Hệ thống nông nghiệp - Nguyễn Viết Tuân

Chia sẻ: Nguyen Minh Phung | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:98

0
275
lượt xem
121
download

Hệ thống nông nghiệp - Nguyễn Viết Tuân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong thế giới tự nhiên cũng như trong xã hội loài người mọi hoạt động đều diễn ra bởi cỏc yếu tố, ta gọi là các hợp phần (components) có những mối liên hệ tương tác, hữu cơ với nhau, được gọi là tính hệ thống.Vì vậy, muốn nghiên cứu một sự vật, hiện tượng, hoạt động nào đó chúng ta phải coi lý thuyết hệ thống là cơ sở của phương pháp luận.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hệ thống nông nghiệp - Nguyễn Viết Tuân

  1.     Đại Học Huế Trường Đại Học Nông Lâm ---------- Bài Giảng HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP GV: NGUYỄN VIẾT TUÂN HUẾ - 2007
  2. [http://svnonglam.org] [Pick the date] ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------- BÀI GIẢNG HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP GV: NGUYỄN VIẾT TUÂN HUẾ - 2007 ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 1
  3. [http://svnonglam.org] [Pick the date] CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT HỆ THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN VÀ HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP 1.1. KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT HỆ THỐNG Trong thế giới tự nhiên cũng như trong xã hội loài người mọi hoạt động đều diễn ra bởi các yếu tố, ta gọi là các hợp phần (components) có những mối liên hệ tương tác, hữu cơ với nhau, được gọi là tính hệ thống. Vì vậy, muốn nghiên cứu một sự vật, hiện tượng, hoạt động nào đó chúng ta phải coi lý thuyết hệ thống là cơ sở của phương pháp luận và tính hệ thống là đặc trưng và bản chất của chúng. Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học Ludwig Vonbertalanffy (tên gọi: Lý thuyết những hệ thống Chung – General Systems Theory, 1968), và bắt nguồn từ Ross Ashby ( Giới thiệu tới Điều khiển học, 1956). Lý thuyết hệ thống đề cập đến các khái niệm: Hệ thống, phần tử ( hợp phần), chỉnh thể, tính chỉnh thể, môi trường hệ thống bao quanh, đầu vào, đầu ra, trạng thái, sự phân cấp, hướng mục đích, thông tin. Ngoài ra các khái niệm liên quan đến hệ thống như tiếp cận hệ thống, quan điểm hệ thống, phương pháp mô phỏng hệ thống… 1.1.1. Những khái niệm cơ bản của hệ thống. 1.1.1.1 Hợp phầ, phần tử (Component): Mỗi sự vật, sự việc mang tính hệ thống được cấu trúc từ các hợp phần hệ thống. Hợp phần là bộ phận nhỏ nhất của 1 hệ thống, có vai trò chức năng độc lập, hoàn chỉnh nhưng lại có mối quan hệ tương tác với nhau trong một hệ thống nhất định. Ví dụ: Sản xuất cây trồng mang tính hệ thống, bao gồm những hợp phần khác nhau có vai trò chức năng độc lập nhưng lại có quan hệ ảnh hưởng tương tác nhau để tạo ra những sản phẩm mới là cây trồng. + Các hợp phần tự nhiên của hệ thống sản xuất cây trồng: - Bức xạ -----> Quang hợp - Nhiệt độ Điều kiện sinh khí hậu (thời vụ) - Độ ẩm - phân + Các hợp phần hoạt động sản xuất: - Làm đất - Gieo trồng - Chăm sóc - Tưới / Tiêu nước - Bón phân ----> cung cấp nước và dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng và tạo sản lượng ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 2
  4. [http://svnonglam.org] [Pick the date] + Các hợp phần kinh tế-xã hội: - Đầu tư: Vật tư - Tiền/ Tín dụng - Lực lượng lao động - Tiến bộ kỹ thuật - Thể chế, pháp luật / chính sách - Văn hoá / Dân trí / Trình độ kiến thức … Trong thực tế phát triển “hợp phần” còn được dùng khá phổ biến, để đạt được mục tiêu nào đó thường thông qua một dự án, dự án được thiết kế gồm có nhiều nội dung họat động người ta có thể gọi là các hợp phần người ta còn có thể gọi là các tiểu hợp phần trong một dự án. Các hợp phần này nhằm đạt được mục đích hay mục tiêu hoạt động Ví dụ: Một dự án có thể chia ra các hợp phần: Hợp phần nâng cao năng lực cho cấp thực thi dự án, hợp phần phát triển sản xuất, hợp phần hạ tầng cơ sở qui mô nhỏ và quản lý dự án. 1.1.1.2. Hệ thống: Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau, có quan hệ và tác động qua lại với nhau. Một hệ thống có thể xác định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết tạo thành một chỉnh thể và nhờ đó đặc tính mới gọi là "tính trội" (émergence) của hệ thống. Theo Đào Thế Tuấn, hệ thống là các tập hợp trật tự bên trong (hay bên ngoài) của các yếu tố có liên quan với nhau (hay tác động lẫn nhau). Thành phần của hệ thống là yếu tố. Các mối liên hệ và tác động giữa các yếu tố bên trong mạnh hơn so với yếu tố bên ngoài hệ thống và tạo nên trật tự bên trong của hệ thống. Một hệ thống là một nhóm các yếu tố tác động lẫn nhau, hoạt động chung cho một mục đích chung. Chúng ta đi tìm một hệ thống trong thực tiễn sản xuất qua trình tự tiếp cận như sau:  Tiếp cận thứ nhất: Quan sát thực trạng của một nông hộ chúng ta thấy ở đây có một vài cây gỗ, cây trồng, cỏ và một vài hàng rào nhưng không thấy một hệ thống như định nghĩa, không thấy có biên giới rõ ràng và cũng không thấy sự tác động qua lại.  Chúng ta có thể tìm hệ thống ở đâu?  Tiếp cận thứ 2: Một cây như là một hệ thống ? - Nhìn tổng thể: Biên giới: cấu trúc vật lý của cây - Các bộ phận: Lá, thân, cành rễ (không nhìn thấy). - Tác động qua lại: Giữa các bộ phận tác động với nhau rất mạnh mẽ, sẽ sai lầm khi cho rằng cây sống không cần rễ. - Đầu vào: các chất dinh dưỡng, CO2, các chất dinh dưỡng, nứơc, ánh sáng. - Đầu ra: quả hạt gỗ, O2 - Mục tiêu: Một cây bản thân nó không có mục tiêu. - Thứ bậc của hệ thống: Một cánh rừng là hệ thống lớn hơn.  Tiếp cận thứ 3: Con người là một hệ thống ? - Nhìn tổng thể: Biên giới: cấu trúc vật lý của cơ thể ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 3
  5. [http://svnonglam.org] [Pick the date] - Các bộ phận và tác động qua lại:Thân thể, chân, tay, đầu các bộ phận tác động qua lại với nhau rất mạnh. Sẽ sai lầm khi cho rằng con người sống mà không cần đến não, máu, tim gan , ... - Đầu vào: Thức ăn, không khí, nước uống, ánh sáng, các giá trị tinh thần.v.v. - Đầu ra: suy nghĩ, năng lượng, chí tuệ... - Hệ thống lớn hơn: Gia đình, cộng đồng - Môi trường: các điều kiện tự nhiên tác động đến con người như là một hệ thống. - Mục tiêu: để sống, sáng tạo, vui chơi, v.v. - Quản lý: chức năng to lớn trong việc làm biến đổi đầu ra, sử dụng các nguồn tài nguyên cũng như các hệ thống khác.  Chúng ta đã tìm được một hệ thống khác phức tạp hơn.  Tiếp cận thứ tư: Một nông trại như là một hệ thống ? - Tổng thể: Biên giới:Nông trại với những tài nguyên của nó và phương thức sử dụng chúng. - Thành phần: Vai trò trung tâm -con người, gia đình, các bộ phận của nông hộ. Trên đồng ruộng: Cây trồng, vật nuôi, vật nuôi v.v. các bộ phận ngoài đồng ruộng - việc làm thu nhập khác. - Tác động qua lại: Rất mạnh mẽ giữa các thành phần, hệ thống phức tạp đòi hỏi sự phân tích thận trọng. - Đầu vào:Lao động, năng lượng, tiền quản lý, ... - Đầu ra: Lương thực tiền mặt, các khoản thỏa mãn khác. - Mục tiêu: Đáp ứng các nhu cầu cơ bản, hướng tới các nhu cầu sống khác ... - Tổ chức thứ bậc của hệ thống: Các hệ canh tác, sự hội nhập của trang trại và các hình thái của làng xã hay xã hội.  Ta đã tìm thấy hệ thống mà ta mong muốn. - Sản xuất nông nghiệp thực chất là một hệ thống bao gồm rất nhiều nhóm hợp phần, các hợp phần thể hiện các hoạt động sản xuất và yếu tố sản xuất khác nhau. Mục tiêu hệ thống này là đạt tốc độ phát triển sản lượng nông nghiệp cao và ổn định. Trong hoạt động hệ thống, hai mục tiêu này hỗ trợ nhau để đạt được sự hoàn thiện của hệ thông nông nghiệp, tuy nhiên chúng cũng mâu thuẫn với nhau. Nếu tốc độ phát triển sản lượng quá cao thì tính ổn định của độ màu mỡ đất mất đi, kéo theo mất tính ổn định của năng suất và sản lượng. Vì vậy trong nghiên cứu hệ thống nông nghiệp, cần chú trọng điều hành và thực hiện các hoạt động của các hợp phần một cách thống nhất và hài hoà. 1.1.1.3. Môi trường, các yếu tố đầu vào và đầu ra của hệ thống Là tập hợp các hợp phần không nằm trong hệ thống nhưng lại tác động qua lại chặt chẽ, không thể thiếu được với hệ thống. Những hợp phần của môi trường góp phần quan trọng cho sự tồn tại hoặc phát triển của một hệ thống và nó bao gồm những yếu tố đồng nhất với hoạt động hệ thống. Ngoài những yếu tố bên trong, các yếu tố bên ngoài hệ của thống không nằm trong hệ thống nhưng có tác động tương tác với hệ thống gọi là yếu tố môi trường. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 4
  6. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống là yếu tố "đầu vào", còn những yếu tố môi trường chịu sự tác động trở lại của hệ thống là yếu tố "đầu ra". Trong hoạt động hệ thống sản xuất, môi trường thường được nhìn nhận là các hợp phần đầu vào (input) và đầu ra (output). Ví dụ: Hoạt động sản xuất của nông hộ là một hệ thống thì môi trường của hệ thống này sẽ là các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tác động đến và ảnh hưởng bởi các hoạt động sản xuất của nông hộ đó. Môi trường của hệ thống bao gồm: môi trường về tự nhiên, môi trường về kinh tế, môi trường về văn hoá xã hội. Đầu vào: Tác động Sản xuất Đầu ra: - Tự nhiên nông hộ - Sản phẩm trả lại cho tự nhiên - Kinh tế: đầu tư - Kinh tế: sản phẩm tiêu thụ - Xã hội: Thể chế - Xã hội: Chính sách Phát triển cộng đồng Kiến thức Khả năng sản xuất Sơ đồ 2 : Hệ thống nông hộ  Môi trường về tự nhiên: bao gồm khí hậu, đất đai, địa hình, nguồn nước, thực vật, ... Tổ hợp các yếu tố này sẽ tạo nên các đơn vị (vùng) sinh thái nông nghiệp. Vùng sinh thái nông nghiệp là vùng có sự đồng nhất cao về điều kiện khí hậu, đất đai, địa hình, nguồn nước và thích hợp cho các hệ thống nông nghiệp nhất định.  Môi trường về kinh tế: bao gồm vốn, tín dụng, tiềm năng về thị trường và giá cả nông sản, chi phí về lao động, chi phí về vật tư (giống, phân bón, thuốc nông nghiệp, công cụ nông nghiệp, đặc điểm quyền sở hữu ruộng đất...)  Môi trường về văn hoá - xã hội: bao gồm tập tục sinh hoạt của một cộng đồng xã hội tại một địa phương như: tập quán canh tác, văn hoá, tôn giáo, tiêu dùng, tích luỹ, tình nghĩa làng xóm..., các tổ chức đoàn thể, xã hội và các chủ trương chính sách. Ví dụ môi trường bao quanh của hệ thống nông hộ. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 5
  7. [http://svnonglam.org] [Pick the date] MÔI TRƯỜNG VẬT LÝ - Khí hậu - Nước - Đất - Thực vật - Địa hình - Cơ sở hạ tầng MÔI TRƯỜNG VĂN MÔI TRƯỜNG HÓA XÃ HỘI KINH TẾ - Cộng đồng Hệ thống - Vốn, tín dụng - Văn hóa, giá trị của nó nông hộ - thị trường - Chính sách, thể chế - Vật tư . - Nghiên cứu. - Dịch vụ 1.1.1.4 Các yếu tố xác định hệ thống: Một hệ thống được xác định, được định nghĩa, được vạch ra chỉ trừ khi có đầy đủ các yếu tố: - Biên giới, ranh giới của hệ thống: đó là giới hạn để xác định các thành phần bên trong và bên ngoài hệ thống. Ví dụ: Xem ruộng lúa của một hộ A nào đó là một hệ thống, ranh giới của hệ thống chính là bờ ruộng. - Khung cảnh và phạm vi: là sự biểu hiện không gian của một hay một số hệ thống để từ đó ta có thể xem xét thực trạng và xu hướng phát triển của hệ thống. Ví dụ: Trong ruộng lúa của hộ A cây lúa phát triển tốt hơn các ruộng khác, diện tích rộng hơn. - Thành phần của hệ thống: trong một hệ thống có nhiều sự tương tác của các thành phần trong hệ thống. Sự tương tác này là sự biểu hiện mối quan hệ các thành phần trong hệ thống, nó quyết định hiệu quả của hệ thống. - Sự thực hiện và hoàn thiện của hệ thống. Biểu hiện ở quá trình thực hiện, thời gian kéo dài hay rútt ngắn, quá trình thực hiện tạo ra hiệu quả cao hay thấp. Ví dụ: Thời gian sinh trưởng của cây lúa là bao nhiêu? Thu hoạch cho năng suất bao nhiêu? - Đầu vào và đầu ra của hệ thống: + Đầu vào (inputs): bao gồm các chi phí cho sản xuất như: giống, phân bón, thức ăn, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, chuồng trại... + Đầu ra (outputs): bao gồm sản phẩm của quá trình sản xuất như: các mặt hàng nông sản, phân hữu cơ, phế phụ phẩm... 1.1.1.5. Cấu trúc của hệ thống: ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 6
