Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4

Chia sẻ: Le Quang Hoang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:76

0
164
lượt xem
87
download

Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

HỌC PHẦN II CÔNG NGHỆ SINH SẢN Yêu cầu chung: Nắm được những kỹ thuật tiên tiến nhằm chủ động điều khiển quá trình sinh sản theo ý muốn của con người...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình sinh sản gia súc - chương 4

  1. HỌC PHẦN II CÔNG NGHỆ SINH SẢN - - - - - - - - - - -- - - - Yêu cầu chung: Nắm được những kỹ thuật tiên tiến nhằm chủ động điều khiển quá trình sinh sản theo ý muốn của con người GIỚI THIỆU Kỹ thuật sinh sản là một trong những biện pháp then chốt để duy trì phẩm giống, phát triển đàn, tạo ra nhiều sản phẩm thịt, sữa, trứng… phục vụ nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng. Năng suất sinh sản trong chăn nuôi nước ta hiện nay còn thấp. Theo tổng kết của Hội Chăn nuôi VN (2000) lợn nái lứa đẻ ít (1,5 – 1,6 lứa đẻ/nái/năm), số lợn con sinh ra và nuôi được thấp do đó khả năng sản xuất thịt bình quân của một l nái chỉ đạt 550-600 kg thịt/nái/năm bằng 1/3 chỉ tiêu này ở các nước trong khu vực. Khoảng cách giữa các lứa đẻ của đàn trâu bò cái sinh sản bình quân 20-24 tháng (tỉ lệ đẻ 50-60%), ở các nước chăn nuôi tiên tiến chỉ tiêu này là 14-15 tháng/bê/cái sinh sản (tỉ lệ đẻ 80-85%)… Năng suất sinh sản thấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu làm cho hiệu quả chăn nuôi thấp thậm chí còn bị thua lỗ. Những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến năng suất sinh sản của gia súc có nhiều nhưng chú ý nhất có những nguyên nhân sau: a. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý Dinh dưỡng đầy đủ (không thiếu, không thừa), khẩu phần thức ăn hợp lý, đáp ứng được các nhu cầu của con mẹ trong các giai đoạn sinh trưởng phát dục, mang thai, trước và sau khi đẻ, nuôi con… làm một trong những biện pháp hữu hiệu đẻ nâng cao năng suất sinh sản của gia súc. b. Trình độ quản lý và tay nghề thấp Trong chăn nuôi hộ gia đình (nhất là đối với trâu, bò, dê) do không thực hiện phân đàn, phân lô đúng cách, chuồng trại chật chội sẽ dẫn đến các vấn đề như cản trở việc phát hiện sớm những gia súc cái động dục, gia súc có chửa sẽ dễ bị sẩy thai, thậm chí bê nghé sơ sinh bị dẫm chết… Mặt khác hàng năm không tiến hành loại thải những gia súc còi cọc hoặc có bệnh đường sinh dục đã được can thiệp nhiều lần không khỏi đều làm cho năng suất sinh sản của đàn cái thấp. 54
  2. c. Thời tiết khí hậu Điều kiện khí hậu của môi trường không thuận lợi có ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục của gia súc ở các mức độ khác nhau. Trâu cái, dê cừu cái rất nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ- ẩm độ không khí. Mùa hè oi bức hoặc mùa đông giá lạnh trâu cái, dê cái hầu như ngừng động dục, đến lúc thời tiết trời mát mẻ (từ tháng 9-11 và từ tháng 2-5) mới trở lại động dục (mùa động dục). Ở bò cái tuy hoạt động sinh sản quanh năm nhưng cũng thường tập trung vào mùa hè và hè thu. Vì vậy, trong mùa động dục (đối với trâu và dê cừu cái) nêu ta không tập trung mọi cố gắng đẻ phát hiện kịp thời và phối giống đúng lúc cho các gia súc cái se làm cho năng suất sính sản của chúng giảm sút. d. Bệnh lý Một số bệnh có thể làm giảm hoặc mất khả năng sinh sản của gia súc - Các bệnh sản khoa đặc biệt là bệnh liên quan đến đường sinh dục. Ví dụ: nhiễm bệnh ở bộ máy sinh dục sau khi đẻ như nhiễm trùng cục bộ hay toàn bộ, sát nhau, lộn tử cung, âm đạo…; những hiện tượng mất khả năng sinh sản (liệt dục, ngừng hoặc mất hoạt động tính dục, động dục ngầm, chù kì không rụng trứng…). - Mất cân bằng nội tiết. Ví dụ như do tồn lưu thể vàng làm cho gia súc cái không động dục; tỉ lệ FSH/LH không thích hợp làm cho gia súc động dục mà không rụng trứng; sự mất cân đối giữa Progesteron và Oestrogen như là quá ít Progesteron làm không bảo đảm điều kiện tốt của nội mạc tử cung để phôi làm tổ hoặc là quá nhiều Oestrogen gây nên động dục quá mức và liên tục… - Rối loạn di truyền. Đột biến di truyền, tương tác và kết hợp các gen không bình thường ở con đực và con cái hoặc do tác động của điều kiện sống bên ngoài (ánh sáng, nhiệt độ, hoá chất…) đã làm biến đổi hệ thống gen (chuyển đoạn, hoà tâm…) đưa đến mất hoàn toàn hoặc giảm khả năng sinh sản của vật nuôi. Khắc phục những nguyên nhân nêu trên bằng những biện pháp tương ứng và có hiệu quả (chế độ dinh dưỡng hợp lý, cải tiến và nâng cao trình độ quản lý kinh tế-kỹ thuật chăn nuôi thú y, thực hiện tốt quy trình công nghệ TTNT, cấy truyền phôi, điều hoà sinh sản bằng hormone…) chắc chắn sẽ nâng cao năng suất sinh sản của đàn gia súc. 55
  3. CHƯƠNG IV. KỸ THUẬT THỤ TINH NHÂN TẠO GIA SÚC Mục đích: Trình bày kỹ thuật huấn luyện đực giống, kỹ thuật khai thác tinh dịch, kỹ thuật kiểm tra đánh giá chất lượng tinh dịch, đặc tính của tinh trùng, pha chế, bảo quản tinh dịch và kỹ thuật dẫn tinh. Thời lượng giảng dạy: 20 tiết (15 tiết lý thuyết và 5 tiết thực hành) * Khái niệm Thụ tinh nhân tạo là một biện pháp khoa học trong chăn nuôi, thông qua một số biện pháp kỹ thuật, con người lấy tinh từ đực giống để thụ tinh nhân tạo cho con cái nhằm phát huy khả năng sản xuất của những gia súc tốt. I. LỊCH SỬ CỦA KHOA HỌC THỤ TINH NHÂN TẠO 1. Lịch sử trên thế giới Lich sử phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (TTNT) gia súc trên thế giới trải qua nhiều giai đoạn. Thời kỳ sơ khai phải kể đến I.I. Ivanov (Nga), L. Spallanzani (Italia) và sau đó là Bibbiena là những người đầu tiên làm thí nghiệm trên tằm để thụ tinh nhân tạo. Truyền thuyết kể rằng thụ tinh nhân tạo bắt nguồn từ thế kỷ XIV nói rằng: Một tù trưởng của một bộ lạc nọ vì muốn có được dòng ngựa tốt của một bộ lạc thù địch, trong đêm tối đã sai người hứng tinh dịch của một con ngựa đực của đối thủ vào một nắm bông và nhét vào âm hộ ngựa cái của mình. Ít lâu sau ngựa của ông ta có chửa và sinh ra con ngựa như ông mong muốn. Năm 1898 Heape (Anh) phát hiện ra chu kỳ sinh dục gia súc làm nền tảng khoa học cho kỹ thuật thụ tinh nhân tạo. Ở Mỹ, Pearson và Harrison phát hiện ra phương pháp dẫn tinh ngựa và bò. Sự bùng nổ của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo đạt được sau khi Joseppe Amantea, người Italia phát minh ra âm đạo giả năm 1914. Phát minh này đã giải quyết một loạt khó khăn trong việc lấy tinh các loại gia súc nhất là ngựa và loài dạ cỏ. 56
  4. I.I. Ivanov (1917) cùng với V.K. Milovanov (1934) là những người đầu tiên đưa ra cơ sở khoa học và thực nghiệm về pha loãng và bảo tồn tinh dịch với dung dịch điện giải (NaCl, KCl), Phillips (1940), Salisbury (1943) cải tiến môi trường pha loãng và bảo tồn với lòng đỏ trứng gà, Na-Citrate, kháng sinh đã thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực thụ tinh nhân tạo gia súc ngày càng được hoàn thiện theo thời gian và có được sự phát triển cả về mặt quy mô lẫn chiều sâu như ngày nay [2-4]. 2. Lịch sử ở Việt nam Ở Việt nam, kỹ thuật TTNT được bắt đầu từ năm 1957 tại Học viện Nông - Lâm, nay là trường Đại học nông nghiệp I thuộc huyện Gia Lâm - Hà Nội. Năm 1958, TTNT đã được tiến hành cho lợn ở An Khánh - Hà Tây. Đầu năm 1960, TTNT cho bò, 1961 TTNT cho trâu, 1964 cho ngựa. Vào những năm 70, cơ sở đông lạnh tinh dịch bò dạng viên do Cuba viện trợ đã tiến hành ở Moncada thuộc Ba Vì - Hà Tây. Năm 1986, Viện Chăn nuôi đã ứng dụng thành công TTNT cho gà, năm 1990 cho ngỗng, 1991 TTNT lai xa giữa ngan và vịt, 1995 TTNT cho dê, 1997 TTNT cho chó nghiệp vụ. Cho đến nay, TTNT cho lợn, bò là phát triển hơn cả. Cả nước có 79 trạm (năm 1999) và 36 phân trạm với trên 2.000 cán bộ kỹ thuật và hàng vạn dẫn tinh viên, số lượng lợn, bò đực giống được sử dụng vào TTNT trên 1.500 con [5, 6]. II. LỢI ÍCH VÀ BẤT LỢI CỦA TTNT GIA SÚC 1. Lợi ích - Nâng cao được khả năng truyền giống của con đực. Bằng cách TTNT một con lợn đực có thể phụ trách 250 - 350 lợn cái (đực nội) và 1000 - 2000 lợn cái (đực ngoại). Đối với bò, một con đực có thể phụ trách hàng vạn bò cái (vì mỗi lần xuất tinh của bò đực cho 200 liều tinh và lợn đực cho 30 - 40 liều tinh). - Nâng cao phẩm chất chung của đàn gia súc. Vì chỉ dùng một số ít con đực giống được chọn lọc kỹ càng, với chất lượng tinh dịch rất tốt đem dẫn cho gia súc cái thì các đặc điểm tốt sẽ được truyền cho đời sau. - Có thể mang tinh dịch đi xa. Vì tinh dịch đó đã được dùng các chất thích hợp để pha chế và dùng nhiệt độ thích hợp để bảo tồn. Ví dụ :Tinh dịch lợn ở nhiệt độ 16-18 oC có thể giữ được 3-4 ngày (lợn ngoại), lợn nội có thể giữ được 1-2 ngày. Đặc biệt tinh dịch bò, bằng phương pháp ướp lạnh có thể giữ được 8-10 năm. 57
  5. - Tránh được sự lây lan một số bệnh qua con đường tiếp xúc. - Khắc phục được khó khăn do sự chênh lệch quá lớn về tầm vóc trong giao phối trực tiếp. Ví dụ lợn đực ngoại nặng chừng 300-400 kg nhưng lợn cái nội chỉ nặng trung bình 50-60kg hay bò đực ngoại nặng 1 tấn - 1,5 tấn trong khi bò cái nội chỉ khoảng 180- 250 kg nên rất khó giao phối trực tiếp. - Trong công tác lai tạo và chăn nuôi công nghiệp với số lượng gia súc cái động dục đồng loạt với các công thức lai tạo giống khác nhau thì chỉ có biện pháp TTNT mới giải quyết được vấn đề trên. - Kéo dài thời gian sử dụng đực giống. Ví dụ bằng nhảy trực tiếp lợn đực ngoại chỉ sử dụng trong khoảng 1,5-2 năm trong khi bằng TTNT nó có thể dùng được 4-5 năm. - Có hiệu quả kinh tế lớn hơn hẳn gia súc đực nhảy trực tiếp. Ví dụ: Giá trị tiền thu được từ TTNT bao giờ cũng gấp từ 5-6 lần so với nhảy trực tiếp đối với lợn và hàng trăm lần đối với bò. 2. Bất lợi - Kỹ thuật TTNT đòi hỏi người làm kỹ thuật nắm được về sinh lý sinh sản và thú y, là người trung thành, yêu nghề, được đào tạo. - Cần vốn ban đầu cao. - Đòi hỏi về thời gian lâu hơn, các công đoạn qúa trình thụ tinh diễn ra nhịp nhàng ăn khớp với nhau. - TTNT nếu không có kiểm tra tốt nó sẽ làm lây lan bệnh tật thông qua sinh sản. III. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ SINH LÝ SINH SẢN CỦA GIA SÚC ĐỰC (Đã nghiên cứu trong Học phần 1) IV. KỸ THUẬT KHAI THÁC TINH DỊCH CỦA GIA SÚC 58
  6. 1. Phản xạ tính dục của con đực Phản xạ tính dục là chuỗi phản xạ, là biểu hiện các hành vi động tác muôn hình muôn vẻ, để kích thích con cái cùng loài, thông qua đó con đực thực hiện được chức năng sinh sản. 1.1. Phản xạ săn đuổi (trò sơ bộ) Phản xạ săn đuổi là phản ứng toàn thân của con đực để kích thích con cái cùng loài dẫn đến khả năng giao phối với nhau. Đực giống bình thường đến giai đoạn thành thục về sinh dục đều có phản xạ này, nếu không có thì đực giống đó không bình thường về khả năng sinh sản. Thường con đực phát hiện con cái bằng các cơ quan cảm thụ như thính giác, thị giác, khứu giác. Khi tiếp xúc với con cái nó thường ngửi phân, ngửi nước tiểu, ngửi bộ phận sinh dục của con cái hoặc dùng mõm hích vào lưng, vào bụng để kích thích. Ở gia cầm khi con đực tiếp xúc với con cái thường đạp chân, xả cánh và đuổi theo con cái. Nhìn chung ở các loài gia súc khác nhau thì cách thể hiện phản xạ này khác nhau. Đây là phản xạ ban đầu và là cơ sở để thực hiện các phản xạ khác do vậy ta cần tạo điều kiện để gia súc thực hiện phản xạ này một cách đầy đủ. Gia súc cái cũng có phản xạ này nhưng nó chỉ biểu hiện ở thời kỳ động dục, con vật thường bỏ ăn, phá chuồng, kêu la và đi tìm con đực, biểu hiện rõ nhất là ở bò. 1.2. Phản xạ cương mô giao cấu Phản xạ này bắt nguồn từ phản xạ săn đuổi làm trương phồng cơ quan giao cấu. Ở gia súc đực do máu của động mạch phân nhánh nhiều đến dương vật và kết thúc ở cơ quan cương tạo thành xoắn ốc, dẫn đến hiện tượng trương phồng và cương cứng dương vật. Đây là phản xạ tạo điều kiện cho phản xạ giao cấu và phản xạ phóng tinh tốt hơn và ngược lại. Chính vì vậy mà ta cần tạo điều kiện để cho gia súc thực hiện phản xạ này thật tốt. Ở con cái cũng có phản xạ này khi hưng phấn sinh dục đến đỉnh cao máu dồn lên tiền đình âm đạo làm cho tiền đình âm đạo trương phồng. * Chú ý: nhiều con đực hăng quá : khi ta đưa vào giá vội vã nhảy lên ngay, những con đó thường nhảy không thành công. 1.3. Phản xạ giao cấu Phản xạ này xảy ra ở cả con đực và con cái, hai cơ quan sinh dục tiếp xúc với nhau, toàn cơ thể đực, cái hưng phấn ở mức độ cao (mất phản xạ này thường mất luôn cả phản xạ phóng tinh). 59
  7. + Ngựa có kiểu giao cấu có cưa, khi đạt tới trạng thái hưng phấn cao nhất dương vật đưa sâu vào tử cung để thực hiện phản xạ phóng tinh. + Bò có phản xạ tìm ngắn hơn, biểu hiện cử động nhịp xương chậu kết hợp với cử động của dương vật và đưa dương vật tiếp xúc với môi to âm đạo. Lúc này do kích thích của tiểu thể xúc giác (nằm dưới niêm mạc dương vật) bò bắt đầu thực hiện phản xạ phóng tinh. + Lợn động tác tìm lâu hơn, dương vật xoay nhiều lần, đưa vào rút ra cuối cùng dương vật đưa qua cổ tử cung để thực hiện phản xạ phóng tinh. 1.4. Phản xạ phóng tinh Phản xạ phóng tinh là phản xạ cuối cùng của chuỗi phản xạ sinh dục. Nó liên quan đến nhiều phản xạ như nâng dịch hoàn lên để co bóp phóng tinh ra ngoài. Đây là phản xạ quan trọng nhất, nó trực tiếp ảnh hưởng đến phẩm chất tinh dịch vì vậy ta phải đặc biệt chú ý tạo mọi điều kiện để gia súc xuất tinh tốt, đặc biệt là các yếu tố kỹ thuật như nhiệt độ, áp suất, độ nhớt của âm đạo giả và các yếu tố kỹ thuật khác. Phản xạ này ở những động vật khác nhau thì biểu hiện khác nhau: + Ngựa khi phóng tinh nó cử động nhịp đuôi, có lúc rên khẽ, nó phóng tinh từng phần. Giai đoạn đầu dịch loãng hầu như không có tinh trùng, giai đoạn thứ hai dịch có màu trắng sữa, nồng độ tinh trùng ở mức độ cao, giai đoạn thứ ba dịch nhầy keo, ít tinh trùng. + Bò và trâu phóng tinh khi thực hiện phản xạ thúc. Thời gian phóng tinh ở