hệ bài tiết

Chia sẻ: Nguyen Phuonganh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

2
711
lượt xem
113
download

hệ bài tiết

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hoạt động bài tiết đào thải các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất như khí cacbonnic, urê, axitHoạt động bài tiết đào thải các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất như khí cacbonnic, urê, axit uric, amoniac, nước. muối khoáng... ra ngoài cơ thể. Hoạt động đó được thực hiện nhờ bộ máy tiết niệu. Vậy bộ máy đó cấu tạo như thế nào , hoạt động ra sao? Hệ tiết niệu (cơ quan bài tiết nước tiểu) có nguồn gốc từ lá phôi giữa, có nhiệm vụ đào thải các sản...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: hệ bài tiết

  1. Hệ bài tiết Hoạt động bài tiết đào thải các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất như khí cacbonnic, urê, axitHoạt động bài tiết đào thải các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất như khí cacbonnic, urê, axit uric, amoniac, nước. muối khoáng... ra ngoài cơ thể. Hoạt động đó được thực hiện nhờ bộ máy tiết niệu. Vậy bộ máy đó cấu tạo như thế nào , hoạt động ra sao? Hệ tiết niệu (cơ quan bài tiết nước tiểu) có nguồn gốc từ lá phôi giữa, có nhiệm vụ đào thải
  2. các sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất như khí cacbonnic, urê, axit uric, amoniac, nước, muối khoáng... ra ngoài cơ thể. Hệ tiết niệu gồm: 2 quả thận, 2 niệu quản (ống dẫn nước tiểu), bàng quang, niệu đạo. 1. Cấu tạo thận 1.1. Cấu tạo ngoài Thận có nhiệm vụ chính là lọc máu tạo thành nước tiểu. Ở người có 2 quả thận hình hạt đậu, nằm ở 2 bên cột sống, ngang mức đốt sống ngực cuối
  3. đến đốt thắt lưng 2. Thận phải nằm dưới gan, thường nhỏ và nằm thấp hơn thận trái một đốt sống. Thận có màu đỏ, chắc, dài 10 -12cm, rộng 5 - 7cm, dày 3 - 4cm, nặng 135 -145 gam. Thận được bọc bởi mô liên kết sợi và thường có lớp mỡ dày bao phủ. Trên đầu mỗi quả thận có có một tuyến nhỏ, gọi là tuyến trên thận làm nhiệm vụ nội tiết. Thận có 2 bờ, bờ ngoài cong, bờ trong lõm là bờ rốn thận. Rốn thận là nơi đi vào của cuống thận. Cuống thận gồm có động mạch thận, tĩnh mạch thận, niệu quản và thần kinh thận. 1.2. Cấu tạo trong 1.2.1. Cấu tạo đại thể
  4. Bổ dọc quả thận, quan sát thấy cấu tạo trong gồm: - Ngoài là bao thận màu trắng dai. - Phần giáp rốn thận là xoang rỗng, màu trắng gọi là bể thận, chứa nước tiểu từ các ống thận đổ vào. Đi vào rốn thận có các mạch máu lớn và dây thần kinh.
  5. - Phần còn lại là phần tổ chức gồm miền vỏ (màu đỏ nâu) và miền tủy (màu sáng hơn). + Miền tủy. Gồm từ 15 – 20 tháp thận (còn gọi là tháp Manpighi) nằm gần sát nhau, đáy tháp quay ra phía ngoài, đỉnh hướng về bể thận, làm thành các gai thận. Bao quanh đầu các gai thận là các đài thận. Các đài thận tập trung đổ vào bể thận. Các tháp Manpighi được cách nhau bởi các cột thận (gọi là cột Bectin). + Miền vỏ. Gồm 2 phần, phần tháp pherin và phần mêlộ nằm chen giữa các tháp pherin. Mỗi tháp Malpighi có khoảng 400 – 500 tháp pherin. Ở đây có nhiều mao mạch và các cấu trúc hình hạt là cầu thận. 1.2.2. Cấu tạo vi thể thận (đơn vị thận) Đơn vị thận là những cấu trúc thực hiện chức năng lọc máu để tạo thành nước tiểu. Mỗi quả thận có khoảng 1 triệu đơn vị thận. Mỗi đơn vị
  6. thận gồm có cầu thận, ống thận và hệ thống mao mạch. + Cầu thận (quản cầu Manpighi) là 1 búi mao mạch hình cầu, có đường kính 0,2 mm, nằm trong nang Bowman, (khoảng 50 nang Bowmann). Nang Bowmann là một túi kín gồm 2 thành được lót phía trong một lớp tế bào biểu mô dẹt. Nang này thông với ống sinh niệu. Mỗi quản cầu có khoảng 50 mao mạch phân nhánh song song từ tiểu động mạch đến và tập trung vào tiểu động mạch đi. Tổng diện tích mao mạch toàn thận là 1,7m2
  7. + Ống thận bao gồm ống lượn gần, quai Henle và ống lượn xa. Thành ống thận chỉ có một lớp tế bào biểu mô. Các tế bào biểu mô ở những đoạn khác nhau của ống thận có hình dáng và cấu trúc khác nhau. - Ống lượn gần thông với nang Bowman, nằm ở vùng vỏ thận, có hình uốn khúc, dài 14 mm, đường kính 0,05 mm. - Quai Henle nối với ống lượn gần, đi sâu vào vùng tủy thận, dài khoảng 16 mm, hình chữ
  8. U gồm 2 nhánh thẳng song song làm cho dịch chảy trong lòng 2 nhánh ngược chiều nhau. - Ống lượn xa tiếp nối với quai Henle, nằm ở vùng vỏ thận, có hình uốn khúc và đổ vào ống góp nước tiểu. - Ống góp nhận nước tiểu từ các đơn vị thận đổ tới. Nhiều ống góp nhỏ đổ vào ống góp chung và nhiều ống góp chung hợp lại tạo thành bó tháp thận, đổ nước tiểu vào bể thận. Bao bọc xung quanh ống lượn gần, quai Hellê và ống lượn xa là mạng lưới mao quản dày đặc được xuất phát từ 1 tiểu động mạch đi + Hệ thống mạch máu của thận. Động mạch thận xuất phát từ động mạch chủ bụng và chạy tới rốn thận. Bên trong thận, động mạch này phân nhỏ dần đến từng đơn vị thận là động mạch đến, rồi phân nhánh thành các mao mạch của quản cầu Malpighi. Các mao mạch của quản cầu tập hợp lại thành động mạch đi.
  9. Động mạch đi lại phân thành mạng lưới mao mạch bao quanh suốt chiều dài của ống lượn gần, quai Henle và ống lượn xa. Các mao mạch từ ống lượn xa tập trung thành tĩnh mạch nhỏ rồi đổ vào tĩnh mạch thận, tĩnh mạch thận đổ vào tĩnh mạch chủ dưới. Ngoài ra, quanh thận còn có một vòng động mạch và tĩnh mạch để nuôi dưỡng thận (hệ mao mạch chính thức) 2. Cấu tạo của niệu quản Niệu quản chạy từ bể thận đến bàng quang, có nhiệm vụ dẫn nước tiểu từ bể xuống bàng quang. Niệu quản dài 25 - 30cm, đường kính 4 - 5mm. Thành niệu quản có 4 lớp: lớp mô liên kết mỏng ở ngoài cùng; lớp cơ với 2 lớp: cơ dọc trong có vòng ngoài; lớp dưới niêm mạc và lớp niêm mạc trong cùng với nhiều nếp gấp dọc.
  10. 3. Cấu tạo của bàng quang Bàng quang (hay còn gọi là bóng đái) có nhiệm vụ chứa nước tiểu. Ở nam, bóng đái nằm trong hố chậu bé, sau khớp mu, trước trực tràng. Ở nữ, bóng đái nằm trước tử cung, trên âm đạo. Bàng quang là 1 túi rỗng, dung tích 500 - 900 ml. Thành bóng đái cũng có cấu tạo 4 lớp: ngoài cùng là mô liên kết; ở giữa là lớp cơ trơn gồm cơ vòng, cơ dọc cơ chéo nên bàng quang rất bền và có khả năng đàn hồi lớn. Lớp dưới niêm mạc có nhiều mạch máu. Trong cùng là lớp niêm mạc có khả năng đàn hồi lớn nên khi bàng quang chứa ít nước tiểu thì lớp niêm mạc chun lại, khi bàng quang chứa đầy nước tiểu thì lớp niêm mạc dãn ra. 4. Niệu đạo
  11. Là đoạn cuối của đường dẫn niệu. Niệu đạo của nam là một ống dài 15 - 20cm, xuất phát từ phần đáy của bàng quang, khi đến tuyến tiền liệt, nhập với ống dẫn tinh chạy dọc dương vật, giữa quy đầu có lỗ tiểu tiện. Niệu đạo vừa là dường dẫn nước tiểu vừa là đường dẫn tinh. Niệu đạo nam có 2 vòng cơ thắt bằng cơ vân: vòng cơ thắt trên và vòng dưới niệu đạo. Niệu đạo của nữ là một ống ngắn 3 - 4cm, xuất phát từ phần đáy của bàng quang chạy trong hố chậu và kết thúc ở âm hộ. Lỗ tiểu tiện nằm giữa âm vật và cửa âm đạo. Thành niệu đạo cũng gồm 4 lớp. Niệu đạo nữ chỉ có 1 vòng cơ thắt gần bóng đái.
Đồng bộ tài khoản