Graphic-Multimedia part 14

Chia sẻ: Dqwdasdasd Qwdasdasdasd | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
44
lượt xem
6
download

Graphic-Multimedia part 14

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một tùy chọn khác để điều chỉnh kích cỡ file xuất. Max overflow improvement và Max overflow degradation thể hiện codec có thể đền bù bao nhiêu phần trăm overflow / underflow khi tăng hoặc giảm kích cỡ của các khu vực trong file video Graphic-Multimedia part 14

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Graphic-Multimedia part 14

  1. Overflow treatment Một tùy chọn khác để điều chỉnh kích cỡ file xuất. Max overflow improvement và Max overflow degradation thể hiện codec có thể đền bù bao nhiêu phần trăm overflow / underflow khi tăng hoặc giảm kích cỡ của các khu vực trong file video.Giá trị đuợc nhập càng cao,quá trình thực hiện overflow / underflow càng diễn ra nhanh,nhưng cũng đồng nghĩa với việc sẽ không có bitrate được lưu trữ lại để cung cấp cho những frame có thể cần tới nó.Phần trăm được set càng lớn sẽ càng làm sai lệch khích thước của file xuất ra so với tính toán ban đầu. Overflow control strength chỉ định phần trăm phân phối overflow / frame trong giới hạn của overflow improvement/degradation tối đa nói ở trên. Những thông số này sẽ thông báo cho bộ điều khiển bitrate biết cường độ giảm bitrate so với quantizer1(mức q có chất lượng hoàn hảo).Giá trị càng cao nghĩa là chất lượng bitrate của file xuất càng gần với q1+kích thước file càng lớn. Overflow và Underflow ở đây được hiểu là sự vượt quá hay giảm đi của bitrate trong một khung hình. Curve compression High bitrate scene degradation cho phép nhập phần trăm bitrate giảm cho những cảnh nhiều chuyển động. Low bitrate scenes improvement cho phép nhập phần trăm bitrate tăng cho những cảnh ít chuyển động Bình thường,2 thông số này được đặt ở 0% Advanced Option Nhấn OK để trở lại cửa sổ config đầu tiên,tìm tới nút Advanced Option Đây là phần không kém phần quan trọng. Motion Thiết lập sự đánh giá chuyển động cho quá trình encode. Motion Precision -Motion search precision cho phép chọn những thuật toán dựng sẵn cho sự dò tìm chuyển động.Hãy nhớ rằng trong từng movie thì áp dụng những bọ search khác nhau,ví dụ không cần thiết phải áp dụng bộ search của film hành động khi ta
  2. encode một vở kịch(vì kịch thì chắc chắn rất ít chuyển động so với film hành động).Tuy nhiên thiết lập này tôi vẫn thường đặt ở mức cao nhất để thu được những chuyển động tốt nhất. -VHQ mode: sẽ áp dụng thêm một tiến trình tìm kiếm chuyển động khác để tăng thêm chất lượng hình ảnh,tất nhiên sẽ phải trả giá bằng thời gian encode chậm đi.Bình thường hãy đặt là 1. -Use VHQ for bframes too sẽ sử dụng VHQ cho cả B-frame,như vậy,tất cả các loại frame trong video sẽ đều sẽ được áp dụng thuật toán dò chuyển động VHQ.Tùy chọn này sẽ làm chậm thêm quá trình encode và bạn có thể tùy ý quyết định xem có cần sử dụng nó hay không. -Use chroma motion sẽ dựa trên sắc độ(chroma) để đưa ra những tính toán về chuyển động,có tác dụng khá tốt trong việc loại bỏ bớt block trên hình ảnh thu được,trả giá khoảng từ 5 tới 10% tốc độ encode.Nếu bạn encode film đen trắng,không nên đánh dấu vào đây mà hãy tìm tới lựa chọn “Greyscale”. - Turbo ;-).Tối ưu hóa về tốc độ cho các thuật toán dò chuyển động,vì vậy tốc độ sẽ được cải thiện.Thường xuyên sử dụng tùy chọn này. Other - Frame drop ratio.Tỉ lệ frame sẽ bị loại bỏ.Đừng dùng nó nếu bạn muốn encode hoàn chỉnh 1 file video -Maximum I-frame interval.Số frame (khác I) tối đa tồn tại giữa 2 keyframe,thường set là 300,tức là nếu sau 300 frame mà không xuất hiện một I-frame nào,quá trình encode sẽ tự động chèn 1 I-frame vào.Nếu bạn biết video của mình có fps là bao nhiêu,bạn có thể tham khảo các thông số dưới đây: Code: NTSC FILM (23.976 fps) set: 240 PAL (25 fps) set: 250 NTSC (29.970 fps) set: 300 -Cartoon mode (trong hình minh họa không có).Dùng khi bạn encode phim hoạt hình.Lưu ý đây là dành cho phim hoạt hình của Mỹ,CG,không phải là anime,vì vậy nếu xử lý anime,bạn không cần sử dụng mode này.
  3. Quantization -Quantizer restrictions. Giới hạn của quantizer cho từng loại frame.Các ô để nhạp thông số đều rất dễ hiểu,bạn có thể chỉnh được biên độ quantizer cho cả 3 loại frame I,B,P. -Trellis quantization Quantizaton mode cải tiến có chất lượng cao. Debug Performance optimizations XviD có thể tự động dò tìm các tập lệnh mở rộng được tích hợp trong processor(CPU) của bạn.Các tập lệnh của hỗ trợ trong XviD là: MMX SSE SSE2 3Dnow!(AMD) 3Dnow!2(AMD) FourCC used-4CC Bạn sẽ cần lưu ý thêm về vấn đề này vì nó liên tới quá trình playback sau này.4CC là 4 ký tự đại diện cho codec dùng cho một file mpeg4.Với mỗi 4CC sẽ lại có một cách giải mã khác nhau để có thể playback được file video tương ứng.bạn có thể đổi 4CC XviD thành DivX hay DX50 để tương thích với bộ giải mã của mình. Zone Options Bạn nghĩ sao nếu trong bộ film của bạn có thêm phần credit ở cuối và chúng thật sự không quan trọng lắm để bạn encode bình đẳng như phần movie chính.Sẽ có lúc
  4. bạn có nhu cầu điều chỉnh chất lượng của phần credit này khác đi so với tổng thể của bộ film(để tiết kiệm thêm không gian đĩa cho việc khác chẳng hạn).Đây là lúc chúng ta cần tới Zone Options. Nhấn vào nút Zone options để cửa sổ mới hiện ra Hãy xác định frame bắt đầu cho đoạn film mà bạn muốn thao tác riêng bằng cách nhập thông số vào ô start frame #.Ta có thể tính số frame bằng cách lấy thời gian(tính bằng giây) nhân với fps của bộ file video(23.97,25,29.7…) Rate control Có thể điều chỉnh chất lượng bằng 2 cách: -Weight. Đây là hệ số giữa bitrate của toàn bộ film và của file tách riêng.Nếu nó set là 0.2 nghĩa là bitrate của file tách riêng sẽ bằng 20% bitrate của file ban đầu. -Quantizer: Rất đơn giản,đặt hệ số nén trong khoảng từ 1 tới 31 với 1 là chất lượng cao nhất có thể đạt được. Static Begin with keyframe.Đặt keyframe vào đầu đoạn film tách riêng này. Greyscale encoding.Loại bỏ hết thông tin về màu sắc khi encode,file xuất sẽ chỉ có 2 màu đen trắng. Chroma optimizer.Bộ lọc tự động đặt thêm màu sắc vào những vùng pixel Đen trắng đồng đều.Có tác dụng giảm hiệu ứng răng cưa với màu đỏ(khi xem CG,bạn thường thấy những vùng màu đỏ luôn xuất hiện răng cưa ở rìa-đó là hiệu ứng răng cưa đỏ). Cartoon Mode:dùng cho film hoạt hình (Mĩ-không phải anime) BVOP sensitivity.Chỉ định số B-frame giới hạn được dùng,0 là mặc định.Chỉ số càng cao,càng có nhiều B-frame xuất hiện,nếu chỉ số này nhỏ hơn 0 sẽ có ít B- frame hơn so với mặc định.
  5. Khi thiết lập xong,chọn OK,khi quay trở lại màn hình chính bạn sẽ thấy các thông số trong ô Zones thay đổi.bạn có thể tạo hay xóa nhiều Zones cùng một lúc bằng cách dùng Add hay Remove để quản lý chúng. Chọn OK để hoàn thành việc configure cho XviD. ------------------------------------------------------------------------------ Một số điều nên biết khi encode XviD mpeg4. Chỉ với một máy tính có processor hỗ trợ 2 tập lệnh MMX và SSE và môt ổ cứng đủ lớn là bạn đã có thể encode video được rồi(nếu encode DVD thì bạn cần thêm một DVD-rom nữa).Hai điều kiện quan trọng hàng đầu trong một máy tính dùng để encode là tốc độ bộ vi xử lý và memory (ít quan trọng hơn). Nói về tốc độ xử lý,nếu bạn có một chiếc PC xài pentium có tốc độ xung thực là 300Mhz,bạn vẫn có thể encode như bình thường,nhưng tốc độ sẽ vô cùng chậm,chỉ đạt vài fps.Bộ vi xử lý có tốc độ khoảng trên 1Ghz với setting thích hợp có thể encode realtime ra một file video có chất lượng home theatre.Nếu bạn sở hữu một bộ máy A64 3500+,bạn sẽ dễ dàng đạt tới tốc độ 100+ fps(đã nói ở trên).Với vi xử lý Intel có tích hợp công nghệ siêu phân luồng,máy tính của bạn sẽ chạy các ứng dụng khác song song cùng lúc với việc encode một cách nhẹ nhàng hơn.(tất nhiên với điều kiện bạn không dùng cả 2 thread cho encode) AMD A64 lõi đơn có vẻ yếu thế hơn Intel Pentium4 HT khi cùng lúc vừa encode vừa chạy ứng dụng khác.Trên trang chủ của AutoGordianKnot,một bộ phần mềm miễn phí có thể coi là “tổ sư” trong lĩnh vực convert DVD sang mpeg4,đã có một cuộc khảo sát với mục đích tìm hiểu xem CPU nào được dùng nhiều hơn trong việc encode video,và kết quả sau hàng nghìn biểu quyết là xấp xỉ 60% cho AMD vào thời điểm tôi viết bài này.Với những hệ thống máy tính lõi kép hiện nay,bạn hoàn toàn có thể cùng một lúc vừa encode vừa chơi video game hay chạy bất cứ ứng dụng nào(với điều kiện bộ nhớ máy tính đủ lớn)-nhưng lưu ý rằng không phải tất cả các phần mềm hiện nay đều hỗ trợ tốt cho chip lõi kép và sự đa nhiệm. Về vấn đề bộ nhớ đối với việc encode tỏ ra không quá bức thiết so với sự khát RAM khủng khiếp của những phần mềm ứng dụng tiên tiến và những videogame thú dữ hiện nay.Trên hệ thống WindowsXP,chỉ với 256MB RAM là đủ,tất nhiên nhiều RAM hơn thì bao giờ cũng có lợi hơn.Nhưng nếu quá ít RAM,bạn nên điều
  6. chỉnh cho hợp lý cách sử dụng bộ chớ của phần mềm dùng để encode và tắt bớt các ứng dụng background không cần thiết,nếu không chiếc máy tính của bạn sẽ trở nên vô cùng nặng nề. Hệ điều hành thích hợp nhất để có tương thích với tất cả phần mềm “đồ chơi” cho encode video chính là WindowsXP.Nếu bạn dùng các hệ điều hành windows cũ hơn phiên bản Windows 2000,có thể nhiều chương trình sẽ không thể cài đặt,một số khác chạy không ồn định.Hiện nay,cũng có một số lựợng nhất định các phần mềm dạng này có thể chạy trên MacOS,Linux…nhưng so với số lượng những ứng dụng có thể sử dụng được trên Windows thì còn thua xa. Vài gợi ý nhỏ để việc encode trở nên dễ chịu hơn: -Ổ cứng phải trong tình trạng còn đủ chỗ trống và không bị phân mảng.Cụ thể bạn nên dành riêng một phân cho việc lưu giữ các file dùng cho encode và dung lượng phân vùng đó càng lớn càng tốt,lý tưởng nếu bạn có thể dành riêng một ổ cứng vài trăm GB. -Phải chắc chắn file nguồn dùng để encode nằm trên ổ cứng.Sẽ cực kỳ tai hại khi bạn encode thẳng từ ổ đĩa quang hay các thiết bị lưu trữ sử giao diện có tốc độ thấp.Không những những thiết bị đó sẽ bị tổn hại sau nhiều giờ làm việc liên tục(đặc biệt là các ổ đĩa quang CD-rom,DVD-rom…) mà tốc độ encode của bạn cũng sẽ bị chậm lại vì tình trạng thắt cổ chai. -Nên tắt bớt những ứng dụng không thực sự cần thiết trong quá trình encode.Ví dụ như các chương trình quét virus,các ứng dụng tự động trên system tray(tôi không bao giờ dùng những chức năng trên sys tray ngoại trừ 1 vài trường hợp đặc biệt),điều này sẽ giúp bạn tiết kiệm khá nhiều bộ nhớ hệ thống và có thể là cả CPU usage. -Nên tạo nhiều job rồi encode cùng một lúc,như vậy sẽ tránh tình trạng phải tinh chỉnh nhiều lần tại nhiều thời điểm khác nhau(dễ gây ra chờ đợi,chán nản nếu thời gian quá dài) -Đặc biệt nếu bạn sở hữu một PC không thuộc loại tiên tiến hiện nay nhưng vẫn muốn chạy đa nhiệm trong quá trình encode có thể kéo dài tới hàng chục tiếng đồng hồ,hãy tham khảo phương pháp sau: +Nếu muốn chạy đa nhiệm và không muốn quá trình encode ảnh hưởng tới performance của ứng dụng sẽ sử dụng,hãy bật task manager lên(click chuột phải lên taskbar rồi chọn task manager),tìm đến chương trình đang làm nhiệm vụ encode,bạn sẽ thấy nó ngốn nhiều RAM và bắt CPU phải làm việc với công suất tối đa.Bây giờ clik chuột phải vào ứng dụng tốn tài nguyên đó,chọn Set Priority,chọn mức thấp nhất có thể.Như vậy,hệ thống sẽ dành quyền ưu tiên cho các chương trình khác và sẽ chỉ dành tài nguyên dư thừa cho chương trình encode.Một số chương trình cho phép bạn làm điều này ngay từ setting của chương
  7. trình đó.Chương trình có thể được chỉ định chạy như một ứng dụng background.Điều kiện duy nhất bạn cần có là số lượng RAM còn lại phải đủ để chạy chương trình mà bạn sẽ sử dụng.Tất nhiên bạn sẽ phải trả giá bằng việc thời gian encode bị kéo dài ra,nhưng bù lại bạn vẫn làm việc bình thường trên máy tính trong lúc đang encode(tuyệt vời phải không?) +Tắt máy ngay cả lúc chưa encode xong:nếu máy bạn quá chậm hoặc bạn queue quá nhiều job để chạy một lượt,có thể thời gian encode sẽ diễn ra quá lâu mà vẫn chưa xong,lúc đó bạn muốn tắt máy nhưng như vậy thì tất cả thành quả nhiều giờ đồng hồ encode sẽ mất luôn(!)Không sao,bạn vẫn có thể tắt máy và sau đó bật máy lên để tiếp tục công việc mà chẳng làm mất cái gì cả. Vào Control Panel/Performance and Maintenance/Power option Bạn sẽ thấy thẻ Power Option properties hiện ra,chọn tab Hibernate Đánh dấu vào Enable hibernation,khi đánh dấu vào chức năng này,ding lượng của phân vùng lưu hệ điều hành của bạn sẽ bị lấy đi một phần bằng với dộ lớn bộ nhớ mở rộng (RAM) của máy tính(như của tôi là 384MB vì hiện nay PC của tôi đang cài 384MB RAM). Khi muốn tắt máy,bạn chọn Start/Turn Off Computer ,khi cửa sổ Turn Off Computer hiện ra,hãy giữ nút SHIFT,tùy chọn Stand by sẽ trở thành tùy chọn Hibernate,nhấn vào đấy để tắt máy,mọi dữ liệu trên RAM của bạn sẽ không bị mất mà được lưu lại trong file hiberfil.sys,và lần sau khởi động máy,RAM sẽ lại được nạp những dữ liệu này để khôi phục nguyên trạng những gì đang xảy ra trước khi hibernate. Lưu ý là khi muốn hibernate thay vì tắt máy,bạn không nên có những can thiệp sâu vào hệ thống như chỉnh sửa registry,cài đặt và tháo cài đặt phần mềm..vì những hành động đó có thể sẽ làm máy của bạn restart,và thế là bạn mất tất cả những gì đang có. Với những thiết lập kể trên,quá trình encode sẽ không ảnh hưởng nhiều đến công việc mà bạn thực hiện trên máy tính.Tôi đã viết tutorial XviD này bằng Word 2003-chụp và chỉnh sửa ảnh minh họa với SnagIt song song với việc encode vài đĩa DVD,mọi việc diễn ra thuận lợi mặc dù PC của tôi không được thiết kế với công nghệ siêu phân luồng.
  8. Hibernate không hề làm giảm hiệu năng hệ thống hay gây ra bất cứ một sự khác thường nào khi sử dụng, đơn giản bạn chỉ phải dành một dung lượng nhất định từ ổ cứng cho nó.Tôi phải đưa thêm chú ý này vào bởi có một số hướng dẫn trên tạp chí, sách báo hay thông tin trên mạng từ nước ta cho rằng Hibernate làm nặng hệ thống. Lời nói cuối: XviD là một codec có rất nhiều điểm tuyệt vời.Đầu tiên,nó là một codec mở và hoàn toàn miễn phí.Tiếp theo,nó là một sự kết hợp tuyệt vời giữa tốc độ và chất lượng có thể thu được từ quá trình encode.Tuy chỉ là một MPEG-4 Advanced Simple Profile (ASP) nhưng XviD thực sự có khá nhiều chi tiết để có thể chỉnh sửa so với nhiều ASP codec khác.Và trong giai đoạn hiện nay khi MPEG-4 Advanced Video Codec (AVC) mà điển hình là x264 chưa thực sự lên ngôi thì đây vẫn là một trong những codec đáng dùng nhất khi encode MPEG-4.Hãy thử qua XviD nếu bạn chưa một lần dùng nó!  
Đồng bộ tài khoản