trâu, bò chỉ ngắn trong vòng 3-4 giây (cần lưu ý: khi trâu, bò chưa thực hiện phản xạ thúc thì chưa phóng tinh). + Lợn suốt trong thời gian phóng tinh nằm im trên giá, dương vật ít cử động. Lợn do lượng tinh dịch nhiều nên tinh dịch chảy trực tiếp vào tử cung. Theo Burger 1952 mổ khám tử cung sau 15 phút thực hiện phản xạ phóng tinh thì tử cung đầy tinh dịch. Lợn cũng phóng tinh từng phần giống như ngựa nhưng thời gian phóng tinh của lợn lâu hơn, có thể kéo dài từ 10 - 15 phút, có con kéo dài tới 30 phút. * Một số đặc điểm cần lưu ý: - Hưng phấn sinh dục giảm ngay sau khi con đực hoàn thành "bài thể dục" nghĩa là thực hiện xong toàn bộ quá trình giao phối. - Ngừng giao phối hoặc nghỉ khai thác tinh dịch một thời gian con đực tăng hưng phấn sinh dục nhưng phẩm chất tinh dịch lại giảm vì có nhiều tinh trùng già. Nếu hiện tượng này kéo dài sẽ gây nên hiện tượng tự dâm. Thí dụ ở lợn cạ dương vật vào tường hoặc nền chuồng để phóng tinh, ở bò và trâu qùy hai chân trước thúc dương vật vào yếm để phóng tinh. 60
  8. 2. Điều kiện để huấn luyện tốt đực giống 2.1. Tuổi huấn luyện Đực giống khi đưa vào huấn luyện tuổi phải hơi non (tuổi dậy thì) bởi vì ở tuổi này dễ cảm hóa con vật nhưng đồng thời cũng là tuổi con vật có tinh hăng về sinh dục, còn nếu tuổi trưởng thành thi khó huấn luyện hơn vì tính bảo thủ của nó cao. + Lợn nội 5-6 tháng tuổi, lợn ngoại 7-8 tháng tuổi. + Trâu, bò 18-24 tháng tuổi, nếu trên hai năm thường khó huấn luyện. 2.2. Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Trước khi đưa đực giống vào huấn luyện khoảng 20 ngày cần cho gia súc ăn theo chế độ của đực giống làm việc, khẩu phần ăn phải đảm bảo và cân đối giữa các chất, đặc biệt là protein, canxi, phốt pho và các loại Vitamin A, D, E... Cùng thời gian ấy người huấn luyện phải tiếp xúc với con đực để làm quen bằng cách cho gia súc vận động, tắm chải, xoa bóp dịch hoàn. 2.3. Lịch huấn luyện Phải đảm bảo một tuần không quá hai lần và đúng giờ qui định (tốt nhất là khoảng từ 5-7 giờ sáng). 2.4. Người huấn luyện Người huấn luyện phải kiên trì tránh nôn nóng, tránh các hành vi thô bạo như : đánh đập gia súc và phải luôn cố định người huấn luyện bởi vì có cố định người huấn luyện thì mới theo dõi được cá tính của từng con để chiều theo ý thích của chúng. 2.5. Phòng và giá huấn luyện Phòng huấn luyện phải rộng đủ cho gia súc đi lại thực hiện các phản xạ. Giá huấn luyện phải phù hợp với từng loại gia súc. 3. Phương pháp huấn luyện * Nguyên tắc huấn luyện Thành lập cho gia súc đực một phản xạ có điều kiện về nhảy giá và thường xuyên củng cố phản xạ này. Các loài gia súc khác nhau thì có phương pháp huấn luyện khác nhau. 61
  9. 3.1. Đối với trâu, bò: lúc đầu cho nhảy cái động dục, tiếp đó cho nhảy cái thường, cuối cùng cho nhảy giá hoặc nhảy với đực khác. 3.2. Đối với lợn: lúc đầu cho nó nhảy với cái động dục, tiếp đó cho nhảy với con mồi, cuối cùng cho nhảy với giá. * Chú ý: - Mỗi giai đoạn nhảy ta cho củng cố 5 đến 6 lần, khi gia súc thành thạo thì ta sẽ chuyển sang giai đoạn khác. - Một số con ta chỉ cần cho nó tham quan sau đó tự nó có thể tự nhảy giá được hoặc có những con khi cho nó vào giá nó nhảy giá ngay thì cho chúng nhảy trực tiếp giá không cần áp dụng một cách máy móc quy trình trên để rút ngắn thời gian huấn luyện. 4. Kỹ thuật khai thác tinh dịch 4.1. Các yêu cầu cơ bản Trong Kỹ thuật TTNT thì đối tác số 1 chính là con đực. Trong kỹ thuật khai thác tinh dịch có những yêu cầu cơ bản sau: a. Dùng phương pháp nào, kỹ thuật nào thì làm sao cũng phải khai thác toàn bộ tinh dịch của con đực trong 1 lần khai thác. Nếu việc đó không xảy ra thì nó sẽ gây ra 2 hiện tượng: + Lãng phí tinh dịch + Phản xạ tính dục của con đực bị ảnh hưởng, làm mất khoái cảm sinh dục, dẫn đến làm mất phản xạ có điều kiện đã được tạo nên. b. Đảm bảo phẩm chất của tinh dịch. - Để đạt được về số lượng và chất lượng thì phải đảm bảo các điều kiện sống, sinh lý, chế độ khai thác con đực. Sau khi khai thác xong thì phải đảm bảo điều kiện sống cho tinh trùng khi ra ngoài cơ thể đặc biệt là không được có các tạp khuẩn, các chất sinh học gây ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng. Phải tránh lây lan các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng thông qua khai thác tinh dịch. Có những chú ý sau về khâu vệ sinh trong quá trình khai thác tinh dịch: + Dụng cụ khai thác tuyệt đối vô trùng + Không được khai thác tinh dịch của gia súc ốm, bị bệnh 62
  10. + Phải tắm rửa con đực trước mỗi lần khai thác tinh dịch + Vệ sinh sạch sẽ giá nhảy, phòng lấy tinh + Nhân viên lấy tinh dịch phải cố định và không mắc các bệnh truyền nhiễm c. Không được gây ảnh hưởng thô bạo đến cơ quan sinh đực d. Dụng cụ an toàn cho cơ quan sinh dục gia súc, dễ thao tác, dễ kiếm và giá thành hạ. 4.2. Khái quát các phương pháp khai thác a. Dùng hải miên Đây là một phương pháp cổ xuất hiện cách đây gần một ngàn năm trước. Người ta dùng hải miên sau khi đã sát trùng nhét vào âm đạo của con cái khi con cái chịu đực, sau đó thực hiện giao phối, tinh dịch ngấm vào hải miên khi đực phóng tinh, xong ông lấy hải miên ra ngoài, vắt lấy tinh và dùng cho thụ tinh nhân tạo. Kết quả chất lượng tinh dịch giảm, dễ nhiễm bẩn, dễ gây xây xát cho con cái. Chỉ sử dụng trong nghiên cứu như ở trên các động vật: cáo, chồn, khỉ... (Câu chuyện về bộ lạc ở Ả rập) b. Phương pháp âm đạo Người ta nút cổ tử cung trước khi giao phối sau đó cho gia súc nhảy trực tiếp, tinh dịch được phóng trực tiếp vào âm đạo rồi dùng cái cán dài hoặc ống hút lấy tinh ra sử dụng. Còn gọi là phương pháp cho giao phối trực tiếp. Dĩ nhiên phương pháp này chất lượng tinh dịch không đảm bảo và mất vệ sinh. Hiện nay cũng chỉ sử dụng trong nghiên cứu, vd: trên hổ. c. Phương pháp dùng túi 63
  11. Năm 1903, Sand và Stribold dùng dùng một cái túi bằng cao su mỏng lắp sẵn vào dương vật khi con đực hưng phấn, cho gia súc giao phối, sau khi phóng tinh thì lấy tinh từ bao cao su để sử dụng. Phương pháp này bảo đảm được chất lượng tinh dịch nhưng làm giảm cảm giác, khó lấy tinh, đặc biệt là ở trâu, bò. Phương pháp này không được sử dụng hiện nay. d. Phương pháp kích thích qua trực tràng Phương pháp này được Muller và Stribolf thử nghiệm thành công năm 1934. Đầu tiên dùng tay móc phân ra khỏi trực tràng sau đó kích thích âm nang làm cho dịch tiết, rửa sạch ống Hình 27. Lấy tinh lợn bằng điện phóng tinh rồi gây kích thích thần kinh chậu hông làm cho gia súc xuất tinh. Phương pháp này có thể dùng cho trâu bò nhưng kết quả không cao và rất khó. Phương pháp này không được sử dụng hiện nay. e. Phương pháp dùng điện Ý tưởng băt đầu từ Battelli, năm 1922 trên đối tượng là con lợn, sau đó năm 1936 Gunn (Úc) đã hoàn thiện công trình và rất thành công trên bò. * Nguyên tắc: Dùng dòng điện xoay chiều kích thích vào hệ thần kinh thực vật của con đực làm hưng phấn cao độ và có phản xạ tính dục. Phương pháp này cho kết quả tốt, được chấp nhận và thực tế sử dụng nhưng không nhiều. Sau một thời gian sử dụng có thể gây nên bệnh lý. Hiện nay có các máy sử dụng điện hoặc pin của Nga, Mỹ, Pháp. Đối với gia súc thì có thể đưa máy vào trực tràng sau khi lấy hết phân ra. Đặc biệt là sử dụng đối với những con đực giống tốt nhưng bị què hay liệt. Đối với gia cầm thì chia làm hai cực, một cực đặt ở đốt sống lưng thứ 3, cực khác đặt ở ổ nhớp (lỗ huyệt). Dùng dòng điện có cường độ biến đổi từ 41-62 mA, trung bình là 55 mA với điện thế là 30 vôn. Gia cầm thường bài tinh sau 3 phút. f. Phương pháp Massage (lấy tinh bằng tay, cơ giới) 64
  12. Phương pháp này xuất xứ từ Hà lan và Pháp và đến năm 1974 được áp dụng ở Việt nam. Cho đến nay bộ nông nghiệp đã in thành qui trình và được áp dụng rộng rãi ở tất cả các trạm thụ tinh nhân tạo lợn trong cả nước. - Nguyên tắc:: Theo dòng chung: Đại não tác động, kích thích lên các dây TKTV tạo nên phản xạ xuất tinh. Tuy nhiên, người lấy tinh có thể lợi dụng những kích thích từ lòng bàn tay (ma sát, ôn độ, áp suất) lên cơ quan sinh dục đực tạo nên các hưng phấn TKTV, từ đó tác động lên đại não gây nên phản xạ xuất tinh. Phương pháp này sử dụng phổ biến ở lợn, cá, gia cầm. Ở trâu, Hình 28. Âm đạo giả lấy tinh cho chó của Amantea bò, dê, cừu cho kết quả không cao. Phương pháp lấy tinh bằng massage là phương pháp đơn giản tiện lợi, nhưng nó bất lợi là nếu kỹ thuật không tốt dễ bị làm xây xát dương vật gây ra viêm nhiễm. g. Phương pháp sinh vật (dùng âm đạo giả) Phương pháp này được Amantea áp dụng thành công để lấy tinh cho chó vào năm 1914, sau này được một số nhà khoa học cải tiến và lấy tinh hầu hết cho các loài gia súc. Nguyên tắc: Dựa trên những phản xạ tự nhiên của con đực mà người ta chế tạo ra âm đạo giả thỏa mãn 3 điều kiện: + Nhiệt độ trong lòng âm đạo giả: tùy từng loài gia súc khác nhau mà yêu cầu nhiệt độ trong lòng âm đạo giả khác nhau. Ở bò, trâu nhiệt độ cần 400C đến 410C, ở lợn ngựa cần 390C đến 400C. Nhiệt độ qúa cao hoặc quá thấp đều làm cho gia súc xuất tinh không tốt, thậm chí không xuất tinh và ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch. Chính vì vậy khi lắp âm đạo giả, cần tạo ra nhiệt độ thích hợp cho từng loài thậm chí tới từng con gia súc. + Áp suất trong lòng âm đạo giả Khi giao phối trực tiếp, dương vật con đực chịu một áp lực và ma sát của âm đạo con cái. Do đó gây ra sự kích thích, dẫn đến phóng tinh. Để tạo một áp lực và ma sát của âm đạo con cái gây ra sự kích thích dẫn đến phóng tinh. Để tạo một áp suất tương tự 65
  13. cần bơm hơi vào vách trong âm đạo một áp lực tương đương 35 đến 65 mmHg. Khi áp lực quá 80mm Hg, quá trình xuất tinh sẽ bị trở ngại. + Độ nhớt của âm đạo giả Khi giao phối tự nhiên, do cọ sát dương vật vào âm đạo, các tuyến trong âm đạo và cổ tử cung tiết ra chất nhờn bôi trơn âm đạo. Để tạo điều kiện cho dương vật con đực giao cấu trong âm đạo giả. Khi lắp âm đạo giả ta cần bôi trơn 2/3 kể từ phía miệng bằng một số loại chất nhờn như dầu paraphin, dầu vazơlin hoặc dầu thực vật. Tóm lại: ba yếu tố trên là điều kiện cần và đủ để cho gia súc xuất tinh tốt, nếu thiếu một trong Hình 29. Cấu tạo âm đạo giả ba yếu tố đó thì gia súc không xuất tinh hoặc chất lượng tinh dịch sẽ giảm do vậy ta cần phải chú ý. Đây là phương pháp mang tính tối ưu nhất hiện nay, có thể áp dụng được với mọi gia súc, nó có một số ưu nhược điểm chính sau: + Đảm bảo an toàn được cơ quan sinh dục của con đực + Chất lượng tinh dịch được đảm bảo tốt + Dụng cụ phức tạp, chuẩn bị cầu kỳ. Vì vậy phương pháp này hiện nay người ta chỉ áp dụng lấy tinh Hình 30. Một số dụng cụ lấy tinh cho gia súc cho trâu bò. 4.3. Một số phương pháp khai thác tinh dịch hiện nay 3.1. Phương pháp lấy tinh bằng âm đạo giả (ÂĐG) a. Cấu tạo ÂĐG: (thực tập) 66
  14. b. Cách lắp ráp đạt yêu cầu: (thực tập) Trước khi lấy tinh phải chuẩn bị âm đạo giả (sau khi đã vô trùng các bộ phận của âm đạo giả) bằng cách bơm nước nóng và thổi không khí qua van sao cho nhiệt độ trong lòng ÂĐG đạt 39-40oC và mép ngoài ruột cao su ÂĐG phồng lên và thít lại thành 3 khía. Sau đó ta bôi vadơlin vào ruột cao su khoảng 1/3 chiều dài ÂĐG kể từ miệng ÂĐG. c. Tập luyện con đực để lấy tinh bằng phương pháp ÂĐG - Chọn tuổi: sau khi thành thục về tính, trước khi thành thục về thể vóc vì lúc đó Testostogen cao nhất cho nên con đực hăng nhất. Ở bò là khoảng 18-24 tháng tuổi. - Phương pháp huấn luyện (sử dụng phương pháp sinh vật) : Dựa trên phản xạ giao phối tự nhiên của đực và cái, trên cơ sở đó người ta thiết lập phản xạ lấy tinh bằng cách đánh lừa con vật (thay cơ quan sinh dục thật bằng giả.) Cụ thể sử dụng ÂĐG lấy tinh cho bò như sau: Cho cái động dục vào giá đỡ và cố định. Để con đực định huấn luyện cách xa con cái 18-20m để con đực nhìn về phía con cái và đồng thời dùng khăn nhúng dung dịch thuốc tím 1%o hơi ấm (40oC) vệ sinh vùng bụng và kích thích nhẹ qui đầu con vật làm cho con đực hưng phấn và dương vật thò ra một ít. Người giúp việc đưa con đực giống đến chỗ con cái, ở đó đã có người lấy tinh. Người cầm ÂĐG đứng ở tư thế sẵn sàng: Đứng theo hình chữ đinh (để diện tiếp xúc với con vật là nhỏ nhất), ÂĐG vác trên vai. Bò đực sau khi nhảy lên giá sẽ có Hình 31. Sử dụng ÂĐG lấy tinh cho bò và cho dê phản xạ cương cứng dương vật. Lúc đó, kỹ thuật viên phải bình tĩnh, thông minh, khéo léo và cảnh giác chuyển chân sang hình chữ bát tay trái cầm lấy bao dương vật bẻ chếch về phía bên phải (nếu thuận bên phải) còn tay phải thì đưa ÂĐG vào dương vật để tránh xây xát đầu dương vật vừa tránh nhiễm bẩn đầu dương vật đồng thời tránh trường hợp con vật hăng quá phóng tinh mất. Khi dương vật bò đực thúc vào ÂĐG thì với áp suất và nhiệt độ thích hợp thì con vật sẽ nhún tới trước và xuất tinh. Thời gian xuất tinh của bò đực rất ngắn (khoảng 1-2 giây). Sau khi 67
  15. xuất tinh bò đực từ từ tuột khỏi giá, ta không rút ÂĐG ra ngay mà từ từ lái tay cầm theo dương vật. Chú ý: Tuyệt đối không để con vật giao phối tự nhiên, điều đó sẽ làm khó cho lần tập sau. Dần dà thay con cái động dục bằng con cái không động dục hoặc con đực và phương pháp lấy tinh cũng như vậy. Để gây cho con đực phản xạ có điều kiện ổn định thì phải ổn định tất cả các tín hiệu như mọi cái trong phòng lấy tinh, người lấy tinh, quần áo trang phục người lấy tinh... Khi lấy tinh, kỹ thuật viên phải nhẹ nhàng, cẩn thận bởi vì bò đực có tiếng là phản chủ. Bình thường thì chúng rất hiền lành, nhưng khi chúng “cáu” thì cũng rất dữ tợn. Cần phải kiên trì tập luyện sẽ thành công. 3.2. Phương pháp lấy tinh lợn bằng tay: Trước đây người ta lấy tinh lợn đực bằng âm đạo giả nhưng ngày nay người ta lấy tinh bằng tay. a. Các phương pháp huấn luyện: Sử dụng con đực ở tuổi: 7-9 tháng đối với lợn ngoại, 5-7 tháng đối với lợn nội. Tùy theo cá tính của mỗi con đực mà có thể ứng dụng các biện pháp huấn luyện sau: - Phương pháp thăm quan: Cho lợn tập sự xem một lợn khác nhảy giá. Sau đó lại cho lơn tập sự tiếp xúc với giá nhảy. Chỉ một vài lần như vậy lợn đực đó sẽ biết nhảy giá. - Phương pháp sinh vật: tương tự như ở bò, sử dụng một cái 68 Hình 32. Lấy tinh lợn bằng tay
  16. động dục làm mồi và dùng tay kích thích dương vật xuất tinh. Khi đã quen thì chuyển sang giá nhảy. - Phương pháp cưỡng bức: cưỡng bức lợn trèo lên, ôm giá, đồng thời dùng tay kích thích bao dương vật để lợn thò dương vật ra ngoài. Sau vài lần lợn sẽ quen và tự nhảy giá. Cần đề phòng phản ứng của lợn đực. b. Kỹ thuật lấy tinh Dụng cụ lấy tinh gồm một cốc hứng tinh, một khăn vải màn để lọc tinh, tất cả đều được khử trùng. Khi chuẩn bị xong, cho lợn vào phòng lấy tinh (lơn đã được huấn luyên để lấy tinh), dùng khăn và thuốc tím 1o/00 vô trùng bộ phận trùng bộ phân sinh dục sau đó cho lợn đực lên giá. Dùng tay người lấy tinh đã được vô trùng kích thích ngoài bao dương vật. Khi lợn đực thò dương vật ra khỏi bao dương vật ta dùng bàn tay nhẹ nhàng nắm phần dương vật thò ra và kéo cho dương vật lệch ra ngoài giá để tránh dương vật cọ xát vào giá gây thương tích, vì vậy cần nắm dương vật vừa phải cho dương vật khỏi tuột khỏi lòng bàn tay, không được bóp chặt làm cho con vật đau, sợ và không lấy tinh được, khi đó lợn sinh cáu gắt và nếu không cảnh giác nó sẽ cắn người. Khi lợn xuất tinh, ở giai đoạn đầu yếu là dịch tiết của các tuyến sinh dục phụ có màu trắng trong, hầu như không có tinh trùng do đó ta không hứng vào cốc. Khi tinh xuất ra có màu trắng sữa, ta dùng tay còn lại cầm cốc hứng tinh kề vào sát quy đầu để gia súc phóng tinh qua lớp vải màn rồi chảy xuống cốc hứng tinh. Gần kết thúc quá trình phóng tinh thì dịch tiết ra chủ yếu là dịch loãng và keo phèn nên ta loại bỏ không hứng lẫn vào tinh dịch. * Chú ý: - Không bịt ngón tay vào lỗ phóng tinh, tinh không bắn ra được - Cho tinh dịch chảy theo thành cốc hứng tinh - Trong quá trình lợn phóng tinh tay giữ dương vật để nguyên vị trí và có thể dùng ngón tay cái kích thích vào đầu dương vật để gây kích thích cho lợn xuất tinh tốt hơn - Khi lấy tinh xong cần phải vệ sinh phòng lấy tinh và dụng cụ V.TINH DỊCH 1. Khái niệmvề tinh dịch 1.1 Quan niệm cũ về tinh dịch Trước đây, có những thuyết duy tâm về sinh sản, con người thuờng dựa vào các tôn giáo để giải thích các hiện tượng của sinh giới. Đặc biệt là tôn giáo phương Đông, 69
  17. người ta cho rằng vạn vật trên đời là do trời sinh ra. Vì vậy, khi quan sát trên các đầm sen thấy nhiều ngỗng trời thì người ta cho rằng ngó sen đã sinh ra ngỗng trời, giun sống trong đất thì cho rằng đất sinh ra giun, thịt thối có giòi thì cho là thịt thối sinh ra giòi,.. . v.v. Khi ý thức được về tinh dịch thì người ta lại quan trọng hóa trong đời sống động vật. Thí dụ như cho rằng tinh dịch là chất tinh túy nhất của cơ thể (là linh hồn) phần còn lại chỉ là thể xác và nó liên quan rất nhiều đến sinh thể. Các nhà y học phương Đông cho rằng khi tinh dịch sử dụng quá nhiều làm thủy suy hỏa vượng, thủy hỏa mất cân bằng trong cơ thể, dẫn đến con người khô héo gầy mòn. Hoặc quan niệm người phụ nữ tiếp xúc nhiều với tinh dịch thì thủy thịnh hỏa suy, cơ thể xanh xao ốm yếu. 1.2 Quan niệm mới về tinh dịch Ivanốp, nhà bác học Nga, là người đầu tiên có quan niệm đúng về tinh dịch. Bằng một lọat các công trình nghiên cứu, ông đã đưa ra các nhận định quan trọng sau đây : + Để đạt được kết quả thụ tinh điều kiện cần và đủ là tinh trùng và trứng phải thành thục, có khả năng thụ thai trong hòan cảnh tối thích của chúng. Ông cũng khẳng định rằng sự gặp gỡ một cách đặc biệt của hai cá thể cùng giống khác giới đã thành thục chỉ là hình thức bên ngòai, chỉ tạo điều kiện cho hai tế bào sinh dục đực và cái gặp nhau, đồng hóa lẫn nhau để tạo thành hợp tử. Như vậy, con người có thể làm thụ tinh nhân tạo được. + Trong quá trình thụ tinh và di truyền các tính trạng từ đời trước cho đời sau không phải cả tinh dịch quyết định mà chỉ do một mình tinh trùng thành thục có khả năng thụ thai để đồng hóa với trứng là đủ. Như vậy, có thể dùng môi trường nhân tạo để pha lõang tinh dịch. Bằng hàng lọat các công trình nghiên cứu, các nhà khoa học sau này đã làm sáng tỏ nhận định trên của Ivanov là đúng đắn và ứng dụng một cách sáng tạo vào thực tế. Cho đến nay, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực này góp phần đắc lực cho nghành chăn nuôi phát triển. 2. Đặc điểm của tinh dịch 2.1 Đặc điểm chung Theo Ivanov, tinh dịch có ba đặc điểm chung. + Tinh dịch là dịch tiết của cơ quan sinh dục đực khi con đực thực hiện có kết quả phản xạ sinh dục. 70
  18. + Tinh dịch được hình thành một cách tức thời khi con đực phóng tinh, nghĩa là lúc nó hưng phấn cao nhất trong quá trình thực hiện phản xạ giao phối. + Tinh dịch gồm hai thành phần cơ bản là tinh trùng và tinh thanh. - Tinh trùng là tế bào sinh dục đực. - Tinh thanh là chất tiết của các tuyến sinh dục phụ, phụ hòan và ống dẫn tinh. 2.2. Các dặc tính của tinh dịch 2.2.1 Tỷ trọng Trong tinh dịch, tỷ trọng tinh trùng nặng hơn tinh thanh nên tỷ trọng tinh dịch thường chịu ảnh hưởng của số lượng tinh trùng có trong tinh dịch. Để biết tỷ trọngcủa tinh dịch người ta so sánh giữa khối lượng tinh dịch với khối lượng nước cất hai lần có cùng một thể tích. Thông thường tỷ trọng tinh dịch lợn là 1,020 - 1,022, bò là 1,03. Như vậy, trong một mẫu tinh nếu tỷ trọng càng cao tì nồng độ tinh trùng càng đậm đặc. 2.2.2 Độ nhớt của tinh dịch Độ nhớt của tinh dịch phụ thuộc vào tỷ trọng và thành phần chất nhầy có trong tinh dịch. Việc xác định độ nhớt của tinh dịch có ý nghĩa cần thiết cho việc xây dựng môi trường pha lõang tinh dịch. Xác định độ nhớt chất lỏng dựa trên cơ sở xác định thời gian chảy của một thể tích nhất định chất lỏng đó qua một mao quản so với thời gian chảy của nước cất hai lần cùng thể tích và cùng chảy qua mao quản trên. Tinh dịch lợn thường có độ nhớt là 2,4 - 2,6, bò là 2,8 - 3,2, cừu là 4,5. Việc xác định độ nhớt có tác dụng rất lớn trong việc tạo ra môi trường pha lõang và bảo tồn tinh dịch, vì môi trường phải có độ nhớt tương đương với độ nhớt tinh dịch. 2.2.3 Áp suất thẩm thấu của tinh dịch (posm) Áp suất thẩm thấu có vai trò quan trọng đối với đời sống tinh trùng, nhất là khi tinh trùng được pha lõang trong các môi trường nhân tạo. Nếu posm của môi trường tương đương với posm nội tại tinh trùng (đẳng trương) thì sức sống tinh trùng thuận lợi. Ngược lại, nếu môi trường nhược trương hoặc ưu trương đều có hại cho tinh trùng, vì sẽ làm cho tinh trùng teo đi hoặc trương phồng và chết đi một cách nhanh 71
  19. chóng. Có nhiều cách xác định posm, nhưng đều dựa trên nguyên tắc xác định độ hạ băng điểm của chất lỏng cần đo rồi suy ra áp suất thẩm thấu. 2.2.4 Độ pH của tinh dịch Độ pH của tinh dịch có mối tương quan nghịch với mật độ tinh trùng. + Khi còn trong phần phụ hòan (phần túi tinh), tinh trùng có mật độ cao nên pH của tinh dịch thấp. Ở lợn pH từ 6,4 - 6,8, ở trâu bò khỏang 6,2. + Khi ra ngòai, tinh trùng được pha lõang với tinh thanh nên pH thường tăng lên. Đối với lợn từ 7,2 - 7,8, đối với trâu bò từ 6,4 - 6,8. + Để xác định pH của tinh dịch, người ta có nhiều phương pháp khác nhau như ; dùng pH metter, dùng dãy ống so màu, dùng chỉ thị màu. 2.2.5 Năng lực đệm Năng lực đệm của một chất là khả năng ổn định lực toan, kiềm của nó khi thêm một tác nhân toan hoặc kiềm vào chất đó. Năng lực đệm của tinh dịch lợn thường đạt 1.300 - 1.500. 2.2.6 Thành phần hóa học của tinh dịch Tinh dịch là một chất lỏng rất phức tạp. Cho tới nay, thành phần hóa học của nó vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, nhiều chất người ta mới định tính được mà chưa định lượng. Bảng 7. Thành phần hóa học tinh dịch của một số lòai gia súc [7] Lòai gia súc Cừu Bò Lợn Ngựa Chó Thành phần % Nước 85.2 90.5 95.4 97.6 97.6 Vật chất khô 14.8 9.5 4.6 2.4 2.4 72
  20. Protein 11.6 4.7 3.8 0.7 0.9 Lipit 1.8 1.3 0.2 0.2 Fructoza 0.25 0.54 0.01 0.01 0.01 Acide citric 0.05 2.2.7. Men trong tinh dịch Trong tinh dịch có nhiều loại men như: Hyaluronidaza, mucidaza, catalaza, lipaza, amylaza, photphotaza... tất cả các men này đều tham gia vào quá trình sống và hoạt động của tinh trùng. 3. Hình thái, cấu tạo, chức năng và đặc điểm sinh vật học của tế bào sinh dục đực 3.1. Hình thái Tế bào sinh dục đực của các loài gia súc khác Hình 33. Tinh trùng một số loài gia súc nhau là khác nhau, nó đặc trưng và ổn định theo loài. Tinh trùng của gia súc:Có hình thái giống con nòng nọc, có chiều dài gần gấp đôi đầu, bề dày không đáng kể nên khi nhìn nghiêng giống như hạt gạo hơi cong. Có hình thái khác nhau ở phần cổ và thân. Thông thường nó có độ dài nói chung: 45-90 µ (trong đó phần đuôi là dài nhất. Về độ dài, kích thước, trong lượng của tế bào sinh dục đực không phụ thuộc vào tuổi tác, trọng lượng của con đực mà nó phụ thuộc và giống lòai. Trong bản thân tinh trùng chủ yếu là nước- chiếm 75%, còn lại là vật chất khô: 25%. Trong vật chất khô chủ yếu là Protein- chiếm 85%, lipit- 13.2%; ngoài ra khoáng, vitamin: 1.8%. 73
Đồng bộ tài khoản