Giới thiệu một số quan điểm về tỷ giá và cán cân thương mại của Trung Quốc

Chia sẻ: Songanh Songanh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:5

0
327
lượt xem
110
download

Giới thiệu một số quan điểm về tỷ giá và cán cân thương mại của Trung Quốc

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kể cũng không có gì là quá lời khi ngày càng nhiều người cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc. Từ một nước nghèo, chậm phát triển nhưng trong hơn 2 chục năm qua, nền kinh tế Trung Quốc đã liên tục phát triển với mức tăng trưởng cao (trên 7,5%), nhờ đó mà cứ sau khoảng thời gian khoảng 10 năm là GDP của Trung Quốc đã tăng gấp đôi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giới thiệu một số quan điểm về tỷ giá và cán cân thương mại của Trung Quốc

  1. Giới thiệu một số quan điểm về tỷ giá và cán cân thương mại của Trung Quốc Kể cũng không có gì là quá lời khi ngày càng nhiều người cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của Trung Quốc. Từ một nước nghèo, chậm phát triển nhưng trong hơn 2 chục năm qua, nền kinh tế Trung Quốc đã liên tục phát triển với mức tăng trưởng cao (trên 7,5%), nhờ đó mà cứ sau khoảng thời gian khoảng 10 năm là GDP của Trung Quốc đã tăng gấp đôi. Bằng những nỗ lực cải cách mạnh mẽ trên nhiều mặt của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc mà quốc gia này đang trở thành nhà cung cấp chính, cũng đồng thời là thị trường rộng lớn của những công ty đa quốc gia. Tăng trưởng nhanh, dự trữ lớn, nguồn lao động dồi dào với giá rẻ và những cải cách liên tục nhưng cũng rất thận trọng là những từ thường được nhắc tới khi nói về nền kinh tế Trung Quốc. Dưới đây xin giới thiệu một số quan điểm về chính sách thương mại và chính sách tỷ giá của Trung Quốc để bạn đọc tham khảo. Mới đây, ngày 20/3/2006, Thống đốc Ngân hàng nhân dân Trung Quốc- Chu Hiểu Xuyên đã có bài nói chuyện về 2 vấn đề: Cán cân thương mại và chính sách tỷ giá của Trung Quốc. 5 yếu tố chính tạo nên thặng dư thương mại của Trung Quốc: 1. Quá trình toàn cầu hoá và việc phân công lao động ở mức cao, đã làm cho việc thuê gia công hoặc nhập các bán thành phẩm từ một nhà cung cấp khác sẽ rẻ hơn việc tự đầu tư sản xuất sản ra bán thành phẩm đó, cùng với nó là việc tái cơ cấu lại các mắt xích của các nhà cung ứng đã trở thành xu hướng chính trong mấy năm gần đây. Nhờ có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và sự tiến bộ về cơ sở hạ tầng mà Trung Quốc đã trở thành một nhà cung cấp nguyên liệu, bán thành phẩm chủ yếu của thế giới. 2. Trung Quốc đã tận dụng được ưu thế của người đi sau trong các lợi thế cạnh tranh. Do có những chính sách đi tắt, đón đầu đúng hướng, Trung Quốc và Ấn Độ đã tập trung đào tạo lao động và phát triển công nghệ vào một số lĩnh vực và sản phẩm nhất định như các sản phẩm về bán dẫn, điện tử và công nghệ thông tin. Hiện tại Trung Quốc và Ấn Độ đã thực sự trở thành nhà cung cấp của thế giới về sản phẩm này, do có được lợi thế so sánh vì có nguồn lao động dồi dào với giá rẻ. Trước đây, các lĩnh vực này là ưu thế này của các nước phát triển, nhưng nay do chi phí lao động tại các nước này cao, việc chuẩn bị các cơ sở sản xuất và lực lượng lao động chưa tương xứng với sự phát triển và bùng nổ của các sản phẩm này nên đã bị tụt hậu so với sự chuẩn bị của Trung Quốc và Ấn Độ. 3. Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chủ yếu là từ các Công ty đa quốc gia đã thể hiện vai trò chủ đạo trong việc phân bổ nguồn lực. Sự kết hợp giữa nguồn vốn, công nghệ từ nước ngoài (các Công ty đa quốc gia) và nguồn lao động chuyên sâu với giá rẻ của Trung Quốc đã biến Trung Quốc thành nhà cung cấp chính các thành phẩm và bán thành phẩm cho thế giới. Trung Quốc đã phát triển và trở thành trung tâm gia công tái xuất cho các doanh nghiệp nước ngoài, với việc gia tăng mạng lưới cung cấp, chính sách tỷ giá mềm dẻo và uy tín trong thương trường Trung Quốc cũng làm tăng giá trị thặng dư và tăng lợi nhuận cho các công ty đa quốc gia. 4. Từ năm 1998-2004, trong quan hệ với nước ngoài Trung Quốc luôn giữ ở mức cân đối, với mức thặng dư hàng năm trong khoảng từ 20-30 tỷ USD. Tuy vậy,
  2. mức thặng dư thương mại của Trung Quốc đã tăng mạnh trong năm 2005 tới 100 tỷ USD, điều đó có thể lý giải là do mức tăng nhập khẩu thấp (17,6%), trong khi xuất khẩu vẫn tăng (28,4%). Sự giảm nhập khẩu này có liên quan đến việc điều chỉnh cơ cấu của Trung Quốc, cụ thể là giảm nhập máy móc thiết bị. 5. FDI cũng đã góp phần làm cho nhập khẩu của Trung Quốc tụt giảm, một phần là do các cơ sở sản xuất trong nước đã sản xuất được các sản phẩm cần nhập ( thay thế hàng nhập), mặt khác đã có một số thương hiệu, nhãn mác, kiểu dáng công nghệ đã được Trung Quốc mua lại. Một số cải cách trong các qui định về tỷ giá của Trung Quốc: 1. Trung Quốc đã thực hiện thành công việc cải cách một bước về chính sách tỷ giá đồng Nhân dân tệ (CNY) vào ngày 21/7/2005, thông qua đó đã đạt được một số mục tiêu và đáp ứng được mong mỏi của cộng đồng quốc tế. 2. Việc tiến hành phân tích một số kịch bản và dự báo trước khi thực hiện cải cách đã có một số quan điểm khác nhau về tác động của cải cách, hơn nữa, chúng ta cần có thêm thời gian để quan sát và thu thập số liệu để đánh giá tác động của cải cách tỷ giá đối với sự phát triển kinh tế trong nước và tác động đến tình hình lao động, v.v... 3. Sáu tháng sau cải cách (việc nâng giá đồng tiền), hầu hết các doanh nghiệp của Trung Quốc đã thích ứng với cải cách (tỷ giá mới) sau khi có một số điều chỉnh, tuy nhiên vẫn còn một vài lĩnh vực đang gặp phải khó khăn do việc điều chỉnh nâng giá đồng CNY. Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng các lực lượng thị trường có thể chấp nhận việc dần dần từng bước thả nổi tỷ giá đồng CNY. 4. Trong 8 tháng qua, Trung Quốc đã nỗ lực rất lớn để phát triển thị trường giao dịch ngoại hối. Các sản phẩm trên thị trường ngày càng phong phú, các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro và công cụ tài chính phái sinh như: “forward” và “swap” cũng đã được phát triển, các giao dịch mua bán qua quầy (OTC) đã được thực hiện trong các hoạt động thị trường liên ngân hàng. Tuy vậy, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức tài chính của Trung Quốc cần có một thời gian để học hỏi làm quen với những thay đổi trong thị trường giao dịch ngoại hối và họ cần củng cố vị thế của mình sau khi khai trương hoạt động. 5. Cũng trong 8 tháng qua, Trung Quốc đã giảm dần việc kiểm soát tập trung, loại bỏ bớt các qui định không cần thiết trong việc quản lý ngoại hối, bao gồm việc nới lỏng việc kiểm soát phần ngoại tệ được giữ lại và ngoại tệ trong các tài khoản vốn của các doanh nghiệp, linh hoạt hoá trong việc sử dụng ngoại tệ trên các tài khoản của cá nhân và doanh nghiệp. PBOC đã cho phép các NHTM được chủ động về cơ cấu theo trạng thái “trường”, “đoản” của từng loại ngoại tệ trong tổng số ngoại tệ mà các ngân hàng này đang nắm giữ. Thông qua các cải cách về qui chế ngoại hối này, thị trường ngoại hối Trung Quốc đang tiến dần tới chỗ phản ánh đúng quan hệ cung cầu về ngoại tệ. Trung Quốc vận dụng các cải cách như thế nào: áp dụng từ từ hay sử dụng liệu pháp gây sốc: a. Bởi vì sự phát triển mạnh của xu hướng toàn cầu hoá, sự phân bổ lại nguồn lục giữa các quốc giavà những thay đổi về mạng lưới các nhà cung cấp nguyên, nhiên, phụ liệu như đã đề cập ở phần trên sẽ còn
  3. kéo dài một số năm trước khi thương mại thế giới đạt được điểm cân bằng. Trung Quốc là một nước lớn đang phát triển, phải chịu sức ép rất nặng nề về nhu cầu việc làm, đồng thời cũng là quốc gia mà hệ thống tài chính còn mỏng manh, dễ đổ vỡ, do vậy Trung Quốc chỉ có thể gắn với áp dụng các cải cách điều chỉnh dần dần nền kinh tế trong khả năng có thể kiểm soát. b. Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF) mới đây đã tổ chức một cuộc hội nghị thảo luận tìm các giải pháp làm giảm sự mất cân đối toàn cầu, hầu hết các thành viên tham dự đều tin tưởng, đánh giá cao chính sách điều chỉnh dần dần của Trung Quốc và nói rằng các biện pháp quyết liệt có thể gây ra các kết quả không mong muốn. Mặt khác, các thành viên tham dự hội nghị cũng đề nghị Mỹ nên có những chính sách điều chỉnh nền kinh tế trong nước để giảm dần các mức thâm hụt ngân sách và thâm hụt vãng lai. c. Một vài lời tham vấn đã đưa ra các liệu pháp sốc giống như đã từng áp dụng tại Nga và các nước Đông Âu, thậm chí nói về cả các “cú sốc phi liệu pháp”. Chúng ta cần cảnh giác trước các lời khuyên như vậy. Trung Quốc sẽ chỉ để tâm đến việc điều chỉnh dần nền kinh tế và nhân dân Trung Quốc cũng đặt trọn niềm tin vào thắng lợi của các công cuộc cải cách, chúng ta không quan tâm đến việc Mỹ có sử dụng liệu pháp sốc để điều chỉnh những mất cân đối hiện nay hay không. Mất cân đối toàn cầu và vai trò của tỷ giá: 1. Chính phủ Trung Quốc hiện đã sẵn sàng áp dụng mọt số biện pháp, chính sách tổng hợp, bao gồm: mở rộng nhu cầu nội địa, hạ thấp tỷ lệ tiết kiệm, mở cửa thị trường, thả nổi tỷ giá và gia tăng nhập khẩu nhằm cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Với việc triển khai các biện pháp chính sách này, Trung Quốc hy vọng rằng trong vòng từ 2-3 năm nữa cán cân thương mại của Trung Quốc sẽ tương đối thăng bằng. Tuy vậy, theo phân tích của các nhà kinh tế Trung Quốc, trong trường hợp Trung Quốc cố hướng tới sự thăng bằng trong cán cân thương mại với thế giới, thì nền kinh tế Mỹ có thể vẫn chưa giải quyết được vấn đề thâm hụt rất lớn hiện nay, vì vậy rất khó đạt được sự cân bằng trong cán cân thương mại song phương. Lúc đó, trách nhiệm làm cho cán cân thăng bằng sẽ không còn lệ thuộc vào phía Trung Quốc nữa. 2. Mỹ và Trung Quốc nên có những nỗ lực chung để giảm bớt sự mất cân bằng cán cân thương mại giữa 2 quốc gia. Trong khi Chính phủ Trung Quốc đang nỗ lực thực hiện các biện pháp, chính sách như đã nêu ở phần trên thì nghe nói phía Mỹ vẫn rất chậm chạp trong việc tập trung làm giảm mức thâm hụt kép của nước mình cũng như nâng cao dần tỷ lệ tiết kiệm. 3. Một vài nhà kinh tế Mỹ cho rằng, điều chỉnh tỷ giá giữa các đồng tiền là yếu tố chủ yếu để khắc phục sự mất cân đối thương mại hiện nay, về phía Trung Quốc, ý kiến của đa số những nhà kinh tế được đào tạo từ các trường khác nhau đều cho rằng đó chỉ là một giả thuyết, qua kiểm nghiệm từ các số liệu thống kê về thương mại với các mức tỷ giá thực tế được ghi lại, thì giả thuyết trên đã bị đổ vỡ trong hơn 1 năm qua. Mặt khác qua kinh nghiệm của
  4. một số nước khác, cũng không có căn cứ nào ủng hộ giả thuyết do các học giả Mỹ đưa ra. Chính vì vậy chúng ta nên thận trọng, đừng tin tưởng quá đáng vào việc có thể dùng chức năng của tỷ giá để điều chỉnh các mất cân đối trong tài khoản vãng lai hiện nay. 4. Theo các điều khoản đã thoả thuận với IMF, các nước thành viên có quyền lựa chọn cơ chế tỷ giá phù hợp với trình độ quản lý của mình, hoặc tỷ giá thả nổi hoàn toàn, hoặc thả nổi có quản lý hoặc tỷ giá cố định là do quyết định của chính họ”. Trong chiều hướng này, liệu có tồn tại một cơ chế tỷ giá gắn với một cái tên là “cơ chế tỷ giá khôn ngoan”. Trung Quốc sẽ dần dần chuyển từ các điều khoản liên quan đến tỷ giá cố định sang cơ chế tỷ giá có tính linh hoạt hơn song song với tiến trình cải cách và mở cửa nền kinh tế. Trung Quốc hy vọng sẽ nhận được sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế, mặt khác Trung Quốc kiên quyết bác bỏ những luận điệu cho rằng Trung Quốc đang lợi dụng một chính sách tỷ giá không minh bạch nhằm chiếm ưu thế trong thị trường xuất khẩu. 5. Chính sách về cân đối thương mại nên được đánh giá trong cả một quá trình, cũng có thể là một thời kỳ vài năm, chứ không phải là thặng dư của một năm. Các thống kê liên quan đều không ủng hộ quan điểm cho rằng Trung Quốc đã đạt được lợi thế thương mại từ việc đặt ra các qui định về tỷ giá. Nhật Bản đã giữ kỷ lục nhiều năm về thặng dư thương mại, như thế cũng không thể nói rằng việc trong cơ chế tỷ giá đồng Yên có gì đó thiếu minh bạch. Tính đối ngẫu giữa khoảng trống tiết kiệm và mất cân đối thương mại : 1. Khoảng trống tiết kiệm được đo bằng mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư, còn mất cân đối thương mại được đo bằng mức chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu. Kinh tế học vĩ mô đã mô tả tính đối ngẫu trong mối quan hệ giữa 2 đại lượng này. Tỷ lệ tiết kiệm cao sẽ dẫn đến kết quả là cán cân thương mại thặng dư và ngược lại. Do vậy, nếu xảy ra mất cân đối do nhập khẩu quá lớn cần xem xét đến vấn đề tiết kiệm. 2. Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau ẩn chứa sau vấn đề tỷ lệ tiết kiệm cao của Trung Quốc. Một vài nguyên nhân xuất phát từ quá trình chuyển đổi của nền kinh tế, còn lại những nguyên nhân khác là từ tập tính tiêu dùng xã hội, từ nếp sống và truyền thống văn hoá. Bên cạnh đó, việc luồng vốn đầu tư FDI ồ ạt đổ vào Trung Quốc cũng có tác động làm tăng tỷ lệ tiết kiệm của Trung Quốc. 3. Chính phủ Trung Quốc đã có những hành động và chính sách, chiến lược để mở rộng tiêu dùng nội địa, tất nhiên, chính sách nào cũng cần có thời gian để phát huy tác dụng. 4. Tỷ lệ tiết kiệm cao và nắm giữ một lượng dự trữ lớn tại các nền kinh tế Châu Á, cũng một phần là kinh nghiệm rút ra từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á. Nhiều quốc gia đã lên tiếng phàn nàn vì sự rút vốn ồ ạt của các quĩ đầu tư Mỹ, họ cũng nhận thấy những chính sách phản ứng chậm chạp và vai trò điều phối của IMF thông qua cuộc khủng hoảng này. Tỷ lệ tiết kiệm cao, nắm giữ dự trữ lớn đã trở thành những công cụ hữu hiệu để các quốc gia cũng như hộ gia định ở Châu Á ngăn chặn những rủi ro. 5. Tỷ lệ tiết kiệm tại Mỹ đang ở mức cực đoan. Cả Mỹ và Trung Quốc cần có
  5. những điều chỉnh trong tiêu dùng nội địa và tỷ lệ tiết kiệm, tuy vậy, để giải quyểt vấn đề mất cân đối trong thương mại vẫn còn rất khó khăn. Chúng ta cũng đừng trông đợi gì nhiều ở các cuộc đàm phán về điều chỉnh cơ cấu hoặc những thay đổi về tỷ giá hối đoái. Những phân tích về dự trữ ngoại tệ: 1. Sau những cải cách về cơ chế tỷ giá ngày 21/7/2005, là khoảng thời gian các động thái kinh tế của Trung Quốc có phần lắng lại, để nghe ngóng xem xét trước khi cơ chế mới có tác động đến diễn biến của cán cân vãng lai, đến tình hình thu hút FDI của Trung Quốc, nhiều người còn hồ nghi về kết quả của việc làm này. Theo cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc sẽ dần dần giảm bớt vai trò của mình trong việc quản lý tỷ giá ngoại tệ, điều đó có thể dẫn đến việc dự trữ ngoại tệ có thể tăng chậm. 2. Sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, nổi lên một số quan điểm mới đề cập đến việc cần phải tăng mức dự trũ ngoại tệ của quốc gia, quan điểm này vẫn đang thịnh hành và nó được rút ra từ bài học của các nước bị khủng hoảng, vì dự trữ ngoại tệ chính là lớp đệm chống lại các “cú sốc”. 3. Nếu hai quốc gia có qui mô nợ nước ngoài và mức độ thu hút FDI khác nhau thì dự trữ ngoại tệ do họ nắm giữ không nhất thiết phải giống nhau. Nợ nước ngoài sẽ phải trả, còn đầu tư nước ngoài cũng có phần lợi nhuận chuyển ra thậm chí vẫn có thể vốn đó được rút ra. Bên cạnh đó còn có thể có các khoản đầu tư nóng, khoản đó có thể bị rút ra bất cứ lúc nào. Tất cả những yếu tố trên, buộc các quốc gia cần có một lượng dự trữ tương xứng. Như vậy nếu tính theo tỷ lệ dự trữ trên nợ nước ngoài và vốn FDI thì dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc không hề cao. Vai trò của WTO: Cơ chế của WTO là thiết lập nên những nguyên tắc của cuộc chơi dựa trên cơ sở lợi ích đa phương, có nhiều cuộc chơi mà ở đó có thể các bên tham gia cuộc chơi đều giành thắng lợi, bởi vậy tham gia vào đây có thể cả Mỹ và Trung Quốc đều thắng. Có thể có thành viên nào đó gặp một số mất cân đối, nhưng tham gia WTO họ có thể giải quyết những mất cân đối đó thông qua các cuộc đàm phán. Nếu như có cuộc chơi nào đó mà chỉ có người thua, thì cả Mỹ và Trung Quốc đều bị tổn thương, do vậy mà gặp những tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, tốt hơn hết là nên dừng cuộc chơi. Do vậy, trong cuộc chơi về tự do thương mại toàn cầu, chống lại chủ nghĩa bảo hộ, Trung Quốc và Mỹ nên chọn chơi những ván bài mà ở đó cả hai cùng thắng. NQH - PTKT&DB - Vụ CSTT

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản