Hệ thống nhúng (tiếng Anh: Embedded system)

Chia sẻ: Leo37 Orion | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:15

0
231
lượt xem
104
download

Hệ thống nhúng (tiếng Anh: Embedded system)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hệ thống nhúng (Embedded system) là một thuật ngữ để chỉ một hệ thống có khả năng tự trị được nhúng vào trong một môi trường hay một hệ thống mẹ. Đó là các hệ thống tích hợp cả phần cứng và phần phềm phục vụ các bài toán chuyên dụng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, tự động hoá điều khiển, quan trắc và truyền tin. Đặc điểm của các hệ thống nhúng là hoạt động ổn định và có tính năng tự động hoá cao....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hệ thống nhúng (tiếng Anh: Embedded system)

  1. Hệ thống nhúng (tiếng Anh: Embedded system) Định nghĩa Embedded system Hệ thống nhúng (Embedded system) là một thuật ngữ để chỉ một hệ thống có khả năng tự trị được nhúng vào trong một môi trường hay một hệ thống mẹ. Đó là các hệ thống tích hợp cả phần cứng và phần phềm phục vụ các bài toán chuyên dụng trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, tự động hoá điều khiển, quan trắc và truyền tin. Đặc điểm của các hệ thống nhúng là hoạt động ổn định và có tính năng tự động hoá cao. Hệ thống nhúng thường được thiết kế để thực hiện một chức năng chuyên biệt nào đó. Khác với các máy tính đa chức năng, chẳng hạn như máy tính cá nhân, một hệ thống nhúng chỉ thực hiện một hoặc một vài chức năng nhất định, thường đi kèm với những yêu cầu cụ thể và bao gồm một số thiết bị máy móc và phần cứng chuyên dụng mà ta không tìm thấy trong một máy tính đa năng nói chung. Vì hệ thống chỉ được xây dựng cho một số nhiệm vụ nhất định nên các nhà thiết kế có thể tối ưu hóa nó nhằm giảm thiểu kích thước và chi phí sản xuất. Các hệ thống nhúng thường được sản xuất hàng loạt với số lượng lớn. Hệ thống nhúng rất đa dạng, phong phú về chủng loại. Đó có thể là những thiết bị cầm tay nhỏ gọn như đồng hồ kĩ thuật số và máy chơi nhạc MP3, hoặc những sản phẩm lớn như đèn giao thông, bộ kiểm soát trong nhà máy hoặc hệ thống kiểm soát các máy năng lượng hạt nhân. Xét về độ phức tạp, hệ thống nhúng có thể rất đơn giản với một vi điều khiển hoặc rất phức tạp với nhiều đơn vị, các thiết bị ngoại vi và mạng lưới được nằm gọn trong một lớp vỏ máy lớn. Các thiết bị PDA hoặc máy tính cầm tay cũng có một số đặc điểm tương tự với hệ thống nhúng như các hệ điều hành hoặc vi xử lý điều khiển chúng nhưng các thiết bị này không phải là hệ thống nhúng thật sự bởi chúng là các thiết bị đa năng, cho phép sử dụng nhiều ứng dụng và kết nối đến nhiều thiết bị ngoại vi. [sửa] Lịch sử Hệ thống nhúng đầu tiên là Apollo Guidance Computer (Máy tính Dẫn đường Apollo) được phát triển bởi Charles Stark Draper tại phòng thí nghiệm của trường đại học MIT. Hệ thống nhúng được sản xuất hàng loạt đầu tiên là máy hướng dẫn cho tên lửa quân sự vào năm 1961. Nó là máy hướng dẫn Autonetics D-17, được xây dựng sử dụng những bóng bán dẫn và một đĩa cứng để duy trì bộ nhớ. Khi Minuteman II được đưa vào sản xuất năm 1996, D-17 đã được thay thế với một máy tính mới sử dụng mạch tích hợp. Tính năng thiết kế chủ yếu của máy tính Minuteman là nó đưa ra thuật toán có thể lập trình lại sau đó để làm cho tên lửa chính xác hơn, và máy tính có thể kiểm tra tên lửa, giảm trọng lượng của cáp điện và đầu nối điện. Từ những ứng dụng đầu tiên vào những năm 1960, các hệ thống nhúng đã giảm giá và phát triển mạnh mẽ về khả năng xử lý. Bộ vi xử lý đầu tiên hướng đến người tiêu dùng là Intel 4004, được phát minh phục vụ máy tính điện tử và những hệ thống nhỏ khác. Tuy nhiên nó vẫn cần các chip nhớ ngoài và những hỗ trợ khác. Vào những năm cuối 1970, những bộ xử lý 8 bit đã được sản xuất, nhưng nhìn chung chúng vẫn cần đến những chip nhớ bên ngoài. Vào giữa thập niên 80, kỹ thuật mạch tích hợp đã đạt trình độ cao dẫn đến nhiều thành phần có thể đưa vào một chip xử lý. Các bộ vi xử lý được gọi là các vi điều khiển và được chấp nhận rộng rãi. Với giá cả thấp, các vi điều khiển đã trở nên rất hấp dẫn để xây dựng các hệ thống chuyên dụng. Đã có một sự bùng nổ về số lượng các hệ thống nhúng trong tất cả các lĩnh vực thị trường và số các nhà đầu tư sản xuất theo hướng này. Ví dụ, rất nhiều chip xử lý
  2. đặc biệt xuất hiện với nhiều giao diện lập trình hơn là kiểu song song truyền thống để kết nối các vi xử lý. Vào cuối những năm 80, các hệ thống nhúng đã trở nên phổ biến trong hầu hết các thiết bị điện tử và khuynh hướng này vẫn còn tiếp tục cho đến nay. Cho đến nay, khái niệm hệ thống nhúng được nhiều người chấp nhận nhất là: hệ thống thực hiện một số chức năng đặc biệt có sử dụng vi xử lý[cần dẫn nguồn]. Không có hệ thống nhúng nào chỉ có phần mềm. [sửa] Các đặc điểm Hệ thống nhúng thường có một số đặc điểm chung như sau: • Các hệ thống nhúng được thiết kế để thực hiện một số nhiệm vụ chuyên dụng chứ không phải đóng vai trò là các hệ thống máy tính đa chức năng. Một số hệ thống đòi hỏi ràng buộc về tính hoạt động thời gian thực để đảm bảo độ an toàn và tính ứng dụng; một số hệ thống không đòi hỏi hoặc ràng buộc chặt chẽ, cho phép đơn giản hóa hệ thống phần cứng để giảm thiểu chi phí sản xuất. • Một hệ thống nhúng thường không phải là một khối riêng biệt mà là một hệ thống phức tạp nằm trong thiết bị mà nó điều khiển. • Phần mềm được viết cho các hệ thống nhúng được gọi là firmware và được lưu trữ trong các chip bộ nhớ chỉ đọc (read-only memory) hoặc bộ nhớ flash chứ không phải là trong một ổ đĩa. Phần mềm thường chạy với số tài nguyên phần cứng hạn chế: không có bàn phím, màn hình hoặc có nhưng với kích thước nhỏ, bộ nhớ hạn chế Sau đây, ta sẽ đi sâu, xem xét cụ thể đặc điểm của các thành phần của hệ thống nhúng. [sửa] Giao diện Các hệ thống nhúng có thể không có giao diện (đối với những hệ thống đơn nhiệm) hoặc có đầy đủ giao diện giao tiếp với người dùng tương tự như các hệ điều hành trong các thiết bị để bàn. Đối với các hệ thống đơn giản, thiết bị nhúng sử dụng nút bấm, đèn LED và hiển thị chữ cỡ nhỏ hoặc chỉ hiển thị số, thường đi kèm với một hệ thống menu đơn giản. Còn trong một hệ thống phức tạp hơn, một màn hình đồ họa, cảm ứng hoặc có các nút bấm ở lề màn hình cho phép thực hiện các thao tác phức tạp mà tối thiểu hóa được khoảng không gian cần sử dụng; ý nghĩa của các nút bấm có thể thay đổi theo màn hình và các lựa chọn. Các hệ thống nhúng thường có một màn hình với một nút bấm dạng cần điểu khiển (joystick button). Sự phát triển mạnh mẽ của mạng toàn cầu đã mang đến cho những nhà thiết kế hệ nhúng một lựa chọn mới là sử dụng một giao diện web thông qua việc kết nối mạng. Điều này có thể giúp tránh được chi phí cho những màn hình phức tạp nhưng đồng thời vẫn cung cấp khả năng hiển thị và nhập liệu phức tạp khi cần đến, thông qua một máy tính khác. Điều này là hết sức hữu dụng đối với các thiết bị điều khiển từ xa, cài đặt vĩnh viễn. Ví dụ, các router là các thiết bị đã ứng dụng tiện ích này. [sửa] Kiến trúc CPU Các bộ xử lý trong hệ thống nhúng có thể được chia thành hai loại: vi xử lý và vi điều khiển. Các vi điều khiển thường có các thiết bị ngoại vi được tích hợp trên chip nhằm giảm kích thước của hệ thống. Có rất nhiều loại kiến trúc CPU được sử dụng trong thiết kế hệ nhúng như ARM, MIPS, Coldfire/68k, PowerPC, x86, PIC, 8051, Atmel AVR, Renesas H8, SH, V850, FR-V, M32R, Z80, Z8 … Điều này trái ngược với các loại máy tính để bàn, thường bị hạn chế với một vài kiến trúc máy tính nhất định. Các hệ thống nhúng có kích thước nhỏ và được thiết kế để hoạt động trong môi trường công nghiệp thường lựa chọn PC/104 và PC/104++ làm nền tảng. Những hệ thống này thường sử dụng DOS, Linux, NetBSD hoặc các hệ điều hành nhúng thời gian thực như QNX hay VxWorks. Còn các hệ thống nhúng có kích thước rất
  3. lớn thường sử dụng một cấu hình thông dụng là hệ thống on chip (System on a chip – SoC), một bảng mạch tích hợp cho một ứng dụng cụ thể (an application-specific integrated circuit – ASIC). Sau đó nhân CPU được mua và thêm vào như một phần của thiết kế chip. Một chiến lược tương tự là sử dụng FPGA (field-programmable gate array) và lập trình cho nó với những thành phần nguyên lý thiết kế bao gồm cả CPU. [sửa] Thiết bị ngoại vi Hệ thống nhúng giao tiếp với bên ngoài thông qua các thiết bị ngoại vi, ví dụ như: • Serial Communication Interfaces (SCI): RS-232, RS-422, RS-485... • Synchronous Serial Communication Interface: I2C, JTAG, SPI, SSC và ESSI • Universal Serial Bus (USB) • Networks: Controller Area Network, LonWorks... • Bộ định thời: PLL(s), Capture/Compare và Time Processing Units • Discrete IO: General Purpose Input/Output (GPIO) [sửa] Công cụ phát triển Tương tự như các sản phẩm phần mềm khác, phần mềm hệ thống nhúng cũng được phát triển nhờ việc sử dụng các trình biên dịch (compilers), chương trình dịch hợp ngữ (assembler) hoặc các công cụ gỡ rối (debuggers). Tuy nhiên, các nhà thiết kế hệ thống nhúng có thể sử dụng một số công cụ chuyên dụng như: • Bộ gỡ rối mạch hoặc các chương trình mô phỏng (emulator) • Tiện ích để thêm các giá trị checksum hoặc CRC vào chương trình, giúp hệ thống nhúng có thể kiểm tra tính hợp lệ của chương trình đó. • Đối với các hệ thống xử lý tín hiệu số, người phát triển hệ thống có thể sử dụng phần mềm workbench như MathCad hoặc Mathematica để mô phỏng các phép toán. • Các trình biên dịch và trình liên kết (linker) chuyên dụng được sử dụng để tối ưu hóa một thiết bị phần cứng. • Một hệ thống nhúng có thể có ngôn ngữ lập trình và công cụ thiết kế riêng của nó hoặc sử dụng và cải tiến từ một ngôn ngữ đã có sẵn. Các công cụ phần mềm có thể được tạo ra bởi các công ty phần mềm chuyên dụng về hệ thống nhúng hoặc chuyển đổi từ các công cụ phát triển phần mềm GNU. Đôi khi, các công cụ phát triển dành cho máy tính cá nhân cũng được sử dụng nếu bộ xử lý của hệ thống nhúng đó gần giống với bộ xử lý của một máy PC thông dụng. [sửa] Độ tin cậy Các hệ thống nhúng thường nằm trong các cỗ máy được kỳ vọng là sẽ chạy hàng năm trời liên tục mà không bị lỗi hoặc có thể khôi phục hệ thống khi gặp lỗi. Vì thế, các phần mềm hệ thống nhúng được phát triển và kiểm thử một cách cẩn thận hơn là phần mềm cho máy tính cá nhân. Ngoài ra, các thiết bị rời không đáng tin cậy như ổ đĩa, công tắc hoặc nút bấm thường bị hạn chế sử dụng. Việc khôi phục hệ thống khi gặp lỗi có thể được thực hiện bằng cách sử dụng các kỹ thuật như watchdog timer – nếu phần mềm không đều đặn nhận được các tín hiệu watchdog định kì thì hệ thống sẽ bị khởi động lại. Một số vấn đề cụ thể về độ tin cậy như: • Hệ thống không thể ngừng để sửa chữa một cách an toàn, ví dụ như ở các hệ thống không gian, hệ thống dây cáp dưới đáy biển, các đèn hiệu dẫn đường,… Giải pháp đưa ra là chuyển sang sử dụng các hệ thống con dự trữ hoặc các phần mềm cung cấp một phần chức năng.
  4. • Hệ thống phải được chạy liên tục vì tính an toàn, ví dụ như các thiết bị dẫn đường máy bay, thiết bị kiểm soát độ an toàn trong các nhà máy hóa chất,… Giải pháp đưa ra là lựa chọn backup hệ thống. • Nếu hệ thống ngừng hoạt động sẽ gây tổn thất rất nhiều tiền của ví dụ như các dịch vụ buôn bán tự động, hệ thống chuyển tiền, hệ thống kiểm soát trong các nhà máy … [sửa] Các kiến trúc phần mềm hệ thống nhúng Một số loại kiến trúc phần mềm thông dụng trong các hệ thống nhúng như sau: [sửa] Vòng lặp kiểm soát đơn giản Theo thiết kế này, phần mềm được tổ chức thành một vòng lặp đơn giản. Vòng lặp gọi đến các chương trình con, mỗi chương trình con quản lý một phần của hệ thống phần cứng hoặc phần mềm. [sửa] Hệ thống ngắt điều khiển Các hệ thống nhúng thường được điểu khiển bằng các ngắt. Có nghĩa là các tác vụ của hệ thống nhúng được kích hoạt bởi các loại sự kiện khác nhau. Ví dụ, một ngắt có thể được sinh ra bởi một bộ định thời sau một chu kỳ được định nghĩa trước, hoặc bởi sự kiện khi cổng nối tiếp nhận được một byte nào đó. Loại kiến trúc này thường được sử dụng trong các hệ thống có bộ quản lý sự kiện đơn giản, ngắn gọn và cần độ trễ thấp. Hệ thống này thường thực hiện một tác vụ đơn giản trong một vòng lặp chính. Đôi khi, các tác vụ phức tạp hơn sẽ được thêm vào một cấu trúc hàng đợi trong bộ quản lý ngắt để được vòng lặp xử lý sau đó. Lúc này, hệ thống gần giống với kiểu nhân đa nhiệm với các tiến trình rời rạc. [sửa] Đa nhiệm tương tác Một hệ thống đa nhiệm không ưu tiên cũng gần giống với kỹ thuật vòng lặp kiểm soát đơn giản ngoại trừ việc vòng lặp này được ẩn giấu thông qua một giao diện lập trình API. Các nhà lập trình định nghĩa một loạt các nhiệm vụ, mỗi nhiệm vụ chạy trong một môi trường riêng của nó. Khi không cần thực hiện nhiệm vụ đó thì nó gọi đến các tiến trình con tạm nghỉ (bằng cách gọi “pause”, “wait”, “yeild” …). Ưu điểm và nhược điểm của loại kiến trúc này cũng giống với kiểm vòng lặp kiểm soát đơn giản. Tuy nhiên, việc thêm một phần mềm mới được thực hiện dễ dàng hơn bằng cách lập trình một tác vụ mới hoặc thêm vào hàng đợi thông dịch (queue-interpreter). [sửa] Đa nhiệm ưu tiên Ở loại kiến trúc này, hệ thống thường có một đoạn mã ở mức thấp thực hiện việc chuyển đổi giữa các tác vụ khác nhau thông qua một bộ định thời. Đoạn mã này thường nằm ở mức mà hệ thống được coi là có một hệ điều hành và vì thế cũng gặp phải tất cả những phức tạp trong việc quản lý đa nhiệm. Bất kỳ tác vụ nào có thể phá hủy dữ liệu của một tác vụ khác đều cần phải được tách biệt một cách chính xác. Việc truy cập tới các dữ liệu chia sẻ có thể được quản lý bằng một số kỹ thuật đồng bộ hóa như hàng đợi thông điệp (message queues), semaphores … Vì những phức tạp nói trên nên một giải pháp thường được đưa ra đó là sử dụng một hệ điều hành thời gian thực. Lúc đó, các nhà lập trình có thể tập trung vào việc phát triển các chức năng của thiết bị chứ không cần quan tâm đến các dịch vụ của hệ điều hành nữa. [sửa] Vi nhân (Microkernel) và nhân ngoại (Exokernel) Khái niệm vi nhân (microkernel) là một bước tiếp cận gần hơn tới khái niệm hệ điều hành thời gian thực. Lúc này, nhân hệ điều hành thực hiện việc cấp phát bộ nhớ và chuyển CPU
  5. cho các luồng thực thi. Còn các tiến trình người dùng sử dụng các chức năng chính như hệ thống file, giao diện mạng lưới,… Nói chung, kiến trúc này thường được áp dụng trong các hệ thống mà việc chuyển đổi và giao tiếp giữa các tác vụ là nhanh. Còn nhân ngoại (exokernel) tiến hành giao tiếp hiệu quả bằng cách sử dụng các lời gọi chương trình con thông thường. Phần cứng và toàn bộ phần mềm trong hệ thống luôn đáp ứng và có thể được mở rộng bởi các ứng dụng. [sửa] Nhân khối (monolithic kernels) Trong kiến trúc này, một nhân đầy đủ với các khả năng phức tạp được chuyển đổi để phù hợp với môi trường nhúng. Điều này giúp các nhà lập trình có được một môi trường giống với hệ điều hành trong các máy để bàn như Linux hay Microsoft Windows và vì thế rất thuận lợi cho việc phát triển. Tuy nhiên, nó lại đòi hỏi đáng kể các tài nguyên phần cứng làm tăng chi phí của hệ thống. Một số loại nhân khối thông dụng là Embedded Linux và Windows CE. Mặc dù chi phí phần cứng tăng lên nhưng loại hệ thống nhúng này đang tăng trưởng rất mạnh, đặc biệt là trong các thiết bị nhúng mạnh như Wireless router hoặc hệ thống định vị GPS. Lý do của điều này là: • Hệ thống này có cổng để kết nối đến các chip nhúng thông dụng • Hệ thống cho phép sử dụng lại các đoạn mã sẵn có phổ biến như các trình điều khiển thiết bị, Web Servers, Firewalls, … • Việc phát triển hệ thống có thể được tiến hành với một tập nhiều loại đặc tính, chức năng còn sau đó lúc phân phối sản phẩm, hệ thống có thể được cấu hình để loại bỏ một số chức năng không cần thiết. Điều này giúp tiết kiệm được những vùng nhớ mà các chức năng đó chiếm giữ. • Hệ thống có chế độ người dùng để dễ dàng chạy các ứng dụng và gỡ rối. Nhờ đó, qui trình phát triển được thực hiện dễ dàng hơn và việc lập trình có tính linh động hơn. • Có nhiều hệ thống nhúng thiếu các yêu cầu chặt chẽ về tính thời gian thực của hệ thống quản lý. Còn một hệ thống như Embedded Linux có tốc độ đủ nhanh để trả lời cho nhiều ứng dụng. Các chức năng cần đến sự phản ứng nhanh cũng có thể được đặt vào phần cứng. Hệ thống nhúng - Hướng đi mới của Việt Nam Thứ Tư, 25/2/2009, 17:52 (GMT+7) Hệ thống nhúng - Hướng đi mới của Việt Nam
  6. Khác với những lập trình viên thông thường, một lập trình viên hệ thống nhúng phải có sự năng động và khả năng học hỏi tốt để có thể làm việc tối ưu. (TBVTSG) - Xuất hiện từ những năm đầu thập niên 1960, hệ thống nhúng đang dần trở thành một ngành phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT), với những ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp và đời sống. Theo các chuyên gia, ước tính đến năm 2010, doanh số của thị trường phần mềm cho hệ thống nhúng toàn cầu sẽ đạt cột mốc 6 tỷ đô-la Mỹ(1). Điều dự báo nói trên, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều các đối tác lớn trong lĩnh vực này tại Việt Nam, đã mở ra một hướng đi mới cho thị trường phần mềm của chúng ta trong tương lai. Những đặc trưng của hệ thống nhúng Hệ thống nhúng (embedded system) được định nghĩa là một hệ thống chuyên dụng, thường có khả năng tự hành và được thiết kế tích hợp vào một hệ thống lớn hơn để thực hiện một chức năng chuyên biệt nào đó. Khác với các máy tính đa chức năng (multi-purposes computers), ví dụ như máy vi tính cá nhân (PC), một hệ thống nhúng thường chỉ thực hiện một hoặc một vài chức năng nhất định. Hệ thống nhúng bao gồm cả thiết bị phần cứng và phần mềm, hầu hết đều phải thỏa mãn yêu cầu hoạt động theo thời gian thực (real-time). Tùy theo tính chất và yêu cầu, mức độ đáp ứng của hệ thống có thể phải là rất nhanh (ví dụ như hệ thống thắng trong xe hơi hoặc điều khiển thiết bị trong nhà máy), hoặc có thể chấp nhận một mức độ chậm trễ tương đối (ví dụ như điện thoại di động, máy lạnh, ti-vi). Để có thể dễ hình dung, ta xem ví dụ sau đây: một chiếc xe hơi trung bình có khoảng 70-80 chip vi xử lý (micro controller unit), mỗi bộ vi xử lý đảm nhiệm một nhiệm vụ, chẳng hạn như đóng mở cửa, điều khiển đèn tín hiệu, đo nhiệt độ trong/ngoài xe, hiển thị giao diện người dùng (dashboard), điều khiển thắng (nếu dùng hệ thống thắng điện)… Mỗi bộ phận như thế là một hệ thống nhúng, tất cả được thiết kế tích hợp vào một hệ thống chung lớn hơn, chính là chiếc xe hơi. Một ví dụ khác gần gũi hơn với cuộc sống hằng ngày, đó là những chiếc điện thoại di động. Các chức năng như điều khiển màn hình hiển thị, máy nghe nhạc và radio, bộ cảm ứng chụp hình, kết nối với máy tính và thiết bị ngoại vi, hoặc cao cấp hơn là kết nối với hệ thống định vị toàn cầu (GPS), tất cả đều là những hệ thống nhúng được
  7. tích hợp chung vào chiếc điện thoại. Do tính chất chuyên biệt của hệ thống nhúng và chúng thường được sản xuất với số lượng lớn nên các nhà sản xuất thường yêu cầu phải tối ưu hóa chúng nhằm giảm thiểu kích thước và chi phí sản xuất. Những yêu cầu đó đã đưa đến những khác biệt cơ bản trong lĩnh vực viết phần mềm cho hệ thống nhúng so với các phần mềm thông thường. Thứ nhất, có rất nhiều hãng sản xuất bộ vi xử lý, phần cứng và phần mềm trong thị trường hệ thống nhúng và ứng với mỗi nhà sản xuất lại có nhiều dòng sản phẩm, phong phú về chủng loại và giá thành. Các nhà thiết kế thường có những sự lựa chọn rất khác nhau về kiến trúc phần cứng và phần mềm cho các hệ thống của mình. Vì vậy, khác với những lập trình viên thông thường như lập trình web hay lập trình ứng dụng (application), chỉ cần thông thạo một vài ngôn ngữ lập trình, hệ điều hành và chương trình khung (framework) là có thể làm việc có hiệu quả, một lập trình viên hệ thống nhúng phải có sự năng động và khả năng học hỏi tốt để có thể làm việc tối ưu với: - Những bộ vi xử lý và phần cứng khác nhau: Texas Instrument, Freescale, ARM, Intel, Motorola, Atmel, AVR, Renesas… - Những hệ điều hành khác nhau : QNX, uITRON, VxWorks, Windows CE/XP Embedded, Embedded Linux, Osek, Symbian… - Những ngôn ngữ lập trình khác nhau : C/C++, B#, Ada, Assembly, PMC, LabView, PLC… Thứ hai, bên cạnh sự đa dạng về kiến thức chuyên môn của lập trình viên, còn có sự đa dạng về sản phẩm đầu ra như: y tế, công nghiệp ô-tô, tự động hóa, điện tử gia dụng, viễn thông, quốc phòng… Điều này đòi hỏi những người làm việc trong ngành hệ thống nhúng phải có khả năng thích ứng cao với nhiều dạng dự án và lĩnh vực hoạt động khác nhau. Thứ ba, các hệ thống nhúng thường cần có sự kết hợp liền lạc giữa phần cứng và phần mềm. Do đó, lập trình cho hệ thống nhúng cũng đòi hỏi phải có sự giao tiếp và làm việc mật thiết giữa đội ngũ lập trình viên và những người thuộc các lĩnh vực khác như tự động hóa, phần cứng, cơ điện tử… Tùy vào lĩnh vực, bên cạnh những kiến thức về CNTT thông thường, trong một số trường hợp người lập trình hệ thống nhúng cần phải bổ sung thêm một số kiến thức nhất định về trình biên dịch (compiler), xử lý tín hiệu số, điện tử và sơ đồ mạch (schematics) … để có thể làm việc có hiệu quả với những nhóm khác. Tất cả những khác biệt đó vừa là thách thức, khiến cho chỉ có ít người có thể trụ lại lâu dài, vừa là động lực, giữ chân những người thật sự đam mê, thích khám phá và không thích sự nhàm chán. Phân khúc thị trường hệ thống nhúng Hệ thống nhúng vốn rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên có rất ít người biết được tầm quan
  8. trọng và sự hiện hữu của chúng trong thế giới quanh ta. Từ những hệ thống phức tạp như hàng không vũ trụ, phòng thủ quân sự, máy móc tự động trong công nghiệp, đến những phương tiện di chuyển thông thường như máy bay, xe điện, xe hơi, các trang thiết bị y tế trong bệnh viện, cho tới những thiết bị truyền hình và điện thoại di động chúng ta sử dụng hằng ngày, đâu đâu cũng có sự hiện diện của hệ thống nhúng. Trong hơn 9 tỷ bộ vi xử lý được sản xuất hằng năm, chỉ có khoảng 150 triệu bộ (1,5%) được sử dụng cho máy vi tính cá nhân, phần còn lại (98,5%) là dành cho hệ thống nhúng (2). Theo một thống kê khác của BCC Research Group (4) thì đến năm 2009, tổng doanh số của thị trường hệ thống nhúng trên toàn cầu sẽ đạt khoảng 88 tỷ đô-la Mỹ, với phần cứng chiếm 78 tỷ đô-la Mỹ và phần mềm chiếm 3,5 tỷ đô-la Mỹ, phần còn lại là các bo mạch nhúng. Tốc độ tăng trưởng trung bình hằng năm (AAGR) của phần mềm nhúng hiện đang đạt mức 16%. Hướng phát triển cho ngành phần mềm hệ thống nhúng tại Việt Nam Hiện nay, lĩnh vực hệ thống nhúng tại Việt Nam mới chỉ có những bước đi chập chững ban đầu, với rất ít sản phẩm “Made in Vietnam” có thể ứng dụng vào thực tế. Công việc chủ yếu vẫn là gia công phần mềm cho nước ngoài, trong đó chiếm tỷ lệ lớn nhất là các thị trường Nhật, Mỹ và châu Âu. Rất nhiều hãng sản xuất phần mềm lớn đã và đang “đổ bộ” vào thị trường Việt Nam để tận dụng lợi thế nguồn nhân lực giá rẻ và khai thác một thị trường tiềm năng mới như IBM, CSC, Altera… Tuy nhiên, Việt Nam hiện đang đối đầu với một thách thức lớn, đó là “đầu vào” của nguồn nhân lực cho thị trường phần mềm nói chung và phần mềm cho hệ thống nhúng nói riêng. Ở lĩnh vực phần mềm đơn thuần, một nhân viên mới vào nghề chỉ cần từ ba đến sáu tháng huấn luyện là đã có thể làm tốt công việc được giao. Còn trong ngành gia công phần mềm cho hệ thống nhúng, một nhân viên mới cần ít nhất sáu tháng đến một năm để có thể bắt đầu làm việc có hiệu quả, và từ hai đến ba năm mới có thể làm việc thành thạo. Việc tuyển người và đào tạo đã khó, việc giữ người lại càng khó hơn. Đặc thù của ngành này là đòi hỏi nhân viên phải có sự kiên trì và bền bỉ để nắm bắt những kiến thức cần thiết, đồng thời cần một thời gian khá dài mới có thể thấy được thành quả. Đó
  9. là lý do tỷ lệ chuyển và nghỉ việc trong lĩnh vực này là khá cao, trung bình 12-20%. Tuy nhiên, những người gắn bó được với ngành cũng có được những phần thưởng tương xứng, tích lũy được nhiều kiến thức về phần mềm và phần cứng liên quan, cũng như thường xuyên có được sự đổi mới, tránh nhàm chán trong công việc. Một điểm yếu khác góp phần làm hạn chế sự phát triển của ngành gia công phần mềm tại Việt Nam chính là nhân viên thiếu khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh và các kỹ năng mềm như khả năng thuyết trình, làm việc theo nhóm, quản lý thời gian… Như trên đã nói, các nhân viên trong ngành hệ thống nhúng cần phải có sự giao tiếp chặt chẽ với khách hàng và các nhóm làm việc nước ngoài khác. Tiếng Anh và các kỹ năng mềm chính là tiếng nói chung giúp mọi người có thể hiểu và làm việc với nhau hữu hiệu. Tuy nhiên, hiện nay trình độ tiếng Anh của các sinh viên mới ra trường phần lớn không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, còn các kỹ năng mềm thì không được chú trọng. Bên cạnh việc đào tạo về kỹ thuật, các công ty còn cần phải huấn luyện thêm khá nhiều về tiếng Anh và các kỹ năng mềm để những nhân viên mới có thể theo kịp và đáp ứng được những yêu cầu cơ bản trong một môi trường làm việc đa văn hóa. Muốn phát triển ngành phần mềm hệ thống nhúng lên một tầm cao mới như có thể sản xuất, ứng dụng thực tế và xuất khẩu phần mềm nhúng của Việt Nam, điều tiên quyết là phải tập trung phát triển lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D). Hiện nay chúng ta đã có một số chương trình hợp tác với các hãng lớn ở nước ngoài như Toshiba, Panasonic, STMicroelectronics, Samsung…(5) để phát triển theo hướng này. Tuy nhiên, những chương trình như thế vẫn còn rất hạn chế và không có một định hướng chiến lược chung. Việt Nam cần phải đẩy mạnh hơn nữa vấn đề định hướng nghiên cứu và phát triển cho ngành hệ thống nhúng từ trong trường đại học và các trung tâm nghiên cứu, cũng như trang bị được những kiến thức tổng quát về lĩnh vực này cho những sinh viên trẻ, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhà tuyển dụng. Trong tương lai, nếu Việt Nam muốn nâng cao khả năng cạnh tranh với các nước chuyên gia công phần mềm lớn khác như Trung Quốc, Ấn Độ…, cần phải tập trung giải quyết bài toán tăng cường tính hiệu quả của nguồn nhân lực, phát triển tập trung theo chiều sâu thay vì chiều rộng như hiện nay. Trình độ chuyên môn của chúng ta trong lĩnh vực phần mềm nhúng hiện nay là tương đối “chắp vá” theo kiểu chỉ đâu làm đó, thiếu sự đầu tư và chiến lược phát triển hợp lý. Chúng ta cần có thêm nhiều chương trình đào tạo chuyên ngành về hệ thống nhúng từ trong trường đại học và các cơ sở đào tạo chính quy. Đồng thời, mở rộng cửa đón các nhà đầu tư để học hỏi những kỹ thuật mới và chuyển giao công nghệ, nhưng quá trình này phải thực hiện một cách có chọn lọc và kiểm soát, tránh tình trạng biến Việt Nam thành “bãi đáp” tiếp nhận những công nghệ lỗi thời như ở một số ngành công nghiệp khác. HỒ NGUYÊN ĐẠT - Trưởng dự án - hệ thống nhúng của Công ty Global CyberSoft Việt Nam Nhu cầu về Hệ thống nhúng Module by: Duong Anh Duc
  10. Summary: Nội dung của chương 1 trình bày tổng quan về Hệ thống nhúng và mô hình IPMP cũng như những ứng dụng có thể kết hợp với Hệ thống nhúng, đồng thời nêu lên mục đích, nội dung và ý nghĩa của đề tài Hệ thống nhúng và những ứng dụng trực tuyến Hình 1 Hệ thống nhúng (embedded system) được định nghĩa là một hệ thống máy tính chuyên biệt được thiết kế để thực hiện một chức năng chuyên dụng. Hệ thống nhúng được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực, rất nhiều mặt hàng từ các thiết bị cao cấp như vệ tinh, tên lửa, tàu con thoi đến các thiết bị tiêu dùng như lò vi ba, máy sấy, máy hút bụi… “Thị trường công nghệ thông tin cho hệ thống nhúng lớn hơn gấp nhiều lần so với chương trình của những chiếc PC. Có thể hình dung nó là phần chìm của tảng băng nổi”, Giám đốc điều hành HanoiTech Đinh Đức Hùng cho biết. “Tôi ví dụ trong một chiếc xe hơi đời mới có tới trên 80 chương trình xử lý cho các ứng dụng từ điều khiển, phanh, nạp nhiên liệu, dẫn đường cho tới túi khí…Và số lượng vi xử lý trên các hệ thống hiện đại ngày càng tăng”. Theo thống kê của BCC Research Group thì đến năm 2009, tổng thị trường của các hệ thống nhúng toàn cầu sẽ đoạt khoảng 88 tỷ USD. Trong đó phần cứng là 78 tỷ USD và phần mềm chiếm 3,5 tỷ. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của phần mầm nhúng sẽ cao hơn và hiện tại đang ở mức 16%/năm. Nhu cầu Hệ thống nhúng trên thế giới Trong thế giới công nghệ thông tin, các “ông lớn” như IBM, Microsoft, Intel đã chuyển hướng một số bộ phận nghiên cứu phát triển của mình sang làm hệ thống nhúng từ rất sớm. Điển hình là Microsoft với các máy chơi game Xbox, hệ điều hành nhúng Windows CE; Intel với các dòng chip xử lý nhúng như Intel 8008, 8080, 8085, 3000, các thẻ nhớ Nand Flash, các vi điều khiển MCS 51/251, MCS 96/296 …Bên cạnh đó là sự xuất hiện của hàng loạt các nhà sản xuất vi xử lý cho hệ thống nhúng như ARM, Atmel, Renesas… Thị trường hệ thống nhúng có tiềm năng phát triển vô cùng lớn. Theo các nhà thông kê trên thế giới thì số chip xử lý trong các máy PC và các server, các mạng LAN, WAN, Internet chỉ chiếm không đầy 1% tổng số chip vi xử lý có trên thế giới. Hơn 99% số vi xử lý còn lại nằm trong các hệ thống nhúng. Dưới đây là bản đánh giá chi tiết của nhóm nghiên cứu BCC (BCC Research Group) về thị trường hệ thống nhúng toàn cầu đến năm 2009 : “Thị trường hệ thống nhúng toàn cầu đạt doanh thu 45,9 tỷ USD trong năm 2004, và dự báo sẽ tăng 14% trong vòng năm năm tới, đạt 88 tỷ USD. Trong đó thì thị trường phần mềm nhúng sẽ tăng trưởng từ 1,6 tỷ USD năm 2004 lên 3,5 tỷ USD năm 2009, với mức tăng trung bình hằng năm là 16%. Tốc độ tăng trưởng phần cứng nhúng sẽ là 14,2% một năm, đạt 78,7 tỷ USD năm 2009, trong khi lợi nhuận các board mạch nhúng sẽ tăng 10% một năm.” Bảng 1-1: Bảng đánh giá thị trường hệ thống nhúng (2003 - 2009) đơn vị triệu.1 Hình 2
  11. (AAGR: tỉ lệ tăng trưởng hằng năm) Hình 3 Hình 1-1 Thị trường hệ thống nhúng năm 2003, 2004 và 2009. 2 Tại Châu Á, Nhật Bản đang dẫn đầu về thị trường nhúng và là một trong những thị trường phần mềm nhúng hàng đầu thế giới. Theo thống kê của JISA (Hiệp hội Dịch vụ Công nghệ Thông tin Nhật Bản), phần mềm nhúng hiện nay chiếm tới 40% thị phần phần mềm Nhật Bản, với các sản phẩm rất đa dạng : lò vi ba, máy photocopy, máy in laser, máy FAX, các bảng quảng cáo sử dụng hệ thống đèn LED, màn hình tinh thể lỏng…Năm 2004, thị trường phần mềm nhúng của Nhật Bản đạt khoảng 20 tỷ USD với 150.000 nhân viên. Đây được coi là thị trường đầy hứa hẹn với các đối tác chuyên sản xuất phần mềm nhúng như Trung Quốc, Indonesia, Nga, Ireland, Israel, và cả Việt Nam. Nhu cầu hệ thống nhúng ở Việt Nam. Hình 4 Với tốc độ tăng trưởng nhanh như vậy, cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đối với loại hình phần mềm mới mẻ này đang mở rộng. Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) Trương Gia Bình cho rằng, các doanh nghiệp Việt Nam đang có một số lợi thế. Đó là nguồn nhân lực công nghệ thông tin rẻ và tiếp thu nhanh, có kinh nghiệm làm gia công phần mềm cho nước ngoài, được Chính phủ quan tâm và hỗ trợ phát triển…Tuy nhiên, Việt Nam mới chỉ là “lính mới” trong sân chơi sôi động này. Ở Việt Nam, hệ thống nhúng mới được quan tâm trong thời gian gần đây. Các doanh nghiệp làm phần mềm nhúng cũng chưa nhiều, mới có một số trung tâm thuộc các trường Đại học Quốc gia, Đại học Bách khoa, các đơn vị như Học viện Kỹ thuật quân sự, Viện nghiên cứu Điện tử - Tin học và Tự động hóa, Tổng công ty Điện tử - Tin học, Công ty thiết bị Điện tử y tế, Công ty VTC – Truyền hình số mặt đất và một số công ty phần mềm khác… Các sản phẩm phần mềm nhúng “made in Việt Nam” có lẽ mới chỉ là con số khá khiêm tốn, còn lại là làm gia công cho nước ngoài. Có thể điểm ra một vài sản phẩm tiêu biểu do người Việt làm ra như phần mềm nhúng cho đầu thu kỹ thuật số của Công ty Điện tử HANEL (giải Sao Khuê 2005), Nhúng cá thể hóa thẻ thông minh của Công ty Liên doanh thẻ thông minh MK (giải Sao Khuê 2005)… Con đường để đến với thành công trong sản xuất và xuất khẩu phần mềm nhúng của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều chông gai. Theo ông Phan Văn Hòa, Giám đốc Trung tâm công nghệ của FPT Software, thách thức lớn nhất Việt Nam phải vượt qua hiện nay là chưa có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực mới mẻ này, mới chỉ loanh quanh làm gia công phần mềm, làm thuê theo đơn đặt hàng của nước ngoài, chưa có nhiều trung tâm đào tạo chuyên sâu về hệ thống nhúng. Tại hội thảo về CNTT tổ chức tại Hải Phòng tháng 9-2005, Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam VINASA cho rằng, xây dựng và phát triển phần mềm nhúng là một trong 3 mũi nhọn có thể coi là đột phá cho hướng đi của công nghệ phần mềm Việt Nam, bên cạnh việc phát triển game và các giải pháp ERP. Trong chiến lược phát triển công nghệ thông tin đến năm 2010, phần mềm nhúng được coi là một trong những sản phẩm trọng điểm. Mô hình IPMP và những ứng dụng thực tế Mô hình IPMP Hình 5
  12. Những dữ liệu tài sản mang tính trí tuệ của con người như sách, ảnh, nhạc, phim…đã trở nên quá phổ biến trên thế giới mạng. Bất cứ người nào cũng có thể tìm thấy cho mình một tập tin nhạc hay phim ở một trang nào đó, nằm tại một máy chủ có thể cách xa cả nửa vòng trái đất. Những công cụ tìm kiếm thông minh như Google, Yahoo, MSN…càng làm cho chúng ta cảm thấy mọi thứ mình cần đều có sẵn. Nhưng tất cả những “tài sản” chúng ta nhận được mà không có sự cho phép của chủ sở hữu là phạm pháp. Điều làm đau đầu các nhà sản xuất và phân phối là làm sao ngăn chặn được tình trạng sao chép và trao đổi bất pháp các sản phẩm trí tuệ này trong một thế giới mạng đầy rẫy những kẻ “ăn cắp”? Người ta đã tìm ra một công cụ hiệu quả, đó là mô hình DRM (Digital Rights Management – Quản lý quyền kỹ thuật số). DRM ra đời năm 1990, và hiện nay đã trở thành một chuẩn phổ biến để bảo vệ các tập tin số. Năm 2002, Bertelsmann (bao gồm BMG, Arista và RCA) là tập đoàn đầu tiên sử dụng DRM trên các đĩa CD nhạc. Hệ điều hành Windows Vista của Microsoft cũng hỗ trợ một hệ thống DRM gọi là Protected Media Path có nhiệm vụ ngăn không cho các nội dụng bảo vệ được thực thi khi một phần mềm “lạ” đang chạy. Trong lĩnh vực nhạc và phim trực tuyến, các dịch vụ như iTune Store của Apple, Napster music store, Wal-Mart music Downloads…cũng sử dụng DRM để bảo vệ các tập tin của mình. Tuy nhiên, sự hạn chế của DRM là nó thiếu một bộ khung công việc (framework) mở và tốn chi phí trong việc bảo vệ nội dung và phân quyền các nội dung nên đã làm trở ngại quy trình đối với người sở hữu tài sản và người sử dụng. Người sử dụng cần một giải pháp công nghệ có khả năng bảo vệ được tài sản của họ đồng thời tránh được những yêu cầu hay những giấy phép bản quyền phiền hà và luôn bị “cột chặt” vào một tổ chức hay hệ thống nào đó. Người sử dụng muốn có một số lượng lớn các nội dung để chọn lựa, đồng thời có thể chọn lựa phần mềm để xem nội dung, điều này ít (nếu có) giải pháp DRM nào làm được. Một vài giải pháp tập trung vào việc cung cấp các công nghệ độc quyền chỉ quan tâm đến bảo vệ tài sản trong quá trình hình thành, nhân bản và phân phối, trong khi những giải pháp khác lại yêu cầu giải pháp của chúng phải được triển khai trên các nền phần cứng khác nhau. Những thiếu sót của cách tiếp cận độc quyền này còn tiếp tục cản trở sự phát triển và không thể ngăn chặn nạn ăn cắp bản quyền ngày càng gia tăng. Giải pháp lý tưởng phải đem lại cách dùng “thân thiện” cho người sử dụng và những thành viên liên quan, đồng thời cho phép người sở hữu nội dung có khả năng tự bảo vệ và quản lý quyền sử dụng nội dung đó từ lúc được tạo ra đến lúc được sử dụng và tại mọi thời điểm. Để thấy được những vấn đề gây ra bởi hệ thống DRM độc quyền, như thiếu tính linh hoạt, chúng ta hãy xem xét một công nghệ kỹ thuật số khác, đó là email, và làm thế nào nó đóng vai trò quyết định, trở thành ứng dụng rộng rãi trong một thời gian ngắn. Tưởng tượng rằng nếu email không phát triển theo hướng chuẩn mở, thay vào đó là được cài đặt bởi một số ít tổ chức và mỗi tổ chức có tính độc quyền riêng của nó. Email được tạo ra bởi phần mềm của nhà tổ chức sẽ không mở được bằng các phần mềm tạo email của những nhà tổ chức khác, và ngược lại. Kết quả là gây sự lộn xộn, thiếu hiệu quả và mất tác dụng, và cuối cùng là “dập tắt” sự chấp nhận của giới kinh doanh cũng như người dùng đối với công nghệ này. Thật may mắn, sau một thời gian cạnh tranh giữa các giải pháp độc quyền, những chuẩn mở đã chiếm ưu thế, cho phép các nhà kinh doanh cạnh tranh với nhau trên tính năng và giá cả , giúp đẩy mạnh sự phát triển của công nghệ mở và nhanh chóng được chấp nhận. Hình 6 Hãy thử xem khi có được một công cụ rẻ tiền cho phép những người sở hữu bảo vệ được nội dung của họ bằng một số công cụ có cùng chuẩn với nhau. Người sở hữu có thể chọn các công cụ/dịch vụ từ một trong số nhiều công cụ sử dụng chung định dạng nội dung linh động
  13. cho phép người sử dụng có thể xem nội dung của họ trên phần mềm họ ưu thích. Nạn ăn cắp bản quyền kỹ thuật số chắn chắn vẫn còn tồn tại, nhưng có thể thấy rằng lẽ ra nạn ăn cắp này đã không có được sự phát triển nhanh chóng để ngày nay vẫn đang tiếp tục lấy đi lợi nhuận của nhà sản xuất, người sở hữu và cả lợi nhuận của các nhà kinh doanh liên quan. Một chuẩn khác đã ra đời : IPMP. IPMP là viết tắt của cụm từ Intellectual Property Management and Protection, nghĩa là Quản lý và Bảo vệ Tài sản Trí tuệ. IPMP được đề ra bởi tổ chức MPEG (Moving Pictures Experts Group), nhằm giúp các nhà cung cấp nội dung số (Multimedia) có thể quản lý, bảo mật và phân phối đến người dùng một cách an toàn và hiệu quả nhất. IPMP là một mô hình được phát triển dựa trên mô hình DRM (Digital Rights Management); tuy nhiên khác với DRM, IPMP là mô hình mở với các chuẩn mở. Điều này cho phép nó có thể được hỗ trợ bởi một cộng đồng các nhà cung cấp và phát triển rộng lớn IPMP có thể được ứng dụng rộng rãi. Hầu như bất cứ một cá nhân hay tổ chức nào cần một công cụ để hỗ trợ việc quản lý, mã hóa và bảo vệ thông tin gốc, hay phân phối nội dung thông tin đều có thể áp dụng mô hình IPMP. Có thể kể tên sau đây một số ứng dụng có thể áp dụng mô hình IPMP thành công như dịch vụ Phim theo yêu cầu (Video on Demand - VoD), Truyền hình Internet (IPTV), Đào tạo từ xa (Distance Learning)… Đặc biệt nhu cầu về VoD cũng như Distance Learning đang có những sự phát triển vượt bậc. Ta hãy tìm hiểu thử về nhu cầu VoD cùng với Đào tạo từ xa ở dưới đây. Phim theo yêu cầu (Video on Demand - VoD) Hình 7 VoD là dịch vụ xem phim theo yêu cầu, trong đó phim ảnh được lưu trữ trên các máy chủ của nhà cung cấp. Tất cả nội dung dịch vụ được lựa chọn ngay trên website hoặc trình điều khiển Set Top Box thể hiện ở màn hình TV, đồng thời cho phép khách hàng điều khiển tới, lui hoặc dừng lại. Sự bùng nổ thuê bao Internet khiến cho các loại hình phục vụ giải trí trên mạng như VoD hứa hẹn là xu hướng tất yếu về một phương thức giải trí trực tuyến mới. VoD có ưu điểm vượt trội như khả năng cung cấp lượng phim không hạn chế, có thể sử dụng mọi lúc mọi nơi trong môi trường Internet và chất lượng hình ảnh âm thanh cao. Hơn nữa, công nghệ này còn đặc biết chú trọng đến việc tương tác qua lại giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ thông qua thiết bị hỗ trợ và các ứng dụng công nghệ thông tin khác. Theo số liệu thống kê từ Trung tâm Internet Việt Nam thì đến nay số người sử dụng Internet trong cả nước đã gần 13 triệu và lượng thuê bao ADSL năm 2005 tăng 300% so với năm trước. Dự kiến chỉ số này sẽ còn tăng mạnh trong thời gian tới. Hạ tầng Internet và chất lượng dịch vụ đang dần được cải thiện, nhu cầu giải trí của cư dân mạng cũng ngày càng cao đã khiến các nhà kinh doanh bắt tay vào khai thác tiềm năng của loại hình mới này. Lúc khởi đầu phim theo yêu cầu chỉ cung cấp thông tin giải trí từ đài truyền hình, trên các website như vtc.com.vn, htv.com.vn, vnntelevision.net… Đến nay, một số nhà cung cấp dịch vụ đã mạnh dạn hợp tác với nhà phát hành phim trình chiếu những tác phẩm điện ảnh có bản quyền trong nước và quốc tế như một động thái thể hiện sự nghiêm túc đầu tư vào lĩnh vực VoD. Dù lượng phim cung cấp trong giai đoạn thử nghiệm còn hạn chế nhưng thể loại khá đa dạng từ kinh điển, tâm lý tình cảm, hành động, kiếm hiệp, hài…cho đến hoạt hình. Hình 8 Hình 1-2: Nhu cầu về VoD Đi đầu trong việc triển khai thử nghiệm cung cấp phim có bản quyền trên Internet là phim24g.net do công ty Cổ phần dịch vụ Bưu chính viễn thông Sài Gòn (SPT) hợp tác cùng
  14. công ty truyền thông Gia Việt thực hiện. Theo ông Nguyễn Văn Thông, Trưởng phòng dịch vụ mạng công ty SPT, thì việc triển khai thử nghiệm trong giai đoạn này là nhằm thăm dò mức độ chấp nhận của khách hàng cũng như triển khai kỷ thuật trước khi chính thức kinh doanh. Hiện nay, công ty cổ phần viễn thông FPT (FPT Telecom) đang tiến hành triển khai cung cấp hàng ngàn phim có bản quyền trên http://tv.fpt.vn cùng các đối tác là BHD, Galaxy Thiên Ngân và FaFilm, song song với việc phát sóng đại trà trên hạ tầng ADSL 35 kênh truyền hình trực tuyến IPTV như : VTV, HTV, Fashion TV, Movie Star, HBO, Disney Channel…Ông Phạm Quốc Thắng, Giám đốc trung tâm truyền hình trực tuyến của FPT Telecom, cho biết : “Ưu thế về lượng khách hàng có sẵn với gần 200.000 thuê bao ADSL, khả năng về công nghệ cộng với nhu cầu giải trí ngày càng cao của khách hàng đam mê Internet và tiềm năng từ dịch vụ này là lý do chúng tôi nhảy vào thị trường kinh doanh phim ảnh qua mạng”. 3 Để xem thử nghiệm phim có bản quyền này, khách hàng bắt buộc phải vào website và đăng ký một tài khoản. Ngoài ra, chương trình chỉ hỗ trợ trình duyệt Internet Explorer, yêu cầu máy tính cấu hình tối thiểu là Pentium III, có cài đặt sản Windows Media Player 9 hoặc 10 (dịch vụ của FPT yêu cầu khách hàng cài đặt phần mềm VideoLan được tải trực tiếp từ website) và kiểu kết nối Internet phải là ADSL hoặc Leased-line với băng thông tối thiểu là 1Mb/giây. Tùy vào tốc độ đường truyền, khách hàng có thể chọn xem phim với chất lượng cao hoặc bình thường. Tại sao thị trường VoD lại có sức hấp dẫn đến như vậy? Chúng ta hãy xem thống kê của nhóm nghiên cứu MRG về thị trường giải trí trực tuyến IPTV và VoD “Số lượng thuê bao DSL toàn cầu sẽ tăng từ 97 triệu thuê bao năm 2005 lên con số 227 triệu thuê bao vào năm 2009. Theo đó, số thuê bao IPTV và VoD sẽ tăng từ 3,7 triệu (2005) lên 36,9 triệu (2009), với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 78%. Lợi nhuận của dịch vụ IPTV và VoD toàn cầu sẽ là 9,9 tỷ USD (2009) so với 880 triệu USD (2005). Và lợi nhuận từ các hệ thống IPTV và VoD sẽ tăng 44%/năm, từ con số 774 triệu USD (2005) lên thành 3,3 tỷ USD. Trong đó số lượng các set-top box sẽ tăng 68% ; những thiết bị khác như VoD Server, Thiết bị đầu cuối Video, Thiết bị truy cập, Thiết bị bảo vệ nội dung…sẽ tăng 32% mỗi năm.” 4 Như vậy lợi nhuận từ thị trường giải trí trực tuyến ở Việt Nam cũng sẽ không nằm ngoài xu thế chung ấy. Tuy nhiên, khi tình hình sử dụng băng đĩa lậu vẫn còn rất phổ biến và việc xem, tải phim ảnh miễn phí trên Internet không phải là điều khó khăn thì quyết định đầu tư vào lĩnh vực phim ảnh trên mạng sẽ có khá nhiều rủi ro. “Rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp là vấn đề bản quyền. Ngoài ra giải pháp đường truyền cũng như cơ chế bảo mật cũng là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến kinh doanh phim trên Internet”, ông Huỳnh Quang Việt, trưởng phòng Marketing công ty SPT, cho biết. Trong tương lai các nhà cung cấp VoD sẽ thu phí loại hình dịch vụ này và giá cả xem một bộ phim trên Internet sẽ không vượt quá giá một đĩa phim “lậu” trôi nổi ngoài thị trường. Đào tạo từ xa (Distance Learning) Hình 9 Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin có những tác động lớn tới hệ thống giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia. Trong thời đại thông tin, khối lượng tri thức mà con người phải tiếp nhận là rất lớn, và những tri thức đó con người phải tiếp nhận từ nhiều nguồn (nhà trường, trong gia đình, ngoài xã hội). Việc hỗ trợ và định hướng cho học sinh tiếp cận và sử dụng những nguồn tri thức đó không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là trách nhiệm của cả một đất nước.
  15. Để có được điều đó cần tạo ra một môi trường học thích hợp cho cả giảng dạy và nghiên cứu. Đào tạo từ xa qua mạng Internet, thư viện điện tử…là những biểu hiện rõ rệt của xu hướng tất yếu này từ cuối thế kỷ 20 và ngày càng phát triển với tốc độ nhanh trong những năm đầu thế kỷ 21. Vì lý do này, trong kế hoạch phát triển Internet Việt Nam, Thủ Tướng Chính phủ đã giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng đề án phát triển mạng và các dịch vụ giáo dục và đào tạo ứng dụng trên Internet (Edunet). Hiện nay, hầu như các trường Đại học trên cả nước đều có một hệ thống Đào tạo từ xa nhằm giúp những sinh viên không có điều kiện đến trường có thể tham gia vào các lớp học trên mạng do trường tổ chức. Sau khi đăng ký các thủ tục nhập học, sinh viên sẽ được cấp một tài khoản để truy nhập vào lớp học của mình. Có nhiều phương pháp học để sinh viên lựa chọn như học theo giáo trình, xem VideoClip bài giảng của giáo viên, học theo hình thức thảo luận nhóm trực tuyến… Trong đó, hình thức học bằng VideoClip theo công nghệ Multimedia tiên tiến là cách học hiệu quả nhất đối với sinh viên, giống như sinh viên đang trực tiếp xem thầy giảng bài trên lớp. Hình thức học này có thể được chia thành 2 dạng. Học với thời gian thực (tức sinh viên chỉ có thể xem mà không thể tua lại hay lướt qua), phương pháp này có thể giúp người thầy kiểm soát được người sinh viên đó có thường xuyên tham gia bài giảng không. Cách học thứ hai là cho phép sinh viên tải bài giảng về máy của mình, và xem trực tiếp trên máy. Phương pháp này có thể hạn chế việc nghẽn đường truyền nếu xem trực tuyến, và giúp sinh viên có thể nghiền ngẫm bài giảng kĩ hơn, tuy nhiên lại không kiểm soát được số giờ lên lớp của sinh viên. Hình 10 Hình 1-3: Cổng thông tin Đào tạo từ xa qua mạng của trường ĐH KHTN 5 Một yêu cầu đặt ra đối với mô hình Đào tạo từ xa là khả năng bảo mật và quản lý việc phân phối. Những phim VideoClip bài giảng khi truyền qua mạng có thể dễ dàng thu lại và phân phối một cách bất hợp pháp. Cũng như những phim ảnh trực tuyến, các VideoClip bài giảng là tài sản quan trọng của nhà trường và của các thầy cô. Để việc Đào tạo từ xa thành công và đem lại lợi nhuận cũng như bảo vệ được các thông tin quan trọng của nhà trường, rất cần phải có một mô hình quản lý và bảo vệ các thông tin VideoClip hiệu quả. Mô hình IPMP với các chuẩn mở sẽ là giải pháp hữu hiệu cho nhà trường nhằm giúp việc Đào tạo từ xa qua mạng có thể thực hiện đúng những chức năng của nó mà không sợ bị mất mát hay ăn cắp thông tin. Kết luận Qua 2 loại dịch vụ VoD và Đào tạo từ xa đã nêu trên, ta đều thấy khả năng ứng dụng của mô hình IPMP là rất lớn. Tuy nhiên, việc áp dụng một hệ thống nhúng như là bộ phận trực tiếp giải mã các thông tin dữ liệu (sau khi đã được mã hóa) trên máy của khách hàng sẽ tăng khả năng bảo mật cũng như khả năng chống hack lên rất cao. Đồng thời ưu điểm portable của hệ thống nhúng giúp khách hàng có thể linh hoạt trong việc tải về các dữ liệu Multimedia. Hãy tưởng tượng bạn sẽ chỉ cần một thiết bị nhỏ gọn để có thể xem TV bất cứ nơi nào, hơn là một hệ thống máy tính cồng kềnh với những sợi dây điện có thể làm vướng chân bạn. Chính IPMP và hệ thống nhúng sẽ đem đến sự hài lòng tối đa cho cả nhà sản xuất cũng như người dùng mạng.
Đồng bộ tài khoản