Hệ thống quản lí chất lượng

Chia sẻ: Lê Thị Thoa | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
928
lượt xem
266
download

Hệ thống quản lí chất lượng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hoạt động quản lý chất lượng trong doanh nghiệp về nguyên lý khác với hoạt động quản lý của nhà nước đối với chất lượng. Điều này là do tính chất tổ chức của cơ quan nhà nước và của doanh nghiệp rất khác nhau vì những mục tiêu khác nhau.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hệ thống quản lí chất lượng

  1. Tình hình áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng ở việt nam Hoạt động quản lý chất lượng trong doanh nghiệp về nguyên lý khác với hoạt động quản lý của nhà nước đối với chất lượng. Điều này là do tính chất tổ chức của cơ quan nhà nước và của doanh nghiệp rất khác nhau vì những mục tiêu khác nhau. Hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp hay nói rộng hơn là của các tổ chức không phải là nhà nước cũng hết sức đa dạng do tính chất hoạt động của các tổ chức này. Bộ Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000 được thông qua lần đầu tiên vào năm 1987 (ISO 9000:1987), đến năm 2000 bộ tiêu chuẩn này đã được sửa đổi bổ xung lần thứ ba với ký hiệu ISO 9000:2000. Đây là sự thay đổi về chất đối với bộ tiêu chuẩn này, đó chính là sự thay đổi khái niệm "đảm bảo chất lượng" bằng "quản lý chất lượng". Khái niệm "quản lý chất lượng" không chỉ dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn cho tất cả các tổ chức khác như tổ chức sự nghiệp: Nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị. Nghĩa là có thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm của mình. Khái niệm sản phẩm ở đây theo đó cũng hết sức rộng: Kết quả của một quá trình hoạt động của con người. Đây cũng là hệ quả tất yếu quá trình quản lý chất lượng của thế giới trước tác động của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương mại đang ngày càng sâu rộng. Các phương thức và công cụ quản lý chất lượng cơ bản bao gồm: • Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có sản phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng. • Kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải kiểm soát các yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm (như dây truyền công nghệ), các đầu vào (như nguyên, nhiên vật liệu…), công cụ sản xuất (như trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (như địa điểm sản xuất). • Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control - TQC) với mục tiêu kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình xảy ra trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vận chuyển, phân phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng. • Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management - TQM) với mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất có thể. Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt động quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham
  2. gia của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra. Sự liệt kê các phương pháp quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ảnh sự phát triển của hoạt động quản lý chất lượng trên phạm vi thế giới diễn ra trong hàng thế kỷ qua, thông qua sự thay đổi tư duy của các nhà quản lý chất lượng trong tiến trình phát triển kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của thế giới. Ngoài các bộ tiêu chuẩn của ISO về hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9001), nhiều các hệ thống khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Nam xem xét áp dụng, như ISO 14001 - hệ thống quản lý môi trường, HACCP - Hệ thống Phân tích các nguy cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh vực nông sản thực phẩm, GMP - Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực phẩm, OHSAS 18001 - Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO 22000 Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí và hóa dầu - Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công nghiệp đặc thù- yêu cầu đối với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ. Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành chính nhà nước cũng được quan tâm. Mới đây ngày 20 tháng 6 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg về việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước với mục đích từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý dịch vụ công. Việc ban hành và thực hiện Quyết định này của Thủ Tướng như là một biện pháp của Chính phủ trong nỗ lực cải cách hành chính nhằm đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 dựa trên những kinh nghiệm của quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất lượng. Điều này cho thấy hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam đã có những bước hội nhập quốc tế mạnh mẽ và có chiều sâu. Hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam đã có bề dày hơn nửa thế kỷ. Trong thời gian đó, hoạt động này đã có những đóng góp nhất định cho phát triển kinh tế xã hội. Hoạt động quản lý chất lượng với mức độ hội nhập quốc tế tương đối cao sẽ càng có vai trò và vị trí to lớn hơn trong việc góp phần đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra. tương đối cao sẽ càng có vai trò và vị trí to lớn hơn trong việc góp phần đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra. Xuất khẩu tôm ở Việt Nam trong thời gian qua đã gặp nhiều khó khăn từ rào cản kỹ thuật.    Khi hàng rào thuế quan dần được loại bỏ, các thị trường “khó tính” như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn  Quốc... ngày càng đặt ra các quy định ngặt nghèo. Cùng với tiêu chuẩn về  môi trường, vệ  sinh an toàn thực phẩm, việc truy xuất nguồn gốc sản  phẩm hàng hoá là yêu cầu tiêu chuẩn các thị trường này đang đòi hỏi các doanh nghiệp phải vượt  qua.
  3.           Để   đáp  ứng  đòi hỏi này, tạo  đường cho mặt hàng tôm của Việt Nam chinh phục những thị   trường khó tính, Cục Ứng dụng và phát triển công nghệ (Bộ khoa học và công nghệ) đã giới thiệu  giải pháp “ứng dụng công nghệ  thông tin và  công nghệ RFID (nhận dạng bằng tần số  vô  tuyến)  vào quá  trình theo dõi, giám sát và  truy xuất nguồn gốc sản phẩm tôm, những kinh nghiệm của  Thái Lan và khả năng áp dụng tại Việt Nam”.      Với những thay  đổi trong quy trình chăn nuôi trồng trọt như  sử  dụng thuốc kháng sinh, thuốc   bảo vệ thực vật, những nguy cơ ô nhiễm môi trường và sự lây nhiễm các loại bệnh do thực phẩm   gây ra làm cho người tiêu dùng lo lắng về  chất lượng sản phẩm và   đòi hỏi phải biết nguồn gốc   thực phẩm mình sẽ sử dụng được sản xuất từ đâu, qua các quy trình công nghệ thế nào.      Từ đó đặt ra vấn đề cần giám sát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm từ trang trại đến bàn  ăn. Khái niệm truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm ra đời để theo dõi một sản phẩm từ bất  kỳ điểm nào trong dây chuyền cung cấp trở về nguồn gốc của nó hoặc giám sát một sản phẩm và   tất cả đầu vào của nó trong tất cả các khâu của dây chuyền sản xuất cũng như ở tất cả các đại lý  dọc theo dây chuyền cung cấp.     Hiện nay, Việt Nam đang nằm trong top 10 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới. Con số   này giúp thủy sản tiếp tục duy trì  ngôi vị  thứ  4 trong những mặt hàng xuất khẩu hàng  đầu Việt  Nam,  đồng thời khẳng định, thủy sản là  ngành kinh tế  hiệu quả  và  mang lại nhiều lợi  ích xã  hội.   Sản phẩm tôm đông lạnh đang được coi là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mũi nhọn, chiếm tới 40%   tổng giá trị thuỷ sản xuất khẩu với doanh thu mỗi năm khoảng 3 tỷ USD.     Tuy nhiên, theo Hiệp hội Chế  biến và  Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), những rào cản  kỹ thuật, rào cản môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm từ các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật   Bản, Nga...  đã  làm cho các doanh nghiệp trong nước gánh chịu những thiệt hại nặng nề  về  tài   chính và  uy tín. Nguyên nhân chính gây nên tình trạng trên là  do khâu nuôi trồng, sản xuất, chế   biến nguyên liệu chưa được kiểm soát chặt chẽ và bài bản.     Mặc dù các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đã áp dụng hệ thống quản lý đảm bảo an toàn vệ  sinh thực phẩm như hệ thống quản lý chất lượng theo GMP (quy phạm sản xuất tốt), SSOP (quy   phạm vệ sinh tốt) và HACCP (phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn trong ngành chế biến   thực phẩm), xây dựng hệ  thống cảnh báo môi trường dịch bệnh thủy sản... nhưng các hệ  thống  quản lý  này vẫn còn nhiều hạn chế  trong quá  trình thực hiện và  chưa có  khả  năng truy xuất   nguồn   gốc   sản   phẩm. Điều này dẫn  đến hậu quả  khi một số  lô  hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam không  đạt chất  
  4. lượng. Không  ít các doanh nghiệp thuỷ  sản Việt Nam phải vất vả, khó  khăn trong việc xác  định   nguyên nhân để khắc phục. => con tôm  đang là  mặt hàng chiến lược nên cần phải có những biện pháp nâng cao chất lượng  hàng hoá, đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu. Điểm quan trọng nhất là phải quản lý được theo chuỗi từ  môi trường chăn nuôi, đến quá trình thu hoạch, chế biến đến bàn ăn một cách có hệ thống. Ví dụ minh hoạ về quản lý chất lượng sản phẩm Quản lý chất lượng sản phẩm sẽ rất khó khăn ở những doanh nghiệp có lực lượng sản xuất là thủ công và làm việc theo vụ mùa như ngành chế biến nông sản thực phẩm hay chế biến gỗ. Anh Vang (*) là chủ một doanh nghiệp MTV (*) ở quy Nhơn. MTV là doanh nghiệp nhỏ, chuyên gia công (nhà thầu phụ) chế biến các sản phẩm gỗ ngoài trời để xuất khẩu. Khách hàng trực tiếp của MTV là các doanh nghiệp chế biễn gỗ lớn ở trong vùng. Anh Vang duy trì khoảng 150 cán bộ và công nhân thường xuyên. Khi vào vụ sản xuất, anh tuyển thêm khoảng từ 150 đến 250 công nhân từ bên ngoài. Nhu cầu phát triển nhưng điều kiện có hạn đã thôi thúc anh Vang tự tìm cách quản lý chất lượng sản phẩm của mình. Sau khi tìm hiểu sơ bộ, anh đã chọn chị Hoàn (*), 24 tuổi, thuộc bộ phận thống kê, làm cán bộ phụ trách tổ chức và triển khai công việc chất lượng cho MTV. Chị Hoàn được đi học một khoá về quản lý chất lượng do một công ty đánh giá chứng nhận tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh. Sau đó, chị Hoàn đã trình bày lại cho anh Vang, và đào tạo cho 1 nhóm 5 người được giao nhiệm vụ về quản lý chất lượng của MTV. Nhóm chất lượng MTV đã rà soát kỹ lưỡng toàn bộ các công việc thực hiện hàng ngày theo từng công đoạn sản xuất: nhập gỗ tròn, xẻ gỗ thành tấm, luộc gỗ, xếp gỗ tấm thành kiện, sấy gỗ, xếp kho, tạo mẫu chi tiết, định hình chi tiết, bào, đục, phun sơn, lắp ráp, bao gói, xếp kho và giao hàng. Tại mỗi công việc, nhóm chất lượng đã trao đổi với cán bộ theo dõi kỹ thuật và xác định rất rõ các yêu cầu hay các tiêu chí chất lượng cụ thể. Họ lập thành các biểu mẫu và xây dựng các bài hướng dẫn, tập huấn công việc cụ thể đối với từng đối tượng: công nhân, tổ trưởng, quản lý, kiểm tra. Nhóm chất lượng đã hình thành 1 hệ thống quản lý các tài liệu và hồ sơ, quy định các cán bộ và bộ phận chức năng với những trách nhiệm được phân cấp cụ thể. Họ đã tổ chức hướng dẫn cho các bộ phân đào tạo tập huấn các cán bộ, công nhân ở cấp thấp hơn về các kỹ năng trong sản xuất đảm bảo tiêu chí chất lượng sản phẩm ở bộ phận đó. Đặc biệt, họ đã xây dựng quy trình đào tạo và quản lý hồ sơ đào tạo cho tất cả các cán bộ, công nhân viên, và cả công nhân tuyển dụng theo vụ mùa. Những công nhân vụ mùa đã được đào tạo năm trước sẽ được ưu tiên cho làm việc ở những năm tiếp theo. Sau 1 năm xây dựng và thực hiện, anh Vang cho biết đã thấy rất yên tâm về hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo kiểu ISO 9001:2000 của MTV. Hiện nay, MTV đã bắt đầu xuất khẩu trực tiếp cho khách hàng nước ngoài, không còn phải gia công cho các doanh nghiệp lớn hơn trong vùng nữa, mặc dù MTV vẫn là công ty nhỏ. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng cho các cơ quan quản lý nhà nước Việc áp dụng ISO9000 đã đem lại những lợi ích thiết thực trong các Cơ quan Hành
  5. chính Nhà nước, bước đầu thực hiện đã đem lại những kết quả đáng kể. Mặc dù vậy trong quá trình thực hiện, các đơn vị áp dụng cũng gặp một số khó khăn và tồn tại nhất định. Đặc biệt là việc nhận thức và quyết tâm thực hiện của mọi người, việc sẵn sàng tiếp nhận những thay đổi trong tổ chức của mình. Công cuộc cải cách hành chính của Chính phủ đòi hỏi phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính, đồng thời phải đổi mới phương thức điều hành của hệ thống này, từng bước làm cho bộ máy hành chính phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế. Từ những yêu cầu cấp bách trong tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 169/2003/QĐ-TTg ngày 12/8/2003 phê duyệt đề án "Đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở của hệ thống hành chính" giai đoạn I từ 2003 đến 2005 (gọi tắt là Đề án 169). Mục tiêu của Đề án là tiếp tục đổi mới phương thức điều hành của hệ thống hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; từng bước hiện đại hoá công sở, trang bị các phương tiện làm việc cần thiết. Yêu cầu cụ thể của Đề án như sau: - Xác định rõ phương thức điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. - Hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, thực hiện chính sách; xác định rõ các nguyên tắc làm việc, quy chế hoá quy trình giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp. - Chuẩn hoá và công khai hoá quy trình giải quyết công việc trong các cơ quan hành chính nhà nước. Hệ thống các biểu mẫu, giấy tờ hành chính được sử dụng thống nhất; - Xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống công sở của các Bộ, cơ quan ngang bộ , cơ quan thuộc chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp. Đề án 169, được chia làm 7 Tiểu đề án trong đó có Tiểu đề án 3 "Thí điểm và triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước". Mục tiêu của tiêu đề án là xây dựng một quy trình xử lý công việc trong các cơ quan hành chính nhà nước một cách khoa học, hợp lý, tạo điều kiện để người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước kiểm soát được quá trình giải quyết công việc trong nội bộ của cơ quan, thông qua đó từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý và cung cấp dịch vụ hành chính. Nội dung công việc của Tiểu đề án bao gồm: - Khảo sát tình hình xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trong những năm gần đây.
  6. - Lựa chọn một số cơ quan để làm thí điểm và cấp chứng chỉ khi đạt yêu cầu - Tiến hành tổng kết, đánh giá, xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm mở rộng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng; tổ chức áp dụng và cấp chứng chỉ cho các cơ quan đạt tiêu chuẩn hệ thống quản lý chất lượng trong quản lý hành chính. Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì thực hiện Tiểu đề án, Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội vụ phối hợp thực hiện. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9000 là cách thức thực hiện một trong các mục tiêu của Đề án. Những nguyên tắc quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9000 sẽ giúp các cơ quan hành chính chuẩn hoá các hoạt động của mình, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ.Việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đã được chứng minh là rất thành công ở một số nước như Malaysia, Singapore. Nguyên Thủ tướng Chính phủ Malaysia - Dr. Mahathir Mohamad đã nói: " Giờ đây Chất lượng đã trở thành mục tiêu được tìm kiếm nhiều nhất. Nếu như hàng hoá sản xuất ra phải đạt được một tiêu chuẩn chất lượng nào đó thì chắc chắn trong dịch vụ, kể cả dịch vụ hành chính nhà nước cũng phải đạt được một mức chất lượng nhất định. ISO9000 không nên chỉ dành cho các nhà máy thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Các cơ quan hành chính nhà nước cũng phải thực sự cố gắng để có được những phần thưởng xứng đáng. Chất lượng dịch vụ của một cơ quan hành chính nhà nước không thể thấp hơn khách hàng của mình - mà phần lớn khách hàng lại thuộc về thành phần kinh tế tư nhân". Trên cơ sở các kết quả đạt được từ chương trình "Năng suất - Chất lượng trong dịch vụ hành chính" đặt ra từ những năm 1990, năm 1996, Chính phủ Malaysia quyết định tất cả các tổ chức nhà nước phải xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO9000 và chỉ định MAMPU (Cơ quan Kế hoạch hoá và Hiện đại hoá thuộc Chính phủ) giúp Chính phủ chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức thực hiện. Từ năm 1998 đến 18/6/2004, đã có tổng số 1055 đơn vị Hành chính của Malaysia được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9000. Từ những kinh nghiệm thực tiễn của các nước và việc áp dụng ISO9000 tại một số các đơn vị Hành chính Nhà nước ở Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy, ISO 9000 chắc chắn sẽ trở thành một công cụ hiệu quả hỗ trợ cho công cuộc cải cách hành ở Việt chính Nam. Các bước triển khai thực hiện ISO9000 trong quản lý hành chính: Quá trình xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9001:2000 cho các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm các bước cơ bản sau đây: a. Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng: Xác định mục đích, yêu cầu, phạm vi áp dụng, các văn bản cần xây dựng và tiến hành nghiên cứu, xây dựng hệ thống văn bản, xét duyệt và ban hành.
  7. b. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đã xây dựng: Phổ biến, hướng dẫn thực hiện, theo dõi, đánh giá nội bộ, điều chỉnh hệ thống cho phù hợp với mục đích, yêu cầu đề ra. c. Đánh giá, cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng: Bao gồm việc đánh giá, xác nhận kết quả đã đạt được so với mục đích, yêu cầu, kế hoạch đã đề ra. d. Duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng: Nội dung của bước này là cơ quan hành chính nhà nước phải có biện pháp duy trì và không ngừng cải tiến, phát huy tốt hơn hiệu quả của hệ thống quản chất lượng. lý Tình hình xây dựng và áp dụng ISO9000 trong các Cơ quan Hành chính và lợi ích thu được Theo thống kê chưa đầy đủ, đến tháng 4/2004, cả nước có 58 cơ quan hành chính đang xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9001: 2000. Trong đó 26 đơn vị đã được chứng nhận, 26 đơn vị đang xây dựng, 6 đơn vị đang áp dụng. Năm 2004, quá trình triển khai áp dụng ISO9000:2000 trên cả nước đang được đẩy mạnh. Ước đoán sẽ không dưới 100 đơn vị hành chính trong cả nước sẽ được chứng nhận theo tiêu chuẩn này. Qua việc khảo sát những đơn vị áp dụng tiêu chuẩn ISO9000 có thể thấy được ISO9000 đã đem lại cho những đơn vị này những lợi ích cơ bản sau đây: - Chuẩn hoá các quy trình hành chính, đảm bảo các hồ sơ được giải quyết đúng trình tự, đúng thời gian theo các thủ tục đã ban hành. - Nâng cao tinh thần trách nhiệm của chuyên viên, nắm vững được các quy định pháp luật hiện hành và các quy định theo các thủ tục hướng dẫn công việc được soạn thảo và ban hành. - Giúp các cấp lãnh đạo giải quyết công việc nhanh hơn, các bộ phận gắn bó với nhau hơn về trách nhiệm trong xử lý công việc. Trách nhiệm của mỗi công chức ở mỗi công đoạn được xác định rõ ràng. - Tạo ra được những cam kết về chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng. Các quy trình được thực hiện có hệ thống đồng bộ và ổn định. - Cùng với các ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, ứng dụng ISO9000 tạo cho cán bộ công chức một phong cách làm việc mới, vừa nâng cao tốc độ và độ chính xác khi giải quyết công việc, vừa tuân theo từng quy trình được xác định và phân công với độ lịch sự, nhiệm. rõ ràng thái văn minh, có trách Phương hướng triển khai thực hiện ISO9000 cho các Cơ quan Hành chính
  8. Việc áp dụng ISO9000 đã đem lại những lợi ích thiết thực trong các Cơ quan Hành chính Nhà nước, bước đầu thực hiện đã đem lại những kết quả đáng kể. Mặc dù vậy trong quá trình thực hiện, các đơn vị áp dụng cũng gặp một số khó khăn và tồn tại nhất định. Đặc biệt là việc nhận thức và quyết tâm thực hiện của mọi người, việc sẵn sàng tiếp nhận những thay đổi trong tổ chức của mình. Trong thời gian tới, Ban điều hành Tiểu đề án 3 tập trung vào một số công việc cụ thể như sau: - Đánh giá thực trạng các đơn vị đã áp dụng và thực trạng của các cơ quan hành chính để xây dựng những kế hoạch cụ thể. - Đề xuất nhân rộng việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng một cách đồng bộ từ trung ương đến địa phương và các sở ngành để có thể quản lý công việc một cách xuyên suốt, tránh sự ách tắc hoặc chồng chéo. - Xây dựng bộ tài liệu, giáo trình thống nhất về hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9000 cho các cơ quan hành chính. Tổ chức tập huấn, đào tạo và nâng cao nhận thức của mọi người trong việc áp dụng tiêu chuẩn. - Đề xuất quy chế xây dựng, áp dụng và đánh giá chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng của các Cơ quan Hành chính Nhà nước, bao gồm quy định về các đối tượng áp dụng, hoạt động tư vấn, hoạt động chứng nhận. - Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin kết hợp với hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO9000 nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Tin tưởng rằng việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước sẽ có đóng góp tích cực vào công cuộc cải cách hành chính của chính phủ, nâng cao chất lượng phục vụ và tạo ra một phong cách làm việc khoa học, hiệu quả hơn trong các cơ quan hành chính nhà nước. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 cho các ngân hàng Việt Nam Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có một suy nghĩ sai lầm rằng: ISO 9000 là chuyện của các doanh nghiệp hiện đại, có vốn lớn, đặc biệt các ngân hàng (tổ chức tín dụng) của Việt Nam càng ít quan tâm. Thật ra bộ ISO 9000 đã từng được áp dụng cho các tổ chức dịch vụ chỉ có mươi người và được cấp chứng nhận bởi một tổ chức có uy tín hàng đầu thế giới. Các doanh nghiệp Việt Nam đến nay đã dần dần nhận thức được rằng: ISO 9000 là một trong các tiêu chuẩn thương mại quan trọng và như một chứng chỉ để tham gia vào thị trường quốc tế và đặc biệt quản lý hướng vào khách hàng, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng từ đó nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Tuy nhiên, hiện nay ở phần lớn các ngân hàng trong nước, các nhà quản lý điều hành vẫn nghĩ rằng không cần thiết, vì đây là loại hình dịch vụ, các lợi thế trong kinh doanh mà nhà nước ưu tiên vẫn còn. Nhưng đến
  9. một lúc nào đó ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam sẽ dần bình đẳng phải cạnh tranh lẫn nhau, nhất là cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài. Các ngân hàng không có được chứng nhận ISO sức cạnh tranh kém sẽ chịu nhiều thua thiệt. Thực tiễn cấp bách đòi hỏi cần phải có mục tiêu và chiến lược phù hợp và hoàn chỉnh cho ngân hàng trong bối cảnh kinh tế mới, các ngân hàng phải dần hoàn thiện khả năng thích ứng với môi trường mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Vậy ISO 9000: 2000 là gì? Hệ thống quan lý chất lượng đầu tiên ra đời vào năm 1995 do Uỷ ban đảm bảo chất lượng của Hiệp ước Bắc Đại Tây dương – NaTo ( AC/250) cho dự án Apollo của NaSa chế tạo máy bay Concorde của Anh – Pháp, tàu vượt Đại Tây dương của Nữ hoàng Anh Elizabeth II và của Mỹ … sau 07 lần chỉnh sửa bổ sung, bộ ISO 9000: 2000 ra đời ngày 15/12/2000 gồm 24 bộ tiêu chuẩn. Bộ ISO 9000 chỉ nêu ra những hướng dẫn để xây dựng một hệ thống 08 nguyên tắc quản lý chất lượng ( QMS) và 21 điều khoản của mỗi tổ chức tuỳ thuộc vào tầm nhìn, văn hoá, cách quản lý tạo sản phẩm hay dịch vụ có chất lượng phù hợp, thoả mãn với nhu cầu của khách hàng ( bên thứ hai, thứ ba và cả bên thứ nhất) . Ngoài ra để tạo hệ thống mua bán tin cậy, trong thương mại thế giới các cơ quan đánh giá chất lượng có uy tín trên thế giới ( bên thứ 3) sẽ đánh giá và cấp giấy chứng nhận phù hợp với ISO và các hệ thống quản lý khác cho tổ chức. Đây là chứng thư chất lượng “Một người chứng nhận đề nhiều người thừa nhận”. Áp dụng cho ngân hàng có lợi ích gì? Lợi ích được thể hiện qua các nội dung sau: 1. Lợi ích bên trong ngân hàng: Khi áp dụng mô hình quản lý theo các yêu cầu ISO 9001 ngân hàng có thể thực hiện các yêu cầu về chất lượng dịch vụ một cách hiệu quả và tiết kiệm, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Và nhờ có hệ thống hồ sơ tài liệu chất lượng, ngân hàng có thể đưa ra các biện pháp làm việc đúng ngay từ đầu, có thể xác định đúng nhiệm vụ và chỉ ra cách thức thực hiện để đạt được kết quả đã định; Hệ thống hồ sơ có thể làm tài liệu để đào tạo huấn luyện nhân viên trong nội bộ mình và các bộ phận biết, để trao đổi, học được kinh nghiệm của nhau. 2. Lợi ích đối với ngân hàng: Trong giao dịch thương mại dịch vụ gần đây, đa số khách hàng lựa chọn dịch vụ hàng hoá có chất lượng, tức nhanh chóng thuận tiện, chính xác và hiện đại mà các yêu cầu này đã được thiết lập và kiểm soát khi áp dụng QMS; trong nhiều trường hợp đứng trước nhiều NH, khách hàng sẽ chỉ lựa chọn ngân hàng nào có chất lượng cao. 3. Lợi ích cho phía khách hàng: Khách hàng của ngân hàng sẽ nhận được dịch vụ có chất lượng cao, có thể tin tưởng ở hệ thống đảm bảo chất lượng của ngân hàng đã được chứng nhận ISO; khách hàng có thể chọn giữa các ngân hàng cung cấp đang cạnh tranh với nhau, tạo lợi thế cho mình trong đàm phán; khách hàng có thể giảm chi phí cần thiết để đánh giá, tìm hiểu ngân hàng vì đã có một tổ chức thứ ba xem xét chứng nhận. 4. Lợi ích đối với ngân hàng: Đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngân hàng hiểu rõ hơn vai trò nhiệm vụ của mình nhờ vào hệ thống qui trình, thủ tục mà trong đó các nội dung công việc đã được được hướng dẫn rõ ràng, cụ thể, công khai; nhân viên mới có thể hiểu được công việc và cách làm việc ngay bởi vì mọi chỉ dẫn chi tiết công việc đã được ghi thành văn bản.
  10. Với hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam như hiện nay, từ các qui định của Chính phủ, luật Ngân hàng và các qui trình nghiệp vụ của từng ngân hàng thì việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 là không khó và ít chi phí, người quản lý của từng bộ phận nghiệp vụ và nhất là người lãnh đạo cao nhất sẽ nắm và quản lý hết được mọi công việc thông qua phân công nhiệm vụ và sổ tay kiểm soát chất lượng. Trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người trong hệ thống được qui định rõ ràng và nâng cao hơn. Đặc biệt mọi công việc sẽ được làm đúng ngay từ đầu, rủi ro được hạn chế trong từng giai đoạn của công việc, các bộ phận sẽ giám sát, học hỏi lẫn nhau. Ví dụ đối với “ nghiệp vụ cho vay” gồm 4 phần tương ứng với 4 giai đoạn của quá trình cho vay gồm: (i) qui trình xét duyệt cho vay; (ii) qui trình phát tiền vay; (iii) qui trình kiểm tra sử dụng vốn; (iv) qui trình thu hồi nợ vay. Khi áp dụng ISO chúng ta biết lập “ Lưu đồ ”cho mỗi qui trình để kiểm tra ghi nhận trách nhiệm cụ thể, các bước, thời gian thực hiện của các thành viên tham gia qui trình cho vay. Đối với các nghiệp vụ khác như thanh toán, kho qũy, lưu trữ… chúng ta đều có thể thiết lập lưu đồ kiểm soát quy trình một cách dễ dàng. Hoạt động ngân hàng không thể tránh được rủi ro nhưng hệ số an toàn tín dụng của Việt Nam còn cao so với thế giới và hệ số sai sót vào khoảng 2 xíchma – 1/100 nếu thống kê đầy đủ. Để nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh của từng ngân hàng và của cả hệ thống, tiến tới hệ số sai sót trong công việc còn 3 xíchma – 1/1000, lúc đó rủi ro sẽ giảm, sức cạnh tranh tăng và hoạt động ngân hàng chắc chắn sẽ hiệu quả hơn. Đây cũng là một trong những giải pháp hạn chế rủi ro, tái cơ cấu nhân sự và tài chính trong quá trình hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế, vậy các nhà quản lý cần quan tâm xem xét lợi ích của việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng cho ngân hàng của mình để hoạt động hiệu quả hơn. Áp dụng ISO 9000 tại Việt Nam: Nhìn lại mười năm Sau 10 năm, Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 đã mang lại lợi ích gì cho sự phát triển nền kinh tế Việt Nam và cần phải làm tiếp những gì để ISO 9000 tạo ra bước đột phá trong cạnh tranh khi Việt Nam tham gia WTO? Năm 1995, Tập đoàn APAVE (Pháp) là đơn vị tiên phong đưa các giải pháp quản lý (chất lượng, môi trường, thử nghiệm không phá hủy, tư vấn giám định độc lập...) vào Việt Nam, trong đó có ISO 9000. Quả thật, ISO 9000 đã góp phần không nhỏ làm thay đổi sự lãnh đạo và quản lý các doanh nghiệp, thay đổi tư duy quản lý, kinh doanh của nhiều chủ doanh nghiệp, họ đã có tầm nhìn chiến lược trong kinh doanh, làm ăn có bài bản, không theo kiểu trước mắt. Có thể đưa ra vài sự kiện cụ thể. Thay đổi tư duy quản lý và kinh doanh Đến năm 2002, các thành viên chủ lực của Tổng công ty dệt may Việt Nam đã đưa ISO 9000 vào đời sống kinh doanh và sản xuất. Nếu không có sự áp dụng này, ngành dệt may Việt Nam không tạo được niềm tin với bạn hàng quốc tế rằng chất lượng là một tố chất chính của chiến lược kinh doanh của ngành dệt may Việt Nam.
  11. Một thành công đáng ghi nhận nhất là các tổng công ty xây dựng - xây lắp (công nghiệp và dân dụng) như Lilama, Vinaincon, Coma, Vinaconex, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Tàu biển Việt Nam... đã áp dụng ISO 9000 ngay từ năm 1997. Đến nay các tổng công ty này đã thực sự đóng vai trò tổng thầu (EPC) cho một số dự án tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Trong lĩnh vực thủy sản, nông sản, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, chế biến để xuất khẩu thủy sản đã thực hiện từ khâu sản phẩm phải có chất lượng ổn định (áp dụng ISO 9000) và phù hợp với chuẩn mực vệ sinh ATTP (HACCP) và đã thành công vượt qua những rào chắn kỹ thuật của những thị trường khó tính nhất như Mỹ, Nhật, EU. Trong 10 năm qua, nhờ áp dụng ISO 9000, chất lượng dịch vụ của các tổng công ty dịch vụ (bưu chính viễn thông, hàng không, du lịch...) và các ngân hàng thương mại lớn đã tăng lên rất đáng kể. Ngay từ năm 1995, Tổng công ty Dầu khí đã đưa ISO 9000 đến các công ty thành viên, kể cả những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu như Viện NIPI. Trên diện vĩ mô, sau 10 năm, trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, xây dựng, thủy sản, nông nghiệp, bưu chính viễn thông, ngân hàng, du lịch, tàu biển... đã có một bước tiến rõ nét về chất lượng thông qua việc áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO 9000 và các ngành này đã lần lượt đưa chất lượng là một trong những yếu tố chính trong chiến lược phát triển và kinh doanh của mình. Không phải là hình thức TS. Nguyễn Công Phú, Tổng giám đốc APAVE Việt Nam và Đông Nam Á, đưa ra ba hệ quả của ISO 9000: hệ thống quản lý chất lượng sẽ làm giá thành giảm, tăng sức cạnh tranh, quản lý chất lượng được duy trì, cải tiến liên tục sẽ tạo niềm tin đối với thị trường, hệ thống quản lý chất lượng độc đáo tạo dựng thương hiệu là niềm hãnh diện của nhân viên - động lực quan trọng cho doanh nghiệp huy động được tổng lực từ con người. Tuy nhiên, mặc dù một số công ty đã thiết lập một hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 trong ngành bưu chính, dầu khí, xây dựng nhưng vẫn xảy ra chuyện thất thoát, lãng phí, tham nhũng làm tổn thương đến uy tín của ngành và giảm lòng tin của người tiêu dùng. Ông Phú cho rằng, trong số khoảng 2.000 doanh nghiệp đang áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO 9000 ở Việt Nam (trên tổng số hơn 200.000 doanh nghiệp đang hoạt động), có không ít doanh nghiệp làm theo kiểu phong trào. Người ta có ISO thì mình cũng cần phải có, để phục vụ cho mục đích quảng cáo. Những doanh nghiệp này không áp dụng ISO 9000 một cách thực chất nên đã để xảy ra những sự cố đáng tiếc. Một ví dụ, nếu doanh nghiệp thật sự đưa bộ tiêu chuẩn ISO 9000 vào đời sống của doanh nghiệp, chứ không phải vì những lý do hình thức chủ nghĩa và tiêu chuẩn của ISO 9000 luôn được duy trì, cải tiến định kỳ thì chuyện "rút ruột thép" ở công trình chung cư tại Hà Nội vừa rồi khó có thể làm được; chuyện nghẽn mạch mạng di động trong dịp Tết vừa qua có thể đã không xảy ra. Vì sao có tình trạng như vậy? Ông Phú lý giải: một doanh nghiệp thực sự đưa bộ tiêu chuẩn ISO 9000 vào đời sống của doanh nghiệp mình có nghĩa là họ đã có một thể chế lãnh đạo, điều hành và quản lý doanh nghiệp theo 3 tiêu chuẩn chính sau: - Các mối quan hệ về trách nhiệm, quyền hạn, hàng dọc -hàng ngang đã được làm rõ cho các chức năng lãnh đạo, điều hành và quản lý. - Sự phân quyền và ủy quyền đi đôi với một sách lược giám sát đồng bộ.
  12. - Quy định rõ: người nào việc nấy, giờ nào việc nấy, linh hoạt có quy củ. Sự lãnh đạo, điều hành, quản lý có hiệu qủa thông qua việc áp dụng bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000 có được nhờ những biện chứng cơ bản sau: - Mọi quá trình hoạt động của doanh nghiệp được sắp xếp để có thể có được những dự đoán chính xác giữa đầu vào và đầu ra. Có nghĩa là: nếu muốn được kết qủa "đầu ra" này thì nguồn lực "đầu vào" tương ứng phải như thế nào? - Các quá trình phải được sắp xếp thành một hệ thống logic được ấn định trước. - Vì có tính hệ thống, tính logic nên những bất cập trong hoạt động dễ được nhận dạng, sửa sai, cải tiến. Nhờ những biện chứng này, ba chức năng lãnh đạo, điều hành, quản lý doanh nghiệp được thực hiện một cách tập trung, đúng đắn và hiệu quả. Như thế, bộ tiêu chuẩn ISO 9000 càng phát huy được hiệu qủa nếu ban lãnh đạo của doanh nghiệp có được quyền hạn, trách nhiệm lớn trong việc ấn định, quyết định những chiến lược, sách lược vĩ mô cho doanh nghiệp mình. Tiêu chuẩn ISO trước ngưỡng cửa WTO Theo TS. Nguyễn Công Phú, thời gian tới, khi Việt Nam gia nhập WTO, việc áp dụng bộ tiêu chuẩn ISO sẽ tạo ra những hiệu qủa cho phát triển và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với kinh tế toàn cầu. Cụ thể là, bộ tiêu chuẩn ISO 9000 sẽ tạo ra hiệu qủa kinh tế lớn, có tính đột phá, tạo ra cấp số nhân về phát triền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới nếu nó được áp dụng rộng rãi, thực chất cho cộng đồng các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, hiện khối doanh nghiệp này chưa tiếp cận được với ISO 9000. Hiện nay, ngay tại các nước công nghiệp tiên tiến, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 2/3 tỷ trọng trong nền kinh tế, nhiều tập đoàn đa quốc gia nếu không có những vệ tinh là những doanh nghiệp vừa và nhỏ trên toàn thế giới thì sẽ không thể phát triển được. Ở Việt Nam có đến 200.000 doanh nghiệp, ít nhất 2/3 là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nếu khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn hiệu qủa thì nền kinh tế sẽ phát triển rất nhanh, tạo ra hàng núi công ăn việc làm, tạo ra bước phát triển đột phá để Việt Nam nhanh chóng đuổi kịp các nước trong khu vực. Việt Nam cần kết hợp các tri thức về quản trị khác để nâng cao hiệu qủa áp dụng của bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000, đặc biệt đưa những thành tựu công nghệ thông tin vào áp dụng theo một lộ trình rõ ràng, tùy vào nguồn lực của từng doanh nghiệp. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có tư duy phát triển từ doanh nghiệp nhỏ (doanh nghiệp gia đình có từ 3-4 người), sau 5 năm thành doanh nghiệp vừa (100 lao động) và sau 5 năm nữa sẽ trở thành doanh nghiệp lớn (1.000 lao động). Đưa ISO 9000 vào khối doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là một tác nhân rất quan trọng để nhanh chóng phát triển từ doanh nghiệp nhỏ thành vừa và thành doanh nghiệp lớn. Bởi ISO 9000 có ưu điểm rất lớn là có thể áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, từ doanh nghiệp quy mô gia đình chỉ có 3-4 lao động đến doanh nghiệp Nhà nước hay các tập đoàn xuyên quốc gia có hàng vạn lao động. Cuối cùng, TS. Nguyễn Công Phú đưa ra một bằng chứng là APAVE Việt Nam và Đông Nam Á đang làm ISO 9000 cho Công ty tư nhân Tân Thiên ở Hà Nội. Công ty này chỉ có 3 người, chuyên kinh doanh thương mại mua và bán hàng. Ông khẳng định rằng, với đội ngũ chuyên viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, APAVE Việt Nam và Đông Nam Á có thể giúp các doanh nghiệp vừa và
  13. nhỏ ở Việt Nam đạt được ISO 9000 chỉ trong vòng từ 5-9 tháng và sẽ thấy hiệu qủa kinh tế ngay sau 1-2 năm áp dụng thực sự. dụng Hệ thống quản chất lượng Áp lý theo TCVN ISO 9001: 2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước PTO­ Theo Quyết định số 144­ 2006/QĐ­TTg ngày 20­6­ 2006 của Thủ tướng Chính phủ, đối với  các cơ quan hành chính nhà nước, mục tiêu của việc áp dụng  hệ thống quản lý  chất lượng theo TCVN ISO 9001:2000 (dưới  đây gọi chung là hệ thống quản lý   chất lượng­ HTQLCL) được tiến hành thông qua việc xây dựng và thực hiện hệ thống quy trình xử   lý công việc hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện để người đứng đầu cơ   quan hành chính nhà  nước kiểm soát  được quá  trình giải quyết công việc trong nội bộ  của cơ   quan, thông qua đó từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý và cung cấp   dịch   vụ   công.   Việc   áp   dụng   HTQLCL   được   thực   hiện   theo   4   bước   cơ   bản   như   sau: Bước 1. Xây dựng HTQLCL: Căn cứ tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 và văn bản hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ,  cơ quan hành chính nhà  nước xây dựng hệ thống văn bản, tài liệu, các quy trình xử lý  công việc   hợp   lý   để   thực   hiện   chức   năng,   nhiệm   vụ   được   giao.   Bước 2. Thực hiện HTQLCL đã xây dựng:  Sau khi hoàn chỉnh hệ thống văn bản tài liệu, quy trình theo quy định tại bước 1 và được lãnh đạo  cơ quan phê duyệt, hệ thống văn bản và quy trình có hiệu lực áp dụng chung trong hoạt động của   cơ quan. Hệ thống văn bản, quy trình này được rà soát, bổ sung thường xuyên qua thực tế áp dụng và kết   quả đánh giá nội bộ cho phù hợp với tình hình hoạt động thực tiễn của cơ quan. Bước 3. Đánh giá, cấp giấy chứng nhận HTQLCL: a) Sau khi áp dụng có hiệu quả hệ thống văn bản được ban hành, lãnh đạo cơ quan đề nghị một  tổ  chức chứng nhận thực hiện việc  đánh giá  và  xác nhận mức  độ  phù  hợp của HTQLCL so với   tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000. Hoạt  động  đánh giá  và  các  điều kiện hoạt  động của tổ  chức   chứng nhận  thực hiện việc đánh giá HTQLCL của cơ quan hành chính. b) Sau khi hoàn thành việc đánh giá, tổ chức chứng nhận cần gửi hồ sơ đánh giá về cơ quan cấp   giấy chứng nhận để được xem xét và cấp giấy chứng nhận HTQLCL. Bước 4. Duy trì, cải tiến HTQLCL: Việc duy trì  và  cải tiến HTQLCL là  hoạt  động thường xuyên của cơ  quan hành chính sau khi  đã  xây dựng, thực hiện và   được cấp giấy chứng nhận về  HTQLCL. Hoạt  động này nhằm  đảm bảo   HTQLCL luôn  được soát xét, bổ  sung, sửa  đổi và  cải tiến phù  hợp với tiến trình cải cách hành   chính. Hướng tới mục tiêu tạo  điều kiện  để  người  đứng  đầu cơ  quan hành chính nhà  nước kiểm soát  được quá trình giải quyết công việc trong nội bộ của cơ quan, thông qua đó từng bước nâng cao   chất lượng và  hiệu quả  của công tác quản lý  và  cung cấp dịch vụ  công, tại Phú  Thọ, Sở  Khoa   học­ công nghệ đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng và ban hành các văn bản, gồm: Kế hoạch   triển khai xây dựng và   áp dụng HTQLCL tại các cơ  quan hành chính nhà  nước của tỉnh, Quyết   định thành lập Ban chỉ   đạo của tỉnh, Quyết  định thành lập tổ  công tác liên ngành giúp việc Ban  chỉ   đạo và  chuẩn bị hệ thống cơ  sở  dữ liệu, tài liệu phục vụ  việc triển khai nhiệm vụ   được giao.  Năm 2007, tỉnh chỉ đạo Sở Công nghiệp (nay là Sở Công thương) xây dựng và áp dụng HTQLCL 
  14. và đã được cơ quan có thẩm quyền đánh giá, chứng nhận. Việc này đã tạo điều kiện để Sở Công   thương thực hiện cải cách hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý và cung  cấp dịch vụ công.  Từ kết quả và kinh nghiệm của Sở Công thương, năm 2008, UBND tỉnh có quyết định về việc áp   dụng HTQLCL tại 10 cơ quan,  đơn vị, gồm : Văn phòng UBND tỉnh, Thanh tra tỉnh, Sở Tư pháp,  Sở  Tài chính, Sở  Kế  hoạch và   Đầu tư, Sở  Xây dựng, Sở  Giao thông vận tải, Sở  Nông nghiệp và   PTNT, Sở  Tài nguyên và  Môi trường, Báo Phú  Thọ.  Đến thời  điểm này, theo sự  chỉ   đạo của   UBND tỉnh, Sở Khoa học và công nghệ cùng với các cơ quan tư vấn đã giúp các cơ quan, đơn vị  tổ chức đào tạo, nâng cao nhận thức về HTQLCL cho CBCNV và đã xây dựng hệ thống văn bản,   tài liệu, các quy trình xử lý công việc hợp lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Một số  cơ quan, đơn vị đã áp dụng thử quy trình để có những điều chỉnh cần thiết cho phù hợp trước khi   chính thức ban hành. Sau khi ban hành, hệ thống văn bản và quy trình có hiệu lực áp dụng chung   trong hoạt  động của cơ  quan và  sẽ   được cơ  quan thẩm quyền  đánh giá, câp giấy chứng nhận   HTQLCL. Theo đề xuất của cơ quan tham mưu, đến năm 2010 tỉnh ta phấn đấu hoàn thành việc xây dựng,   áp dụng HTQLCL vào hoạt động ở tất cả 38 cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc UBND tỉnh   và cơ quan UBND các huyện, thành, thị;  đồng thời khuyến khích áp dụng thí  điểm  đối với UBND   các xã, phường, thị  trấn  ở  thành phố  Việt Trì  và  7 huyện kinh tế  trọng  điểm của tỉnh; 5 chi cục  thuộc các sở có chức năng quản lý nhà nước và 4 đơn vị sự nghiệp công ích. Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO Trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị, tổ chức doanh nghiệp... phải tăng cường áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là những công nghệ quản lý tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh. Trong xu thế phát triển chung đó, việc đổi mới phương thức tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước đang là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Thực hiện chủ trương này, cách đây hơn tám năm, nhiều cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp đã xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO. Và đến nay, chỉ tính riêng quản lý chất lượng theo ISO 9000 cả nước đã có gần 200 cơ quan hành chính thuộc 40 tỉnh, thành phố xây dựng và áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) này. Số lượng các cơ quan hành chính đang xây dựng HTQLCL và dự kiến hoàn thành trong năm 2007 là 478 cơ quan. Hầu hết các cơ quan hành chính xây dựng HTQLCL kết hợp đồng thời áp dụng công nghệ thông tin tiên tiến, thực hiện cơ chế cải cách thủ tục hành chính "một cửa", tạo hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian, nâng cao chất lượng giải quyết công việc. Ở tỉnh Ðồng Nai, có nhiều doanh nghiệp, tổ chức đã xây dựng và áp dụng các Hệ thống quản lý tiên tiến, có những đơn vị tích hợp nhiều hệ thống quản lý tiên tiến như: ISO 9000, ISO 14000, HACCD. Trong lĩnh vực ISO hành chính công, hiện có bảy cơ quan nhà nước đã và đang xây dựng áp dụng một phần hoặc toàn bộ các nội dung công việc có liên quan giải quyết giấy tờ, thủ tục cho
  15. người dân theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000. TP Hà Nội xác định việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2000 trong lĩnh vực hành chính công là nhiệm vụ trọng tâm trong cải cách hành chính và đang được triển khai mạnh. Thành phố bắt đầu áp dụng ISO 9001: 2000 từ tháng 5-2005, đến nay đã có 25 đơn vị áp dụng ở giai đoạn 1 và 12 đơn vị bước đầu áp dụng giai đoạn 2. TP Hải Phòng, bắt đầu từ Trường đại học Hàng hải mạnh dạn áp dụng ISO 9000, đến nay thành phố đã có hàng chục đơn vị triển khai thành công. Liên quan việc áp dụng HTQLCL ISO là việc ra đời các cơ quan có đầy đủ thẩm quyền đánh giá hệ thống quản lý chất lượng. Cho đến nay, Tổng cục Tiêu chuẩn Ðo lường Chất lượng (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã cấp giấy xác nhận đủ điều kiện thực hiện đánh giá hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 trong cơ quan hành chính Nhà nước cho năm đơn vị. Nhìn chung, các đơn vị này đều bảo đảm được năng lực trình độ, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của hoạt động đánh giá quản lý chất lượng đề ra. Trong đó, Công ty cổ phần chứng nhận VINACERT, được các tổ chức, doanh nghiệp đánh giá cao. Ðơn vị này đã liên danh với ABS QE - một trong 10 tổ chức chứng nhận hàng đầu châu Mỹ, đã hoạt động tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Liên danh ABS QE-VINACERT cung cấp cho các doanh nghiệp những dịch vụ chứng nhận có giá trị toàn cầu như: Hệ thống quản lý (HTQL) chất lượng ISO 9000; HTQL an toàn thực phẩm HACCP/ISO 2200:2005; HTQL chất lượng môi trường ISO 14000: 2004; HTQL an toàn sức khỏe OSHAS 18000... Chứng nhận chất lượng do ABS QE - VINACERT cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường quốc tế dễ dàng hơn, nhất là những thị trường khó tính. Dù việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO ở nước ta đang trong quá trình phát triển, còn nhiều đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tiếp tục triển khai, áp dụng, song ở các đơn vị áp dụng quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO đều có chung nhận xét: Lợi ích khi áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO là đã thực hiện những cam kết của chính quyền đối với các tổ chức, công dân trong dịch vụ hành chính công. Nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ và uy tín của đội ngũ cán bộ, công chức, tổ chức thuộc UBND quận về cung cấp sản phẩm dịch vụ hành chính công cho các tổ chức, công dân; Xây dựng phương pháp làm việc khoa học, đúng trách nhiệm và quyền hạn của đơn vị từ người lãnh đạo đến từng cán bộ công chức. Ðánh giá đúng năng lực, phẩm chất của cán bộ, công chức; Phát huy trí tuệ, tạo môi trường làm việc tập thể nâng cao chất lượng, hiệu quả từng công việc và rút ngắn, đơn giản hơn các quy trình, bảo đảm đúng thẩm quyền, pháp luật; Là tiền đề cho việc thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện cơ chế "một cửa" trong chỉ đạo, quản lý, điều hành việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở địa phương. Từng bước đáp ứng những yêu cầu cơ bản của toàn tổ chức, từng cán bộ - công chức trong thời kỳ CNH, HÐH đất nước. (Bộ công thương) ISO 14000 - "giấy thông hành xanh" cho DN tham gia thị trường thế giới
  16. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc xây dựng tiêu chuẩn ISO 14000 nhằm quản lý môi trường (QLMT) theo hệ thống đang được nhiều DN quan tâm, nhất là những DN tham gia xuất khẩu. Trong những năm gần đây, cả thế giới đang phải chứng kiến và chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của sự suy thoái môi trường. Hiện tượng suy giảm tầng ozone, sự tăng dần nhiệt độ của trái đất và tần suất thiên tai, mưa, bão ngày càng tăng, gây thiệt hại về người và của với con số ngày càng lớn. Một trong những nguyên nhân gây tác động lớn đến môi trường là sự ô nhiễm từ các nhà máy, các chất thải công nghiệp. Vì thế, việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường (BVMT) và chống ô nhiễm đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới. Ở nhiều quốc gia, vấn đề BVMT đã trở thành yêu cầu bắt buộc. Có nhiều quốc gia yêu cầu sản phẩm khi nhập khẩu vào nước họ phải có nhãn xanh (nhãn môi trường). Tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển do Liên Hiệp quốc tổ chức tại Rio De Janeiro tháng 6.1992, người ta đã thấy cần phải có một tiêu chuẩn quốc tế về QLMT. Đến tháng 9.1996 bộ tiêu chuẩn ISO 14000 về Hệ thống quản lý môi trường chính thức được ban hành. Đây là một đóng góp tích cực cho mục tiêu ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và bãi bỏ hàng rào thuế quan trong thương mại. Việc thực hiện một hệ thống QLMT phù hợp với tiêu chuẩn ISO 14000 sẽ giúp cho DN thu được những lợi ích như: giảm thiểu chất thải trong sản xuất; sử dụng tiết kiệm và quản lý có hiệu quả nguồn tài nguyên; hạn chế rủi ro, tiết kiệm chi phí thanh tra; rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục cấp giấy phép; góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế; giúp DN tiêu thụ sản phẩm một cách rộng rãi mà không gặp bất kỳ trở ngại nào về môi trường (nhất là trên thị trường thế giới). ISO 14000 được ví như là "giấy thông hành xanh" khi DN tham gia thị trường thế giới. Thời gian qua, các DN Việt Nam đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của ISO 14000 và vấn đề BVMT. Một số DN đã áp dụng thành công và được cấp chứng chỉ phù hợp ISO 14000. Tuy nhiên, con số này vẫn còn rất khiêm tốn. Hầu hết các DN tuy ít nhiều quan tâm đến môi trường nhưng chưa thực hiện quản lý theo hệ thống; trình độ quản lý, công nghệ chưa cao; kiến thức về QLMT của DN còn hạn chế; kinh phí cho việc triển khai áp dụng còn khá cao. Ở tỉnh Bình Định, cũng chỉ mới có Công ty cổ phần Đường Bình Định được cấp chứng nhận ISO 14000. Đây cũng là một trở ngại lớn cho quá trình hội nhập khi nhiều DN trong tỉnh chưa quan tâm hoặc chưa có điều kiện thực hiện hệ thống QLMT theo tiêu chuẩn ISO 14000 Việc áp dụng ISO 9000 và ISO14000 trong ngành sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng ở Việt Nam Tại Việt Nam, do sự phát triển mạnh mẽ của công cuộc đô thị hóa và công nghiệp hóa, do phải cạnh tranh trong đấu thầu với các công ty sản xuất vật liệu xây dựng cũng như đấu thầu cung cấp vật liệu cho các công ty xây dựng nước ngoài, hoạt động
  17. áp dụng và chứng nhận ISO 9000, ISO 14000 trong ngành sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng diễn ra khá sớm và chiếm một tỷ lệ khá cao so với các ngành hàng, sản phẩm khác. Ngoài ra, các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng còn là những đơn vị rất chú trọng đến chứng nhận sản phẩm hợp chuẩn theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN, nước ngoài (ASTM, JIS, BS, GOST...) và ISO. Với ISO 14000, các đơn vị được chứng nhận trong ngành sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng chủ yếu là các công ty Xi măng, chiếm khoảng 21% trong tổng số các doanh nghiệp được QUACERT chứng nhận cho tiêu chuẩn này. Với ISO 9000, số doanh nghiệp được chứng nhận trong ngành sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng chiếm khoảng 23% trong tổng số gần 1000 doanh nghiệp đã được QUACERT chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn này, tập trung chủ yếu vào các công ty sản xuất xi măng, thép, gạch ngói, bê tông,... Trong số những doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất vật liệu xây dựng được chứng nhận, không ít doanh nghiệp đã áp dụng tích hợp và được chứng nhận nhiều hệ thống quản lý đồng thời với chứng nhận các sản phẩm mang nhãn hiệu thương mại khác nhau. Chẳng hạn, Công ty TNHH LUSK Xi măng Thừa Thiên Huế đã được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn ISO 9000, ISO 14000, ISO 18000 (tiêu chuẩn Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp) và 7 tiêu chuẩn sản phẩm (TCVN và ASTM). Khá nhiều công ty khác như Công ty Xi măng Hoàng Thạch, Công ty Xi măng CHINFON Hải Phòng, Công ty Xi măng Hà Tiên 2 - Cần Thơ, Công ty Xi măng Hoàng Mai, Công ty Xi măng Sài Sơn,... đã được chứng nhận cho cả ISO 9000, ISO 14000 và sản phẩm. Áp dụng quản lý chất lượng thực phẩm HACCP để hội nhập
  18. Vấn đề lo ngại của người tiêu dùng Hiện nay, thị trường trong nước xuất hiện nhiều loại hình kinh doanh thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa. Thế nhưng, không ít cơ sở kinh doanh thực phẩm chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) Những điểm kinh doanh thực phẩm không tuân thủ quy định về VSATTP của Nhà nước, Cục Quản lý thị trường (Bộ Thương mại) cảnh báo tình trạng sản xuất và lưu thông các loại thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng trên lãnh thổ nước ta còn diễn biến khá phức tạp, đặc biệt vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, buôn lậu nguồn phụ gia nhập khẩu để dùng vào việc sản xuất và chế biến thực phẩm vẫn xảy ra, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, quản lý của cơ quan chức năng. Nhiều cơ sở còn sử dụng hóa chất, phụ gia ngoài danh mục quy định của Nhà nước như hàn the, đường hóa học, phẩm mầu để bảo quản, chế biến thực phẩm, v.v. cũng bị pha trộn phụ gia. Nguồn thực phẩm phi mậu dịch thẩm lậu vào nước ta chủ yếu qua các cửa khẩu biên giới Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia. Hàng nhập khẩu khá phong phú về chủng loại, song nguy cơ ngộ độc bởi dùng hóa chất bảo quản ở hoa quả, thịt và các phụ phẩm gia súc, gia cầm, v.v. thường khó kiểm tra, kiểm soát. Viện Pa-xtơ Nha Trang một thời gian đã tiến hành kiểm tra chất lượng thực phẩm nhập khẩu bày bán tại các chợ, trung tâm buôn bán ở khu vực miền trung, thu thập hơn 600 mẫu thực phẩm các loại. Kết quả cho thấy: trong số 14 loại thực phẩm được kiểm tra có 21,7% không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật, 12 loại thực phẩm khác có 30,4% sử dụng phụ gia ngoài danh mục quy định của Bộ Y tế. Ngoài ra, việc kiểm dịch động vật nhập khẩu tại các cửa khẩu biên giới, sân bay còn gặp nhiều khó khăn, do chưa xây dựng khu nuôi cách ly động vật nhập khẩu. Tuy nhiên, tình trạng nhập lậu động vật, sản phẩm động vật ở khu vực biên giới nhất là biên giới Việt - Trung, biên giới Cam-pu-chia vẫn thường xuyên diễn ra, tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng. Không chỉ có vậy, thức ăn đường phố trong mấy năm gần đây phát triển nhanh với các món ăn bình dân được chế biến sẵn, mua từ nơi khác về hoặc chế biến tại chỗ, không bảo đảm vệ sinh, dễ gây ngộ độc. Cục An toàn vệ sinh thực phẩm cảnh báo, nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm là do mua thực phẩm tùy tiện, không rõ xuất xứ, sử dụng nước đá có nhiễm E.cô-li; không bảo đảm VSATTP trong quá trình chế biến thức ăn, hoặc bảo quản không an toàn trong quá trình vận chuyển. Chỉ tính từ năm 1997 đến năm 2004, nước ta xảy ra 2.237 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 43 nghìn người và có 429 người chết. Người tiêu dùng thường mắc các bệnh do ăn thực phẩm không an toàn là: thương hàn, tả, lỵ, trực trùng, a-míp và tiêu chảy. Chủ động trước yêu cầu hội nhập Trước tình trạng báo động về VSATTP ở nước ta hiện nay, cơ quan chức năng đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng thực phẩm theo tiêu chuẩn của các nước phát triển. Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng thực phẩm quốc tế tại cơ sở chế biến thực phẩm không chỉ cung cấp cho người tiêu dùng những loại thực phẩm an toàn mà còn đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu, tăng khả năng cạnh tranh mặt hàng thực phẩm của nước ta trên thị trường quốc tế. Hiện nay, trên thế giới có hai hệ thống quản lý chất lượng TQM xuất phát từ Nhật Bản và HACCP xuất xứ từ Mỹ. Song HACCP là hệ thống quản lý chất lượng đặc thù trong ngành chế biến: từ chế biến thức ăn chăn nuôi, sản xuất bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm đến các sản phẩm chế biến từ động vật. Trong khi tiêu chuẩn HACCP do CODEX hướng dẫn mới đưa vào nước ta và sản xuất thực phẩm của các cơ sở trong nước vẫn còn manh mún, chủ yếu là thủ công và bán thủ công thì đây quả là thách thức đối với doanh nghiệp. Bởi lẽ, chương trình quản lý chất lượng được coi là tiên quyết bắt buộc phải tuân thủ như GMP, SSOP chưa được phổ biến ở nước ta, cho dù đây là việc làm đương nhiên của cơ sở chế biến thực phẩm ở nước ngoài. Sở dĩ các chương trình quản lý chất lượng thực phẩm chưa được thực hiện tập trung vào nguyên nhân: hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật còn chưa được doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện. Mặt khác, nhiều doanh nghiệp chế biến thực phẩm chưa quan tâm đến lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đồng thời nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp về VSATTP còn hạn chế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp chưa được trang bị kiến thức đầy đủ về áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong khi lực lượng tư vấn trong lĩnh vực này còn mỏng và không chuyên nghiệp. Một số cơ sở tư vấn có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, dẫn đến tình trạng chất lượng tư vấn thấp, song cơ sở vẫn được cấp chứng chỉ và hậu quả là ý nghĩa của giấy chứng nhận không có tác dụng nâng cao chất lượng thực phẩm chế biến. Một thực trạng nữa đang diễn ra là tổ chức chứng nhận chất lượng
  19. Xây dựng Hệ thống Quản lý Chất lượng giáo dục theo Tiêu chuẩn  ISO 9001:2000 Ở nước ta, việc xây dựng và áp dụng HTQLCL theo Bộ Tiêu chuẩn ISO 9000 trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đã được triển khai từ năm 1995. Mười năm qua, đã có hàng ngàn doanh nghiệp hưởng ứng và áp dụng ISO 9000 trong quản lý chất lượng. Thực tiễn đã chứng minh là nếu áp dụng ISO 9000 đúng cách, tổ chức/doanh nghiệp sẽ có được một công cụ hữu hiệu trong điều hành, quản lý, giúp giữ vững sự ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, thoả mãn khách hàng ngày một cao hơn. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nước ta trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận: Cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, đang triển khai phổ cập giáo dục trung học cơ sở; hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học ngày càng hoàn thiện và đang phát triển theo hướng đa dạng hoá, đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của xã hội. Với 22 triệu người đi học trên tổng số 80 triệu dân, Việt Nam đã được UNESCO xếp thứ 64/127 nước về phát triển giáo dục. Tuy nhiên, vấn đề chất lượng giáo dục lại đang là thách thức lớn đối với toàn xã hội và Ngành Giáo dục nước ta. Trước yêu cầu đổi mới và phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hoá và bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao chất lượng giáo dục (GD) đã trở thành một đòi hỏi bức bách và ngày càng khẩn thiết. Xây dựng Hệ thống Quản lý Chất lượng (HTQLCL) GD theo ISO 9000 đang được các nhà quản lý GD quan tâm và được coi là một trong những giải pháp quan trọng góp phần nâng cao chất lượng GD. Năm 2000, Bộ Tiêu chuẩn ISO 9000 đã được Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế ISO soát xét, thu gọn, hoàn thiện và ban hành lại. Trong đó, tiêu chuẩn ISO 9001:2000 thay thế 3 tiêu chuẩn (ISO 9001, ISO 9002, ISO 9003) và được trình bày đơn giản, dễ hiểu, dễ vận dụng hơn so với các phiên bản cũ. Việc áp dụng ISO 9000 trong lĩnh vực hành chính và dịch vụ công, nhờ đó cũng thuận tiện hơn. Áp dụng ISO 9000 trong hành chính công vẫn còn là một lĩnh vực rất mới mẻ ở nước ta, áp dụng ISO 9000 trong quản lý GD lại càng mới mẻ. Song, vấn đề này đã được các quốc gia phát triển nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn từ nhiều năm nay. Thống kê cho thấy, hiện có trên 500 trường và cơ sở GD trên thế giới thực hiện quản lý chất lượng theo ISO 9000, trong đó có các trường nổi tiếng như Harvard (Mỹ), Cambridge (Anh), Chulalongkom (Thái Lan)... ấn Độ, Trung Quốc cũng đã đưa ISO 9000 vào áp dụng ở một số trường học. Thực tế cho thấy, có thể ứng dụng ISO 9000 trong quản lý từng lĩnh vực ở các nhà trường, các cơ quan quản lý GD, cơ sở sản xuất - cung ứng thiết bị dạy học, trong quá trình thiết kế - thẩm định - in ấn - phát hành sách giáo khoa và ngay cả trong các hoạt động đặc thù của ngành như: Thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh đại học, xây dựng cơ sở vật chất trường học. Để thuận tiện cho việc đưa ISO 9000 vào quản lý GD, Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế ISO đã đưa ra Hướng dẫn áp dụng ISO 9001:2000 cho Ngành GD (IWA2:2003). Ở Việt Nam, khoảng ba năm nay, các nhà quản lý GD đã quan tâm nghiên cứu ứng dụng các phương thức quản lý chất lượng tiên tiến. Lĩnh vực GD đại học đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng chiến lược “Đảm bảo chất lượng” trong việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, chỉ số kiểm định và đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ sở đại học. Các cơ sở đào tạo như: FPT - Aptech VietNam, RMIT VietNam, IQC, Đại học Dân lập Hải Phòng, trường Tiểu học tư thục Ngô Thời Nhiệm (Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh) đã được cấp chứng chỉ HTQLCL phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000. Một số trường hợp đang triển khai áp dụng ISO 9000 như: Trung học Y tế Lâm Đồng, Đại học Đà Lạt, Đại học Sư phạm Hà Nội. Theo một hướng khác, Viện Khoa học Giáo dục (Bộ Giáo dục Đào tạo) đã nghiên cứu tiếp cận ISO 9000 và TQM từ hơn 3 năm nay, trên cơ sở đó đã đề xuất một số giải pháp ứng dụng nhằm đổi mới công tác quản lý nhà trường, đổi mới quản lý chất lượng dạy - học ở trường phổ thông. Theo hướng tiếp cận này, hơn hai năm nay một số trường phổ thông ở quận Tây Hồ (Hà Nội) và huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình) đang triển khai áp dụng ISO 9000 và đã đạt được những kết quả bước đầu. Để triển khai áp dụng ISO 9000, các nhà giáo dục đã có những nghiên cứu sâu về bản chất của hoạt động
  20. giáo dục, khả năng và hiệu quả áp dụng ISO 9000 vào quá trình giáo dục, cũng như những bước đi cụ thể của việc đưa các yêu cầu của ISO 9000 vào trong thực tiễn dạy học Tuy nhiên, việc đưa ra sản phẩm có chất lượng và cung cấp dịch vụ thoả mãn khách hàng trong giáo dục là việc không đơn giản, bởi chuẩn mực, tiêu chí để đánh giá sản phẩm - chất lượng giáo dục cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Học sinh, sinh viên (những chủ thể - khách hàng - sản phẩm đặc biệt) của một lớp học, cấp học có tính cá thể rất cao, với những tính cách, động cơ, thái độ học tập... rất khác nhau. Song, yêu cầu của xã hội, của các bậc phụ huynh và cả của học sinh (những khách hàng đặc biệt) thì lại không cho phép các nhà giáo dục đưa ra những sản phẩm sai, hỏng, kém chất lượng. Bên cạnh yêu cầu cao và những khó khăn nhất định thì việc nâng cao chất lượng của Ngành Giáo dục cũng có những thuận lợi cơ bản, đó là khách hàng của giáo dục - những học sinh - sinh viên và phụ huynh của họ đều là những người tham gia tích cực vào quá trình chất lượng, hướng tới chất lượng. Còn đội ngũ giáo viên - chủ thể quan trọng nhất của hoạt động giáo dục - đào tạo thì đa phần là những người có trình độ, có phẩm chất, quan tâm tới chất lượng giáo dục. Đội ngũ này dễ dàng tiếp cận, nắm bắt các yêu cầu của ISO 9000, có khả năng văn bản hoá các quá trình, quy trình giáo dục, cũng như có khả năng thực hiện công việc theo các yêu cầu của hệ thống chất lượng một cách bài bản, khoa học. Quá trình vận dụng, ứng dụng, áp dụng ISO 9000 trong lĩnh vực giáo dục cũng như trong các lĩnh vực khác là một quá trình đòi hỏi phải có sự đầu tư cả về thời gian lẫn tiền bạc, trong khi kinh phí nhà trường có hạn, lợi ích thu được lại có “độ trễ hiệu quả” khá lâu. Bởi vậy, để đưa ISO 9000 thành một công cụ quản lý giáo dục có hiệu quả, đòi hỏi lãnh đạo các cơ quan giáo dục phải có tầm nhìn xa và có quyết tâm cao, vừa có khả năng tạo ra sự đồng thuận trong Hội đồng giáo dục, lại vừa có sự linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo trong quá trình “hiện thực hoá” các yêu cầu của ISO trong các mặt hoạt động nhà trường. HACCP- Hệ thống quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Áp dụng HACCP tại Việt Nam Hiện nay cả nước ta có hàng trăm ngàn cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, nhưng mới chỉ có khoảng hơn 100 cơ sở chế biến thực phẩm áp dụng thành công và được chứng nhận có hệ thống HACCP, đại đa số các cơ sở này được Trung tâm Chứng nhận Phù hợp Tiêu chuẩn QUACERT đánh giá và cấp chứng chỉ. Con số hơn 100 cơ sở được chứng nhận HACCP là quá ít so với số lượng cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm hiện có trên cả nước. Với Nghị định 163 hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh VSATTP và đặc biệt là Quyết định số 43/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm VSATTP đến năm 2010, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm có nguy cơ cao sẽ phải áp dụng HACCP. Đây sẽ là định hướng tốt để các doanh nghiệp tiếp cận dần với phương thức quản lý tiên tiến và tiến tới cung cấp thực phẩm an toàn trong tương lai. Hơn thế nữa, để hội nhập và vượt qua các rào cản kỹ thuật trong thương mại, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam cũng phải trang bị cho mình hệ thống HACCP và được chứng nhận mới có cơ hội xuất khẩu vào các thị trường khác nhau trong khu vực và trên thế giới. Để thúc đẩy việc áp dụng hệ thống HACCP tại Việt Nam, trong giai đoạn đầu Nhà nước cần vạch ra lộ trình áp dụng cụ thể và nên có hỗ trợ một khoản tài chính nhất định nhằm khuyến khích và động viên doanh nghiệp. Sau một thời gian nhất định, việc áp dụng hệ thống HACCP sẽ là một yêu cầu bắt buộc không thể thiếu đối với các cơ sở chế biến thực phẩm. Trong áp dụng hệ thống HACCP cần tuân thủ các nguyên tắc sau: - Phân tích mối nguy và xác định các biện pháp phòng ngừa: Để thiết lập kế hoạch phòng ngừa có hiệu quả các mối nguy về ATTP, điều cốt lõi là phải nhận diện được tất cả các mối nguy tiềm ẩn trong nguyên liệu, môi trường sản xuất và quá trình chế biến; phải đánh giá xem chúng có phải là mối nguy đáng kể không để xác định biện pháp phòng ngừa có hiệu quả.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản