Hà Tĩnh Lịch sử Hình Thành

Chia sẻ: Nguyenthu Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:23

0
372
lượt xem
70
download

Hà Tĩnh Lịch sử Hình Thành

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hà Tĩnh I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức .Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân .Thời nhà Ngô, thuộc Cửu Đức .

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hà Tĩnh Lịch sử Hình Thành

  1. Hà Tĩnh I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức .Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân .Thời nhà Ngô, thuộc Cửu Đức .Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu .Năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An .Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An .Thời Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn .Nhà Nguyễn năm Gia Long nguyên niên lại đặt làm Nghệ An trấn . Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam). Năm Tự Đức thứ 6 (năm 1853) đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo, hợp vào Nghệ An thành An Tĩnh; Năm thứ 29 (năm 1876) lại đặt tỉnh Hà Tĩnh như cũ. Từ năm 1976-1991, Nghệ An và Hà Tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh Nghệ Tĩnh Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay Năm 1992, Thị xã Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở: thị trấn Hồng Lĩnh; xã Đức Thuận, xã Trung Lương; một phần xã Đức Thịnh thuộc huyện Đức Thọ; các xã Đậu Liêu và Thuận Lộc thuộc huyện Can Lộc. Năm 2000, huyện Vũ Quang được thành lập trên cơ sở tách 6 xã thuộc huyện Đức Thọ, 5 xã thuộc huyện Hương Khê và 1 xã thuộc huyện Hương Sơn. Năm 2007, huyện Lộc Hà được thành lập trên cơ sở 7 xã ven biển của huyện Can Lộc và 6 xã ven biển của huyện . Năm 2007 Thị xã Hà Tĩnh đã nâng cấp là thành phố loại III.với tên goi là TP. Hà Tĩnh. II. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Diện tích : 6.056km2 Dân số: 1.283.900người ( năm 2003) Dân tộc: Kinh, Thái, Chứt, Mường… Hà Tĩnh là tỉnh nằm ở dải đất miền Trung, thuộc vùng du lịch Bắc Trung Bộ. Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp Lào. Hà Tĩnh cách Hà Nội 340km, giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ đều thuận lợi.TP. Hà Tĩnh cách sân bay Vinh 50km. Bản đồ tỉnh Hà Tĩnh Địa hình đa dạng, chủ yếu là đồi núi. đồng bằng chỉ là một dải đất hẹp ở ven biển và xung quanh các trục đường quốc lộ. Hà Tĩnh có 14 con sông lớn nhỏ và nhiều hồ nước. Bờ biển dài 137km. Quốc lộ 1A chạy qua tỉnh. Hà Tĩnh có cửa khẩu Cầu Treo, thuận tiện cho việc giao thương với các nước Lào, Thái Lan. Nhiệt độ trung bình năm 23,70C Hà Tĩnh là tỉnh có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và thắng cảnh, quê hương của nhiều bậc danh nhân. III. DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA – DANH LAM 1. Đèo Ngang – Hoành Sơn Quan Đèo Ngang thuộc địa phận xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh, cách TP. Hà Tĩnh khoảng 75km, trên quốc lộ 1A. Đèo Ngang ở trên núi Hoành Sơn được tách ra từ dãy Trường Sơn, cao 256m, dồn đuổi nhau từ Tây sang Đông, chạy dài ra tận biển, trở thành biên giới tự nhiên của hai quốc gia Đại Việt và Chiêm Thành ngày xưa, và nay là mốc địa giới giữa hai tỉnh
  2. Hà Tĩnh và Quảng Bình. Toàn cảnh Đèo Ngang Theo sử cũ thì đường thông qua Đèo Ngang đã có 1000 năm nay từ thời vua Lê Đại Hành (980 - 1005) nhưng phải đến 500 năm đầu thì Hoành Sơn - Đèo Ngang mới được biết đến nhiều và trở thành điểm xung yếu chia cắt Đàng Ngoài - Đàng Trong. Từ thời vua Lâm ấp đã xây lũy Lâm ấp để chống giữ quân Tấn thì đến thế kỷ XVII, quân Trịnh lại một lần nữa xây dựng một hệ thống đôn luỹ ở đây, gọi là lũy Đèo Ngang hay lũy ông Ninh. Năm 1833, vua Minh Mạng cho xây Hoành Sơn Quan (cửa Hoành Sơn) ở đỉnh Đèo Ngang, cao hơn 4 m, hai bên có thành đăng dài hơn 30m, ở trên cửa đắp nổi ba chữ Hoành Sơn Quan. Hai phía Hoành Sơn Quan đào núi thành 1000 bậc. Nay Hoành Sơn Quan vẫn còn, không nguyên vẹn nhưng vẫn uy nghi, phong trần nơi đầu núi góc biển Dưới chân đèo về phía Bắc vốn xưa là cửa biển Xích Mộ. Cửa biển nay đã bị bồi lấp, nhưng bù lại, ngược lên phía Tây, cùng dưới chân đèo, mộ hồ khá lớn đã được xây dựng, quanh năm đầy nước. Hoành Sơn Quan Ngược về phía Bắc đèo khoảng 3km là con Đèo Con, tuy thấp hơn nhưng lại nằm sát ngay trên biển Đá Nhảy. Gọi vậy vì ở đây một bãi đá khá lớn từ núi ăn lan ra biển, to nhỏ, nhấp nhô với rất nhiều hình dạng khác nhau. Sóng biển đập vào bãi đá, ta cứ có cảm giác đá và sóng cùng nhảy, cùng nô đùa với nhau để cùng nhau tận hưởng vẻ đẹp kỳ thú của rừng và biển. 2. Đền thờ Chế Thắng phu nhân, Nguyễn thị Bích Châu Đến huyện lỵ Kỳ Anh, đi về hướng đông theo con đường liên xã, hay xuôi theo dòng sông Trí khoảng 7 - 8km, tới thôn Hải Khẩu (xã Kỳ Ninh), sẽ thấy một ngôi đền cổ kính. Đó là đền thờ Nguyễn Thị Bích Châu, còn gọi là đền Bà Hải, đền Hải Khẩu, hay đền Chế Thắng phu nhân, cung phi vua Trần Duệ Tông, một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Nguyễn Bích Châu quê ở xã Bảo Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định con gái đại thần Nguyễn Tướng Công một ông quan rất mực thanh liêm. Từ nhỏ được sự dạy dỗ chu đáo nên khi trưởng thành đã trở thành người văn võ toàn tài. Đến năm Long Khánh thứ nhất (1373) nàng được Trần Duệ Tông tuyển làm cung phi. Nhưng lúc bấy giờ chế độ phong kiến nhà Trần suy vong chính sự đổ nát nhân tài không được trọng dụng, cung phi Nguyễn Thị Bích Châu bèn thảo bản “ Kê minh thập sách” dâng lên nhà vua và được vua khen là thông tuệ. Năm 1377 nhà vua đem quân đi đánh Chiêm Thành, trước khi đi Bích Châu làm tờ biểu can ngăn nhưng vua không nghe nên nàng xin theo hộ giá. Khi quan quân nhà Trần đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn) vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho sứ giả đem vàng ngọc tới quan quân ta để trá hàng, nhưng sau đó lại bất ngờ tiến đánh vào lúc nửa đêm. Quân của Trần Duệ Tông bị tấn công bất ngờ, long thể nhà vua lại bất an, Nguyễn Thị Bích Châu cưỡi ngựa tả xung hữu đột cầm quân xung trận và không may bị trúng tên độc sau đó từ trần. Ba ngày sau vì bệnh quá nặng nhà vua cũng băng hà, quân nhà Trần rút về kinh đô khi tới địa điểm Châu Hoan vì sóng to gió lớn tàu thuyền phải ghé vào vũng Ô Tôn (Vũng Áng). Lúc này vua Trần Đế mới lên ngôi nghe tin liền xuống chiếu rước linh cữu nhà vua về bằng đường bộ còn linh cửu quý phi đi bằng đường biển. Sau mấy ngày thời tiết không thuận lợi triều đình xuống chiếu cho an táng Quý phi tại Cửa Khẩu, bến Kỳ La huyện Kỳ Hoa thuộc Châu Hoan. Năm 1470 trong lần đem quân đi đánh Chiêm Thành giành chiến thắng trở về vua Lê Thánh Tông cho quân dừng lại nơi đây và sai người chặt gỗ, gọt đá xây dựng ba toà điện thờ bà và sắc phong cho bà là: “ Chế Thắng phu nhân” Đền Bích Châu được xây dựng trên bãi đất pha cát biển rộng khoảng 4.500m2, quay về hướng đông nam. Phía trước đền, từ trái sang phải là núi Ô Tôn có đền Eo Bạch được xây
  3. dựng cuối đời Trần. Vũng Áng còn gọi là "Cửa Cá" nổi tiếng với nhiều hải sản quý như tôm hùm, mực, yến sào... Núi Cao Vọng có hang nhỏ tương truyền là nơi ẩn náu của Hồ Hán Thương vào năm 1407. Sau lưng đền, xa xa là núi Bàn Độ có đầm Tiên nữ, có bàn cờ tiên, xưa là nơi có rất nhiều hươu sao. Đỉnh núi bằng phẳng giống như cái mâm vàng đặt qua biển (kim bàn đồ hải) nên có tên là núi Bàn Độ. Đền được xây dựng thời Trần chỉ có tiền miếu hậu lăng, đến năm 1470 đền có 3 toà, trải qua thời gian đền được tu sửa tôn tạo nhiều lần. Nằm trong vùng "cửa gió" nên có những bộ phận đã bị cát vùi lấp chỉ còn một phần như hai cột nanh, cổng Tam quan. Nhân dân địa phương mở cổng phụ để đi vào đền. Toàn bộ khu di tích có thể chia thành hai khu vực: - Khu công trình phụ gồm cổng phụ, đường đi, cổng chính và nhà quan tả. - Khu công trình chính gồm hạ điện, trung điện và thượng điện nhà tiếp khách, nhà sắc và khu hành lang. Toàn bộ công trình của đền hiện tại được bao quanh bằng cát bồi lấp thành bức tường tự nhiên. Ba toà điện Hạ điện, Trung điện, Thượng điện và nhà dâng hương là hệ thống nối liền khép kín với nhau kiến trúc theo kiểu chữ Công (I). Phía sau thượng điện tương truyền có mộ của bà Quý phi Nguyễn Thị Bích Châu. 3. Khu Lưu Niệm Tổng Bí Thư ( 1936 – 1938 ) Hà Huy Tập Nhà lưu niệm đồng chí Hà Huy Tập- Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam (1936-1938), ở làng Thổ Ngoạ, tổng Kim Nặc(nay là xã Cẩm Hưng), huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Di tích nằm về phía Tây cách đường Quốc lộ 1A hướng Bắc- Nam khoảng 500m. Ngôi nhà tranh 4 gian nằm nép mình trong luỹ tre xanh là nơi đã ghi dấu biết bao kỷ niệm về quê hương, dòng họ, gia đình đồng chí Hà Huy Tập. Khu lưu niệm Hà Huy Tập Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24-4-1906, trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống, đồng chí đã sớm tiếp thu tinh thần yêu nước, cách mạng của cha anh để hình thành cho mình nhân cách và lý tưởng sống vì dân, vì nước. Năm 13 tuổi, Hà Huy Tập thi đỗ thủ khoa tại trường tỉnh và được đặc cách vào trường Quốc học Huế. Năm 1923, anh tốt nghiệp với tấm bằng hạng ưu và được bổ nhiệm về dạy tại trường tiểu học Pháp- Việt thị xã Nha Trang, sau đổi về dạy ở trường tiểu học Cao Xuân Dục, thành phố Vinh, Nghệ An vào tháng 9-1925. Ở Vinh, Hà Huy Tập gặp Ngô Đức Diễn, Trần Phú và được kết nạp vào Hội Phục Việt. Thời gian này Hà Huy Tập tích cực tham gia hoạt động tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ cách mạng cho học sinh, công nhân, nông dân, tổ chức quần chúng đấu tranh chống bọn thực dân, phong kiến. Thấy rõ sự phát triển của Hội Hưng Nam và vai trò của Hà Huy Tập, Trần Phú và Trần Văn Tăng, Công sứ Pháp ở Vinh đã chuyển Hà Huy Tập lên dạy học ở Kẻ Bọn( Quì Châu), Trần Văn Tăng ra trường tiểu học Pháp-Việt( huyện Yên Thành). Hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của địch, Hội Hưng Nam đã chuyển Hà Huy Tập vào Sài Gòn làm phóng viên cho nhiều tờ báo có xu hướng chống Pháp, trong đó có tờ “An Nam”. Năm 1928, anh trở ra Vinh hoạt động và xây dựng gia đình. Ngày 14-8-1928, Hà Huy Tập dự Hội nghị Tổng bộ Tân Việt tại Huế. Sau đó, anh và Phan Đăng Lưu được Tổng bộ cử sang Quảng Châu, Trung Quốc hoạt động. Được tiếp xúc trực tiếp với Hội Thanh niên tại Quảng Châu, anh đã trở thành thành viên của tổ chức
  4. này. Tháng 7-1929, Hà Huy Tập được Tổng bộ Thanh niên giới thiệu sang học trường Đại học Phương Đông ở Liên Xô. Năm 1932, mãn khoá học, đồng chí tìm cách về nước bằng đường hàng hải Mác xây-Sài Gòn. Đến Pa ri, Hà Huy Tập bị chính quyền Pháp trục xuất trở lại Liên Xô. Thời gian ở Liên Xô, đồng chí đã viết cuốn “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương” bằng tiếng Pháp, với bút danh là Hồng Thế Công. Đây là cuốn sách đầu tiên viết về lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam. Đầu năm 1934, Hà Huy Tập theo đường phía Nam Trung Quốc về nước. Tới Ma Cao, Hà Huy Tập cùng Lê Hồng Phong và Nguyễn Văn Dựt thành lập ra “Ban chỉ huy ở ngoài” của Đảng. Ban này có chức năng như Ban chấp hành Trung ương Lâm thời, có nhiệm vụ khôi phục lại hệ thống tổ chức và chuẩn bị cho việc triệu tập Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Ngày 26-7-1936, Lê Hồng Phong cùng Hà Huy Tập triệu tập Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ở Thượng Hải, Trung Quốc để phổ biến Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế cộng sản. Hội nghị đã cử đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư và về nước tổ chức lại Ban chấp hành Trung ương. Cuối tháng 7-1936, đồng chí Hà Huy Tập cùng cơ quan Trung ương chuyển về Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định lãnh đạo phong trào cách mạng trong cả nước. Với cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Hà Huy Tập đã cùng Ban chấp hành Trung ương Đảng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thử thách, đưa phong trào tiến lên những bước mới. Ngày 1-5-1938, đồng chí Hà Huy Tập bị mật thám bắt ở Sài Gòn. Toà Tiểu hình Sài Gòn kết án đồng chí 2 tháng tù và 5 năm cấm lưu trú. Tháng 3- 1939, đồng chí bị trục xuất về quê và chúng cấm không cho bất kỳ một trường học nào ở Hà Tĩnh nhận Hà Huy Tập làm giáo viên. Tháng 2-1940, đồng chí lại bị bắt và đưa vào giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, thực dân Pháp cho rằng Hà Huy Tập có vai trò lãnh đạo rất lớn. Vì vậy, ngày 27-3 và ngày 17-5-1941, Toà án Quân sự đặc biệt Sài Gòn đã kết án tử hình Hà Huy Tập và 6 đồng chí . “ Tôi chả có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi vẫn tiếp tục hoạt động”, là câu nói khảng khái, thể hiện khí phách hiên ngang của người cộng sản Việt Nam. Cuộc đời, sự nghiệp cách mạng đồng chí Hà Huy Tập mãi mãi sáng ngời trong lịch sử dân tộc. Nhà của gia đình đồng chí Hà Huy Tập cũng như biết bao gia đình nghèo khác ở Hà Tĩnh lợp tranh, vách đất. Nhà thấp, đòn tay và rui bằng tre, hai gian ngoài đặt một cái sập gỗ và hai tràng kỷ bằng tre, gian trong đặt một chiêc giường đôi. Đầu hồi gian trong trái ra làm nơi nấu ăn. Sân nhà bằng đất, xung quanh dựng gạch đứng. Nhà nằm trong khu vườn hình chữ nhật có diện tích là 1540 m2. Trong vườn có một số cây ăn quả và cây cảnh. Ngôi nhà và khung cảnh tuy đơn sơ, mộc mạc nhưng đã chứng kiến sự ra đời, tuổi thơ và sự hình thành nhân cách của một danh nhân cách mạng lớn-Hà Huy Tập. Nhà lưu niệm đồng chí Hà Huy Tập-Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam năm1936- 1938, ở Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh được Bộ Văn hoá công nhận là di tích Lịch sử Văn hoá cấp quốc gia năm 1991. 4. Biển Thiên Cầm Nếu bạn đi nghỉ mát, tắm biển vào mùa hè hãy dừng chân ở bãi biển Thiên Cầm (Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh) bởi nơi đây không đơn thuần mang một vẻ đẹp hoang sơ, môi trường trong lành yên tĩnh và hứa hẹn nhiều điều tuyệt vời cho một kỳ nghỉ mà nó còn gắn với
  5. nhiều câu chuyện lịch sử hấp dẫn Toàn cảnh bãi biển Thiên Cầm Bãi biển Thiên Cầm như một hình cánh cung trải dài gần 3 km bắt đầu từ núi Thiên Cầm đến núi Đầu Voi, cùng với Cùm Nậy (núi lớn) và Cùm Con (núi bé) tạo nên những phím đàn trời án ngự dòng suối Kỳ La, để dòng suối trong vắt này uốn lượn rồi đổ ra biển. Thiên Cầm ấn tượng với du khách ngay từ cái tên gọi đầu tiên. Thiên Cầm có nghĩa là đàn trời, tương truyền do Hùng Vương khi đi đến đây nghe trên trời có tiếng nhạc nên đặt như vậy nhưng truyện khác kể rằng, Hồ Quý Ly khi trốn chạy qua đến đây thì bị bắt nên có tên là Thiên Cầm (Trời bắt). Thuyền đưa du khách tham quan Đảo Bớc Đến Thiên Cầm du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của biển cả của núi non hùng vĩ. Nước biển trong xanh, mát dịu. Những làn sóng nhỏ cuốn tất cả mọi thứ ra xa rồi để lộ những bãi cát trắng trải dài, mịn màng như một dải lụa. Chỉ có ở Thiên Cầm du khách mới có thể nghe những âm thanh tuyệt diệu của tiếng gió biển, của tiếng sóng vỗ, của tiếng lá reo dọi vào vách núi tạo thành những bản nhạc du dương đưa du khách tới một miền diệu kỳ với những giây phút thoải mái, nhẹ nhõm vô cùng. Ở đây, ta như được thưởng thức bản nhạc của gió, của sóng biển. Phía xa xa là những hòn đảo nhỏ, xinh xắn và kỳ bí, sau những giây phút thoải mái ở Thiên Cầm du khách có thể ra đó chơi bằng thuyền máy và thả hồn giữa trời nước mênh mông hay là đắm mình trong những làn nước trong xanh trên bãi tắm nhỏ. Du khách có thể ra đảo Bớc - nơi có một bãi đá tuyệt đẹp quay ra biển, sóng dội trắng tinh. Phía quay vào bờ là bãi tắm lý tưởng lăn tăn gợn sóng, êm đềm, nhẹ nhàng đến dịu êm. Rời đảo Bớc, thuyền sẽ đưa du khách ghé vào bãi tắm Tiên dưới chân núi Tượng. Du khách chơi trò chơi trên bãi biển Bãi tắm chồng chất các hang đá và bãi cát đan xen, có khe nước vừa.mặn, vừa ngọt phân chia ranh giới tùy theo thủy triều vào, ra. Rải rác theo bờ đá, là những người thợ bẫy chim cu kỳ, lặn tôm hùm, bắt nhím biển. Án ngữ biển Thiên Cầm là núi Thiên Cầm. Núi không cao nhưng tạo thành một danh thắng sơn thuỷ hữu tình. Cách chân núi không xa là chùa Yên Lạc cổ kính vẫn còn giữ một báu vật nổi tiếng đó là : “Thập điện diêm vương”. Không những được ngắm cảnh, tắm mát, đi chơi mà du khách còn được thưởng thức các món ăn đặc sản nơi đây cũng như: chim Cu Kỳ, tôm hùm, mực ống, nước mắm Nhượng... Thiên Cầm ngày nay là một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Hà Tĩnhbiển Thiên Cầm - sự hấp dẫn của vẻ hoang sơ. 5. Hồ Kẻ Gỗ
  6. Kẻ Gỗ vốn là tên của một làng Việt cổ ở xã Mỹ Duệ, nay thuộc xã Cẩm Mỹ huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh, cách thành phố Vinh khoảng 70 km về phía nam. Cách thành phố Hà Tĩnh 20 km về phía Tây. Kẻ Gỗ xưa nằm dọc theo hai bờ sông Rào Cái (còn gọi là sông Ngàn Mọ). Rào Cái là dòng sông hội tụ của hàng trăm khe suối từ dãy Trường Sơn đổ về. Toàn cảnh hồ Kẻ Gỗ Mùa nắng thì Rào Cái khô hạn, mùa mưa thì chảy quá nhanh, quá mạnh, trở thành tai ương cho cả vùng phía Nam của tỉnh Hà Tĩnh. Từ những năm đầu thế kỉ XX, người Pháp đã nghĩ đến việc đắp đập chế ngự dòng sông này. Họ thiết kế và bắt đầu thi công một số hạng mục thì chiến tranh thế giới lần thứ 2 và sau đó là Chiến tranh Đông Dương nổ ra nên bị bỏ dở. Cho đến ngày 26/3/1976, khi đất nước đã thống nhất, công trình mới được các nhà thủy lợi Việt Nam tự thiết kế, thi công và có tên là hồ Kẻ Gỗ. Ngày 03/2/1988, công trình được bắt đầu đưa vào sử dụng. Hồ Kẻ Gỗ có chiều dài 29 km, có diện tích lòng hồ hơn 30 km2, với dung tích hữu ích 345 triệu m3, dung tích toàn bộ 425 triệu m3. Diện tích lu vực (diện tích hứng nước) của hồ là 223km2; chế độ điều tiết nước trong hồ là nhiều năm. Đập tạo hồ bằng đất đồng chất cao 37,4m dài 970m cùng 3 đập phụ; hồ có 3 tràn xả lũ (tràn Dốc Miếu, tràn trong cống và tràn sự cố). Kênh chính rộng hơn 10m, dài 17,2km, tải lưu lượng 28,2 m3/s; hệ thống kênh nhánh dài110km. Đập tràn nước trên Hồ Nhiệm vụ của hồ là tưới cho 21.136 ha đất canh tác của huyện Cẩm Xuyên, huyện Thạch Hà và thị xã Hà Tĩnh, chống lũ quét, chống xói mòn cho vùng hạ du; cung cấp nước tưới phục vụ công nghiệp và sinh hoạt trong vùng với lưu lượng 1,6m3/s; phát điện công suất lắp máy 2,3MW. Hiện Ngân hàng Thế giới đang hỗ trợ Dự án "Trợ giúp Thuỷ lợi Việt Nam" (gọi tắt theo tiếng Anh là VWRAP hay còn gọi là WB3 Thuỷ lợi) để củng cố, nâng cấp và hiện đại hoá một số hệ thống thuỷ lợi lớn, trong đó có Kẻ Gỗ. Nguồn lợi kinh tế của hồ Kẻ Gỗ đem lại cho người nông dân nơi đây vô cùng to lớn. Xưa đồng đất hạn hán một màu cát trắng, nay quanh năm đủ nước để cấy trồng, muôn cây xanh tốt. Hồ Kẻ Gỗ ra đời còn góp phần quan trọng cải tạo môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên của cả một vùng rộng lớn, đã trở thành một khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị, một điểm du lịch sinh thái lý thú. Bao quanh hồ là rừng núi, có 11.811 ha rừng tự nhiên, 261 ha rừng trồng. Rừng ở đây có trên 40 họ, 300 loài thân gỗ và nhiều động vật quý hiếm như trĩ sao, vượn đen, voi, gà lôi hồng tía, đặc biệt là gà lôi. Khí hậu vùng Kẻ Gỗ quanh năm mát mẻ. Điều lý thú là từ trên du thuyền bơi trên mặt hồ nước trong veo du khách có thể chiêm ngưỡng và tận hưởng được cái đẹp, cái nên thơ của sự giao hoà của mênh mông nước và bạt ngàn rừng. Những dòng nước trắng xoá thả
  7. mình từ núi xanh xuống lòng hồ in rõ bóng trời mây. Và về đêm dưới ánh trăng sao, không gian huyền bí càng huyền bí hơn bởi âm thanh của sóng nước, gió rừng và tiếng gầm, tiếng hú, tiếng gọi đàn của muôn loài cầm thú hoà quyện vào nhau… Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã sáng tác bài hát nổi tiếng “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ" ca ngợi về những người thủy lợi xây dựng hồ Kẻ Gỗ, ca ngợi vẻ đẹp thơ mộng của hồ. ... Ðắp hồ xây đập, ta đưa dòng nước ngọt để dòng mương nhỏ tắm mát quanh năm Ruộng đồng ta thoả mơ uớc bao ngàn năm... 6. Di Tích Lưu Niệm Bác Hồ Tại Hà Tĩnh. Khu di tích thuộc phường Tân Giang, TP Hà Tĩnh. Sau 50 năm xa quê hương ngày 15/ 6/ 1957, trước khi về quê hương Kim Liên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thăm và làm việc với Thường vụ tỉnh ủy và UBND tỉnh Hà Tĩnh. Để mãi ghi nhớ công ơn và thực hiện lời dạy ân cần của Bác Hồ kính yêu, nhân dân Hà Tĩnh đã tu sữa tôn tạo hồ sen, cầu ao nơi Bác Hồ và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đứng nói chuyện, dựng bia tưởng niệm bằng đá hoa cương, trồng cây cảnh quanh khu vực Bác đến . Từ ngày đó đến nay người dân Hà Tĩnh vẫn quen gọi đây là Khu lưu niệm Bác Hồ. Đây là một điểm tham quan thú vị. 7. Chùa Chân Tiên Chùa nằm trên núi Tiên An, sát bờ biển thuộc địa phận xã Thịnh Lộc, huyện Lộc Hà. Chùa được xây dựng vào đời nhà Trần thế kỷ thứ 13, thờ Phật tổ và thờ Thánh Mẫu. Điện thờ Phật có diện tích 50,2m2, kiến trúc theo kiểu tứ trụ gồm 3 gian lợp ngói âm dương, 4 cột xây, tường bao ba phía. Hai bên hiên chùa có tượng quan văn quan võ. Trong chùa có nhiều câu đối cổ. Điện thờ Thánh Mẫu gồm thượng điện, kiệu Long đình, bái đường có diện tích 56m2. Cửa thượng điện có đề 4 chữ Hán “ Thiên hạ mẫu nghi “ và hình con phượng đang giang cánh bay lên. Kiệu Long đình là nơi đặt đồ tế lễ, bốn đầu đao trên mái kiệu có 8 hình rồng, trong kiệu có 8 con hạc chầu….Chùa Chân Tiên hiện còn lưu giữ 14 tượng Phật làm bằng gỗ mít, một bàn thờ, một lư hương, một hương án, một trỗng, mõ… Trải qua các thời kỳ lịch sử, chùa Chân Tiên là một di tích lịch sử cách mạng. Đây từng là nơi luyện tập của nghĩa quân Phan Đình Phùng, là nơi hội họp của các chí sĩ yêu nước để đòi giảm sưu thuế trong phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, của Đảng Tân Việt năm 1928. Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, chùa là trung tâm liên lạc, hội họp, in ấn, cất giữ tài liệu của Đảng. Tại đây còn giấu chân Tiên để lại trên đá khi vãn cảnh hạ giới. Chùa Chân Tiên vừa là di tích lịch sử - văn hoá, vừa là một danh thắng quý của Hà Tĩnh. 8. Miếu Biện Sơn Được xây dựng thời nhà Lê ở xã Hồng Lộc, huyện Can Lộc, thờ nữ tướng Phan Thị Sơn, người đã từng tham gia khởi nghĩa chống bọ phong kiến nhà Minh và lập chiến công hiển
  8. hách. chiến công của bà được vua thời Hậu Lê (thế kỉ 16) sắc phong “ Thượng thượng đẳng thần ”. Nơi đây vào những năm 1930 – 1931 còn là điểm hoạt động, cất giấu tài liệu của Đảng để chỉ đạo phong trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh vùng hạ Can Lộc. 9. Đền Cả Đền Cả (đền lớn hoặc Tam toà Đại Vương) thuộc xã Ích hậu, huyện Can Lộc, cách thị trấn Nghèn khoảng 1km. thượng điện xây dựng sớm nhất là 1475, Trung điện xây dựng năm 1583 và hạ điện xây dựng năm 1877. Đền thờ ba vị: Lý Nhật Quang (hoàng tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ), Lý Đạo Thành và Lý Thái Giai (là 2 vương hầu nhà Lý). Ba ông này đã có công hướng dẫn nhân dân vùng Tây Nam Hồng LĨnh khai lập nên một số làng trong dó có làng Kẻ Ngật. Về sau đền còn thờ hai vị công thần nhà Trần tiếp tục công việc của 3 ông họ Lý là Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư. Đền Cả là nơi dừng chân của nhiều du khách trong và ngoài nước. 10. Đền Thờ Đặng Tất, Đặng Dung Đền thờ thuộc xã Tùng Lộc , huyện Can Lộc, thờ đặng tất, đặng dung là hai cha con, hai tướng ĩnh tài đức song toàn, có công trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược. sau khi giặc tan, Lê Lợi đã phong cho hai ông là “Tiết nghĩa Trung Thần” .đền xây trên diện tích đất hơn 3.300 m2. Cấu trúc đền thờ chữ Nhị gồm bái đường và thượng điện. Lễ tế tại đền tổ chức vào ngày 5 tháng 3 âm lịch hàng năm. 11. Ngã Ba Đồng Lộc Ngã ba Đồng Lộc nằm trên đường Trường Sơn, thuộc địa phận Đồng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. Ngã ba Đồng Lộc có tổng diện tích 50ha nằm gọn trong một thung lũng hình tam giác, hai bên đồi núi trọc, giữa là con đường độc đạo, mặt đường giống như một lòng máng, bom địch thả xuống bên nào đất đá cũng lǎn xuống đường làm cản trở giao thông.Tất cả mọi con đường từ Bắc vào Nam đều phải vượt qua ngã ba Đồng Lộc. Ngã ba Đồng Lộc được coi như cổ họng, vượt qua được sẽ phân tán toả ra nhiều tuyến đường khác nhau đi vào nam. Ngã ba Đồng Lộc Ngã ba Đồng Lộc là trọng điểm có tầm quan trọng chiến lược nên trong chiến tranh phá hoại kẻ địch âm mưu ném bom huỷ diệt nhằm chặn đứt sự chi viện sức người, sức của, vũ khí, súng đạn, lương thực... của hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Chỉ tính riêng 240 ngày đêm từ tháng 3 đến tháng 10/1968 không quân địch đã trút xuống đây 48.600 quả bom các loại. Hồi 17h ngày 24/7/1968 tiểu đội 4 thanh niên xung phong được lệnh trọng điểm ở khu vực địch vừa thả bom để san lập hố bom sửa chữa đường, kết hợp sửa chữa hầm trú ẩn khơi sâu rãnh thoát nước ở đoạn đường độc đạo để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Tiểu đội 4 hôm ấy có 10 cô gái trẻ: Võ thị Tần - 22 tuổi - tiểu đội trưởng , Hồ Thị Cúc - 21 tuổi - tiểu đội phó Võ Thị Hợi - 20 tuổi - chiến sĩ ; Nguyễn Thị Xuân - 20 tuổi - chiến sĩ Dương Thị Xuân - 19 tuổi - chiến sĩ ; Trần Thị Rạng - 19 tuổi - chiến sĩ Hà Thị Xanh - 18 tuổi - chiến sĩ ; Nguyễn Thị Nhỏ - 19 tuổi - chiến sĩ
  9. Võ Thị Hạ - 19 tuổi - chiến sĩ Trần Thị Hường - 17 tuổi - chiến sĩ Khu tưởng niệm 10 cô gái TNXP Nhận nhiệm vụ xong, các cô đến tại hiện trường gấp rút triển khai công việc với cả niềm vui được gửi gắm trên từng chiếc xe qua nên các cô không hề sợ hãi. Họ làm việc không ngơi tay, vừa cười, vừa nói, vừa ý ới gọi nhau. Bỗng một tốp máy bay phản lực từ h ướng Bắc vào Nam vượt qua trọng điểm. Tất cả các cô nhanh chóng nằm rạp xuống đường. Hết tiếng máy bay các cô lại chồm dậy làm việc. Bất ngờ tốp máy bay phản lực quay lại bay từ trong ra thả một loạt bom rơi đúng vào đội hình 10 cô gái. Các tiểu đội thanh niên xung phong đi sau chồm lên gào thét, nhân dân xóm Bãi Dĩa quanh đấy cũng lao ra gọi tên từng người. Khi đến nơi quả bom vừa nổ chỉ thấy một hố bom sâu hoắm, một vài chiếc xẻng, cuốc vǎng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người. Cả 10 cô gái trẻ ấy đã hy sinh. 12. Di tích cách mạng Ngã Ba Nghèn Di tích Ngã ba Nghèn nằm ở thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đây đã xảy ra nhiều cuộc đấu tranh của công nông Can Lộc trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930-1931. Ngã ba Nghèn nằm trên trục đường Quốc lộ 1A, cách thành phố Vinh 30 km về phía Nam. Nơi đây là quê hương của nhiều chí sỹ yêu nước như: Ngô Đức Kế, nhà thơ Xuân Diệu…Đây cũng là nơi sớm hình thành các tổ chức cách mạng. Từ trước năm 1930 các tổ chức như Hội phục Việt, Đảng Tân Việt cũng đã hoạt động ở đây. Trong phong trào 1930-1931 tại đây đã nổ ra nhiều cuộc biểu tình của nhân dân. Di tích Ngã Ba Nghèn Từ tháng 5/1930 đến năm 1931 đã có hơn 40 cuộc biểu tình ở cả huyện và tổng với hàng ngàn người tham gia, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh ngày 1/8/1930 của hơn một ngàn người ở cả hai vùng Thưọng và Hạ Can Lộc kéo về huyện đường đòi lại công điền, công thổ, đòi quyền tự do dân chủ. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng tri huyện Trần Mạnh Đàn đã phải ra tận Cầu Nghèn ký vào bản yêu sách 10 điểm do nhân dân đề ra. Ngày 7/9/1930 hơn 2 ngàn nông dân Hạ Can Lộc đã dũng cảm kéo về huyện đường đòi thực hiện các yêu sách đã ký. Quần chúng xông vào đập phá huyện đường, thu giấy tờ, đốt sổ sách. Bọn địch đã huy động lính khố xanh ra đàn áp nhưng trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng nhân dân bọn chúng đã hoảng sợ bỏ chạy.Cũng tại Ngã ba Nghèn, Huyện ủy Can Lộc đã phát động cuộc biểu tình lớn với quy mô toàn huyện để kỷ niệm ngày Quảng Châu công xã (12/12/1930). Trong cuộc biểu tình này, nhân dân vùng Thượng đã có ba ngàn người, nhân dân vùng Hạ có hai ngàn người đội ngũ chỉnh tề, có băng cờ khẩu hiệu chia thành 3 mũi kéo về huyện đường đòi quyền dân sinh, dân chủ. Hoảng sợ trước khí thế đấu tranh của quần chúng bọn đế quốc và phong kiến đã cho lính xả súng bắn vào đoàn biểu tình làm 42 người chết tại chỗ và hàng trăm người bị thương. Tại đây đã ghi nhận nhiều tấm gương hy sinh anh dũng của các chiến sỹ cộng sản Can Lộc như: Võ Quế, Nguyễn Nhân, Phạm Thị Dung, Phan Gần, Hồ Ngọc Tàng, Thanh Sơn, Trần Mẹo, Nguyễn Khiên Sức…
  10. Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ nhân dân Can Lộc đã phát huy truyền thống vẻ vang sẵn có, động viên mọi lứa tuổi ra sức phục vụ chiến đấu. Những Đảng viên, đoàn viên, thanh niên hăng hái tham gia phục vụ sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Để bảo vệ cho giao thông thông suốt tại đây đã lập đội lái phà cảm tử và rà soát bom từ trường, bom nổ chậm như tổ rà phá do Phan Văn Tỉu làm tổ trưởng đã phá được 547 quả. Thanh niên xung phong, dân quân tự vệ, học sinh luôn luôn có mặt để đắp đường, san hố bom, lấy ngưòi làm cọc tiêu cho xe qua dưới hỏa lực của địch. Đây cũng là trận địa bảo vệ giao thông liên lạc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngã ba Nghèn là tuyến đường huyết mạch để ta chi viện cho tiền tuyến lớn ở Miền Nam, vì vậy ở đây luôn đảm bảo giao thông phục vụ xe đưa hàng ra tiền tuyến. Nhiều chiến sỹ, thanh niên xung phong, dân quân tự vệ đã hy sinh anh dũng tại vị trí này, tiêu biểu như: đồng chí Bí thư Ngô Đức Liên, Nguyễn Viết Cẫn, Nguyễn Hữu Tiến… 13. Đền Thái Yên Ngôi đền này thuộc địa bàn xã Thái Yên, huyện Đức Thọ, xây dựng năm 1741, thờ Thành hoàng là ông tổ của làng mộc Thái Yên. Đây là một ngôi đền cổ kính rất đẹp, được xây dựng trên mảnh đất diện tích chừng 5.000m2. Đền có cấu trúc theo lối tam toà: thượng điện, trung điện, hạ điện. Kiến trúc ngôi đền là sản phẩm minh chứng cho một “ bảo tàng “ về điêu khắc gỗ lâu đời thuộc hàng tinh xảo của những người thợ mộc Thái Yên nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Đền Thái Yên 14. Đền Thờ Nguyễn Biểu Di tích thuộc xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ. Đền được xây dựng vào thời nhà Lê để tưởng nhớ công lao của Nguyễn Biểu. Ông đỗ Thái học sinh cuối đời Trần và làm Điện Tiền thái sử. Ông là một nhà ngoại giao tài tình, được Trần Quý Khoáng cử đi sứ năm 1413. Hiện nay đền vẫn giữ được nhà bái đường, thượng điện, cột nanh, tắc môn, hai tấm bia đá. Nhiều đồ thờ, tượng chạm khắc, câu đối, hoành phi vẫn còn nguyên vẹn à 5 đạo sắc phong. 15. Mộ Phan Đình Phùng Phan Đình Phùng ( 1847 – 1895 ) hiệu là Châu Phong. Mộ ông đặt tại xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho. Năm 30 tuổi ông đỗ cử nhân và sau đậu Đình Nguyên tiến sĩ và được bổ nhiệm làm Tri huỵện huyện Yên Khánh, Ninh Bình. Ông là người có tính cương trực, ngay thẳng, liêm khiết nên được nhân dân mến mộ. Khi Phan Đình Phùng được triệu về kinh và bổ nhiệm làm Chính ngự sử viện Đô Sát, do bất hoà trong triều ông trở về quê năm 1883. Mộ Phan Đình Phùng Sau đó ông tổ chức cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Cuộc khởi nghĩa nổ ra trong 4 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh – Bình. Tuy cuộc khởi nghĩa sau đó thất bại nhưng ảnh hưởng và ý nghĩa của phong trào thì vô cùng to lớn.
  11. 16. Khu Lưu Niệm Trần Phú Trần Phú ( 1904 – 1931 ) là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam ( 10/1930 – 9/1931 ). Khu lưu niệm Trần Phú thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, được Bộ văn hoá quyết định thành lập năm 1959. Nhà lưu niệm Trần Phú được xây dựng tại vị trí nhà thờ chi họ TRần, gồm 3 gian lợp ngói vẩy, tường bao quanh bằng đá ong không trát, đồ thờ sơ sài. Quang cảnh khu lưu niệm Trần Phú Từ năm 1984 đến 1988, ngành văn hoá huyện Đức Thọ đã tôn tạo và xây dựng một số công trình. Khuôn viên được mở rộng 2ha, gồm hai khu vực là nhà trưng bày và nhà thờ. Nhà trưng bày có diện tích 90m2, trưng bày trên 200 hiện vật và tư liệu giới thiệu về thời niên thiếu và cuộc đời hoạt động của Trần Phú. Một số tư liệu về quê hương Đức Thọ của Trần Phú trong việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Nhà thờ ở phía tây có các đồ tế tự, hoành phi cửa võng….Đặc biệt là bài vị của nhiều người trong họ Trần được thờ rất trang trọng. Năm 1994, khu lưu niệm đã được tôn tạo, tu bổ khang trang. 17. Đền Củi Từ cầu Bến Thuỷ theo quốc lộ 1A đi về hướng Nam 4km, rẽ phải, đi tiếp 200m nữa du khách sẽ thấy dưới chân núi Ngũ Mã, ẩn hiện trong vườn cây cổ thụ có một ngôi đền cổ kính uy nghi. Đó là đền Chợ Củi, còn gọi là đền Củi. Đền Củi thuộc địa phận xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Đến với đền Củi có thể đi bằng đường bộ, đường sông đều thuận lợi. Mặt tiền Đền Củi Trên mặt Tiền ở nhà hạ điện dài 9m, rộng 0,6m của ngôi đền có 4 chữ hán to: “Thánh mẫu linh từ”. Nghiên cứu các tài liệu thành văn và khảo sát thực địa, có thể khẳng định vị thần được thờ chính trong đền Củi là thánh mẫu Liễu Hạnh. Hiện nay chưa tìm được niên đại ra đời của đền Củi. Khi Lê Khôi đến trấn thủ ở Nghệ An đã thấy có ngôi đền này nhưng quy mô còn rất nhỏ và lợp tranh. Sau nhiều lần trùng tu tôn tạo đền mới được lợp ngói. Diện mạo ngôi đền Củi ngày nay, có phong cách kiến trúc đậm đà dấu ấn thời N Để nhớ công ơn ông Lê Khôi, người đưa lại cuộc sống ấm no cho mình nên sau khi ông mất (1446), nhân dân lập bài vị ông đưa vào phối thờ ở đền. Trong đền Củi còn thờ cả Hưng Đạo Vương, nhân dân tôn kính gọi là Đức Thánh Trần. Khuôn viên đền có diện tích rộng 1.040 m2 từ bờ sông Lam đi vào lần lượt có Tam quan, hồ Bán nguyệt, sân ngoài, sân trong (sân hạ điện), hạ điện, trung điện, thượng điện. Miếu cô Chín và bia đặt ở góc trái và góc phải phía trước sân ngoài. Hai góc phía trước sân trong là miếu Cô, miếu Cậu. Ba miếu trên đều thờ quân gia, thế thần của đức thánh mẫu Liễu Hạnh. Tam quan cùng với hệ thống miếu Cô, miếu Cậu tạo thành đai khép kín tách khu nội thất và ngoại thất thành 2 phần chính phụ rõ rệt. Cấu trúc các phần chính, phụ, thượng, hạ, tả, hữu, tiền hậu được bố trí theo một trục chính dọc theo tâm đỉnh cao dần về phía sau. Công trình vừa có tính liên hoàn, vừa tách biệt. Đây là kiểu thức kiến trúc khá phổ biến của đền chùa Việt Nam cuối Lê đầu Nguyễn. Tam quan khá uy nghi, cửa chính giữa có trụ cao 2,85m xây kiểu chồng diêm. Trên cùng có 2 con rồng cách điệu chầu nhau. Từ Tam quan đi vào 8m là hồ Bán Nguyệt. Hạ điện gồm 3 gian, 4 vì, 8 cột bằng lim. Tại gian giữa hạ điện có đặt Long ngai và tượng Hưng Đạo Vương trong tư thế ngồi. Trung điện gồm 3 gian, 2 hồi, gian chính giữa gồm một bức tượng trong tư thế ngồi, đó là
  12. tượng Chiêu Trưng đại Vương Lê Khôi. Thượng điện nhỏ và cao hơn trung điện và hạ điện. Thượng điện là nơi cung kính nhất, đặt bàn thờ tam toà thánh mẫu gồm có 3 bức tượng làm bằng gỗ quý được sơn son thiếp vàng đang ngồi, mắt sáng, tai to, vẻ mặt trung hậu. Bàn thờ bên trái đặt một pho tượng, nhân dân gọi là tượng ông Hoàng Mười. Hàng năm ở đền Củi có 3 ngày đại lễ: ngày 3/3 âm lịch giỗ Đức thánh mẫu Liễu Hạnh; ngày 20/8 âm lịch giỗ Hưng Đạo Vương; ngày 10/10 âm lịch lễ hội Đức thánh Hoàng Mười. Đền Củi đã được Bộ Văn hoá Thông tin ra Quyết định số 57/QĐ-VH ngày 18/1/1993 xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.guyễn 18. Đình Hội Thống Ngôi đình thuộc xã Hội Thống, huyện Nghi Xuân, xây dựng từ năm 1659 hoàn thành năm 1660, trong gia đình có chữ vàng vua ban “Kiến nghĩa xã”. Đây là một công trình kiến trúc lớn, đẹp, được xếp hạng di tích nghệ thuật quốc gia tháng 7 năm 1990. Theo lệ làng đầu xuân dân tụ tập ở đình mừng năm mới và tổ chức nhiều trò vui chơi: bơi thuyền, cử đình (bê đá lớn chạy quanh đình), chơi đu…. 19. Di Tích Lưu Niệm Nguyễn Công Trứ Di tích thuộc xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân. di tích lưu niệm ông tại đây có nhà thờ trên khuôn viên gần 2000m2, cách nhà thờ 200m là phần mộ của ông. Những năm tháng hàn vi Nguyễn Công Trứ, (1778 - 1858) người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, tên huý là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngô Trai, biệt hiệu là Hi Văn nguyên quán ở làng Bạch Đường, huyện Nam Đường. Con của Đức Phái hầu Nguyễn Tấn và bà vợ thứ Nguyễn Thị Phan, con gái một viên quan nhỏ triều vua Lê, niên hiệu Cảnh Hưng. Nguyễn Công Trứ sinh ngày 1 tháng 11 năm 1778 (Mậu Tuất) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39, tại huyện Quỳnh Côi, nay thuộc tỉnh Thái Bình, trong thời gian Đức Phái hầu Nguyễn Công Tấn làm tri huyện của huyện này. Tượng Nguyễn Công Trứ Sau đó Nguyễn Tấn được triều đình Lê - Trịnh thăng làm tri phủ Tiên Hưng. Khi xẩy ra sự kiện quân Tây Sơn đánh chiếm Phú Xuân, Nguyễn Tấn được vua Cảnh Hưng sai làm Than tán những vụ đạo Sơn Nam, phong tước Đức Phái hầu . Nguyễn Công Trứ sinh ra, lớn lên khi chế độ phong kiến bước vào thời kỳ suy yếu, chúa Trịnh lấn át vua Lê, phong trào nông dân Tây Sơn nổi dậy ở Thuận Hoá lần lượt tiêu diệt các tập đoàn cát cứ Nguyễn, Trịnh, trao lại thực quyền cho nhà. Nhưng Lê Chiêu Thống bất tài và đố kỵ triều đình Tây Sơn, một mặt tập lượng nghĩa binh chống lại Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, mặt khác cầu viện quân Thanh kéo sang xâm lược nước ta. Theo lệnh vua Chiêu Thống, Nguyễn Tấn chỉ huy binh lính đạo Sơn Nam chống đối quân Tây Sơn nên bị bắt giam một thời gian. Nhà Thờ Nguyễn Công Trứ Rồi được người cùng làng thân cận Bắc Bình vương Nguyễn Huệ nói giúp Nguyễn Tấn, nhờ vậy mà ông được thả tự do, cho đưa gia quyến về quê ngoại sinh sống. Từ đất Sơn Nam, gia đình Nguyễn Tấn và 2 người con là Nguyễn Thị Diệu Muội và Nguyễn Công Trứ về quê mẹ, thuộc xã Tam Đăng Thượng (ngày nay là xã Xuân Hồng). Nhà Lê sụp đổ, Nguyễn Công Trứ cùng gia đình theo thân phụ về làng Uy Viễn, tại đây ông tiếp tục đi học ở trường huyện. Mộ Nguyễn Công Trứ Xung quanh việc học tập của Nguyễn Công Trứ có nhiều truyền thuyết thú vị về sự thông minh, hóm hỉnh, đa tình và hiểu biết thuỷ triều cặn kẽ như chuyện trêu chọc thuỷ thần, ngắm con gái thầy giáo ngủ trưa, xin hiến đức thánh mẫu 3 bò... Từ ngày triều Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Tấn ốm yếu, gia cảnh ngày càng sa sút vì không bổng lộc, không ruộng đất, không kế sinh nhai. Gia đình Nguyễn Công Trứ sống trong
  13. túp lều tranh dột nát, dưới không mên, trên không tranh. Sách Nghi Xuân Địa Chí, đoạn chép về vợ Nguyễn Công Trứ: ''Lúc đầu về với Nguyễn Hy Văn, nhà ông rất nghèo khổ, hạt muối, nắm gạo đều nhờ ở bà. Buổi sáng đội thúng không úp thay nón đi vay, đến trưa vay được gạo và thức ăn, lại ngửa thúng đội về giữa khoảng mùa hè sang thu giáp hạt, bà đi làm thuê nhổ cỏ ruộng, chạy gạo từng bữa, không một lời oán thán”. Cuộc sống nghèo khổ của gia đình được Nguyễn Công Trứ ghi lại trong tác phẩm nổi tiếng của ông là ''Hàn Nho Phong Vị Phú'' và nhiều câu đối như: “Tối ba mươi nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa”. Sống trong cảnh nhà nghèo túng, năm hết tết đến chủ nợ vây ''tử mù'' mà ông vẫn lạc quan giao thiệp rộng, vui thú cùng bầu rượu, túi thơ - “sáng mông một, rượn say tuý luý, giơ tay bồng ông phúc vào nhà”, chan hoà cùng bầu bạn văn chương. Nguyễn Công Trứ từng xin làm kép theo gánh hát ca trù Cổ Đạm cùng nàng Huệ Thư rong ruổi đi khắp trong nam ngoài bắc. Khi còn rất trẻ Nguyễn Công Trứ đã trở thành một trong những tác giả sáng tác của nhiều làn điệu ca trù về những làn điệu hát nói nổi tiếng cả nước. Ba lần lều chõng đi thi Bước đường công danh của ông lận đận, nhiều lần thi thố tài năng với khoa cử chốn quan trường để đem tài kinh bang tế thế phục vụ triều đình nhà Nguyễn nhưng thi mãi vẫn không đậu. Năm 1804, nhân vua Gia Long cùng Lê Văn Duyệt ra Bắc Hà thị sát tình hình, ông mới 24 tuổi đã giả làm học trò bị ốm, đắp chiếu nằm giữa đường cả gan đón xe vua dâng bản điều trần: “Thái Bình Thập Sách”. Cả gan đón xe vua là tội lớn, nhưng nhờ có tài ứng khẩu thành thơ: ''Ba vạn anh hùng đè xuống dưới/Chín tầng thiên tử đội lên trên''- ông mới thoát tội chết. Đọc qua bản điều trần của Nguyễn Công Trứ, vua Gia Long biết ông là người có tài cao chí lớn Nhưng khác với Nguyễn Du, ý kiến của một thư sinh nghèo, cha lại dính dáng đến Tây Sơn kẻ thù truyền kiếp của triều Nguyễn, dù có tài kinh bang tế thế đến tột bậc cũng không được Gia Long thu nạp, tin dùng, Nguyễn Công Trứ phải trở về ngậm ngùi với số phận hàn sĩ. Năm Đinh Mão (1807) vua Gia Long mở khoa thi hương lần đầu, ông vác lều chõng đi thi nhưng bị trượt vì phạm huý. Năm Quý Dậu (1813) vua mở khoa thi hương thứ 2, ông đã 36 tuổi hăng hái vác lều chõng đến Trường Thi. Trước khi lên đường Nguyễn Công Trứ đã làm cặp câu đối tự vịnh đâu cảnh mình: Anh em ơi! Đã băm sáu tuổi rồi, khắp đong tây nam bắc bốn phương trời đâu cũng lừng danh công tử xác. - Trời đất nhỉ! Gắng một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh. Nhưng khoa thi năm ấy, ông chỉ đỗ sinh đồ không được bổ đi làm quan. Trước khi đi thi giải nguyên ông khăn áo chỉnh cổng đền vào thượng điện. Quỳ trước điện đức thánh mẫu, Nguyễn Công Trứ cầu khẩn rằng: ''Thưa đức thánh mẫu trên trời cao. Con là học trò nghèo học giỏi tài cao, nhưng không hiểu vì sao thi mãi vẫn không đậu cao. Khoa thi này xin đức thánh phù hộ cho con đậu giải nguyên, nếu được như ý nguyện con sẽ cúng đức thánh ba bò''. Khoa thi năm ấy, Nguyễn Công Trứ đậu giải nguyên, nhưng nhà nghèo, người nhà lo lắng chẳng biết kiếm đâu ra 3 con bò để cúng lễ tạ thánh mẫu. Nhưng ông vẫn bình thản, ăn vận khăn áo chỉnh tề lên đền lễ tạ. Trước uy linh năm Kỉ Mão (1819) rồi ra làm quan khi đã 42 tuổi. Bước đường công danh lận đận
  14. Ra làm quan dưới triều đình nhà Nguyễn, bằng tư tưởng trung quân yêu nước ông lập được nhiều sự nghiệp công danh vẻ vang, để lại cho dời sau sự nghiệp trị thuỷ sông Hồng, khai hoang lấn biển lập ra 2 huyện Kim Sơn (Ninh Bình), Tiền Hải (Thái Bình). Đây là sự nghiệp lớn nhất của ông để lại muôn đời sau chiêm ngưỡng. Năm 1828 Nguyễn Công Trứ được vua cấp 7.000 quan tiền, 500 đấu gạo, ông chiêu mộ được 2.350 suất đinh dân li tán, khai khẩn được 18.970 mẫu ruộng, lập ra huyện Tiền hải, gồm 8 tổng, 14 lý, 72 ấp, 20 trại, 10 giáp. Năm ấy ông còn chỉ đạo dân khai khẩn được 4.200 mẫu ruộng, lập ra 2 tổng mới là Ninh Nhất thuộc huyện nam Trực và Tổng Hoài Thu thuộc huyện Giao Thủy. Năm 1829, Nguyễn Công Trứ tiếp tục chiêu mộ dân lưu tán đến khai khẩn vùng Yên Mô, Thiên Trường mộ được 1.260 đinh, khai hoang 14.600 mẫu ruộng lập ra huyện Kim Sơn, có 7 tổng, chia làm 13 lý, 20 ấp, 15 trại, 24 giáp. Năm 1835, khi làm tổng đốc An Hải, ông chỉ huy khai khẩn được 3500 mẫu ruộng và đắp 1 con đê ngăn mặn ở Quảng Yên. Nhằm mở mang dân trí vùng đất mới khai phá, ông dâng sớ tấu vua miễn thuế ở một số mẫu ruộng để lấy tiền chi học phí, định lệ trẻ em phải đến trường, Để phòng chống mất mùa, đói kém, ông xin đặt ''xã thương'' ở mỗi ấp nhằm quản lý thóc gạo, khi nào giá gạo lên cao thì mở kho bán cho dân chống đầu cơ của tư thương khi trượt giá, hạ giá thì mưa vào, gặp lúc "thủy hỏa đạo tặc" thì phát chẩn cứu dân đói. Được mùa thì thu lại để dự trữ. Sau khi thi đậu giải nguyên, Nguyễn Công Trứ được Minh Mệnh bổ chức Hành tẩu quốc sử quán, vào năm 1820. Tuy nhiên con đường công danh, sự nghiệp của ông nhiều gập gềnh, trắc trở, bị triều đình nhà Nguyễn bắt tội đủ điều, thăng lên giáng xuống nhiều lần. Mặc dù lập được công lao cho triều đình nhà Nguyễn dưới thời vua Minh Mạng, năm 1825 ông được thăng chức Tham hiệp trấn Thanh Hoá, đem quân đi đánh dẹp khởi nghĩa nông dân Phan Bá Vành ở vùng Trà Lũ, giải vây cho quan quân triều đình và bắt được vua Ba Vành giải về kinh, Nguyễn Công Trứ được Minh Mệnh thăng chức Thị lang bộ Hình, sau đó đổi làm Hữu tham tri bộ Hình kiêm Lãnh Dinh điền sứ Bắc bộ, chỉ huy việc trị thuỷ và khai hoang lấn biển miền duyên hải Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình. Rồi lại được vua thăng chức Tham trị bộ Binh thự Tổng đốc an Hải. Khi Nông Văn Vân nổi dậy chống đối triều đình ở Cao Bằng, Lạng Sơn, vua Minh Mệnh cử ông làm Tham tán quân vụ cùng tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên và tổng đốc Ninh Thái đem quân đánh dẹp. Triều đình đập tan cuộc nổi dậy của nông dân Cao Bằng, Nông Văn Vân chạy sang Trung Quốc. Nguyễn Công Trứ bị tố cáo: ''hành quân chậm trễ, không gắng sức'' nên bị Minh Mệnh giáng xuống 3 cấp. Hai năm sau, Nông Văn Vân trở về hoạt động dọc biên giới Việt - Trung, Nguyễn Công Trứ dò biết được, vây đánh và giết được Nông Văn Vân, ông được vua phong làm Thượng thư bộ Binh nhưng vẫn ở Bắc Hà, giữ chức tổng đốc An Hải. Rồi do để xổng tù, ông bị Minh Mệnh giáng xuống 4 cấp, sau đó khôi phục cho 3 cấp và nguyên chức tổng đốc An Hải. Năm 1839, Nguyễn Công Trứ được điều về kinh đô, lĩnh chức Hữu Tham tri bộ Binh, rồi được thăng lên Tả đô Ngự sử viện Đô sát. Cuối năm 1840, ông được phong chức Tán lý cơ vụ, phái đi giữ thành Trấn Tây đối địch với quân Miên, bảo vệ biên giới Tây Nam tổ quốc. Nhân việc dâng sớ can gián vua Thiệu Trị xin rút quân về, không xâm chiếm nước người Căm – phu - chia, Nguyễn Công Trứ bị Thiệu Trị cách tuột chức tước, theo lệnh vua giam vào ngục “trảm giam hậu''. Sau đó, may vua nghĩ lại đã tha cho ông tội chết, phục chức quyền Tuần vũ tỉnh An Giang. Ba năm sau, nhân vụ 4 chiếc thuyền buôn đồ gian lận mà đội trưởng bến Châu
  15. Giang thả cho đi, Nguyễn Công Trứ bị bọn quan tham là Nguyễn Văn Nhàn, Phùng Nghĩa Phương, Đào Quang Mật ghen ghét tố cáo buôn lậu: ''Những chiếc thuyền đó là của Tuần Vũ An Giang, phái sang Trấn Tây do thám, rồi nhân tiện mua sừng tê, đậu khấu chở về''. Vua phái khâm sai đại thần là Trần Ngọc Đạo làm rõ sự thất, khẳng định sớ tố cáo của Nguyễn Văn Nhàn là bịa đặt, sàm tấu, vu cáo Nguyễn Công Trứ. Ông dâng sớ lên vua Thiệu Trị hạch tội những kẻ sàm tấu, vua Thiệu Trị cho là cao ngạo, Nguyễn Công Trứ bị vua cách tuột chức tước, đày đi Quảng Ngãi làm lính thú 3 năm liền. Đến năm 1845 thì được phục chức Chủ sự bộ Hình, năm sau cử đi làm án sát Quảng Ngãi, năm 1847 đổi sang làm quyền phủ doãn phủ Thừa Thiên, cuối năm 1848 thì Nguyễn Công Trứ dâng sớ lên vua Tự Đức xin về an trí tại làng Uy Viễn và được vua chấp thuận. Cuộc đời Nguyễn Công Trứ suốt đời thanh bần, trong sạch, thực sự yêu nước, thương dân. Gần 30 năm làm quan trải qua 3 triều vua Nguyễn, ông từng vì triều đình đánh đông, dẹp bắc, quan tước đến hàng tổng đốc, thượng thư. Nhưng khi về nghỉ việc quan, Nguyễn Công Trứ trả hết phẩm hàm cho triều Nguyễn, tiếp tục sống trong căn lều tranh hoặc tá túc nơi cửa thiền như thưở hàn vi ngày nào. Trở về với cuộc sống đời thường, ông sống gần dân chan hoà cùng người lao động trên quê hương thôn dã. Đối với Nguyễn Công Trứ, trung quân yêu nước gắn liền với việc gần gũi dân, thực sự yêu thương dân, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của dân là một việc làm đảm bảo cho đất nước thái bình thịnh trị. Quan điểm này của ông chắc chắn được xuất phát từ sự từng trải, chiêm nghiệm, đúc rút của hàn nho Nguyễn Công Trứ trong những ngày hàn vi nơi quê nhà Uy Viễn. 20. Khu Lưu Niệm Nguyễn Du Và Dòng Họ Nguyễn Họ Nguyễn Tiên Điền là dòng họ nổi tiếng “Trâm anh thế phiệt”, có nhiều người tài năng thành đạt trên con đường văn chương, khoa cử, y học, sử học cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Khu lưu niệm Nguyễn Du Vào đầu thế kỷ XVII, Nguyễn Nhiệm cháu Nguyễn Thiến quê ở Trấn Sơn Nam, nay là tỉnh Hà Tây vào Tiên Điền sinh cơ lập nghiệp hướng dẫn cư dân trong vùng đắp đê, ngăn mặn, biến mảnh đất cằn nơi đây thành cánh đống xanh tốt. Từ ông tổ đời thứ nhất là Nam dương hầu Nguyễn Nhiệm đến tổ đời thứ 6 (đại vương Tiến sỹ Nguyễn Huệ, đệ nhị giáp tiến sỹ Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng) là thời cực thịnh của dòng họ này. Mộ Nguyễn Du Tới tổ đời thứ 7 vẫn có nhiều bậc anh tài nổi tiếng nhưng gia huynh và uy lực đã sa sút, khi Thượng thư Nguyễn Khản thất thế cũng là khi kết thúc một thời kỳ thịnh vượng của dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào bất kể lúc khó khăn nhất thì dòng họ này vẫn giữ được cốt cách thanh cao. Nguyễn Du (1765- 1820) danh nhân tiêu biểu nhất của dòng họ sinh tại kinh thành Thăng Long nơi thân sinh ông là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm(1708-1775) làm quan Tham Tụng (Tể tướng) dưới triều Lê, thân mẫu là bà Trần Thị Tần quê ở Kinh Bắc nổi tiếng nết na
  16. thông minh xinh đẹp rất yêu văn học, văn nghệ dân gian. Môi trường văn hoá của ba vùng đất văn vật: xứ Nghệ, Thăng Long và Kinh Bắc cùng truyền thống của dòng họ, gia đình đã ảnh hưởng sâu sắc đến tài năng của Nguyễn Du. Sống trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, với những biến cố dữ dội của đất nước, con đường công danh của Nguyễn Du khá hanh thông nhưng ông không mấy chú trọng đến, bởi một lẽ ông đau xót trước lẽ sống của thời bấy giờ gia đình tan tác, dân tình khốn khổ lầm than. Nổi ưu tư ấy ông dồn hết vào văn chương, thơ ca và trong tất cả các tác phẩm Nguyễn Du để lại thì Truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất đạt đến đỉnh cao tinh hoa văn hoá của nhân loại. Bằng những lời thơ súc tích ngắn gọn Nguyễn Du vẽ lên một bức tranh về thực tại của xã hội đương thời đã nói lên được tiếng nói của người dân, nói lên được tiếng nói khao khát được sống được tự do yêu đương đề cao thân phận của người phụ nữ. Với những gì Nguyễn Du để lại cho nền văn học nước nhà đã đưa ông lên tầm một nhà thơ vĩ đại của dân tộc Việt Nam và trở thành Danh nhân văn hoá thế giới. Toàn bộ khu di tích Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn Tiên Điền nằm rải rác trên vùng đất rộng chừng 20 ha từ bờ nam Sông Lam đến xứ Đồng Cùng, bao gồm đền thờ Nguyễn Huệ Đại Vương, cầu Tiên, khu lưu niệm, đền thờ Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Trọng, từ đây đi về khoảng 1 km sẽ đến mộ Nguyễn Du. Cầu Tiên không rõ được xây dựng vào năm nào, theo “Nghi Xuân huyện chí” thì Xuân Nhạc Công Nguyễn Nghiễm cùng Tri phủ Đặng Sỹ Vinh và Đặng Hiến Phó trùng tu lại có dựng bia đá vào năm Canh Thân (1740). Theo chữ ghi trên bia Cầu Tiên cho biết đây là nơi nhiều nguồn nước từ Hồng Lĩnh cùng các nơi khác trong huyện hội tụ về. Hiện nay bia đặt ở nhà Tư văn 2 trong Khu lưu niệm. Khu lưu niệm Nguyễn Du rộng khoảng 2 ha, từ cổng chính đi vào qua bệ đá khắc hai chữ "Hạ Mã", lần lượt đến nhà khách, nhà tư văn, bia tưởng niệm Nguyễn Quỳnh, nhà thờ Nguyễn Du, nhà trưng bày bảo tàng Nguyễn Du. Nhà Tư văn 2, Tư văn 1 làm bằng gỗ lim lợp ngói vảy, xung quanh có tường cao. Hai nhà này là nhà văn thánh của huyện Nghi Xuân do Nguyễn Nghiễm đưa về năm 1790 bị cháy, người trong họ Nguyễn và quan viên trong huyện dựng lại. Nhà thờ Nguyễn Du được xây dựng vào năm 1825 trên mảnh vườn nhà tại làng Tiên Điền Trong nhà có bàn thờ bằng vôi cát, một bàn nhỏ để góc bút nghiên, trên bàn thờ có một bức hoành đề chữ “ Hồng Sơn thế phả” do Hoàng Phù phái tước Trung hiến Đại phu tặng vào năm thứ 55 triều Càn Long đời nhà Thanh, phía ngoài nhà thờ treo bức đề chữ “ Địa linh nhân kiệt”. Từ cổng chính đi vào bên phải nhà thờ Nguyễn Du là nhà trưng bày bảo tàng. nội thất nhà trưng bày ngoài một số tài liệu tranh ảnh minh hoạ tác phẩm của Nguyễn Du thì có một số hiện vật quý như: nghiên mực, đĩa mai hạc Nguyễn Du được tặng trong thời gian đi sứ, nậm và chén uống rượu, gạc nai treo áo, la bàn dùng đi săn, bức phù điêu bằng gỗ ghi lại hình ảnh rước Tiến sĩ, hoàn sắc của Nguyễn Nghiễm. Từ khu lưu niệm về phía đông vài trăm mét là đến đền thờ Nguyễn Nghiễm còn gọi là đền Đức Đại Vương. Trước cổng là hai voi đá và ngựa đá, thượng điện nay chỉ còn bàn thờ bằng đá thanh, bát hương bằng đá, mái lợp ngói xi măng. Hạ điện làm bằng gỗ li, lợp ngói mũi hài. Cách đền Nguyễn Nghiễm vài trăm mét là đền Nguyễn Trọng, đền có bia đặt trước tiền sảnh nội dung bia là bài ca tựa như “ Gia Huấn ca” của Nguyễn Trãi dùng để khuyên con
  17. cháu bảo vệ đạo lý của cha ông để lại. Ngoài khu lưu niệm là phần mộ đại thi hào Nguyễn Du, mộ được xây bằng gạch bao gồm 3 phần: bàn thờ, phần mộ và vườn cây. Bàn thờ có bia tường hình cuốn thư, lư hương. Bia bằng đá Thanh đề dòng chữ “Danh nhân văn hoá thế giới - Đại thi hào Nguyễn Du”. Quanh bia khắc hình hoa văn thế kỷ XVIII theo luật đường triện. Mộ hình khối chữ nhật, cao 1,2 m; rộng 1,3; dài 2, 3 vỉa bao quanh mộ xây bằng gạch đặt nghiêng không trát. Nền mộ lát gạch Cẩm Trang, phần mộ được bao quanh bằng hàng rào 9 x 16m, vườn mộ được trồng một số cây cảnh như bàng, keo. Năm 2001-2003, Khu lưu niệm Đại thi hào Nguyễn Du đã được Bộ văn hoá Thông tin đầu tư tu bổ, tôn tạo lại khang trang. 21. Bãi Biển Xuân Thành Khu du lịch nghỉ mát Xuân Thành nằm gần thị xã Cửa Lò nổi tiếng, cách cửa Hội khoảng 5 km về phía nam trên địa phận huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh). Bãi biển ở đây cũng không kém phần hấp dẫn bởi vẻ đẹp nguyên sơ và những tiềm năng tự nhiên phong phú. Bãi biển Xuân Thành Hằng năm, chính quyền và nhân dân Nghi Xuân tổ chức lễ khai hội du lịch biển Xuân Thành cũng trùng với thời gian mở hội sông nước truyền thống du lịch Cửa Lò dịp 30-4. Nhưng có lẽ do nằm quá gần một thị xã du lịch biển đã nổi tiếng, được đua vào khai thác từ lâu nay và một phần nguyên nhân khác là công tác quảng bá chưa được quan tâm đầy đủ, cho nên còn quá ít du khách biết và đến với khu du lịch, Xuân Thành cách Vinh khoảng 13 km. Du khách đi tầu hỏa hoặc theo đường hàng không đến TP Vinh rồi xuống thẳng Xuân Thành bên kia cầu Bến Thủy. Một lý do khác mang tính kinh tế hơn là giá cả lưu trú, ăn uống ở Xuân Thành khá rẻ, tuy tiện nghi và dịch vụ chưa thật đầy đủ. Bãi biển Xuân Thành có chiều dài hơn 5 km và độ dốc thoai thoải, du khách có thể lội bộ ra xa tới vài trăm mét. Nước biển ở đây có độ mặn vừa phải, trong xanh và rất sạch. Không gian thiên nhiên gần như còn giữ được vẻ nguyên sơ, chưa bị phá vỡ bởi những kiến trúc bê-tông của các khách sạn như nhiều bãi biển đang bị đô thị hóa. Phần lớn cơ sở lưu trú, nhà nghỉ, nhà hàng có quy mô nhỏ và độ cao chỉ khoảng vài ba tầng. Chính vì vậy tầm nhìn không bị che chắn, giúp du khách có cảm giác được hòa mình vào thiên nhiên biển trời mênh mang và một sự thư giãn thoải mái, dễ chịu. Ðiều đặc biệt là dọc chiều dài bãi biển Xuân Thành có dòng sông nước ngọt Mỹ Dương từ núi Hồng Lĩnh chảy về chạy song song. Sông không sâu nhưng nước không bao giờ cạn. Ðôi bờ sông là những tán cây xanh trùm mát rượi. Vượt qua cây cầu bê-tông kiên cố bắc ngang sông, du khách bắt gặp một dải rừng cây phòng hộ, ngăn gió bão bảo vệ cho khu dân cư phía trong bờ, qua dải rừng này là sang đến bãi tắm biển. Một không gian xanh của mặt biển bao la và bờ cát trắng trải dài bất ngờ mở ra cuối con đường, mang lại cho du khách sự hứng khởi, đầy thú vị. Du khách không những được thưởng thức vẻ huy hoàng của cảnh bình minh lên hay khi hoàng hôn buông xuống mặt biển với đàn chim tung cánh trên bầu trời mà còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp lao động biển cả của các ngư dân vạn chài Xuân Thành, những con người "ăn sóng, nói gió", bản tính cứng cỏi, cần cù và giàu lòng mến khách. Thời gian nghỉ tại đây, du khách còn có thể đi thăm những điểm du lịch lịch sử- văn hóa khá nổi tiếng trong vùng như khu lưu niệm Ðại thi hào Nguyễn Du tại làng Tiên Ðiền, khu di tích về nhà thơ Nguyễn Công Trứ tại làng Uy Viễn và thăm làng ca trù Cổ Ðạm cách đó 3 km để được lắng nghe những làn điệu ca trù cổ từ các nghệ nhân của làng.
  18. Một điều làm nên sức hấp dẫn của bãi biển Xuân Thành với du khách là sự phong phú của ẩm thực miền biển. Sau mỗi lần ngâm mình trong sóng nước và ngắm nhìn đảo Ngư, đảo Mắt xanh thẫm, thấp thoáng phía chân trời, du khách được "nhâm nhi" những món đặc sản tươi như cua, ghẹ, tôm, mực, sò huyết và các món cá luộc, cá nướng đủ loại với giá cả vừa phải. Thậm chí khách cũng có thể đi mua, tự mình lựa chọn các loại hải sản ngay từ thuyền đánh cá của ngư dân mới cập bờ, neo đậu trên bãi biển và đưa vào các nhà hàng để đầu bếp chế biến, nấu nướng theo yêu cầu. Với hệ thống khách sạn, nhà nghỉ cùng các dịch vụ đang được đầu tư xây dựng và mở rộng, hướng tới tính chuyên nghiệp, Xuân Thành đang nổi lên trở thành một điểm đến hấp dẫn của du lịch Hà Tĩnh. Tuy nhiên, du lịch Xuân Thành cần hạn chế sự phát triển mang tính tự phát và manh mún, ảnh hưởng đến cảnh quan, đồng thời khuyến khích những dự án du lịch phù hợp và hài hòa không gian thiên nhiên, nhằm thu hút du khách từ sức lôi cuốn của vẻ đẹp tự nhiên nguyên sơ, không nên đi theo lối mòn đầu tư để trở thành một "đô thị du lịch biển" bị bao bọc bởi những nhà nghỉ và các khách sạn bê-tông cao tầng. 22. Chùa Tượng Sơn Chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê (đầu thế kỷ thứ 18) ở làng Yên Hạ, xã Sơn Giang, huyện Hương Sơn. Chùa do thân mẫu của đại danh y Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác sáng lập. Chùa toạ lạc giữa một khu đất bằng phẳng bốn phía có núi sông, khe suối, làng mạc, ruộng đồng bao bọc. Trước mặt chùa là dòng sông Ngàn Phố sau lưng là ngọn núi Voi đứng sừng sững, có khe suôi chảy quanh năm tạo âm thanh rộn rã nơi của thiền tĩnh mịch. Chính vì vậy mà chùa có tên gọi là Tượng Sơn tự hay còn gọi là chùa Ầm Ầm. Quần thể chùa Tượng Sơn có 3 ngôi chùa: chùa Thượng, chùa Hạ và nhà Tổ. Chùa Thượng chính điện thờ Phật Thích Ca, bên tả thờ ông bà Tham đốc quân cong (ông bà ngoại của danh y Lê Hữu Trác) và bà Bùi Thị Thưởng (thân mẫu của danh y); bên hữu thờ tổ tiên họ Lê Hữu. Chùa Hạ kết cấu một lầu chuông 8 mái, hoa văn chạm trổ tinh xảo kiểu tứ linh. Tầng trên để gác chuông, tầng dưới là nơi lễ bái. Sát cạnh chùa Thượng là nhà Tổ, thờ tượng Tổ Đạt Ma, lịch đại Tổ Sư. Chùa Tượng Sơn tuy nhỏ nhưng là một ngôi chùa cổ, một di tích lịch sử gắn liền với đại danh y Lê Hữu Trác. Chùa có nhiều pho tượng Phật có giá trị nghệ thuật với nhiều dáng vẻ độc đáo, đặc biệt là pho tượng Bồ Tát Chuẩn đề 18 tay. Chùa Tượng Sơn được nhiều du khách thập phương đến lễ bái, vãn cảnh, chiêm ngưỡng. 23. Di Tích Lưu Niệm Lê Hữu Trác Lê Hữu Trác (1724 - 1791) sinh ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng). Ông xuất thân trong một gia đình dòng dõi, có truyền thống học rộng tài cao, nhiều người đỗ đạt và làm quan to nhưng rất trọng đạo lý. Lê Hữu Trác là người có tư chất thông minh, nhưng về khoa cử ông chỉ đậu đến Tam trường rồi không tiếp tục đi thi nữa mà sung vào quân đội của Chúa Trịnh. Năm 1746 Lê Hữu Trác bỏ quân ngũ về quê ngoại ở xã Tình Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh để phụng dưỡng mẹ già là bà Bùi Thị Thưởng. Chân dung Lê Hữu Trác
  19. Từ đây, ông đã dày công nghiên cứu, tìm học những bài thuốc hay trong nhân dân chuyên trị bệnh cứu người, tiếng tăm ngày càng lừng lẫy. Suốt 45 năm làm thầy thuốc, hết lòng vì người bệnh, ông đã đúc kết thực tiễn, biên soạn bộ Y Tông tâm lĩnh, gồm 66 quyển (mới in được 55 quyển, còn 11 quyển bị mất). Đây là một công trình khoa học đồ sộ, thể hiện tư tưởng tiến bộ, đúc kết và phát huy tinh hoa truyền thống y học dân tộc. Khu lưu niệm Lê Hữu Trác Lê Hữu Trác đồng thời là một nhà văn, ông đã hoàn thành tác phẩm "Thượng kinh ký sự" vào năm 1782, sau thời gian ông được chúa Trịnh mời ra kinh đô chữa bệnh cho Thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm, phản ánh một cách chân thực xã hội đương thời. Ông mất vào năm 1791 tại quê mẹ. Từ thị trấn Phố Châu, theo huớng tây 6km rồi qua sông Ngàn Phố ta sẽ tới nơi sống, làm việc và nhà thờ Lê Hữu Trác. Xung quanh nhà thờ có tường bao, bốn phía cao 1,2m. Nhà này nguyên xưa là nhà thờ họ Lê Hữu, chi ở xã Sơn Hoà làm vào năm Thành Thái nguyên niên, dời về đây năm 1972. Nhà quay về hướng Nam gồm 3 gian làm theo kiểu tam oai tứ trụ, gỗ mít, riêng cầu phong làm bằng lim, cửa gian giữa có 4 cánh, hai gian hai bên mỗi gian 3 cánh. Bàn thờ đặt ở gian giữa, có tượng bán thân Lê Hữu Trác bằng thạch cao. Gian phải và gian trái có lịch niên biểu ghi lại những năm tháng sống và lập nghiệp trong cuộc đời Lê Hữu Trác cũng như quan hệ gia đình và xã hội của ông.Mộ danh y được đặt dưới chân núi Minh Tự bên bờ sông Ngàn Phố, được xây bằng tường cao, cột trụ trên đỉnh cột có hình búp sen và một số phần tôn tạo mới. Mộ có hai bậc, bậc trên là phần mộ, bậc dưới là nơi chiêm ngưỡng, trước mộ có hình cuốn thư gắn bia bằng đá Thanh do họ Lê Hữu làm từ năm 1934, với dòng chữ Hán được khắc trên mộ chí: "Hương Sơn huyện, Tình Diệm xã, Yên Trung thôn, Lê Thị đệ thập thế tử, Huy Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông chi mộ”. Năm 2005, phần Mộ và Nhà thờ Lê Hữu Trác đã được Bộ Y tế đầu tư tôn tạo. 24.Đình Tứ Mỹ Đình Tứ Mỹ thuộc xã Sơn Châu, huyện Hương Sơn, xây dựng năm 1912 trên diện tích 3000m2. Cuối thập niên 20 của thế kỷ 20, đình là nơi hoạt động Cách mạng và tổ chức nhiều cuộc đấu tranh trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 – 1931. Đình cũng là nơi chi bộ Đảng địa phương được thành lập, sau đó từng bước mở rộng và phát triển trên địa bàn Hương Sơn. Tại đình đang lưu giữ chân dung của nhiều chiến sỹ Cách mạng như Trần Đoan, Trần Đoàn, Trần Bình, Trần Đình Linh… 25. Vườn Quốc Gia Vũ Quang Vườn quốc gia Vũ Quang (trước đây là khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang) nằm ở huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), có độ cao trung bình trên 800m so với mặt nước biển, thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm 230C, lượng mưa 2.304,5 mm. Vũ Quang nằm ở vị trí quan trọng trong dãy Trường Sơn, xen giữa vườn quốc gia Pù Mát ở phía Bắc và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng ở phía Nam. Vườn Quốc Gia Vũ Quang Theo kết quả điều tra của các chuyên gia trong nước và quốc tế, vườn quốc gia Vũ Quang có tới 76% diện tích rừng tự nhiên với hai kiểu chính: rừng kín thường xanh á nhiệt đới chiếm 20% với hai loại thực vật ưu thế là pơmu và hoàng đàn; rừng kín thường xanh
  20. nhiệt đới với các loại thực vật bậc cao như: cẩm lai, lát hoa, lim, dổi, trầm hương... và nhiều cây dược liệu quý. Động vật ở đây rất phong phú, theo thống kê có tới 60 loài thú, 187 loài chim, 38 loài bò sát, 26 loài lưỡng cư và 56 loài cá. Trong đó có 26 loài thú, hơn 10 loài chim, 16 loài bò sát quý hiếm cần được bảo vệ. Ngoài ra, vườn quốc gia Vũ Quang còn có 36 loài phụ thú đặc hữu của khu rừng Trường Sơn Bắc như: voọc vá chân nâu, voọc Hà Tĩnh, vượn má vàng… Sao La con Đặc biệt, tại đây đã phát hiện được hai loài thú lớn mới là sao la, còn gọi là dê rừng dài (năm 1992) và mang lớn (năm 1993). Bởi tính đa dạng sinh học cao và với việc phát hiện hai loài thú mới, Vũ Quang đã trở thành một địa chỉ du lịch sinh thái đầy tiềm năng. Tại đây, du khách có thể thực hiện những chuyến du lịch mạo hiểm khám phá những bí ẩn bất ngờ của rừng; hay tham gia tour du lịch thể thao đến thác Vũ Môn theo huyền thoại cá chép hóa rồng… Vũ Quang không chỉ là khu bảo tồn thiên nhiên mà còn là khu di tích lịch sử ghi dấu những sự kiện lịch sử oai hùng của cuộc khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp của Phan Đình Phùng cuối thế kỷ 19. Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nhưng Vườn quốc gia Vũ Quang vẫn còn dấu tích của những người anh hùng lưu lại với thời gian như chờ đợi du khách khám phá. 26. Chùa Hương Tích- Hà Tĩnh Để chạm hình tượng tiêu biểu của danh sơn Hồng Lĩnh lên “Anh đỉnh” (một trong 9 đỉnh đồng ở nội thành Huế, đúc năm Minh Mạng thứ 17 (1936) ) các nghệ nhân đã chọn cảnh động Hương Tích. Hương Tích động, Hương Tích phong là gọi theo tên ngôi chùa cổ ở đây – Hương Tích Tự – Hoan Châu đệ nhất danh lam, Hương Tích nghĩa đen là “chứa mùi thơm”. Chùa Hương Ngàn Hống dựng đời Trần, có thể đồng thời với chùa Yên Tử (Quảng Ninh) thế kỷ XIII, qua những biến thiên lịch sử cảnh cũ đổi thay nhiều. Trong chuyến lên thăm chùa năm 1794, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ghi lại trong thơ: "Hương Tích ngôi chùa đời Trần Dựng trên ngọn núi đẹp nhất Ngàn Hống Am cũ còn lưu lại đá trắng Nền Trang vương xưa chỉ những thông xanh" (Thái Kim Đỉnh dịch nghĩa) Chùa Hương Tích nằm trên ngọn Hương Tích trong dãy Hồng Lĩnh, thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc. Tục truyền chùa do công chúa Diệu Thiện, con gái út của Sở Trang Vương (Tàu) tạo dựng khi đến tu hành ở đây. Một truyền thuyết có vẻ hợp lý: Xưa kia người ta thường đến am Thánh Mẫu để cầu tự, ông Hiệp trấn họ Trần cầu tự ở đây sinh được 3 con trai đặt tên là Hồng, Hương, Tích và một chúa Trịnh không rõ chúa nào cũng vào cầu tự và sinh được Thế tử. Hàng năm chúa sai người vào đây tạ ơn Phật tổ, sau thấy vùng Hương Sơn - Hà Tây phong cảnh đẹp lại gần kinh thành nên cho xây chùa để tiện đi lễ Phật, khỏi phải vào Ngàn Hống xa xôi. Vì vậy chùa Hương - Hà Tây cũng gọi theo tên chùa chính: Hương Tích tự. Chùa Hương Tích Những vết tích còn lại và tài liệu cho hay chùa được khởi dựng từ thời Trần (thế kỷ XIII - XIV), được tu sửa nhiều lần. Năm 1885 chùa bị hoả hoạn cháy trụi (cùng với chùa Thiên Tượng) và được tổng đốc An Tĩnh là Đào Tấn - nhà soạn Tuồng nổi tiếng đứng ra vận
Đồng bộ tài khoản