Giáo trình Sức khỏe nghề nghiệp_Phần 1

Chia sẻ: Love Love | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:21

0
386
lượt xem
162
download

Giáo trình Sức khỏe nghề nghiệp_Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp là môn học về các khoa học nghiên cứu và thực hành, phục vụ đối tượng người lao động và các vấn đề có liên quan. Thực chất nó là môn khoa học nghiên cứu về các tác hại nghề nghiệp sinh ra do lao động và điều kiện lao động. Cũng như các loại bệnh tật và sức khỏe của những người chịu tác động của những điều kiện đó gây nên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Sức khỏe nghề nghiệp_Phần 1

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA THÁI NGUYÊN SỨC KHỎE NGHỀ NGHIỆP NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC HÀ NỘI - 2007
  2. CHỦ BIÊN PGS. TS. Đỗ Văn Hàm BAN BIÊN SOẠN: PGS. TS. Đỗ Văn Hàm ThS. Nguyễn Ngọc Anh 2
  3. LỜI NÓI ĐẦU Trong quá trình lao động sản xuất, người lao động thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp và có thể mắc bệnh nghề nghiệp. Trong vòng 50 năm trở lại đây việc nghiên cứu vệ sinh lao động và các rối loạn bệnh lý nghề nghiệp ở nước ta đã có những tiến bộ đáng kể. Đội ngũ thầy thuốc làm việc xung quanh vấn đề này ngày một đông đảo song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội nước ta. Trải qua nhiều năm giảng dạy và phục vụ sự nghiệp bảo vệ sức khỏe người lao động đặc biệt là qúa nhiều khóa đào tạo sinh viên đại học, chúng tôi đã từng bước rút kinh nghiệm để hoàn chỉnh cuốn "Tài liệu học tập Sức khỏe nghề nghiệp " này. Cuốn sách cung cấp những kiến thức cơ bản về Y học lao động và bệnh nghề nghiệp bao gồm cả lý thuyết và thực hành. Trong tương lai cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các tác hại nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp sẽ có khả năng thay đổi nhiều. Các tác giả hy vọng cuốn sách này sẽ giúp cho các thầy thuốc tương lai có những kiến thức cơ bản ban đầu về lý thuyết và thực hành Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp để sau khi ra trường có thể giải quyết cụ thể những vấn đề chuyên môn ngày một tốt hơn. Cuốn “Tài liệu học tập sức khỏe nghề nghiệp” là một trong những tài liệu chuyên môn phục vụ trong chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa. Tài liệu biên soạn dựa trên cơ sở sau: - Khung chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa của Bộ Y tế Việt Nam - Chương trình hợp tác y tế Việt Nam - Thụy Điển. Văn kiện tiểu dự án CBE - 2003. - Chương trình CBE ban hành theo quyết định số 272/YK-QĐ ngày 15 tháng 7 năm 2005 của trường Đại học Y khoa Thái Nguyên. Trong quá trình biên soạn Bộ môn đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của CTHTYT VN - TĐ; VỤ KH-ĐT Bộ Y tế, các chuyên gia và giảng viên có kinh nghiệm. Bộ môn xin chân thành cảm ơn những sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả này. Do đặc điểm Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp là vấn đề rất rộng và phức tạp có sự đan xen của nhiều ngành khoa học, cùng với kinh nghiệm ít nhiều còn hạn chế nên cuốn sách chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết và chưa đầy đủ. Kính mong các quý vị độc giả, các bạn đồng nghiệp lượng thứ và đóng góp về mọi mặt để lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn chỉnh hơn. Xin trân trọng cảm ơn! T/M BAN BIÊN SOẠN PGS. TS. Đỗ Văn Hàm 3
  4. MỤC LỤC Lời nói đầu............................................................................................................... 3 Hướng dẫn sử dụng tài liệu ..................................................................................... 5 Chương trình chi tiết môn học................................................................................. 6 Phần lý thuyết Đại cương vệ sinh lao dộng và bệnh nghề nghiêp................................................... 8 Vi khí hậu trong lao động sản xuất........................................................................ 22 Tiếng ồn trong sản xuất và điếc nghề nghiệp ........................................................ 42 Độc chất trong sản xuất ......................................................................................... 56 Nhiễm độc chì vô cơ nghề nghiệp ......................................................................... 68 Bụi và các bệnh phổi do bụi .................................................................................. 84 Nhiễm độc hoá chất bảo vệ thực vật trong lao động ........................................... 107 Tai nạn và an toàn lao động................................................................................. 124 Sinh lý lao động và mệt mỏi trong lao động ....................................................... 137 Vấn đề tư thế và điều kiện lao động hợp lý......................................................... 150 Phần thực hành Xác định các yếu tố vi khí hậu nơi làm việc ....................................................... 161 Đo cường độ tiếng ồn .......................................................................................... 172 Xét nghiệm hơi khí độc trong không khí............................................................. 181 Đánh giá vệ sinh bụi ở các cơ sở sản xuất........................................................... 192 Hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu và vận dụng thực tế môn học......................... 199 Hướng dẫn đánh giá môn học.............................................................................. 200 Đáp án câu hỏi tự lượng giá cuối bài................................................................... 201 Tài liệu tham khảo ............................................................................................... 203 4
  5. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU Để giúp cho quá trình học tập môn Sức khỏe nghề nghiệp của sinh viên được tốt hơn cuốn tài liệu này được biên soạn bao gồm hai phần, phần lý thuyết và phần thực hành, phù hợp đối tượng nghiên cứu của môn học và thực tiễn hiện nay. Cả hai phần này đều bao gồm các bài học có nội dung theo đúng những chủ đề mà chương trình đào tạo của Bộ Y tế đã ban hành. Mỗi bài học được trình bày theo 4 mục: Mục tiêu - Nội dung - Tự lượng giá - Hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu và vận dụng thực tế. Trong đó phần "tự lượng giá" sẽ bao gồm 2 phần: công cụ tự lượng giá, hướng dẫn tự lượng giá. Phần "Hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu và vận dụng thực tế" bao gồm các phần: hướng dẫn phương pháp học, tài liệu đọc thêm, tài liệu tham khảo và vận dụng vào thực tế. - Để quá trình học tập có hiệu quả cao trước khi nghiên cứu nội dung từng bài sinh viên nên đọc kỹ phần chương trình chi tiết của môn học để có cái nhìn tổng quát về mục tiêu, nội dung và thời lượng của môn học. Khi học từng bài, trước tiên sinh viên cần xem xét kỹ mục tiêu của bài mà sinh viên phải đạt được. Phần nội dung cung cấp cho sinh viên các kiến thức cơ bản bao phủ mục tiêu bài học, sinh viên nên tìm kiếm thông tin trong phần nội dung để lần lượt trả lời từng mục tiêu của bài học. - Phần tự lượng giá cung cấp cho sinh viên các công cụ tự lượng giá nên sau khi học từng bài sinh viên hãy sử dụng công cụ này để tự biết được mình đã thực sự hiểu bài và nắm vững các kiến thức mà bài học yêu cầu hay chưa. Đối với các bài thực hành sinh viên cần học kỹ các bài lý thuyết có liên quan tới bài thực hành trước khi học bài thực hành. Các bài học trong phần lý thuyết đã được sắp xếp một cách tương đối logic, sinh viên nên đọc theo tuần tự từ đầu đến cuối phần này, riêng các bài ở phần thực hành được sắp xếp tuần tự tương ứng với những bài lý thuyết ở phần trước để sinh viên dễ dàng theo dõi. - Cuối cuốn sách là phần đáp án các câu hỏi tự lượng giá, phần này sẽ giúp sinh viên tự kiểm tra lại kiến thức của mình sau khi đã trả lời các câu hỏi tự lượng giá. 5
  6. - Phần mục lục sẽ giúp sinh viên nhanh chóng tìm thấy nội dung bài học cần tìm. Ban Biên soạn trân trọng cảm ơn sự đóng góp ý kiến quý báu của độc giả! CHƯƠNG TRÌNH CHI TIẾT MÔN HỌC HỌC PHẦN: SỨC KHỎE NGHỀ NGHIỆP Đối tượng đào tạo: Sinh viên y đa khoa năm thứ 3 Số đơn vị học trình: Tổng số. 2,5 Lý thuyết: 2 Thực hành: 1/2 Số tiết: Tổng số. 46 Lý thuyết: 30 Thực hành: 16 Số điểm kiểm tra: 03 (trong đó 02 điểm lý thuyết và 01 điểm thực hành) Số điểm thi: 01 Thời gian thực hiện: Học kỳ VI (Năm thứ ba) MỤC TIÊU Sau khi học xong học phần này, sinh viên có khả năng: 1. Nêu được những khái niệm - nội dung cơ bản của Sức khỏe nghề nghiệp 2. Trình bày được các yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động và những ảnh hưởng của nó đến sức khỏe người lao động 3. Đề xuất được một số giải pháp can thiệp thích hợp để cải thiện điều kiện lao động và phòng chống các yếu tố nguy cơ bảo vệ sức khỏe con người. 4. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác chăm sóc sức khỏe người lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. NỘI DUNG Số tiết TT Tên bài học Tổng Lý Thực số thuyết hành Phần lý thuyết 6
  7. 1 Đại cương vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp 3 3 2 Vi khí hậu trong lao động sản xuất 4 4 3 Tiếng ổn trong sản xuất và điếc nghề nghiệp 3 3 4 Độc chất trong sản xuất 3 3 5 Nhiễm độc chì vô cơ nghề nghiệp 3 3 6 Bụi và các bệnh phổi do bụi 4 4 Nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật trong lao 7 3 3 động 8 Tai nạn và an toàn lao động 2 2 9 Sinh lý lao động và mệt mỏi trong lao động 2 2 10 Vấn đề tư thế và điều kiện lao động hợp lý 3 3 Phần thực hành 11 Xác định các yếu tố VKH ở nơi làm việc 4 4 12 Đo cường độ tiếng ồn 4 4 13 Xét nghiệm hơi khí độc trong không khí 4 4 14 Đánh giá vệ sinh bụi 4 4 Tổng số 46 30 16 7
  8. ĐẠI CƯƠNG VỆ SINH LAO DỘNG VÀ BỆNH NGHỀ NGHIỆP MỤC TIÊU Sau khi học xong học phần này, sinh viên có khả năng: 1. Nêu được các khái niệm về bệnh nghề nghiệp và tác hại nghề nghiệp trong lao động sản xuất. 2. Trình bày được các đặc điểm của bệnh nghề nghiệp và nhóm bệnh nghề nghiệp. 3. Liệt kê được các phương hướng bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động 4. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo vệ sức khỏe người lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. 1. Mở đầu Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp là môn học về các khoa học nghiên cứu và thực hành, phục vụ đối tượng người lao động và các vấn đề có liên quan. Thực chất nó là môn khoa học nghiên cứu về các tác hại nghề nghiệp sinh ra do lao động và điều kiện lao động. Cũng như các loại bệnh tật và sức khỏe của những người chịu tác động của những điều kiện đó gây nên. Thông qua nghiên cứu thực trạng và phỏng đoán, người ta có thể tìm kiếm các phương pháp bảo vệ và tăng cường sức khỏe người lao động, phòng chống các bệnh nghề nghiệp cũng như các bệnh có liên quan, trên cơ sở tăng cường các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng chống độc hại và nâng cao năng suất lao động. Đối tượng nghiên cứu của khoa học vệ sinh lao động (VSLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) không những chỉ quan tâm đến các quy trình công nghệ, điều kiện lao động, chế độ và tổ chức lao động, nhằm tìm ra những tác hại nghề nghiệp, các yếu tố phù hợp với con người và môi trường lao động, mà còn phải phát hiện, điều trị và dự phòng các bệnh nghề nghiệp có 8
  9. thể xảy ra do hậu quả của môi trường lao động và các điều kiện có liên quan không hợp lý. 2. Lịch sử phát triển ngành Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp Từ thời kỳ sơ khai, người ta cũng đã biết tác hại nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp xảy ra do lao động. Tuy vậy, những khái niệm lúc bấy giờ hết sức đơn giản. Vào thế kỷ V, VI trước Công nguyên Aristot và Lukresi đã ghi nhận thấy những người lao động nặng nhọc, mang vác nhiều thường hay bị đau xương sườn. Avigia và Pluta đã ghi nhận rằng có sự liên quan chặt chẽ giữa lao động nặng nhọc và tử vong sớm ở một số nghề nặng nhọc như đào quặng, xây cất nhà cửa, lăng mộ... Thời Hypocrate (thế kỷ IV trước Công nguyên) người ta đã thấy nhiều thợ mỏ bị chết sớm so với các nghề khác. Vào cuối đời, đa số những người thợ mỏ này bị khó thở, đặc biệt là khi làm các công việc nặng nên Hypocrate gọi là cơn khó thở của những người thợ mỏ. Vào đầu thế kỷ XVI - XVII, khi nền công nghiệp bắt đầu phát triển ở các nước Tây Âu, cũng là lúc người ta hiểu được bản chất của nhiều hiện tượng, ví dụ như bản chất của các hơi khí độc, các loại bụi, các yếu tố vật lý... hàng loạt các yếu tố ra đời và được phát hiện, đồng thời với nó là các bệnh nghề nghiệp cũng được ghi nhận một cách rõ nét hơn. Các thầy thuốc đã chủ động quan sát những tác hại nghề nghiệp để phát hiện ra những tác hại của nó và các mối liên quan, trên cơ sở đó tìm ra các biện pháp phòng chống. Người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ quan sát chủ động và dự phòng thụ động của các nhà y học lao động. Các tác giả như: Agricola, Paracelus người Đức, là những thầy thuốc phục vụ cho các tập đoàn, các chủ mỏ của ngành luyện kim đã viết những dòng Y văn đầu tiên về tác hại nghề nghiệp và bệnh có liên quan đối với những người lao động ở các khu mỏ, các nhà máy luyện kim... Vào đầu thế kỷ XX, khi nền công nghiệp phát triển mạnh, các môn khoa học tự nhiên và xã hội cũng đạt đến đỉnh cao, người ta không những hiểu biết về bản chất các tác hại nghề nghiệp trong lao động mà người ta cũng hiểu biết tương đối nhiều về các rối loạn bệnh lý cũng như các bệnh nghề nghiệp xảy ra do lao động. Khoa học vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp đã chuyển sang thời kỳ nghiên cứu mang tính chất tổng hợp và lấy 9
  10. xu hướng dự phòng là chính. Khoa bệnh nghề nghiệp đầu tiên được xây dựng vào năm 1910 ở Milan Devoto. Sau đó có nhiều viện nghiên cứu về VSLĐ và BNN được hình thành ở nhiều nước trên thế giới: Pháp, Anh, Nhật, Tây Ban Nha, Mỹ, Nga... Đặc biệt vào những năm 50 trở lại đây, những nghiên cứu sâu được tiến hành ngày một khoa học hơn. Trước khi phóng những con tàu vũ trụ ra khỏi trái đất người ta đã biết được các phi công vũ trụ có thể tiếp xúc với các yếu tố tác hại nào trong vũ trụ và những rối loạn bệnh lý và bệnh gì có thể xảy ra, nên đã có những phương án dự phòng trước khi thực hiện các chuyến bay... Mặc dù con người đã biết nhiều nhưng hàng trăm nghìn các hóa chất và dung môi độc hại được đưa vào sản xuất và phục vụ đời sống cũng như hàng trăm các yếu tố tác hại vật lý, sinh học có ở trong các môi trường sống và lao động, vẫn hàng ngày tác động lên sức khỏe con người có khả năng gây nên những rối loạn bệnh lý hoặc làm mất cân bằng các phản ứng sinh lý, sinh hóa của cơ thể trong thời kỳ mới tiếp xúc. Còn nhiều điều chưa giải thích được và còn phải nghiên cứu. Trong thực tế do những bí mật về nghề nghiệp, kinh doanh hoặc người ta chưa đủ khả năng nghiên cứu nên còn nhiều tác hại nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp chưa được nghiên cứu và giải quyết. Ở Việt Nam khoa học nghiên cứu VSLĐ và BNN đã được đặt nền móng và phát triển từ những năm 60 của thế kỷ trước trở lại đây, song chủ yếu là những nghiên cứu phát hiện điều kiện vệ sinh môi trường, các yếu tố lý hóa, vi sinh vật... trong sản xuất. Những năm gần đây, những nghiên cứu về sinh lý, sinh hóa lao động, lâm sàng bệnh nghề nghiệp cũng được phát triển, song chưa đồng bộ nên các biện pháp dự phòng, bảo vệ công nhân, nâng cao năng suất lao động và phòng chống các bệnh nghề nghiệp chưa có hiệu lực cao. Do đất nước chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang phương thức thị trường hóa trên cơ sở các phương tiện và điều kiện sản xuất lạc hậu, không đồng bộ, đồng thời với nhịp độ sản xuất tăng nhanh trong khi môi trường lao động đang bị ô nhiễm nặng nề. Các tác hại nghề nghiệp không ngừng tăng lên. Hậu quả của nó là các rối loạn bệnh lý, các bệnh nghề nghiệp ngày càng gia tăng, đây là vấn đề hết sức nan giải trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, đòi hỏi nhiều cấp, nhiều ngành phải phối hợp giải quyết vì mục tiêu sức khỏe cho người lao động mới của đất nước. 3. Các tác hại nghề nghiệp 10
  11. Tác hại nghề nghiệp là những yếu tố trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng lao động của công nhân gây nên những rối loạn bệnh lý hoặc các bệnh nghề nghiệp đối với những người tiếp xúc. Tác hại nghề nghiệp có thể phân ra các loại như sau: 3.1. Các tác hại nghề nghiệp liên quan đến tổ chức lao động không hệ lý - Tổ chức lao động không hợp lý có thể gây rất nhiều tác hại lên sự cân bằng trạng thái sinh lý, sinh hoá của cơ thể người lao động, từ đó sinh ra các rối loạn bệnh lý. - Thời gian lao động quá lâu dài có thể gây nên sự căng thẳng về thần kinh, thể chất bởi sự đáp ứng quá ngưỡng: lao động lâu, năng lượng bị cạn dần các sản phẩm trung gian tăng lên ở các khối cơ, gây đau mỏi, thậm chí co cứng cơ, mất khả năng hoạt động (ví dụ: acid lactic tăng lên, cơ bị co cứng). - Cường độ lao động quá nặng nhọc và khẩn trương sẽ huy động khối lượng cơ bắp, thần kinh lớn tham gia nhiều trong một thời gian ngắn, điều này sẽ làm tăng nhanh sự tiêu hao năng lượng và hoạt động của các cơ quan. Khi sự đáp ứng vượt quá ngưỡng bình thường như: khối lượng cơ hoạt động quá lớn, nhu cầu đáp ứng năng lượng cao, cơ thể có thể không đáp ứng kịp. Lao động nặng, tim phải cung cấp máu nhiều qua hệ tuần hoàn đến tổ chức nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng, tăng năng lượng và trao đổi khí, có thể gây nên tình trạng giãn tim đột ngột và tử vong ở những vận động viên. Do lao động quá khẩn trương, sự phối hợp giữa các nhóm cơ, các bộ phận không hợp lý dễ gây nên tai nạn lao động, hoặc tăng nhanh quá trình mệt mỏi. Chế độ lao động và nghỉ ngơi không hợp lý dễ làm tăng nhanh quá trình mệt mỏi, phát sinh các bệnh nghề nghiệp. Những lao động nặng tiêu hao năng lượng nhiều hoặc tiếp xúc với nhiều yếu tố độc hại sẽ chịu nhiều ảnh hưởng xấu lên sức khỏe nên cần được rút ngắn thời gian lao động và kéo dài thời gian nghỉ ngơi, để các trạng thái sinh lý, sinh hóa của cơ thể được hồi phục nhanh, khi chưa đến ngưỡng mất thăng bằng. Lao động nặng kéo dài sẽ làm tăng các sản phẩm trung gian, cạn kiệt năng lượng nếu ta cho nghỉ sớm các sản phẩm trung gian chưa xuất hiện nhiều, chưa đầu độc tế bào, năng lượng còn đủ để kích thích nhanh quá trình hồi phục. 11
  12. - Tư thế lao động không phù hợp với máy móc hoặc phương thức, phương tiện lao động sẽ gây nên sự bất thường cho các hoạt động chức năng, vì thế, các rối loạn bệnh lý dễ xảy ra hoặc quá trình mệt mỏi tế bào sẽ đến sớm. Trong thực tế, nhiều người lao động phải làm việc ở các tư thế không hợp lý, nhiều nhóm cơ vận động trong tình trạng vận cơ tĩnh hoặc tạo các góc quá nhiều, nhiều động tác uốn, vặn, sẽ làm tăng nhanh sự mệt mỏi của thần kinh và thể chất. - Các cơ quan bị căng thẳng do hoạt động không đồng bộ dễ gây nên sự mệt mỏi cục bộ. Trong các cơ quan dễ bị mệt mỏi sớm nếu hoạt động không phù hợp, người ta thấy đứng đầu là các giác quan, ví dụ: nhìn lâu mỏi mắt 3.2. Những tác hại nghề nghiệp liên quan đến quy trình sản xuất Trong quá trình sản xuất các yếu tố tác hại nghề nghiệp mang đặc trưng vật lý lý hóa, vi sinh vật... có thể phát sinh hoặc tăng tác dụng xấu lên cơ thể người lao động. - Các yếu tố vật lý như vi khí hậu, bức xạ, áp lực không khí không bình thường, rung chuyển... Thường xuyên tác động lên cơ thể làm ảnh hưởng đến sự cân bằng các phản ứng sinh lý, sinh hóa... Vi khí hậu xấu có thể là quá nóng hoặc quá lạnh. Trong các lò nung vật liệu nhiệt độ tăng lên tới hàng nghìn độ, có thể phát sinh ra nhiều loại bức xạ tử ngoại hoặc hồng ngoại... làm nóng nhiệt độ không khí hơn nhiệt độ da, cơ thể cảm nhận được gây trạng thái tích nhiệt, có thể làm cho quá trình thoát nhiệt của cơ thể bị ngừng trệ gây say nóng. - Các yếu tố lý hóa trong môi trường như bụi, hơi khí độc gây rất nhiều rối loạn bệnh lý và BNN, đứng đầu là các loại bụi vô cơ gây xơ hóa phổi không hồi phục gây tàn phế bộ máy hô hấp. Một số loại bụi hữu cơ như lông súc vật, bông, đay, phấn hoa gây phản ứng dị ứng co thắt khí phế quản. Các chất độc có trong môi trường lao động có thể ở dạng bụi hoặc khí gây nên nhiều bệnh nhiễm độc nguy hại như: nhiễm độc chì, asen, thuỷ ngân, thuốc trừ sâu... Có những loại chất độc dễ quan sát nhưng cũng có rất nhiều loại chất độc không mùi vị, khó quan sát, dễ gây nhiễm độc, cấp cứu khó khăn như oxytcarbon, thuỷ ngân... Trong môi trường lao động có nhiều yếu tố sinh học gây hại như các vi trùng, ký sinh trùng, các loại sinh vật phẩm có tính chất kháng nguyên 12
  13. gây nên viêm nhiễm hoặc phản ứng dị ứng, các nấm hoặc vi trùng có khả năng tồn tại cao ở ngoại cảnh như lao, bạch hầu dễ gây bệnh cho những người công nhân vệ sinh, các thầy thuốc. 3.3. Những tác hại nghề nghiệp liên quan tới điều kiện vệ sinh kém Điều kiện vệ sinh kém trong môi trường lao động là tập hợp bởi nhiều yếu tố tạo nên cảm giác hoặc trực giác đối với người lao động. Ví dụ như độ thông thoáng trong môi trường, các thiết bị vệ sinh và an toàn lao động, nhằm ngăn cản sự phát sinh các yếu tố độc hại từ nguồn hoặc bảo vệ thụ động như: khẩu trang, các loại máy hút bụi, ánh sáng thiếu làm giảm khả năng hoạt động của thị giác. Môi trường thiếu thông thoáng làm giảm khả năng trao đổi nhiệt, khí...Các yếu tố do điều kiện vệ sinh của môi trường lao động kém sẽ tác động lên người lao động làm cho các giác quan cung như toàn thân chóng mệt mỏi gây đến giảm năng xuất lao động, dễ gây các tai nạn nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp. 4. Bệnh nghề nghiệp - Bệnh nghề nghiệp là loại bệnh phát sinh do các tác hại nghề nghiệp. - Thông thường người ta hiểu bệnh nghề nghiệp mang tính chất đặc trưng của một nghề nào đó do yếu tốc độc hại trong nghề tác động thường xuyên lên cơ thể người lao động, gây nên những rối loạn bệnh lý cấp hoặc mạn tính. Tuy nhiên cũng không nên hiểu theo khuynh hướng quá rộng coi các bệnh xảy ra có liên quan đến môi trường lao động đều là bệnh nghề nghiệp. Ví dụ: bệnh tim mạch ở người lao động nặng. Song nếu quan mềm là bệnh đặc trưng như đau bụng chỉ đối với người công nhân tiếp xúc với chì thì sẽ bỏ sót nhiều bệnh nghề nghiệp như thiếu máu do nhiễm độc chì, viêm ống thận cấp do nhiễm độc các kim loại nặng... Có thể nói bệnh nghề nghiệp là một trong các loại bệnh môi trường bao gồm cả tình trạng cấp tính và mạn tính, ví dụ nhiễm độc cấp tính do oxytcarbon, viêm phế quản mạn tính trong môi trường có nhiều bụi... Có rất nhiều bệnh nghề nghiệp, để dễ nhận biết và có các biện pháp phòng chống phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp người ta phân chia các bệnh nghề nghiệp thành 5 nhóm dựa trên nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp gây bệnh. Nhóm 1: gồm những bệnh sinh ra do tác hại của bụi trong môi trường lao động ví dụ bệnh bụi phổi do các bụi vô cơ, bệnh dị ứng đường hô hấp 13
  14. do các bụi hữu cơ. Nhóm 2: gồm các bệnh sinh ra do các tác hại nghề nghiệp mang tính chất vật lý như tiếng ồn, áp lực cao, rung chuyển... Nhóm 3: các bệnh sinh ra do các tác nhân hóa học như các hóa chất độc ô nhiễm môi trường lao động: nhiễm độc thuốc trừ sâu, nhiễm độc kim loại nặng... Nhóm 4: nhóm bệnh sinh ra các tác nhân sinh học như các nấm men, vi sinh vật gây bệnh, gặp ở môi trường lao động của nông dân, những người lao công... Nhóm 5: bao gồm các bệnh sinh ra do hiện tượng căng thẳng thần kinh, cơ, xương, khớp, thường xẩy ra với các loại lao động đặc biệt, tác động lên một số bộ phận của cơ thể một cách không đồng đều. Các bệnh nghề nghiệp mang những đặc trưng so với các loại bệnh khác bởi yếu tố gây bệnh, sự phát sinh, phát triển bệnh lý chính vì vậy vấn đề chẩn đoán, điều trị bệnh cũng mang những đặc thù riêng. Ngoài ra bệnh nghề nghiệp còn mang tính chất xã hội chính vì vậy đòi hỏi trách nhiệm phòng tránh bệnh, giám định bệnh nghề nghiệp cho người lao động của những người sử dụng lao động. 4.1. Đặc điểm về nguyên nhân Do nhiều yếu tố độc hại khác nhau trong môi trường lao động tác động lên cơ thể nên bệnh thường phức tạp. Một nguyên nhân có khả năng gây nên nhiều hội chứng bệnh lý khác nhau ví dụ như chì có thể gây nên hội chứng thiếu máu, rối loạn thần kinh thực vật... Ngược lại một hội chứng cũng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động gây nên ví dụ benzen, chì, asen đều gây thiếu máu suy nhược cơ thể tuy cơ chế có khác nhau. 4.2. Đặc điểm lâm sàng Bệnh nghề nghiệp bao gồm các trạng thái cấp tính hoặc mạn tính. Thông thường các trường hợp cấp tính dễ phát hiện và xử trí. Đa số các bệnh nghề nghiệp là tiến triển mạn tính, diễn biến bệnh lý phát triển chậm, dấu hiệu lâm sàng nghèo hoặc có nhưng không đặc trưng, ví dụ nhiễm độc chì giai đoạn đầu chỉ như một trường hợp suy nhược cơ thể. Bệnh bụi phổi phải 5 - 10 năm sau mới có biểu hiện suy hô hấp. Biểu hiện ho ở những 14
  15. người mắc bệnh bụi phổi hoặc nhức đầu ở những người nhiễm độc benzen là dấu hiệu bệnh lý của nhiều bệnh khác. Trong quy trình khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cần thận trọng và thực hiện đúng các tiêu chuẩn trên cơ sở các yếu tố độc hại tiếp xúc, biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng đặc hiệu. Nói chung nên nghĩ đến bệnh nghề nghiệp để không bỏ sót song chi nên kết luận chẩn đoán khi đã loại trừ được các bệnh không phải do nghề nghiệp ví dụ thiếu máu do chỉ được chẩn đoán sau khi loại trừ các bệnh nội khoa và các bệnh ký sinh trùng... 4.3. Những ưu tiên về điều trị Thông thường muốn điều trị đạt được kết quả cao cần phải đưa bệnh nhân tách ra khỏi môi trường độc hại và loại trừ chất độc ra khỏi cơ thể. Các bệnh nghề nghiệp thường làm suy giảm chức năng của các cơ quan hữu quan đặc biệt là các cơ quan đóng vai trò quan trọng đối với sự sống như gan, thận, hệ thống tạo huyết... Do vậy tuỳ các trường hợp khác nhau mà có thể có các phương thức giải quyết cho phù hợp. Có thể khu trú chất độc vào một nơi nào đó trong cơ thể để tránh nồng độ cao trong máu và nước tiểu hoặc thải độc từ từ song song với nâng cao thể trạng. Nhìn chung cần ưu tiên khả năng tự đào thải các chất độc hoặc tự hồi phục của các cơ quan chức năng, đồng thời với việc nâng cao sức đề kháng, thể trạng cho bệnh nhân. 4.4. Bệnh nghề nghiệp mang tính chất xã hội Lao động là bắt buộc trong quá trình phát triển kinh tế xã hội loài người, có lao động là có tiếp xúc với các yếu tố độc hại và có thể mắc các bệnh nghề nghiệp. Vì vậy bệnh nghề nghiệp là vấn đề có liên quan đến các yếu tố xã hội trong nền kinh tế quốc dân. Người mắc bệnh nghề nghiệp phải được giới chủ hay cơ quan chủ quản hoặc hệ thống bảo hiểm xã hội có trách nhiệm đảm bảo về tinh thần, vật chất và các vấn đề sức khỏe một cách thoả đáng theo các quy định của mỗi quốc gia và quốc tế. Vì tính chất xã hội nên những người làm công tác chăm lo sức khỏe cũng như các nhà quản lý phải luôn luôn xác định được thái độ nghiêm túc chuẩn mực trong mọi mặt công tác có liên quan đến bệnh nghề nghiệp. 4.5. Một số bệnh nghề nghiệp được đền bù ở Việt Nam Ở các quốc gia phát triển đa số các bệnh nghề nghiệp đều được đền bù, song ở nước ta do điều kiện kinh tế đang phát triển, khả năng phát hiện 15
  16. các bệnh nghề nghiệp chưa cao nên phải đến ngày 19/5/1976 lần đầu tiên Nhà nước ta đưa ra danh mục 8 bệnh nghề nghiệp được đền bù. Ngày 25/12/1991 danh sách bệnh nghề nghiệp được đền bù nâng thêm 8 bệnh nữa, do đó cho đến năm 1991 ở nước ta đã có 16 bệnh được đưa vào danh mục các bệnh nghề nghiệp được đền bù (bảo hiểm). Đến ngày 4/2/1997 danh sách bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm được bổ sung thêm 5 bệnh nữa. Hiện nay "Danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở Việt Nam" gồm cố 21 bệnh sau: 1. Bệnh bụi phổi - silic. 2. Bệnh bụi phổi Atbet. 3. Bệnh nhiễm độc Chì và các hợp chất của nó. 4. Bệnh nhiễm độc Benzen và các đồng đẳng của nó. 5. Bệnh nhiễm độc Thuỷ ngân và các hợp chất của nó. 6. Bệnh nhiễm độc Mangan và các hợp chất của nó. 7. Bệnh nhiễm độc quang tuyến X và các chất phóng xạ. 8. Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn. 9. Bệnh viêm da, chăm tiếp xúc do Crôm. 10. Bệnh sạm da nghề nghiệp. 11. Bệnh rung chuyển. 12. Bệnh bụi phổi bông. 13. Bệnh tạo nghề nghiệp. 14. Bệnh viêm gan Virút nghề nghiệp. 15. Leptospira nghề nghiệp. 16. Bệnh nhiễm độc TNT. 17. Bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất asen nghề nghiệp. 18. Bệnh nhiễm độc Nicotin nghề nghiệp. 19. Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu nghề nghiệp. 20. Bệnh giảm áp nghề nghiệp. 21. Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp. 16
  17. Với xu hướng phát triển xã hội danh sách các bệnh nghề nghiệp được đền bù trong tương lai sẽ phải tăng lên không những chỉ đền bù cho các bệnh nghề nghiệp mạn tính mà còn đối với các bệnh mạn tính mang tính chất nghề nghiệp, nhằm đảm bảo công bằng xã hội cho tất cả những người lao động và nâng cao tinh thần trách nhiệm của các nhà quản lý các nhà doanh nghiệp. (Hiện nay số bệnh nghề nghiệp được đền bù đã lên tới 21 bệnh và tương lai danh sách này sẽ còn tăng lên nữa). 5. Một số biện pháp bảo vệ sức khỏe người lao động Nhằm mục đích bảo vệ và tăng cường sức khoẻ phòng chống các tác hại nghề nghiệp cho người lao động những vấn đề sau cần được ưu tiên. 5.1. Cải tiến kỹ thuật Vấn đề cải tiến kỹ thuật bao gồm những tiến bộ trong sản xuất, tự động hóa và cơ giới hóa không những làm giảm gánh nặng lao động mà còn làm giảm thời gian tiếp xúc với các tác hại nghề nghiệp, vấn đề này được các tác giả trên thế giới coi là vấn đề trọng tâm số một vì nó giảm thiểu các tác hại nghề nghiệp ngay từ nguồn phát sinh một cách chủ động. 5.2. Tổ chức lao động hợp lý Vấn đề tổ chức lao động hợp lý bao gồm phân bố lao động phù hợp với cấu trúc giải phẫu, tâm sinh lý của người lao động, cường độ lao động, chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý, ví dụ máy móc phù hợp với kích thước giải phẫu của cơ thể, lao động có các nhóm cơ hoạt động hài hoà, thời gian lao động từng môi trường khác nhau phù hợp sẽ tăng năng suất lao động và giảm nguy cơ mắc các rối loạn bệnh lý nghề nghiệp. 5.3. Các biện pháp phục hồi sức khỏe người lao động Sau một quá trình hoặc 1 ca lao động cơ thể người lao động cần được phục hồi lấy lại thăng bằng sinh lý, sinh hóa... các biện pháp nhằm phục hồi sức khỏe người lao động bao gồm chế độ dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, chế độ nghỉ ngơi giải trí luyện tập phục hồi chức năng. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào các hoạt động tinh thần cũng đóng góp một phần không nhỏ tạo điều kiện nâng cao sức khỏe người lao động. Sau cùng là việc chăm lo sức khỏe, khám phát hiện các rối loạn bệnh lý và bệnh nghề nghiệp sớm với tinh thần chăm sóc sức khỏe ban đầu cho tất cả mọi người, như vậy mới từng bước cải thiện và tăng cường sức khỏe cho công 17
  18. nhân một cách hữu hiệu. TỰ LƯỢNG GIÁ 1. Công cụ lượng giá Phân biệt đúng sai các câu từ câu 1 đến câu 14 bằng cách đánh dấu X vào cột A cho câu đúng và cột B cho câu sai. TT Câu hỏi A B 1. Tác hại nghề nghiệp là các yếu tố sinh ra trong quá trình lao động sản xuất và có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và khả năng lao động. 2. Tác hại nghề nghiệp là các yếu tố gây bệnh nghề nghiệp 3. Thời gian lao động quá dài cũng là một yếu tố tác hại nghề nghiệp 4. Bệnh nghề nghiệp là bệnh sinh ra do các yếu tố tác hại nghề nghiệp 5. Mỗi bệnh nghề nghiệp đặc trưng cho một nghề. 6. Tất cả các bệnh có liên quan tới môi trường lao động đều là bệnh nghề nghiệp. 7. Một yếu tố tác hại nghề nghiệp có thể gây nhiều rối loạn bệnh lý cho người lao động và ngược lại một rối loạn bệnh lý có thể do nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp gây ra. 8. Bệnh nghề nghiệp chỉ có trạng thái mạn tính, không có trạng thái cấp tính. 9. Chỉ chẩn đoán xác định là bệnh nghề nghiệp khi người lao động có tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp phù hợp. 10. Tách người lao động khỏi các tác hại nghề nghiệp là yếu tố quan trọng để điều trị bệnh nghề nghiệp có hiệu quả cao. 11. Khi người lao động mắc bệnh nghề nghiệp thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm đền bù về vật chất và đảm bảo sức khỏe cho người lao động. 12. Kể từ năm 1997 Việt Nam có 21 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm 13. Cải tiến kỹ thuật là biện pháp tích cực nhất để loại trừ các tác hại nghề nghiệp. 14: Để bảo vệ sức khỏe người lao động, thời gian lao động và nghỉ 18
  19. giải lao phải tuỳ thuộc vào loại hình và môi trường lao động. Chọn câu trả lời đúng nhất trong các câu từ câu 15 đến câu 18 bằng cách đánh dấu X vào cột tương ứng với chữ cái đứng đầu câu trả lời được lựa chọn. Câu hỏi A B C D E 15. Thời gian lao động thể lực quá lâu dài có thể gây tất cả các hậu quả sau, ngoại trừ: A. Căng thẳng về thần kinh tâm lý B. Năng lượng cạn dần. C. Đau mỏi cơ, co cứng cơ D. Bệnh nhiễm độc nghề nghiệp 16. Cường độ lao động quá nặng nhọc và khẩn trương có thể gây nên: A. Tình trạng giãn tim đột ngột và tử vong B. Viêm loét dạ dày tá tràng. C. Suy nhược cơ thể D. Rối loạn thần kinh thực vật. 17. Tư thế lao động không phù hợp với máy móc hoặc phương thức, phương tiện lao động có thể gây nên tất cả các tình trạng sau, ngoại trừ: A. Quá trình mệt mỏi tế bào đến sớm. B. Tăng nhanh sự mệt mỏi của thần kinh và thể chất. C. Bệnh nghề nghiệp. D. Tai nạn lao động 18. Có rất nhiều bệnh nghề nghiệp, để dễ nhận biết người ta phân chia bệnh nghề nghiệp làm 5 nhóm dựa trên: A. Cơ quan bị bệnh B. Tác nhân gây bệnh 19
  20. C. Nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp gây bệnh. D. Tình trạng bệnh lý. Điền các từ hoặc nhóm từ thích hợp vào chỗ trông trong các câu 19 và 20: 19. Ba nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp liên quan đến quy trình sản xuất là: A............................................................................................................. B............................................................................................................. C............................................................................................................. 20. Bệnh nghề nghiệp được chia làm 5 nhóm dựa trên các yếu tố tác hại nghề nghiệp gây bệnh đó là: Nhóm 1: bệnh nghề nghiệp sinh ra do.................. A................ Nhóm 2: bệnh nghề nghiệp sinh ra do................ B................... Nhóm 3: các bệnh nghề nghiệp sinh ra do các tác nhân hóa học. Nhóm 4: bệnh nghề nghiệp sinh ra do tác nhân sinh học. Nhóm 5: Các bệnh sinh ra do hiện tượng căng thẳng thần kinh, cơ, xương, khớp. 2. Hướng dẫn tự lượng giá Để có thể trả lời đúng các câu hỏi trên sinh viên cần đọc kỹ bài theo các phần sau: - Phần "Tác hại nghề nghiệp" trả lời các câu 1 đến câu 3, câu 15 đến câu 17 và câu 19. - Phần "Bệnh nghề nghiệp" trả lời cho các câu hỏi 4 đến câu 11 và câu 18; 20 - Phần "Một số bệnh nghề nghiệp được đền bù ở nước ta" trả lời cho câu 12. - Phần "Một số biện pháp bảo vệ sức khỏe phòng chống các tác hại nghề nghiệp" trả lời câu 13 và 14. Sau khi tự tìm kiếm và lý giải cho các câu trả lời có thể đối chiếu 20
Đồng bộ tài khoản