HIỆU QUẢ CỦA VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM GLUCONACETOBACTER DIAZOTROPHICUS VÀ VI KHUẨN HÒA TAN LÂN PSEUDOMONAS STUTZERI TRÊN CÂY MÍA ĐƯỜNG (SACCHARUM OFFICINALIS L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÈN TỈNH LONG AN

Chia sẻ: Sunshine_9 Sunshine_9 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
25
lượt xem
8
download

HIỆU QUẢ CỦA VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM GLUCONACETOBACTER DIAZOTROPHICUS VÀ VI KHUẨN HÒA TAN LÂN PSEUDOMONAS STUTZERI TRÊN CÂY MÍA ĐƯỜNG (SACCHARUM OFFICINALIS L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÈN TỈNH LONG AN

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tỉnh Long An có vùng chuyên canh mía đường lớn (trên 15.600 ha) nhưng năng suất thấp (65,3 tấn mía cây/ha )[niên vụ 2009-2010] và mía cây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho hai nhà máy đường trong tỉnh. Tuy nhiên, diện tích trồng mía thu hẹp dần do chi phí sản xuất mía cao (giá phân hóa học cao). Mục tiêu của đề tài là đánh giá hiệu quả phân sinh học với hai chủng vi khuẩn cố định đạm Gluconacetobacter diazotrophicus và vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri được đánh giá trên cây mía trồng trên đất phèn của hai huyện Thủ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: HIỆU QUẢ CỦA VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM GLUCONACETOBACTER DIAZOTROPHICUS VÀ VI KHUẨN HÒA TAN LÂN PSEUDOMONAS STUTZERI TRÊN CÂY MÍA ĐƯỜNG (SACCHARUM OFFICINALIS L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÈN TỈNH LONG AN

  1. Tạp chí Khoa học 2011:18b 29-35 Trường Đại học Cần Thơ HIỆU QUẢ CỦA VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM GLUCONACETOBACTER DIAZOTROPHICUS VÀ VI KHUẨN HÒA TAN LÂN PSEUDOMONAS STUTZERI TRÊN CÂY MÍA ĐƯỜNG (SACCHARUM OFFICINALIS L.) TRỒNG TRÊN ĐẤT PHÈN TỈNH LONG AN Cao Ngọc Điệp1, Nguyễn Thanh Tùng2, Võ Văn Phước Quệ1 và Nguyễn Vân Anh2 ABSTRACT Long An province had a large sugarcane-cultivation area (more than 15,600 ha) but sugarcane yield (65.3 tons/ha)[2009-2010 cropping-season] was low and need of sugarcane source to provide for two sugar-processing factories in the province was high. However sugarcane-cultivation area has to be restricted because of high cost for high inorganic fertilizer. Objective of the study was to evaluate the efficiency of Biofertilizer with two strains: N2-fixing Gluconacetobacter diazotrophicus and phosphate-solubilizing Pseudomonas stutzeri was evaluated on sugarcane cultivating on acid sulphate soil of two districts (Ben Luc and Thu Thua) in Long An province. The results showed that sugarcane yield in 500 kg biofertilizer plus 103.5 – 80 P2O5/ha treatment did not differ with yield of sugarcane in 207 N - 160 P2O5/ha treatment but sugar content and total amount of sugar total/ha in biofertilizer treatment were higher than in inorganic fertilizer treatment (207 N - 160 P2O5/ha) significantly. Application of biofertilizer [500 kg/ha] not only saved 103.5 N – 80 P2O5 kg/ha but also had the highest benefit in sugarcane production. Keywords: biofertilizer, soil fertility, sugarcane, sugar content, yield Title: Effects of nitrogen-fixing Gluconacetobacter diazotrophicus and phosphate- solubilizing Pseudomonas stutzeri on sugarcane (Saccharum officinalis L.) cultivated on acid sulphate soil of Long An province TÓM TẮT Tỉnh Long An có vùng chuyên canh mía đường lớn (trên 15.600 ha) nhưng năng suất thấp (65,3 tấn mía cây/ha )[niên vụ 2009-2010] và mía cây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho hai nhà máy đường trong tỉnh. Tuy nhiên, diện tích trồng mía thu hẹp dần do chi phí sản xuất mía cao (giá phân hóa học cao). Mục tiêu của đề tài là đánh giá hiệu quả phân sinh học với hai chủng vi khuẩn cố định đạm Gluconacetobacter diazotrophicus và vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri được đánh giá trên cây mía trồng trên đất phèn của hai huyện Thủ Thừa và Bến Lức, tỉnh Long An. Kết quả cho thấy khi bón 500 kg phân sinh học/ha – 103,5 N - 80 P2O5 kg/ha cho năng suất mía cây tương đương với mía bón 207 N - 160 P2O5 kg/ha nhưng chữ đường và tổng lượng đường/ha cao hơn cây mía chỉ bón phân hóa học (207 N - 160 P2O5/ha) một cách rất có ý nghĩa. Như vậy việc bón 500 kg/ha phân sinh học cho cây mía không những tiết kiệm được 103,5 N - 80 P2O5/ha mà còn thu lợi cao nhất trong canh tác mía đường. Từ khóa: chữ đường, độ phì đất, mía, phân hữu cơ-vi sinh, năng suất 1 Viện NC&PT Công nghệ sinh học, Trường Đại học Cần Thơ 2 Trung tâm Khuyến Nông Tỉnh Long An 29
  2. Tạp chí Khoa học 2011:18b 29-35 Trường Đại học Cần Thơ 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Với hơn 4 triệu ha đất trồng trọt, đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất cả nước và góp phần giữ vững an ninh lương thực cả nước và xuất khẩu; bên cạnh cây lúa, đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều cây công nghiệp khác trong đó cây mía đường chiếm một diện tích quan trọng và sản lượng đường đáng kể, tỉnh Long An có diện tích trồng mía khá lớn (>15.000 ha) tập trung ở huyện Bến Lức và một phần diện tích ở huyện Thủ Thừa và Đức Hòa. Những kết quả bước đầu thực hiện ở huyện Bến Lức, Long An cho thấy bón 100 kg phân sinh học/ha và chỉ bón 50% lượng phân đạm (92 kg N/ha) và không bón phân lân đã cho năng suất và tổng lượng đường trong 1 ha cao nhất (Cao Ngọc Điệp và Bùi thị Kiều Oanh, 2006) và tổng kết 4 thí nghiệm mía đường ở 4 địa điểm (huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, thị xã Ngã Bảy, thị xã Vị Thanh) trong tỉnh Hậu Giang trong năm 2006 cho thấy bón 100 kg phân sinh học và 50 kg N/ha [không bón phân lân] cho năng suất, chữ đường [độ Brix] và tổng lượng đường không khác biệt với nghiệm thức chỉ bón phân hóa học [200 kg N - 90 kg P2O5/ha](Cao Ngọc Điệp và Nguyễn văn Mít, 2007). Từ khi Cavalcante và Dobereiner (1988) phân lập một loài vi khuẩn có khả năng cố định N mới ở bên trong rễ và trong thân nhiều giống mía đường trồng ở nhiều nơi khác nhau ở Brasil, đặt tên là Acetobacter diazotrophicus và sau đó đổi tên là Gluconacetobacter diazotrophicus. Điểm đặc biệt là vi khuẩn này có thể cố định N trong sự hiện diện của nitrat mà điều này chính là sự giới hạn của vi khuẩn nốt rễ cộng sinh với cây đậu và nó trở nên quan trọng về kinh tế hơn so với những vi khuẩn khác sống bên trong (nội sinh) cây mía. Vi khuẩn Gluconacetobacter diazotrophicus có sản xuất ra acid hữu cơ như acid oxalic, citric, gluconic… và nhờ đó chúng có thể hòa tan lân khó tan (Maheskkumar et al., 1999). Nhiều thí nghiệm chứng minh bón vi khuẩn Gluconacetobater diazotrophicus cho cây mía đường làm tăng chiều cao cây và năng suất mía cây (Muthukumarasamy et al., 1999). Ngoài cố định đạm, vi khuẩn còn đóng góp những chất tăng trưởng khác như IAA (Muthukumarasamy et al., 2000) và gibberellin (Bastian et al., 1998), vì vậy họ đề nghị sử dụng những dòng vi khuẩn này làm phân bón sinh học. Vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri được phân lập từ đất vùng rễ cây họ đậu ở Đồng Tháp và có khả năng hòa tan lân khó tan cao (Cao Ngọc Điệp et al., 2009), ứng dụng chúng trong sản phẩm phân sinh học bón cho lúa cao sản đạt hiệu quả cao (Cao Ngọc Điệp et al., 2010; Cao Ngọc Điệp và Phan Văn Tùng, 2010). Vì vậy cả hai loài vi khuẩn này được chọn để đánh giá hiệu quả của chúng trên cây mía đường trồng trên đất phèn tỉnh Long An liên tiếp 2 vụ. 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phân sinh học Vi khuẩn Gluconacetobacter diazotrophicus được nhân nuôi trong môi trường LGI lỏng trong 2-3 ngày đạt mật số >8,2 log10 CFU/ml và vi khuẩn Pseudomonas stutzeri được nhân nuôi trong sucrose-apatite trong 4 ngày đạt mật số >9,1 log10 CFU/ml. Hai loại vi khuẩn [300 lít] được trộn chung với hổn hợp than bùn và lân apatit [700 kg] theo tỉ lệ 6:1 để có hổn hợp phân sinh học đạt 50% ẩm độ, ủ phân bằng cách đậy với bạt nylon dầy trong 6 ngày, hổn hợp này có mật số vi khuẩn khoảng 7,2 [Gluconacetobacter diazotrophicus] và 7,8 log10 CFU/g 30
  3. Tạp chí Khoa học 2011:18b 29-35 Trường Đại học Cần Thơ [Pseudomonas stutzeri] được dùng như phân sinh học bón cho cây mía trong các thí nghiệm. 2.2 Đất thí nghiệm Sáu điểm thí nghiệm được thực hiện trên đất phèn thuộc hai huyện Bến Lức và Thủ Thừa, mỗi thí nghiệm thực hiện liên tiếp 2 vụ, đất thí nghiệm có pH=5,1-5,5, N tổng số cao (0,31 – 0,35%), P dể tiêu thấp (<5 mg P2O5/100 g đất), K trao đổi khá (125 mg/kg K2O), chất hữu cơ trung bình (3-4%). 2.3 Giống mía thí nghiệm Toàn bộ thí nghiệm sử dụng giống mía K84-200, đây là giống mía đang trồng phổ biến ở vùng này, giống mía cứng cây, kháng sâu bệnh, cho năng suất mía cây và chữ đường khá, thời gian sinh trường từ 11-12 tháng. 2.4 Bố trí thí nghiệm Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, có 6 nghiệm thức sau: 1. Đối chứng [bón phân theo nông dân] 184-230 kg N+ - 160 kg P2O5 2. 500 kg phân sinh học đa chủng/ha 3. 500 kg phân sinh học đa chủng/ha + ¼ lượng phân N và P của nghiệm thức 1 4. 500 kg phân sinh học đa chủng/ha + ½ lượng phân N và P của nghiệm thức 1 5. Nghiệm thức 3 + tủ lá mía khô + lục bình + phun nấm Trico DHCT* 6. Nghiệm thức 5 + tưới dịch vi khuẩn lên men vào tháng thứ 3 với lượng 500 lít/ha ** Toàn bộ nền thí nghiệm bón đồng đều 180 kg K2O/ha/vụ, mỗi lô có diện tích tối thiểu 50 m2 và cách biệt nhau bằng các con mương [dẩn hay tiêu nước], 6 nghiệm thức x 4 lần lập lại = 24 lô x 50 m2 = 1200 m2. Sáu thí nghiệm được thực hiện tại huyện Bến Lức (4) và huyện Thủ Thừa (2), liên tiếp 2 vụ [vụ tơ và vụ gốc]. Bón 184 kg N trong vụ tơ (vụ 1) và bón 230 kg N cho vụ gốc (vụ 2) theo qui trình canh tác của nông dân tại địa phương. * Đánh lá mía chia ra 3 lần: lần 1 [mía được 3 tháng tuổi] tiến hành tủ lá mía khô + lục bình và phun nấm Trichoderma từ thân mía cho tới lá khô [liều lượng 20 g/bình 20 lít]. ** tưới vi khuẩn có ích vào hổn hợp trên sau 1 tháng (nghiệm thức 5 và nghiệm thức 6); Lần 2 lúc mía được 6 tháng tuổi và lần 3 lúc mía được 9 tháng tuổi. Thành phần năng suất, năng suất mía cây, chữ đường (độ Brix x 0,66 – 3,5), tổng lượng đường (năng suất mía cây x chữ đường), hàm lượng dưỡng chất trong đất sau khi thí nghiệm (pH, N tổng số, P dễ tiêu, chất hữu cơ). Hiệu quả kinh tế được tính trong từng nghiệm thức bằng cách lấy Tổng thu trừ cho tổng chi = Lợi nhuận trong đó tổng chi bao gồm giống, phân bón, công lao động và tổng thu bao gồm năng suất mía cây và chữ đường (xem phụ lục đính kèm) cho từng vụ tơ và vụ gốc. Số liệu thí nghiệm được thu thập để xử lý thống kê theo phần mềm EXEL trong Microsoft XP, số liệu trung bình được so sánh khoảng cách khác biệt ý nghĩa theo LSD hay kiểm định Duncan. 31
  4. Tạp chí Khoa học 2011:18b 29-35 Trường Đại học Cần Thơ 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Kết quả từ bảng 1 cho thấy tổng hợp 6 điểm thí nghiệm trong cả 2 huyện trồng mía tập trung của tỉnh Long An cho thấy 4 nghiệm thức: NT3, NT4, NT5 và NT6 đều cho năng suất mía cây và chữ đường cao hơn và khác biệt ý nghĩa với NT1 (bón 207 kg N + 160 kg P2O5/ha). Tuy nhiên, tổng lượng đường ở 2 nghiệm thức 4 (500 kg phân sinh học – 103,5 kg N – 80 kg P2O5/ha) và nghiệm thức 6 (500 kg phân sinh học – 52 kg N – 40 kg P2O5/ha + phun nấm Trichoderma + bổ sung dịch vi khuẩn) cao nhất. Từ kết quả ở bảng 1 cho thấy bón 500 kg phân sinh học tương đương với 103,5 kg N – 80 kg P2O5/ha hay tương đương 52 kg N – 40 kg P2O5/ha với điều kiện phun nấm Trichodema và tưới thêm dịch vi khuẩn cho mía trong giai đoạn 6 tháng đầu của qui trình canh tác và cũng không làm thay đổi độ phì của đất (bảng 2). Bảng 1: Hiệu quả của phân sinh học, phân hóa học trên năng suất mía cây, chữ đường và tổng lượng đường ở 6 thí nghiệm của huyện Bến Lức và Thủ Thừa trong suốt 2 năm [2 vụ](2008-2010)(trung bình 6 điểm) Năng suất mía Chữ đường Tổng lượng đường Nghiệm thức (T/ha) (độ Brix x 0,66 – 3,5) (kg/ha) NT1 77,13 b* 10,081 bc 822,89 b NT2 75,57 b 9,972 c 839,32 b NT3 88,66 a 10,241 bc 820,52 b NT4 92,15 a 10,511 ab 904,69 a NT5 85,51 a 10,634 a 849,49 b NT6 88,54 a 10,751 a 931,81 a F tính ** ** ** C.V (%) 6,71 2,88 5,50 Ghi chú: NT 1 = 207 N-160 P2O5/ha, NT 2 = 500 kg phân SH/ha, NT 3 = 500 kg phân SH + 52 N- 40 P2O5/ha, NT 4 = 500 kg phân SH – 103,5 N – 80 P2O5/ha. NT 5 = 500 kg phân SH – 52 N – 40 P2O5/ha + phun nấm Trichoderma, NT 6 = 500 kg phân SH – 52 N – 40 P2O5/ha + phun nấm Trichoderma, bổ sung dịch vi khuẩn * Những số theo sau cùng một chữ không khác biệt ý nghĩa ở mức độ 1% Bảng 2: Hiệu quả của phân sinh học, phân hóa học thành phần lý hóa tính của đất trồng mía ở 6 thí nghiệm của huyện Bến Lức và Thủ Thừa trong suốt 2 năm (2008- 2010)[2 vụ](trung bình 6 điểm) N tổng số P dễ tiêu Kali trao đổi Chất hữu cơ Nghiệm thức (%) (mg/100 g đất) (mg/kg) (%) NT1 0,290 5,199 184,21 4,524 NT2 0,281 4,257 189,10 4,582 NT3 0,277 4,684 192,57 4,782 NT4 0,282 5,032 194,73 4,457 NT5 0,292 5,149 265,12 4,450 NT6 0,297 5,022 230,85 4,530 F tính n.s n.s n.s n.s C.V (%) 4,87 13,76 29,09 10,96 Ghi chú: NT 1 = 207 N-160 P2O5/ha, NT 2 = 500 kg phân SH/ha, NT 3 = 500 kg phân SH + 52 N - 40 P2O5/ha, NT 4 = 500 kg phân SH – 103,5 N – 80 P2O5/ha, NT 5 = 500 kg phân SH – 52 N – 40 P2O5/ha + phun nấm Trichoderma, NT 6 = 500 kg phân SH – 52 N – 40 P2O5/ha + phun nấm Trichoderma, bổ sung dịch vi khuẩn Như vậy qua kết quả nghiên cứu của đề tài có thể khuyến cáo nông dân trồng mía bón 500 kg phân sinh học – 103,5 kg N – 80 kg P2O5/ha hay bón 500 kg phân sinh học – 52 kg N – 40 kg P2O5/ha + phun nấm Trichoderma + bổ sung dịch vi khuẩn. Từ bảng 3a và bảng 3b cho thấy, lợi nhuận vụ 2 cao hơn vụ 1, đặc biệt là bón 500 kg phân HCVS + 103,5 N – 80 P2O5/ha cho lãi cao nhất (NT 4). Hai NT 5 và NT 6 có lãi thấp hơn NT 4 do chi phí đánh lá mía, phun nấm Trichoderma và tưới dịch 32
  5. Tạp chí Khoa học 2011:18b 29-35 Trường Đại học Cần Thơ vi khuẩn tốn công lao động nhiều làm cho giá thành cao dẫn đến lợi nhuận thấp. Tuy nhiên, những hiệu quả khác như độ phì đất hay bệnh hại mía….giảm thiểu so với nghiệm thức không sử dụng phân HCVS hay chế phẩm sinh học không thể tính toán vào trong phần lợi nhuận được. Qua kết quả tổng kết 6 điểm thí nghiệm trong 2 huyện và liên tiếp 2 vụ/điểm cho thấy hiệu phân hữu cơ vi sinh tiết kiệm được 50% lượng phân đạm (chỉ sử dụng 103,5 kg N/ha) và 50% lượng phân lân hóa học (chỉ bón 80 kg P2O5/ha) nhưng cho năng suất mía cây, chữ đường, tổng lượng đường/ha và lợi nhuận thu được cao hơn mía được bón hoàn toàn phân hóa học (207 kg N – 160 P2O5/ha) nhưng độ phì của đất (thông qua các hàm lượng N tổng số, P dễ tiêu… trong đất) không thay đổi. Bảng 3a: Hạch toán kinh tế với cây Mía khi canh tác với phân hữu cơ vi sinh (x 1.000 đồng) Nghiệm thức 1 2 3 4 5 6 Lợi nhuận vụ tơ 1.566 7.082 11.583 11.534 7.356 7.347 Lợi nhuận vụ gốc 41.385 41.483 42.550 49.015 43.992 42.259 Lợi nhuận 2 vụ 42.951 48.565 54.133 60.549 51.348 49.606 So với đ/c (NT1) + 13% + 26% + 41% + 20% + 15% Bảng 3b: Hạch toán kinh tế [chi tiết] với cây Mía khi canh tác với phân hữu cơ vi sinh (x1.000 đ) Nghiệm thức 1 2 3 4 5 6 Vụ tơ Giống 4.000 4.000 4.000 4.000 4.000 4.000 Phân bón 12.340 5.000 6.960 8.920 7.290 7.490 Công lao động 21.534 20.153 23.866 24.062 24.978 26.697 Tổng chi 37.874 29.153 34.826 36.982 36.268 38.187 Năng suất 78,1 73,95 91,9 93,3 82,7 83,55 (tấn/ha) Chữ đường 10,1 9,8 10,1 10,4 10,55 10,9 Tổng thu 39.440 36.235 46.409 48.516 43.624 45.534 Lợi nhuận 1.566 7.082 11.583 11.534 7.356 7.347 Vụ gốc Phân bón 9.000 3.500 5.000 6.500 5.330 5.530 Công lao động 20.968 19.040 20.904 22.608 25.332 27.188 Tổng chi 29.968 22.540 25.904 29.108 30.662 32.718 Năng suất 90,6 83,5 87,7 98,3 95,0 95,3 (tấn/ha) Chữ đường 9,8 9,3 9,6 9,9 9,7 9,7 Tổng thu 71.353 64.023 68.454 78.123 74.654 74.977 Lợi nhuận 41.385 41.483 42.550 49.015 43.992 42.259 Ghi chú: NT 1 = 207 N-160 P2O5/ha, NT 2 = 500 kg phân SH/ha, NT 3 = 500 kg phân SH + 52 N- 40 P2O5/ha, NT 4 = 500 kg phân SH – 103,5 N – 80 P2O5/ha. NT 5 = 500 kg phân SH – 52 N – 40 P2O5/ha + phun nấm Trichoderma, NT 6 = 500 kg phân SH – 52 N – 40 P2O5/ha + phun nấm Trichoderma, bổ sung dịch vi khuẩn Chúng tôi khuyến cáo cơ quan khuyến nông áp dụng công thức phân bón cho mía trồng tại tỉnh Long An là bón 500 kg phân HCVS + 50% lượng phân đạm hóa học (92-115 kg N – 80 P2O5/ha) cho 1 vụ mía sẽ đạt năng suất, chữ đường, tổng lượng đường tối ưu nhất đồng thời không ảnh hưởng đến độ phì của đất sau khi trồng mía. 33
  6. Tạp chí Khoa học 2011:18b 29-35 Trường Đại học Cần Thơ Vi khuẩn cố định đạm Gluconacetobacter diazotrophicus và vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri đã sử dụng làm phân sinh học bón cho cây mía trồng ở vùng đất phèn huyện Bến Lức, tỉnh Long An (Cao Ngọc Điệp và Bùi Thị Kiếu Oanh, 2006) cũng như bón cho đất phù sa trủng ngập nước như tỉnh Hậu Giang (Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Mít, 2007) đều cho năng suất mía cây và tổng lượng đường cao và tiết kiệm được 50% đến 75% phân đạm và phân lân hóa học, điều này cho thấy cả hai dòng vi khuẩn đều phát huy tác dụng trong cả hai vùng đất khắc nghiệt. Những thí nghiệm ở Brasil đã chứng minh hiệu quả của vi khuẩn cố định đạm Gluconacetobacter diazotrophicus trên cây mía cũng như cây trồng thuộc họ hòa bản khác (Boddey et al., 1991) và Muthukumarasamy et al., 2002) xem vi khuẩn này như là dòng vi khuẩn cố định đạm lý tưởng không những ở Ấn Độ và còn ở những vùng đất khác trên thế giới. Gần đây những thí nghiệm của Govindarazan et al. (2006) khi so sánh ba chủng vi khuẩn Burkholderia vietnamiensis, Gluconacetobacter diazotrophicus, Herbaspirillum seropedicae cho cây mía vi nhân giống trồng ở vùng đất Tamil Nadi, Ấn Độ cho thấy 2 chủng vi khuẩn Burkholderia vietnamiensis, Gluconacetobacter diazotrophicus đều cho thành phần năng suất, năng suất tương đương mía bón 140 kg N/ha. Vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri cũng thể hiện tác dụng trên nhiều loại cây trồng khác như bắp, đậu nành, lúa, rau xanh (Nguyễn Văn Được và Cao Ngọc Điệp, 2004; Cao Ngọc Điệp, 2005a và 2005b; Cao Ngọc Điệp và Tôn Anh Điền, 2006, Cao Ngọc Điệp et al., 2010). 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Công thức bón phân cho cây MÍA trồng trên đất phèn của tỉnh Long An là: 500 kg phân hữu cơ – vi sinh/ha + 92-115 kg N – 80 kg P2O5 + 180 kg K2O/ha đạt năng suất, chữ đường, tổng lượng đường và nông dân được lãi cao nhất. Đề nghị ứng dụng phân hữu cơ – vi sinh với chất mang là than bùn cho cây mía trong tỉnh với công thức bón 500 kg phân hữu cơ – vi sinh/ha + 92-115 kg N – 80 kg P2O5 + 180 kg K2O/ha. TÀI LIỆU THAM KHẢO Bastian, Y. 1998. Inoculants of plant growth-promoting bacteria for use in agriculture. Biotechno. Adv. 16, 729-383. Boddey, R.M., Urquiaga S., Reis, V., and Dobereiner, J. 1991. Biological nitrogen fixation associated with sugarcane. Plant and Soil 137, 111-117. Cavalcante V.A and Dobereiner, J. 1988. A new acid tolerant nitrogen fixing bacterium associated with sugarcane. Plant and Soil 108, 23-31. Cao Ngọc Điệp. 2005a. Ảnh hưởng của chủng vi khuẩn nốt rễ và vi khuẩn Pseudomonas spp. trên lúa cao sản trồng trên đất phù sa Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 3, 1-7. Cao Ngọc Điệp. 2005b. Hiệu quả của vi khuẩn nốt rễ (Sinorhizobium fredii) và vi khuẩn Pseudomonas spp. trên đậu nành. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 3, 40-48. Cao Ngọc Điệp and Tôn Anh Điền. 2006. Application of Pseudomonas stutzeri as major composition in biological fertilizer for safety vegetable cultivation. Proceedings of International Workshop on Biotechnology in Agriculture, pp: 115-117. Nong Lam University Ho Chi Minh city at October 20-21, 2006. 34
  7. Tạp chí Khoa học 2011:18b 29-35 Trường Đại học Cần Thơ Cao Ngọc Điệp và Bùi thị Kiều Oanh. 2006. Hiệu quả vi khuẩn Pseudomonas spp. trên năng suất và tổng trữ đường trong mía đường (Saccharum officinarum L.) trồng trên đất phèn huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Tạp chí Khoa Học Đại học Cần Thơ 6, 69-76 Cao Ngọc Điệp và Nguyễn Văn Mít. 2007. Hiệu quả của vi khuẩn Gluconacetobacter diazotrophicus và vi khuẩn Pseudomonas stutzeri trên năng suất và tổng trữ đường trong mía đường (Saccharum officinarum L.) trồng trên đất phù sa tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa Học Đại học Cần Thơ 7, 14-20. Cao Ngoc Điệp và Phan văn Tùng. 2010. Hiệu quả của vi khuẩn có ích trên cây lúa cao sản trồng trên đất phù sa huyện Bình Tân, Tỉnh Vĩnh Long. Tạp chí Khoa học Đất 34:79-83. Cao Ngọc Điệp, Nguyễn văn Măng và Lê Thị Diễm Ái. 2010. Hiệu quả của vi khuẩn cố định đạm Azospirillum lipoferum và vi khuẩn hòa tan lân Pseudomonas stutzeri trên cây lúa cao sản và độ phì của đất phù sa tỉnh Hậu Giang. Tạp chí Khoa học Đất 34:84-88. Govindarajan, M; Balandreau L., Muthukumarasamy R., Revathi, G., and Lakshminaerasimhan. 2006. Improved yield of micropropagated sugarcane following inoculation by endophytic Burkholderia vietnamiensis. Plant and Soil, 280, 239-252. Maheshkumar, K.S; Kirshnaraj, P.U; Alagawadi, A.R. 1999. Mineral phosphate solubilizing activity of Acetobacter diazotrophicus: a bacterium associated with sugarcane. Curr. Sci. 76, 874-875. Muthukumarasamy, R.; G. Revathi, and C. Lakshminarasimhan. 1999. Influence of N fertilization on the isolation of Acetobacter diazotrophicus and Herbaspirillum from Indian sugarcane varieties. Biol. Fert. Soil. 29, 157-164. Muthukumarasamy, R.; Revthi, G. and Vadivelu, M. 2000. In Recent Advances in Bio- fertilizer Technology (eds. Yadav, A.K., Motsara M.R. and Ray Chaudhuri, S.). Society for Promotion and Utilization of Resources and Technology, New Delhi, pp: 126-153. Muthukumarasamy, R.; G. Revthi, S. Seshadri and C. Lakshminarasimhan. 2002. Gluconacetobacter diazotrophicus (syn. Acetobacter diazotrophicus), a promising diazotrophic endophyte in tropics. Current Science 83, 137-145. Nguyễn Văn Được và Cao Ngọc Điệp. 2004. Hiệu quả phân lân sinh học trên đậu nành và bắp lai trồng trên đất phù sa huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ 1, 98-104. 35

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản