lực cơ tăng là một đặc tính phổ biến của gia súc trong lúc động dục, trong khi đó trương lực cơ trung bình ở giữa chu kỳ động dục. Tử cung không có chửa thường nằm trong xương chậu. Khoảng 5% gia súc đẻ nhiều lứa có tử cung vẫn nằm lại trong xoang bụng sau khi kết thúc hồi phục sinh lý. Phát hiện này có khuynh hướng xuất hiện phổ biến hơn ở bò Brahman và các giống lai. Phát hiện có chửa sớm Những thay đổi sớm nhất có thể sờ khám được ở tử cung có chửa là: 1. Thành tử cung mỏng hơn. 2. Có dịch trong tử cung, và 3. Không sờ thấy sừng tử cung thon về phía cuối. Những thay đổi này xuất hiện đầu tiên ở buồng trứng phía cuối sừng tử cung có thai. Khi dịch màng ối tích lũy những thay đổi tương tự cũng xuất hiện ở sừng tử cung không có thai trong vòng hai tuần. Có ba dấu hiệu của có chửa ở giai đoạn đầu có thể phát hiện được ở bò đã đẻ nhiều lứa có thể trạng tốt vào tuần mang thai thứ sáu. Do đường kính của tử cung nhỏ hơn và thành tử cung mỏng hơn ở bò hậu bị so với bò cái đã đẻ nhiều lứa có thể trạng kém nên những thay đổi này có thể được phát hiện sớm hơn một tuần. 32
  11. Khi cả 2 sừng tử cung được lấp đầy bởi dịch màng ối vào lúc 8 tuần tuổi, thì sừng tử cung cong lên phía trên các mạch máu màng ối. Sức căng của tử cung đã tác động đến thành tử cung và làm mất độ cong của sừng có thai và không làm mất độ cong của sừng không có thai. Sự hiện diện của các núm nhau và sự có mặt của thai là những yếu tố cơ bản để khẳng định sự có chửa. Núm nhau xuất hiện khi thai 5 tuần tuổi. Tuy nhiên, thường là vào lúc 13 tuần có chửa thì kích thước núm nhau mới đủ to để xác định được bằng sờ khám qua trực tràng. Nhu động của thai vào lúc 10 tuần tuổi là một căn cứ để xác định có chửa khi khám thai. Trước giai đoạn này, kích thước của thai và các mạch máu màng ối bao quanh làm cho việc xác định thai khó khăn, thậm chí không thể xác định được. Nhịp đập động mạch giữa tử cung, phía sừng có thai có thể xác định được vào lúc 13 tuần tuổi ở hầu hết bò hậu bị. ấn ngón tay lên thành động mạch có thể xác định được nhịp đập động mạch. Động mạch tử cung là một trong những căn cứ có giá trị để xác định có chửa. Kiểm tra Finscher: sự trượt của màng thai có thể xác định ở tuần thứ 5, mặc dầu sức căng của thành tử cung đã làm cho khó xác định bằng phương pháp này khi thai ở 8 tuần tuổi. Trong khi phương pháp kiểm tra này rất phổ biến ở Mỹ, nhiều người cho rằng phương pháp này không cần thiết, bởi vì phương pháp này dễ làm bong sự kết dính núm nhau ở giai đoạn đầu có chửa, phương pháp kiểm tra này nên hạn chế để chẩn đoán phân biệt khi nghi ngờ có chửa. Có thể sờ khám màng ối khi có chửa 5 tuần và một số người đã dùng để phát hiện có chửa và để xác định tuổi thai. Vì tim thai có thể dễ xác định hơn, không phải chỉ căn cứ vào mạch máu, màng ối có thể bị bong ra, vì vậy phương pháp kiểm tra mạch máu màng ối không được khuyên dùng. Xác định tuổi thai trong giai đoạn mới có chửa Tuổi thai có thể đoán chính xác vào tuần thứ 6 đến tuần 13 của thời kỳ có chửa. Đặc điểm phát triển của tử cung được sử dụng để đoán tuổi thai được mô tả ở Bảng 4 . Mức độ dịch trong sừng tử cung là căn cứ để xác định tuổi thai đến 8 tuần tuổi. Giữa tuần thứ 8 và 13 thì kích thước tuyệt đối và tương ứng của sừng tử cung được dùng cho xác định tuổi thai. Ở một số cá thể, có ít hoặc không có màng nhau phát triển ở sừng không có chửa. Trong những trường hợp này, kích thước tuyệt đối của sừng mang thai tăng lên nhanh hơn bình thường. Sừng tử cung cong lên phía trên và căng cứng xuất hiện bên sừng có thai, trong khi đó thành sừng không có thai vẫn dầy và không có dịch, sự khác nhau này là sự phát triển bình thường. Khám thai sau khi có chửa 3 tháng Trọng lượng nước ối sau 3 tháng kéo tử cung xuống xoang bụng. Cổ tử cung bị kéo sát xuống xoang chậu, trong khi đó trọng lượng kéo nó xuống đáy xoang chậu. Ảnh hưởng của trọng lượng là biểu hiện bằng chứng hiển nhiên ở giữa hoặc cuối giai đoạn có 33
  12. chửa. Sự chửa phải được khẳng định bằng sờ khám được thai, núm nhau hoặc động mạch tử cung. Khám thai phụ thuộc vào kích thước và vị trí nhưng có thể xác định được tất cả các giai đoạn. Tuy không phải là phổ biến, khó chạm đến thai nhất là vào tháng thứ 5 và thứ 7, đặc biệt là từ giữa tháng có chửa thứ 5 đến giữa tháng thứ 6. Xác định núm nhau không khó. Sờ vào phía trên khối thai sẽ xác định được núm nhau. Động mạch tử cung- ở một số ít trường hợp, khi mà cả thai và núm nhau đều không sờ thấy hoặc không chắc chắn, thì xác định động mạch tử cung là điều cần thiết ở cả 1 hoặc cả 2 động mạch ở giữa tử cung. Ở tháng có chửa thứ 3, động mạch phía sừng tử cung chứa thai có đường kính 3,2mm và rất mờ nhạt. Đường kính động mạch tử cung gấp đôi và xác định rõ khi thai 4 tháng. Động mạch tử cung tiếp tục phát triển và đường kính đạt 12.7mm vào lúc thai 8 tháng, lúc này động mạch tử cung đập mạnh, dễ xác định. Ở sừng tử cung không chứa thai, mạch đập động mạch tử cung vẫn mờ nhạt khi thai 7 tháng tuổi và có thể xác định rõ khi thai 8 tháng tuổi . Xác định tuổi thai giai đoạn sau tháng chửa thứ 3 Kích thước thai có thể dùng để đoán tuổi đến khi 4 tháng. Khi đó có thể xác định được sự cong xuống thấp của tử cung. Xác định tuổi vào giai đoạn giữa và cuối có chửa chủ yếu dựa vào kích thước núm nhau. Kích thước núm nhau trên chiều dài của tử cung rất khác nhau vì vậy cần thiết phải lựa chọn vị trí tiêu chuẩn để đánh giá. Vì vậy người ta quy định chung là khám các núm nhau ngay phía sát cổ tử cung vì có kết quả thống nhất và thuận tiện trong việc khám thai. Vị trí của thai, mặc dầu đã được nhiều người dùng để xác định tuổi thai, nhiều khi bị nhầm lẫn do sự biến động rất lớn. Đặc biệt chú ý khi khám cho bò bị đói ăn, thiếu nước uống trong một thời gian. Trong những trường hợp này thì vị trí thai sẽ rất khác so với bò được ăn uống đầy đủ. Kích thước thai cũng cần được bổ xung thêm để xác định tuổi thai. Ở một mức độ hạn chế, quan sát bên ngoài cũng là một công cụ để xác định có chửa ở giai đoạn đầu. Sự phát triển của bầu vú và sưng mọng của âm hộ là những căn cứ tốt trước khi bò đẻ. Khi có các biểu hiện như vậy ít nhất thì thai cũng trên 8 tháng. Các căn cứ để xác định tuổi thai được tổng kết ở Bảng 5. Chẩn đoán phân biệt Bóng đái • Bóng đái không có rãnh chia đôi • Cổ bóng đái ở phía dưới hay song song với cổ tử cung, gắn đối ngược với thân tử cung. • Không có núm nhau. • Không có sự va động khi khám phải bóng đái. 34
  13. • Tiếp tục kiểm tra sẽ xác định được tử cung. Tử cung ở giai đoạn đầu hồi phục • Không có núm nhau và không xác định động mạch đập. • Không có sự va động của thai. • Thành tử cung dày. • Cổ tử cung to toàn bộ. • Dịch tử cung và chất thải dễ thấy ở âm hộ. • Thể trạng cơ thể và sự phát triển bầu vú là các căn cứ để xác định bò mới đẻ hay sẩy thai. Tử cung ở giai đoạn cuốí hồi phục • Thành tử cung dày. • Có dịch nhưng thành tử cung không căng. • Ít khi có thể vàng trên buồng trứng. • Đôi khi quan sát thấy dịch ở âm hộ • Kiểm tra Finscher- âm tính. Tích mủ , tích nước và viêm tử cung • Thành tử cung dày. • Dịch âm hộ biểu hiện viêm tử cung. • Tử cung phía trên không căng lên. • Kiểm tra Finscher- âm tính. Viêm nội mạc tử cung • Thành sừng tử cung dày mềm về phía cuối sừng và cong nhẹ. • Không có dịch • Kiểm tra Finscherếs-âm tính Viêm cơ tử cung • Phân biệt với giai đoạn giữa của kỳ chửa • Tử cung có thành dày • Không có núm nhau và • Không thể phát hiện khối thai • Phân biệt với giai đoạn chửa sớm • Tử cung có sừng dày • Sừng tử cung không cong lên phía trên • Kiểm tra Finscher-âm tính Thai gỗ • Không có dịch màng ối, núm nhau và mạch đập tử cung. 35
  14. • Khối thai hoặc là “chắc và nhão” hay “Cứng như đá”. Buồng trứng • Phân biệt với núm nhau • Có hình dáng đẹp, nếu có mặt của thể vàng • Cứng đồng đều hơn so với núm nhau • Có vị trí ở phía bên so với thân tử cung Các thiết bị gióng giá Thiết kế và xây dựng gióng giá rất khác nhau và ảnh hưởng lớn đến sự thuận tiện, tốc độ và độ an toàn khi kiểm tra. Cổng bên đối với người kiểm tra là tốt nhất. Cổng xoay một mình hay kết hợp với cổng trượt rất được ưa thích. Nên dùng cổng bên để ngăn cách những bò đang đợi, cổng phải xoay chắc chắn, vừa với một người kiểm tra. Việc cố định gia súc trong lúc kiểm tra nên hạn chế tối thiểu. Giữ bò ở phía đầu thường mất nhiều thời gian, và làm khuấy động cả đàn. Nếu một gia súc phải được cô lập để kiểm tra thì cần phải có dây thừng, dây xích hay thanh gỗ chắn ngang phía sau để tránh bị đá. Ở những nơi mà hai hay ba con bò có thể được giữ ở trong gióng giá phía trước của lối vào phía bên, thì dây thừng hay thanh gỗ để đề phòng bò đá là không cần thiết và khó thực hiện. Với sự bố trí này, một bò đã được kiểm tra được giữ lại trong róng giá để giữ những con bò tiếp theo trong lúc kiểm tra. Khám ở phía sau gióng giá với những bò bình tĩnh có thể cần thiết với với những gióng giá ngắn mà không có lối vào ở bên. 36
  15. Phương pháp này loại bỏ việc cần thiết phải vào chuồng gia súc giữa các lần khám vì sự an toàn của người khám và tốc độ khám. Khi phương pháp này là cần thiết, những Bảng 4. Đặc điểm phát triển bình thường của tử cung bò giai đoạn 35-90 ngày tuổi [1] bò đã được kiểm tra nên giữ lại đến khi đầy chuồng, và sau đó thả từng con giữa các lần khám. Dây cố định bò thường được buộc từ phía bên qua phía sau của gióng giá ở những nơi không có cổng trượt. Phương pháp này được áp dụng ở những nơi mà lối vào trượt về phía trước của gióng giá. Dây buộc cố định thường nằm ở một tấm bảng phía sau lối trượt cũng có thể rất hữu ích. Nó đảm bảo rằng một con bò sẵn sàng di chuyển về phía trước ngay lập tức để kiểm tra. Hơn nữa, dây cố định gia súc sẽ là một chướng ngại đối với con bò đang đợi 37
  16. thứ hai muốn lao về phía trước. Xác định tuổi thai bằng cách quan sát bằng mắt Xác định tuổi thai bằng cách quan sát bằng mắt thường được xác định bằng kích thước của thai, bằng độ dài của chóp mông, và cũng bằng sự nhận biết về sự phát triển giải phẫu. Kích thước và hình dáng của các mạch máu màng ối cũng là những chỉ dẫn hữu ích trong những giai đoạn có chửa sớm. Cho điểm thể trạng khi chẩn đoán có chửa ở bò tơ và bò cái: nên cho điểm thể trạng bò vì điểm thể trạng giúp giải thích hiện tượng chửa và giúp đưa ra các quyết định quản lý. Bảng 5. Đặc điểm phát triển bình thường của tử cung bò từ 3-9 tháng tuổi [1] 38
  17. Bảng 5. Đặc điểm bào thai bò qua các tháng tuổi [1] 39
  18. Hình 19. Khám thai bò qua trực tràng [2] d. Phương pháp khám thai trâu (tương tự khám thai bò song xê dịch chút ít vì trâu chửa 11 tháng) e. Phương pháp khám thai ngựa Ở ngựa người ta thương dùng phương pháp khám thai qua âm đạo, kết hợp vởi khám thai qua trực tràng. Vì ở ngựa sau khi có chửa niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, có 40
  19. một lớp nhầy trắng đục và keo phủ ngoài. Cổ tử cung co và bé lại, nút niêm dịch trắng đục bít hết lỗ ngoài tử cung. 75% ngựa cái phối giống được 1 tháng nếu có chửa đều có triệu chứng trên. * Chú ý khi khám thai qua trực tràng cần phân biệt có chửa với không có chửa, có chửa với viêm tử cung và các bệnh phụ khoa khác: viêm tích mủ, viêm tích nước, thai thối. 4.2. Chẩn đoán có thai bằng phương pháp phòng thí nghiệm 4.2.1. Phương pháp của giáo sư Nguyễn Tấn Ghi Trong (ĐH Y Hà nội) Dùng axit H2SO4, HNO3, HCl kết hợp với các ProlanB có trong nước tiểu sẽ tạo ra các phức chất có màu đặc trưng. 4.2.2. Phương pháp sinh học phản ứng Galli Mainini Lấy nước tiểu của con cái nghi có chửa tiêm từ 3-5 ml vào túi bạch huyết ở lưng ếch đực. Dưới tác dụng của Gonadotropin hoặc Estrogen (nếu có) thì sau 4 giờ sẽ thấy tinh trùng trong nước tiểu của ếch lấy từ bóng đái. 4.2.3. Phương pháp miễn dịch học Trong nước tiểu lợn chửa có chứa Prolan (hormone kích sinh dục) có tính kháng nguyên rất mạnh. Theo nguyên lý miễn dịch học ta có thể gây phản ứng ngưng kết (hoặc ngăn cản trở phản ứng ngưng kết) để phát hiện kháng nguyên Prolan có sẵn trong nước tiểu để phát hiện kháng thể trong máu gia súc cái có thai. Nói chung là các phương pháp phóng thí nghiệm là khá tốn kém, độ chính xác chưa cao nên ít dùng. 4.3. Dùng máy khám thai Hiện nay việc sử dụng máy siêu âm để khám thai rất phổ biến ở các trang trại lớn mang lại kết quả chẩn đoán cao nhất là có thể chẩn đoán được thai ở các giai đoạn đầu. 41
  20. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Joe, B. and W.F. John, Applied Animal Reproduction. 1996 2. Petes, A.R. and P.J.H. Ball, Reproduction in Cattle. Second ed. 1998: Blackwell Science. 227. 3. Dũng, T.T., D.Đ. Long, and N.V. Thanh, Sinh sản Gia súc. 2002, Hà Nội: NXB Nông nghiệp. 4. Giao, H.K., Công nghệ Cấy truyền phôi ở Gia súc. 2003, Hà Nội: NXB Khoa học và Kỹ thuật. 5. Knobil, E. and J.D. Neill, The Physiology of Reproduction. Second ed. 1994, New York: Raven Press. CÂU HỎI ÔN TẬP 1. Thời gian mang thai và số lượng thai của một số loài gia súc đã học? 2. Các loại màng thai (vẽ hình)? 3. Sự biến đổi của gia súc cái khi có thai? 4. Chẩn đoán gia súc có thai theo phương pháp lâm sàng? 42
Đồng bộ tài khoản