  8. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Là sự sắp xếp, cấu tạo của các hợp phần và mối quan hệ tương tác của chúng trong một phạm vi hệ thống. Cấu trúc hệ thống thể hiện tính chức năng và tính ổn định của hệ thống. Một khi cách sắp xếp và mối tương tác của các hơp phần thay đổi hay nói cách khác cấu trúc của hệ thống thay đổi thì hệ thống đó cũng bị thay đổi sang phương thức hoạt động khác. Ví dụ: Cấu trúc của hệ thống sản xuất nông nghiệp của nông hộ Nguồn tài Vốn TC Môi nguyên Kỹ thuật Chính sách trường - Các sản phẩm cây trồng NÔNG HỘ - Các sản phẩm chăn nuôi Hoạt động Hoạt động Ngành trồng trọt chăn nuôi nghề phụ Sơ đồ 4: Hệ thống sản xuất nông hộ - Nguồn tài nguyên Là hợp phần môi trường của hệ thống sản xuất - Chính sách / Thể chế nông hộ Chức năng của hợp phần tài nguyên là tác động môi trường. Nếu hợp phần tự nhiên: đất hoặc nước là hợp phần yếu tố sản xuất thì cấu trúc hệ thống thay đổi, đó là hệ thống nông hộ: Tài nguyên đất Lao động Vốn NÔNG HỘ - Sản phẩm sản xuất - Lợi nhuận / Lãi Hoạt động Ngành Hoạt động trồng trọt nghề phụ chăn nuôi Sơ đồ 5 : Cấu trúc hệ thống nông nghiệp cấp nông hộ 1.1.2. Các quan điểm về hệ thống 1.1.2.1. Quan điểm tiếp cận hệ thống ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 7
  9. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Theo Đào Thế Tuấn (1988) quan điểm hệ thống là phương pháp nghiên cứu khoa học, là sự khám phá đặc điểm của hệ thống bằng cách nghiên cứu hệ thống bản chất và đặc tính của các mối tương tác qua lại giữa các thành tố. Tiếp cận hệ thống là quá trình xem xét khách quan và toàn diện bản chất các mối quan hệ của các thành phần của hệ thống trong quá trình phát triển nhằm giúp điều khiển để hệ thống phát triển bền vững hơn. Tiếp cận hệ thống có nghĩa: + Xem xét, phân tích hiện tượng/hoạt động một cách hệ thống, có nghĩa là coi các hợp phần của các hiện tượng/hoạt động đó có những đặc thù, chức năng, vai trò độc lập song lại có mối quan hệ chặt chẽ, tương tác làm xuất hiện những thuộc tính mới (ví dụ: hệ thống canh tác) + Phải đặt các hiện tượng/hoạt động hệ thống đó trong môi trường tác động/ ảnh hưởng của nó, nhằm xác định rõ các mục tiêu, nội dung, phương thức hoạt động của mỗi hệ thống luôn bị ràng buộc trong mối quan hệ tương tác với môi trường bao quanh nó. (ví dụ: hệ thống sản xuất nông hộ) + Mỗi một hệ thống bao gồm các cấu trúc hợp phần khác nhau, vì vậy cần xác định phân tích mỗi hoạt động hệ thống theo cấu trúc các hợp phần, sau đó mới kết hợp lại Theo N. Jameison (1996), nếu chúng ta tách riêng từng bộ phận và nghiên cứu từng bộ phận một thì dù nghiên cứu tỷ mỷ đến đâu, đấy cũng chưa phải là tư duy hệ thống. Vấn đề chính là quan hệ mà không phải là bộ phận. Toàn bộ hệ thống hơn tổng số các bộ phận bởi vì hệ thống có tổ chức. Như vậy các tác giả đều thống nhất rằng vấn đề chính trong hệ thống là quan hệ của các thành tố. Lý thuyết về hệ thống nhấn mạnh đến sự cần thiết của cách nhìn mọi sự việc và hiện tượng trong một thể thống nhất, chứ không phải con số cộng đơn thuần của các hợp phần rời rạc, có sự tác động lẫn nhau giữa các thành phần trong quá trình vận động từ đầu vào đến đầu ra và có sự phân cấp thứ bậc. Như vậy có thể thấy mọi hệ thống đều là một phần của hệ thống lớn hơn và đến lượt mình lại gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành. Lý thuyết hệ thống ngày càng được ứng dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học để phân tích và giải thích các mối quan hệ tương hỗ. Trong thời gian gần đây tiếp cận hệ thống đã được áp dụng và phát triển trong nghiên cứu nông nghiệp. 1.1.2.2. Quan điểm phân tích hệ thống vĩ mô và vi mô + Quan điểm vĩ mô: Nhìn nhận và phân tích 1 hệ thống trên phương diện đại thể, tổng quát về: Mục tiêu, nội dung hoạt động với những mối quan hệ tương tác chính và xuất hiện những thuộc tính / kết quả gì từ hoạt động của hệ thống đó. Như vậy trong nghiên cứu / phân tích hệ thống ở cấp vĩ mô chúng ta cần tập trung vào các vấn đề sau: ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 8
  10. [http://svnonglam.org] [Pick the date] - Loại hệ thống - Mục tiêu và chức năng hoạt động của hệ thống - Môi trường tác động / ảnh hưởng của hệ thống - Đầu vào và đầu ra của mỗi hoạt động hệ thống + Quan điểm vi mô: Phân tích các chức năng, hoạt động của mỗi hợp phần trong cấu trúc hệ thống và mối quan hệ tương tác của chúng để tạo ra hoạt động chung của hệ thống. Đây chính là nội dung cụ thể trong phân tích hệ thống và là kết quả của hoạt động hệ thống. Chúng ta cần tập trung vào các vấn đề sau: - Các hợp phần tạo nên một hệ thống: chức năng, vai trò và hoạt động của nó. - Cấu trúc hợp phần của hệ thống: đơn giản / phức tạp, đóng / mở, mức độ phân cấp. - Mối quan hệ tương tác của các nhóm hợp phần hoặc các hợp phần trong hệ thống Trong phân tích hệ thống, quan điểm vĩ mô và vi mô bổ sung cho nhau: + Đi từ ngoài / đại thể đến trong / chi tiết + Đi từ khái quát đến cụ thể + Đi từ cá thể đến tổng thể + Đi từ các mối quan hệ đến tính hệ thống 1.1.2.3. Phương pháp tổ chức hệ thống + Phương pháp phân tích tổ chức hệ thống kiểu tuần tự: Các hoạt động của hợp phần được tổ chức ghép nối nhau, các hợp phần đứng trước thường là các hoạt động đầu vào và đứng sau là đầu ra. + Phương pháp phân tích hệ thống kiểu song song: Thể hiện sự hoạt động đồng thời của các hợp phần trong hệ thống.Ví dụ: Hệ thống quy trình đánh giá đất theo FAO: theo 2 bước tuần tự hoặc tiến hành theo 2 bước song song. + Phương pháp phân tích tổ chức hệ thống đan xen hoặc lặp lại/phản hồi. Các nội dung hoạt động của các hợp phần trong hệ thống được phân tích trước hoặc sau tuỳ từng điều kiện, tình hình hoạt động của hệ thống. Hay nói cách khác, trong nhiều trường hợp hoạt động của 1 hệ thống thì đầu ra của hợp phần này lại là đầu vào của hợp phần kia, vì vậy đòi hỏi chúng ta phải phân tích các hoạt động đó theo kiểu đan xen với nhau hoặc lặp lại để hoàn thành quá trình hoạt động hệ thống. Phương pháp này thường dùng khi phân tích hệ thống thuộc hệ thống nghiên cứu cơ bản và hệ thống quản lý. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 9
  11. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Tham khảo ban đầu Phương pháp hai Phương pháp bước song song Điều tra cơ bản Điều tra cơ bản Bước Thứ nhất Phân hạng thích Phân tích kinh tế Phân hạng thích nghi đất định nghi đất theo định và xã hội tính/ bán định lượng và định tính lượng Phân tích kinh tế và xã hội Bước thứ hai Phân hạng thích nghi đất theo định tính Quyết định quy hoạch Sơ đồ 6: Quy trình đánh giá đất theo FAO 1.1.2.4. Phương pháp cùng tham gia trong nghiên cứu hệ thống. Một sự việc, một hoạt động của hệ thống bao gồm nhiều hợp phần với những chức năng và hoạt động cụ thể/chi tiết khác nhau. Như vậy trong nghiên cứu hệ thống cần phải tập hợp các nhà nghiên cứu/khoa học với các lĩnh vực chuyên môn ứng với các hợp phần của hệ thống. Phương pháp nghiên cứu như vậy gọi là phương pháp cùng tham gia. Ví dụ: Trong hệ thống canh tác với hệ phụ trồng trọt bao gồm các hợp phần: - Môi trường tác động: khí tượng, thể chế/chính sách - Hoạt động hệ thống: Giống cây, làm đất, thuỷ lợi, gieo trồng, chăm sóc, bón phân, sau thu hoạch. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 10
  12. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Để phân tích, nghiên cứu hệ thống này cần tập hợp các nhà nghiên cứu, chuyên môn khác: khoa học tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật: giống, nông hoá, thủy nông; cơ khí nông nghiệp, bảo quản sản phẩm . 1.1.2.5. Công cụ phân tích hệ thống bằng mô hình hoá Đây là phương pháp thông dụng, dễ sử dụng nhất trong việc xây dựng một hệ thống cũng như mô tả, phân tích hệ thống đó. Tuỳ thuộc nội dung và quy mô hệ thống, cấu trúc hệ thống và kinh nghiệm/ kỹ năng của chuyên gia phân tích hệ thống mà các hệ thống được mô hình hóa rất khác nhau, cả về hình tượng và cách thức mô hình hoá.  Ưu điểm của phương pháp mô hình hoá: + Khái quát được toàn bộ nội dung và hoạt động của một hệ thống một cách dễ hiểu nhất, nhanh nhất ---> đơn giản hoá được tính phức tạp của hoạt động hệ thống. + Xác định được các hợp phần, cấu trúc hợp phần của hệ thống và mối quan hệ tương tác của chúng trong hệ thống thông qua các mũi tên. + Thể hiện được tính hệ thống và tính logic của 1 hiện tượng/hoạt động sản xuất ---> quan điểm tiếp cận hệ thống rõ ràng. + Có thể dễ dàng lượng hoá thông tin của hệ thống qua các mô hình + Dễ ứng dụng cho người mô tả, phân tích hệ thống. Hiện nay kỹ thuật tin học đã giúp tạo dựng nên những mô hình cấu trúc hệ thống tổng quát, phức tạp, đẹp, hiện đại.  Những yêu cầu trong việc mô hình hoá: + Mô hình phải thể hiện được tất cả nội dung và tính hệ thống của các hoạt động của hợp phần + Cấu trúc hệ thống phải được mô hình hóa một cách rõ ràng nhất, dễ hiểu nhất. + Các hợp phần, mối quan hệ của chúng trong mô hình hệ thống phải được ký hiệu rõ rệt + Mô hình hoá mang tính khoa học và nghệ thuật cao sẽ làm tăng chất lượng phân tích, mô tả hệ thống và hấp dẫn người đọc/nghiên cứu. 1.2. KHÁI NIỆM VỀ HỆ THỐNG CANH TÁC, HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP, HỆ THỐNG TRỒNG TRỌT, HỆ THỐNG CÂY TRỒNG. 1. 2.1 Các khái niệm về hệ thống canh tác, hệ thống nông ngiệp. Hệ thống canh tác( HTCT) Theo FAO (1989) khái niệm về hệ thống trang trại (Farming systmes) đã có từ thế kỷ thứ 19 do nhà nông học người Đức Vonwalfen đề xuất. Khái niệm hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) đầu tiên được các nhà địa lý sử dụng để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự tiến hóa (Grigg, 1979). ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 11
  13. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Đầu những năm 80 có nhiều tài liệu xác định hệ thống nông trại, hay hệ thống kinh doanh nông nghiệp (Farming Systems) là khái niệm/tiếp cận mới trong hệ thống nông nghiệp và được công nhận rộng rãi trong nghiên cứu nông nghiệp hiện nay. Tại các nước nói tiếng Anh khái niệm hệ thống nông nghiệp thực chất đồng nghĩa với khái niệm về hệ thống nông trại, nhằm chỉ các mối liên hệ phức tạp của các quá trình sinh học, sinh thái và xã hội bên ngoài và bên trong của hoạt động nông trại. Về hệ thống canh tác (HTCT), một số nhà khoa học Mỹ cho rằng HTCT (Farming systemes, Hệ thống nông trại, Hệ thống nông nghiệp) là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội phù hợp với mục tiêu, mong muốn và nguồn lực của hộ (Shannor, Philipp và Sohomohl, 1984 dẫn theo Nguyễn Duy Tính). Một số tác giả của viện lúa quốc tế cho rằng: HTCT là tập hợp các đơn vị có chức năng riêng biệt đó là: hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và tiếp thị. Các đơn vị đó có mối quan hệ qua lại với nhau vì cùng dùng chung những nguồn lực nhận từ môi trường. HTCT là hình thức tập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong nông trại ở mọi môi trường nhất định, bằng những công nghệ sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp. Định nghĩa này không bao gồm hoạt động chế biến, nó vượt quá hình thức phổ biến của nông trại cho các sản phẩm chăn nuôi và trồng trọt riêng biệt, nhưng nó bao gồm những nguồn lực của nông trại được sử dụng cho việc tiếp thị những sản phẩm đó (IRRI, 1989 dẫn theo Nguyễn Duy Tính). Như vậy đặc điểm chung nhất của HTCT là bao gồm nhiều hệ thống: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lý kinh tế được bố trí một cách có hệ thống, ổn định phù hợp với mục tiêu của từng nông trại hay từng tiểu vùng nông nghiệp. Theo Vissac, Hentgen (1979): Hệ thống nông nghiệp là tập hợp trong không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn các nhu cầu của mình. Nó biểu hiện một sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học - sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện và một hệ thống xã hội - văn hoá, qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả kỹ thuật. Theo Mozoyer (1986): Hệ thống nông nghiệp là một phương thức khai thác môi trường được hình thành và phát triển trong lịch sử, một hệ thống sản xuất thích ứng với các điều kiện sinh thái, khí hậu của một không gian nhất định, đáp ứng với các điều kiện và nhu cầu của thời điểm ấy. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 12
  14. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Touve (1988) cho rằng: Hệ thống nông nghiệp thích ứng với các phương thức khai thác nông nghiệp của không gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp của các nhân tố tự nhiên, xã hội - văn hoá, kinh tế và kỹ thuật. Theo Đào Thế Tuấn (1989), HTNN về thực chất là sự thống nhất của hai hệ thống: 1) Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm các vật sống trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái. 2) Hệ kinh tế xã hội, chủ yếu là hoạt động của con người trong sản xuất để tạo ra của cải vật cho xã hội. Sơ đồ 7: Hệ thống tự nhiên và HTNN 1.2.2 Một số khái niệm về nông nghiệp và phát triển bền vững: Phát triển bền vững: là việc quản lý bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau. Nông nghiệp bền vững: Sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn gen động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, lợi ích kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 13
  15. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Nông nghiệp sinh học, nông nghiệp hữu cơ, sinh thái ( Biological, organic, ecological agricul ture ) là một phương thức sản xuất cấm dùng các hóa chất tổng hợp. Sản xuất dựa trên việc sử dụng lại các các hợp chất hữu cơ và luân canh cây trồng có mục tiêu tôn trọng môi trường và bảo vệ các môi cân bằng của đất và hệ sinh thái nông nghiệp. Nông nghiệp hợp lý ( NNHL): Raisonned agriculture) là nên nông nghiệp có sức cạnh tranh, chú ý một cách cân bằng các mục tiêu kinh tế của người sản xuất, mong đợi của người tiêu dùng và sự tôn trọng môi trường. NNHL chứng minh rằng có thể hóa giải việc có lãi của nông trại, bảo vệ môi trường tự nhiên, sản xuất chất lượng thường xuyên và giá cả chấp nhận được và đóng góp của nền nông nghiệp vào nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp tổng thể ( Integative agriculture ) là hệ thống sản xuất có chất luợng cao, dùng các nguồn lợi và cơ chế điều tiết tự nhiên để thay thế tổn thất do môi trường và đảm bảo một nền nông nghiệp có sức sống lâu dài. Nông nghiệp chính xác ( Precision agriculture) dùng các công nghệ mới đang được phát triển để điều chỉnh các biện pháp canh tác gần với các nhu cầu của cây trồng tùy theo sự không đồng đều giữa các tỉnh. Theo các định nghĩa trên HTNN hiện nay của Việt Nam hội tụ đầy đủ các loại hình hệ thống nói trên. 12.3 Đặc điểm của hệ thống nông nghiệp. - Có mục tiêu chung: các thành phần trong hệ thống có chung mục tiêu, từ đó chức năng họat động của từng thành phần được xác định rõ hơn. - Có ranh giới rõ rệt: Ranh giới hệ thống cho biết qui mô và nội dung hệ thống. Nó giúp xác định cái bên trong ( các thành phần ) và cái bên ngoài của hệ thống. - Yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của hệ thống và mối quan hệ. Mộ hệ thống bao giờ cũng có các yếu tố đầu vào và đầu ra, các thành phần trong hệ thống có mỗi quan hệ với nhau, hệ thống lại có mối quan hệ với môi trường. Hiệu quả của cả hệ thống lớn hơn các hệ thống con trong đó. - Luôn bị các rủi ro: hệ thống luôn bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài. - Có thuộc tính: Thuộc tính xác định tính chất của hệ thống, phân biệt giữa các hệ thống với nhau. Mỗi thành phần đều mang thuộc tính chung và đặc tính riêng. - Có thứ bậc của hệ thống: Thứ bậc có được là do ranh giới của từng hệ thống. Có các hệ thống phụ, gồm nhiều đơn vị cấu thành: Mỗi một hệ thống có nhiều hệ thống phụ bản thân hệ thống đó nó cũng là một hệ thống con của hệ thống lớn hơn. + Hệ thống nông nghiệp cấp hộ + Hệ thống nông nghiệp cấp cộng đồng thôn, xã. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 14
  16. [http://svnonglam.org] [Pick the date] + Hệ thống nông nghiệp cấp vùng. - Thay đổi: Hệ thống luôn ổn định tương đối, nó thay đổi theo thời gian và không gian và bị tác động, bị chi phối bởi nhiều yếu tố môi trường và xã hội và có xu thế thay đổi theo thời gian. Sơ đồ 8: tổ chức thứ bậc của hệ thống nông nghiệp 1.2.4 Các đặc tính của hệ thống. Theo Kepas (1983), Cao Liêm và các cộng sự (1998) HSTNN bao gồm 6 đặc tính cơ bản, HSTNN cũng là những hệ thống do vậy các đặc tính của HSTNN cũng có thể áp dụng cho một hệ thống nông nghiệp:  Sức sản xuất: Sức sản xuất là khả năng sản xuất ra giá trị sản phẩm trên một đơn vị tài nguyên (đất, lao động, năng lượng, tiền vốn, ...) đơn vị đo lường có thể là tấn/ha, tạ/ha, ... sức sản xuất của hệ thống nông nghiệp tăng, giảm hay cân bằng qua thời gian.  Khả năng sinh lợi: khả năng sinh lợi là hiệu quả kinh tế ( cho người sản xuất và xã hội ) của một hệ thống nông nghiệp.  Tính ổn định: Tính ổn định của một hệ thống nông nghiệp là khả năng duy trì sức ản xuất khi có rủi ro khi thay đổi điều kiện thời tiết, điều kiện kinh tế thị trường. Tính ổn định này được đo lường từ hệ số biến động của sức sản xuất.  Tính bền vững: là khả năng duy trì sức sản xuất cảu hệ thống trong thời gian dài khi chịu tác động của stress hoặc sự đảo lộn. Một HTNN bền vững được coi là bền vững khi bị stress xảy ra sức sản xuất có thể bị giảm nghiêm trọng sau đó sức sản xuất được phục hồi và duy trì ổn định. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 15
  17. [http://svnonglam.org] [Pick the date]  Tính công bằng: được đo lường bằng sự phân bố tài nguyên đến những người tham gia sản xuất trong cùng hệ thống.  Tính tự chủ: Tính tự chủ của hệ thống biểu thị bằng khả năng tự vận hành sao cho có hiệu quả mà ít lệ thuộc vào môi trường. Như vậy trong 6 đặc tính này thể hiện gồm cả đặc tính về sinh học và đặc tính xã hội của hệ . A. SỨC SẢN XUẤT cao Sản lượng Sản lượng Thấp Thời gian Thời gian B. TÍNH BỀN VỮNG Nhiễu lọan Sản lượng Sản lượng Nhiễu loạn Thời gian Thời gian Stress Stress Sản lượng Sản lượng Thời gian Thời gian C.TÍNH ỔN ĐỊNH Sản lượng Sản lượng Thời gian D.TÍNH CôNG BẰNG Thời gian Dân số Dân số ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 16 Thu nhập Thu nhập
  18. [http://svnonglam.org] [Pick the date] Sơ đồ 9: Các đặc tính của hệ thống nông nghiệp 1.2.5 Thành phần của hệ thống nông nghiệp. Theo Mazoyer (1988), thành phần của hệ thống nông nghiệp bao gồm 3 thành tố cơ bản: môi truờng xung quanh, hệ thống kỹ thuật và hệ xã hội. Đào Thế Tuấn (1989) cho rằng so với hệ sinh thái nông nghiệp, hệ thống nông nghiệp khác ở chỗ ngoài yếu tố ngoại cảnh và sinh học còn có yếu tố kinh tế - xã hội. Đào Thế Tuấn đưa ra thành phần của hệ thống nông nghiệp có tính cụ thể gắn vào với đặc điểm nông nghiệp Việt Nam, nông nghiệp Việt Nam gắn chặt chẽ với nông hộ và hệ thống kỹ thuật gắn với kỹ thuật mà người dân áp dụng bao gồm: Quan hÖ gi÷a c¸c thµnh phÇn HTNN KhÝ hËu §Êt N-íc M«i tr-êng tù nhiªn Hé n«ng d©n M«i tr-êng kinh tÕ x· héi Trång trät ThÓ chÕ Quan hÖ Tæ chøc Phi n«ng Ch¨n nu«i nghiÖp QuyÕt ®Þnh Nhµ n-íc Lao ®éng Vèn X· héi - d©n sù ThÞ tr-êng Sơ đồ 10: Thành phần của HTNN ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 17
  19. [http://svnonglam.org] [Pick the date] • Thể chế: Là các cản trở do người đặt ra để hình thành các mối quan hệ giữa người (North, 1990) - Thể chế bao gồm các luật chơi của xã hội gồm có các luật hình thức ( hiến pháp, điều lệ và luật lệ, quy định) và các ràng buộc phi hình thức ( tiêu chuẩn, công ước và các quy tắc đối xử) và các đặc điểm ép buộc của chúng. - Phân biệt môi trường thể chế và sự sắp xếp thể chế: Môi trường thể chế là những nhân tố tác động ảnh hưởng đến việc thực hiện các thể chế chính thức và phi chính thức.Sự sắp xếp thể chế là những thứ bậc trước sau, thế chế ưu tiên hoặc những điều giàng buộc. - Bản thân thị trường cũng là một thể chế. Thể chế tạo ra thị trường có hiệu quả. Thị trường hiệu quả là các thể chế có chi phí trao đổi thấp và tạo ra lợi ích kinh tế để các tác nhân cạnh tranh với nhau qua giá và chất lượng. Có các thể chế thị trường và thể chế không thị trường. (như quyền sở hữu, thông tin, tín dụng, khuyến nông…).Việc cải tiến thể chế nhằm vào giảm chi phí trao đổi và rủi ro. 1.2.6 Các hệ thống phụ của hệ thống Nông nghiệp: ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 18
  20. [http://svnonglam.org] [Pick the date]  Hệ phụ trồng trọt: Hệ thống trồng trọt (HTTT), Nguyễn Duy Tính (1995) cho rằng: Hệ thống trồng trọt là hệ thống con và là trung tâm của HTNN, cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ phụ khác như: chăn nuôi, chế biến, ngành nghề...Với khái niệm về HTCT như trên thì hệ thống trồng trọt là bộ phận chủ yếu của HTNN. Hệ thống trồng trọt, theo Dufumier (1997), là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội. ST: Tranthanhhai.huaf@gmail.com Page 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản