Họa sĩ vẽ bằng ánh sáng

Chia sẻ: Nguyen Hoang Phuong Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
178
lượt xem
77
download

Họa sĩ vẽ bằng ánh sáng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'họa sĩ vẽ bằng ánh sáng', văn hoá - nghệ thuật, chụp ảnh - quay phim phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Họa sĩ vẽ bằng ánh sáng

  1. Họa sĩ vẽ bằng ánh sáng 1. Họa sĩ vẽ bằng ánh sáng Thời trước, công việc quay phim được giao cho một người. Người này không chỉ sử dụng máy quay mà còn phải rửa và tráng phim trong phòng kín. Tuy nhiên theo thời gian, khi nghệ thuật quay phim ngày càng phát triển và trở nên phức tạp, nhiệm vụ của nhà quay phim dần dần đặc trưng hơn và sự đóng góp của họ trong bộ phim ngày càng quan trọng. Rất nhiều sáng tạo kỹ thuật ghi nhận cho đạo diễn D.W.Griffith bắt nguồn từ nhà quay phim của ông, Billy Bitzer, hoặc sự cộng tác thân thiết đầy sáng tạo giữa hai người. Đạo diễn hình ảnh hiện đại ( Director of Photography- Cinematographer ) không bắt buộc là người trực tiếp cầm máy quay, nhưng họ phải chuyển tải được ý tưởng của biên kịch và đạo diễn thành hình ảnh sống động. Dưới tay Đạo diễn hình ảnh có nhiều người phụ trách từng việc riêng biệt. Những người này giúp Đạo diễn hình ảnh rảnh rang để giải quyết trách nhiệm chính - sáng tạo tâm trạng, không khí, kiểu quay phù hợp cho mỗi cảnh và duy trì chất lượng những việc này trong suốt cả phim. Đạo diễn hình ảnh được coi là hoạ sĩ vẽ bằng ánh sáng. “Nếu không nhờ trình độ và tài năng của đạo diễn hình ảnh thì không thể nào chuyển tác phẩm của nhà văn thành những cảnh phim sống động cho mọi người xem”, nhà quay phim Michael Benson nói. Vai trò của Đạo diễn hình ảnh bắt đầu từ khi phim còn chưa bắt đầu bấm máy. Họ thường xuyên phải hội ý với nhà sản xuất và đạo diễn về vô số chi tiết kỹ thuật, kể cả sự lựa chọn nguyên liệu phim và phòng kín. Họ cũng thường chọn địa điểm được tả trong kịch bản để chắc chắn nó thích hợp với cảnh quay, tính toán bao nhiêu máy quay và dụng cụ ánh sáng đủ để quay cảnh đó. Đạo
  2. diễn nghệ thuật và hoạ sĩ thiết kế phông màn cùng thảo luận với đạo diễn hình ảnh về góc độ ánh sáng và cách lắp đặt máy quay trong mỗi cảnh. Nhiều người nghĩ rằng đạo diễn chỉ cho diễn viên những việc phải làm và Đạo diễn hình ảnh ghi hình cảnh đó. Điều đó đúng, nhưng quá trình này không chỉ đơn giản như vậy. Sự chuyển biến từ kịch bản ban đầu đến những hình ảnh trên màn ảnh rộng diễn ra qua ống kính của Đạo diễn hình ảnh. Làm phim là tập hợp những gì có sẵn và lọc qua một thiết bị- máy quay. Trước khi ghi hình cảnh đầu tiên, tất cả chỉ có hợp đồng, ý tưởng, khái niệm, kịch bản, và hy vọng mà thôi. Một khi phim đã khởi quay, đạo diễn hình ảnh là người quan trọng thứ hai trong đoàn, chỉ sau đạo diễn. Làm việc cùng nhau, đạo diễn và đạo diễn hình ảnh quyết định góc quay, bố trí, chuyển động máy quay trong từng phân cảnh. Việc gì đã làm cho đạo diễn hình ảnh đặt máy quay ở đây mà không là ở đằng kia? Janusz Kaminski cho rằng: "Tất cả những kinh nghiệm cuộc đời của một người tạo ra mỗi chọn lựa sáng tạo của anh ta. Đó là điều tạo nên dấu ấn riêng cho mỗi đạo diễn hình ảnh”. Rồi họ chọn ống kính và bộ lọc sáng phù hợp để có thể đạt được những nét cơ bản theo kịch bản có trước, xác định độ sáng, dựng dụng cụ tạo sáng để tạo được hiệu quả và màu sắc đặc thù. Sau đó đạo diễn hình ảnh cùng xem lại cảnh đã quay mỗi ngày để đánh giá hiệu quả công việc và thay đổi kịp thời trong lần quay tới. Vào giai đoạn cuối, đạo diễn hình ảnh giám sát sự thay đổi của bản phim đầu tiên trong phòng kín để chắc chắn độ sáng và phong thái các màu sắc chủ đạo phù hợp với những hình ảnh chất lượng trên màn ảnh rộng cho khán giả thưởng thức. Đạo diễn hình ảnh bỏ nhiều thời gian vào công việc, bù lại họ mang đến cho khán giả, trong vài giây phút ngắn ngủi, cơ hội để đến một thế giới hoàn toàn mới lạ.
  3. 2. Các vị trí khác trong nhóm quay phim Nhà quay phim ( Camera Operator ) Đạo diễn hình ảnh có phải là nhà quay phim không? Câu trả lời là "phải". Trong những đoàn làm phim nhỏ, Đạo diễn hình ảnh vẫn hay đảm nhận việc ghi hình. Nhưng nhà quay phim không phải lúc nào cũng là Đạo diễn hình ảnh. Nhà quay phim thường sử dụng ánh sáng từ các hướng khác nhau để quay cận cảnh mặt diễn viên. Đôi lúc trong những cảnh nhiều máy quay phim ở các góc độ, họ không sử dụng ánh đèn nào cả. Nhà quay phim điều khiển máy quay, kiểm tra và chịu trách nhiệm về các đoạn phim đã thực hiện: ánh sáng, góc nhìn, hình ảnh và sự diễn đạt âm thanh. Họ cần nắm rõ cấu tạo của máy quay và thường giải quyết những vấn đề kỹ thuật xảy ra trong suốt quá trình làm phim. Đạo diễn hình ảnh thì thạo sử dụng ánh sáng với nhiều kiểu và độ nhoè khác nhau. Trong những cảnh hoành tráng, đạo diễn hình ảnh thường quản lý nhiều nhà quay phim lo riêng về các chuyển động của máy quay. Sự khác biệt giữa hai chức danh, ngoài kinh nghiệm và kỹ thuật, còn nằm ở khoản lương họ nhận được. Trong những đoàn làm phim lớn sẽ có thêm: + Trợ lý quay phim thứ nhất ( Focus Fuller ) - thay ống kính, giữ máy quay hoạt động theo đúng chế độ, giữ nguyên mục tiêu khi máy quay chuyển động, đánh dấu vị trí diễn viên đứng và đo khoảng cách từ vật thể đến ống kính. + Trợ lý quay phim thứ hai ( Clap Boy)- chuẩn bị đạo cụ cho Trợ lý thứ nhất, thay phim, điền vào bản báo cáo hoạt động và sử dụng clapperboard ở đầu hay cuối mỗi phân cảnh. Phụ trách ánh sáng ( Gaffer )
  4. Vai trò của người phụ trách ánh sáng ảnh hưởng mật thiết đến sự thành công của một bộ phim. Nói cho cùng, tất cả những công việc sản xuất như phông màn, đạo cụ, tài năng, và quay phim đều phải dựa vào ánh sáng mới nổi bật được. Ánh sáng ẩu dễ làm hư một tác phẩm nghệ thuật, và ngược lại, ánh sáng đẹp sẽ làm tăng thêm giá trị một bộ phim bình thường. Phụ trách ánh sáng quản lý độ sáng, màu sắc, độ tương phản, nguồn sáng và tính tự nhiên của ánh sáng. Họ cũng thường là người quản lý điện đóm, bảo đảm đủ năng lượng cho các độ sáng ở mọi cảnh quay. Trong những cảnh rộng, họ thường có thợ điện và vài người thợ lắp ráp giúp những việc tay chân cần thiết cho các yêu cầu điện đóm. Nhờ đó người phụ trách có thể rảnh rang lo ánh sáng, cụ thể là thiết kế, sắp đặt, và điều khiển những thiết bị ánh sáng và dàn đèn. Kinh nghiệm và phong cách là những yếu tố cần thiết để chọn một người quản lý ánh sáng. Kinh nghiệm rất quan trọng. Lo ánh sáng cho một góc quay hay nhiều góc quay cùng một lúc là những chuyện rất khác nhau. Nhiều người phụ trách ánh sáng đã vô cùng lúng túng khi tìm cách lên đèn cho một cảnh sử dụng nhiều máy quay ở các góc độ, nhất là khi họ đã quen với kiểu quay một máy. Nói về phong cách, đó là khả năng ghi nhớ bối cảnh của một bộ phim. Ví dụ trong một bộ phim khung cảnh đồng quê, phụ trách ánh sáng cần chú ý hạn chế kiểu ánh sáng thành thị màu mè. Phụ trách ánh sáng phối hợp chặt chẽ với Đạo diễn hình ảnh để cùng làm tôn lên phong cách nghệ thuật của một bộ phim. Họ thường đứng ở vị trí thứ ba, sau Đạo diễn, Đạo diễn hình ảnh ( và nhà quay phim, nếu có ). Có câu chuyện kể rằng khi một vị đạo diễn hình ảnh nổi tiếng và đáng kính được các sinh viên hỏi điều gì quan trọng nhất họ có thể làm để nâng cao chất lượng hình ảnh, ông đã trả lời: “Hãy thuê người phụ trách ánh sáng tốt nhất có thể, thậm chí chia một phần lương của mình cho anh ta”.
  5. Trợ lý ánh sáng ( Best Boy ) Trong những đoàn làm phim lớn sẽ có trợ lý ánh sáng. Trợ lý làm việc chủ yếu với đạo diễn hình ảnh và là cánh tay phải của người phụ trách ánh sáng. Công việc chủ yếu của họ là bảo đảm điện năng, chăm lo cho nhóm quay phim, lắp đặt thiết bị, quản lý công việc giấy tờ, và thuê thêm người nếu có những cảnh quay lớn phức tạp. Đôi lúc khi quản lý ánh sáng quá bận, người trợ lý này phải luôn luôn sẵn sàng để phụ việc hoặc làm thay người phụ trách ánh sáng. Một khi Đạo diễn hình ảnh và phụ trách ánh sáng đã hội ý xong, công việc của trợ lý ánh sáng là lên đèn ở độ sáng và mờ cần thiết để phối hợp với tốc độ phim, tương phản, thiết bị lọc sáng, ống kính, và loại phim. Thường những bóng đèn họ sử dụng là những bóng đèn lớn ( 12,000 W đến 36,000 W ) và cần khá nhiều điện năng. Vài loại bóng đèn họ sử dụng được thiết kế đặc biệt chỉ dùng để bắt chước ánh sáng ngày ( đèn HMI ) hoặc đêm ( đèn Tungsten ). Họ cũng có những loại keo để tạo ra nhiều màu sắc khác nhau và làm ánh sáng nhạt hơn. Hậu đài ( Grips ) + Key Grip: Quản lý các nhân viên hậu đài. Đồng thời đây cũng là người tháp tùng và mang theo đầy đủ đồ nghề cho nhà quay phim đến những địa điểm quay. + Second Company Grip: Đặt hàng dụng cụ cần thiết cho công việc hậu đài ở mỗi phim. + Crane/ Dolly Grip: Người thiết kế đường ray máy quay, điều khiển tay cẩu máy quay hoặc lo phần "chân" của các máy quay, như cây chống, cây dù đủ cỡ...
  6. + Construction Grip: Dựng/ tháo phông màn, dựng dàn đèn, bảo trì phông cảnh. + Company Grips: Giúp việc lặt vặt cần thiết khi dựng cảnh. 3. Một số kỹ thuật quay phim Góc quay là góc nhìn từ máy quay với chiều sâu, chiều dài, chiều rộng cân xứng với vật hay hành động được quay. Góc nhìn từ máy quay không chỉ quyết định cái gì sẽ xuất hiện trong cảnh đó mà nói chung còn là cách khán giả sẽ nhìn sự việc - gần hay xa, từ trên xuống hay từ dưới lên, chủ quan hay khách quan… Do đó sự chọn góc quay không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ câu truyện mà còn thể hiện chất lượng thẩm mỹ của cảnh quay và quan điểm tâm lý của khán giả. Qua nhiều năm, đạo diễn và nhà quay phim đã thành lập một kiểu quy ước liên quan đến kỹ thuật, thẩm mỹ và đặc tính tâm lý của nhiều góc quay khác nhau. Góc ngang ( vừa tầm mắt ) để diễn tả cảnh giống như thật nhưng ít kịch tính. Người ta cho là nó cung cấp cái nhìn bình thường và thường quay từ độ cao 1.2 m đến 1.8 m. Tầm mắt của nghệ sĩ ( chứ không phải của nhà quay phim ) quyết định chiều cao của máy quay, và đặc biệt chủ yếu trong những khi quay cận cảnh. Vì hướng nhìn bình thường nên cảnh quay góc ngang thường được sử dụng để tạo nên tình huống và chuẩn bị cho khán giả một cảnh liên quan. Trong cảnh quay góc cao máy quay nhìn xuống sự vật. Theo kỹ thuật thì nó có thể cho phép đạo diễn có cái nhìn bao trùm hết mặt đất và hành động trong chiều sâu. Cảnh như vậy cũng sẽ có khuynh hướng làm chậm hành động lại và giảm bớt độ cao của sự vật hay nhân vật ( theo luật xa gần ). Nét đặc trưng cuối cùng này có thể gây ra nhiều hiệu quả tâm lý phụ, ví dụ như cho khán giả cảm giác
  7. mạnh mẽ hơn nhân vật trên màn ảnh hay ngụ ý hạ thấp tầm quan trong của bất cứ nhân vật nào với những người hoặc khung cảnh xung quanh. Trong phim của Murnau The Last Laugh, diễn viên Emil Jannings thường được quay từ trên xuống sau sự sụp đổ của ông, trong khi trước đó các cảnh miêu tả ông như là một ông gác cổng kiêu hãnh thường được quay ở góc thấp. Trong cảnh quay góc thấp, máy quay thường đặt ở dưới nhìn lên sự vật. Hiệu quả của cách này thường là để tạo kịch tính, tạo nên sự xuyên tạc quyền lực của viễn cảnh và toàn bộ sự việc. Nó thường đẩy nhanh diễn biến phim, thêm tầm cao và sức mạnh cho nhân vật. Sự sắp đặt máy quay góc thấp chiếm ưu thế trong phim Citizen Kane của Orson Welles để làm nổi bật sự to lớn phi thường của ông trùm báo chí. Để chấp nhận việc thường xuyên sử dụng kiểu quay này, Welles đã phải xây dựng phim trường toàn là trần nhà. Chính sự có mặt khắp nơi của trần nhà ở cảnh nền đã tạo nên một trong những nét đặc trưng khác thường của Citizen Kane. Chỉ đơn thuần thay đổi góc quay, đạo diễn có thể không chỉ cho thấy sự thăng trầm trong cuộc đời nhân vật mà còn thổi vào thái độ khán giả phải chấp nhận qua những cá tính và hành động trong phim. Sự đa dạng trong các góc quay là vô tận. Không có luật lệ nào về chuyện phải sử dụng góc quay nhất định cho một cảnh nào đó. Góc ngang, góc cao và góc thấp chỉ là những nhóm chính, như là cách quay cạnh ( thêm một chiều nữa cho sự vật ), góc Hà Lan / khung nghiêng ( nhìn sự vật trong cái nhìn nghiêng hiệu quả cao ) và rất nhiều góc quay khác được sử dụng cũng như chưa được biết đến qua bao nhiêu thập kỷ làm phim. Chuyển động máy quay là sự di chuyển ngang, dọc, theo đường ray ( sự chuyển động của máy quay trên một đường ray ngắn đặt sẵn quay theo vật thể di chuyển ) và phóng to thu nhỏ. Có những quy ước quan sát quốc tế dành cho
  8. chuyển động máy quay. Theo quy định, một nhà quay phim sẽ chạy máy quay ở vị trí nhất định trong một thời gian ngắn trước khi bắt đầu chuyển động, và đứng im một lần nữa sau khi hoàn tất chuyển động. Luật lệ này không chỉ giúp cho hình ảnh chuyển động uyển chuyển mà còn cho phép biên tập viên có sự lựa chọn giữa cảnh tĩnh và cảnh động khi đang chỉnh sửa phim. Một cách nhìn thoáng hơn về luật này là chuyển động bắt đầu và kết thúc ở một điểm đặc biệt nào đó đã được chọn sẵn và quay tập nhiều lần trước khi quay chính thức. Đạo diễn hình ảnh trong trường hợp này khá quan trọng trong việc quyết định chuyển động máy, ví dụ sau một cảnh quay ngang từ trái sang phải không thể nào có cảnh quay ngang từ phải sang trái, hay là sự chuyển động của nghệ sĩ từ trái sang phải không thể theo sau một sự chuyển động khác từ hướng ngược lại. Ngoài kiểu quay thường còn có kiểu quay cầm tay, một máy quay xách tay nhẹ cân cầm trên tay của nhà quay phim và dựa vào vai của người đó mà không cần dùng chân chống. Kiểu quay này bắt nguồn từ nhà quay phim thời sự và được sử dụng rộng rãi trong các phim tài liệu và những nhà làm phim tiên phong. Đầu những năm 60’ việc sử dụng máy quay phim cầm tay trong việc sản xuất phim điện ảnh ngày càng tăng, vừa tiện lợi vừa đạt được cảm giác thật hơn trong một số cảnh quay. NGHỆ THUẬT QUAY PHIM Anh chàng quay phim này có trang phục lạ quá?! Không biết người đến từ nước nào nhỉ?
  9. "NGHIÊM BÁ HOÀI WORKING AT VIETNAM FILM COMPANNY" HJ HJ ANH CÓ QUẢ ANH DUYÊN QUÁ Trong mọi cảnh quay quyết định cuối cùng dĩ nhiên thuộc về Đạo diễn, nhưng Đạo diễn chỉ nêu mong muốn tổng thể, quay phim mới là người đưa ra giải pháp thực hiện. Dù phải theo sát nội dung nhưng hình ảnh Điện ảnh vẫn được tạo ra bởi rung động rất riêng của người cầm máy. Những rung động này, ngoài thiên phú, là kết quả của sự gắn bó, đam mê công việc. Quay phim là nghề tiêu biểu cho tính kỹ của Nghệ thuật trong Điện ảnh. Người quay phim bắt đầu công việc ngay khi có kịch bản. Thông qua các con chữ, người quay phim thả trí tưởng tượng của mình bay bổng cho đến khi chọn cảnh. Trong quá trình chọn cảnh các tưởng tượng trước đó trở nên cụ thể, người quay phim sẽ bắt đầu lao động qua phác thảo trên giấy lẫn trên óc. Cơ chế sáng tác của quay phim dựa trên những thành tố sau: 1.ÁNH SÁNG: Ánh sáng là chất liệu đầu tiên của việc thu hình, là nguyên tắc kỹ thuật – bảo đảm đúng sáng chẳng hạn – nhưng cùng lúc cũng là nơi biểu hiện tâm hồn, phong cách của quay phim: người ưa tương phản, kẻ ưa mượt mà, kẻ sáng trưng, người lung linh mờ ảo. Hiệu quả đặc biệt và thấy rõ ràng nhất trong phim “Mùa Len Trâu” của Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh. Cảnh sông nước buổi bình minh, sông nước buổi chiều và cảnh đêm xuống. Ánh sáng trong phim tạo cho người xem trở về với miền quê của Việt Nam, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long mùa nước nổi. Tất cả những hiệu quả đó tuỳ thuộc cách đặt sáng, độ nhạy của
  10. phim, chế độ in tráng. Nhưng trên hết, tuỳ thuộc cảm quan người cầm máy. người quay phim kĩ tính luôn phác hoạ sơ đồ đặt sáng trước khi quay, dù mọi toan tính có thể lệch do khách quan thay đổi. Hiệu quả trong Điện ảnh rất mênh mông, đó là ánh sáng thẳng: khi nguồn sáng chính chiếu trực diện vào đối thể. Với ánh sáng này hình ảnh sẽ rõ rệt nhưng không cho hình khối. Đây là cách chiếu sángđơn giản, an toàn, chân phương nhất. nhưng ít nghệ thuật nhất. Sáng ngược: khi nguồn sáng chính nằm sau lưng đối thể, cách chiếu sáng cho độ tương phản rất cao, chi tiết đối thể không rõ, nhưng nổi bật hình khối nhờ các viền sáng ngược. Sáng ven: Là nguồn sáng trung dung giữa 2 cách chiếu sáng kể trên. Sáng ven được dùng nhiều trong Điện ảnh bởi nó cho cảm giác mọng mượt, vừa nổi khối, vừa thấy rõ chi tiết 2. GÓC ĐỘ: Nếu gọi tác phẩm Điện ảnh là “cái nhìn” tri giác của Đạo diễn, thì với quay phim, hình ảnh là hệ quả của “cái nhìn” trực giác. Trong nghệ thuật quay có vài nguyên tắc thể hiện của góc máy: Máy hất lên cho cảm giác thanh thoát, tôn trọng. Bộ phim “Tướng về hưu” Đạo diễn Khắc Lợi. hình ảnh người tướng già đột qụy ở cuối phim trong tư thế nằm nghiêng ở cầu thang, một tư thế bó hẹp về góc máy. Còn máy chúc xuống gây hiệu ứng trái ngược, khi mô tả khách quan máy không thể cao, thấp, xéo, nghiêng…tuỳ thích mà phải tương đương với mắt nhân vật; vhỉ khi máy đại diện cái nhìn chủ quan tác giả thì góc độ mới tự do. Dù sao, góc độ
  11. nào đi nữa, một tác phẩm Điện ảnh “đẹp”chỉ là khi nó rung động trái tim người xem. 3.BỐ CỤC HÌNH ẢNH. Bố cục nói chung là sự sắp xếp. Bố cục khung hình điện ảnh là sự sắp xếp các vật thể, bối cảnh, ánh sáng, chuyển động nhân vật, góc độ máy sao cho tổng thể đạt tới sự cân đối – đôi khi là ấn tượng của thị giác. Bố cục được xem là ổn thoảkhi bs6n trong nó không có sự dư thừa, rối rắm. Nhưng một bố cục khung hình đẹp đòi hỏi nhiều thứ khác, trong đó có điểm mạnh. Không như sân khấu, điện ảnh cho phép người quay phim cắt cúp thân thể, vật thể, cho phép những cận cảnh rất chặt. Điều đó- một gương mặt cắt ngang trán, một mái nhà hất cao chẳng hạn – khiến bố cục khung hình điện ảnh trở nên độc đáo, ấn tượng. Khung hình điện ảnh có năm kích cỡ căn bản: đặc tả, cận cảnh, trung cảnh, toàn cảnh, toàn cảnh rộng. Đặc tả khi máy dí sát vào đối tượng để nhận ra một chi tiết. Bố cục điện ảnh hoàn chỉnh là một bố cục không chỉ nhắm tới cái đẹp, cái lạ mà góp phần tạo nên kịch tính. 4. ĐỘNG TÁC MÁY. Có thể nói đặc tính của điện ảnh là chuyển động, điếu đó không có nghĩa máy quay nhất thiết phải luôn luôn xoay trở. Chuyển động điện ảnh bao hàm sự chuyển động của máy, chuyển dịch của các đối thể, chuyển động của nội tâm, tính vận động của toàn câu chuyện. Kỹ thuật chia sự “xê dịch” có hai kiểu chính: Lia
  12. (Pan) và Trượt ( Dolly, Travelling). Lia là sự quét máy từ hướng này sang hướng khác, cả chiều ngang lẫn chiều xéo , chiều dọc theo đưởng thẳng. Dolly – hay Travelling là sự đeo bám đối tượng trên m,ặt đất, theo đường thẳng, đường cong hoặc đường tròn. Vì vậy , nhà quay phim tài hoa, bằng sự chuyển dịch ý thức của máy, của ánh sáng sẽ “viết” ra những khuôn hình đẹp. Cái đẹp là đích đến của phim truyện Việt Nam./. PHONG VẤN TRUYỀN HÌNH Phỏng vấn có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất tin hay phóng sự truyền hình. Tuy nhiên, để có được một phỏng vấn hấp dẫn, nhiều thông tin, thu hút khán giả là một điều không đơn giản. Vậy, kỹ năng phỏng vấn trong truyền hình là gì? 1. Tại sao lại cần phỏng vấn? Tin, phóng sự cần thông tin để chuyển tải thông điệp. Phóng sự là một trong những yếu tố không thể thiếu. Khán giả luôn tin vào những điều mà họ trực tiếp được nghe, được chứng kiến hơn là phóng viên cung cấp gián tiếp. Phỏng vấn có thể giải quyết được vấn đề này, phỏng vấn làm cho phóng sự phong phú về thông tin, cung cấp thông tin và thuyết phục khán giả. 2. Cách thức phỏng vấn?
  13. • Biên tập viên phải biết rõ mục đích của cuộc phỏng vấn? Cần thông tin gì, nhiều hay ít, dài hay ngắn, thông tin này để sử dụng vào phần nào của tin hay phóng sự. • Nên chuẩn bị kỹ cho cuộc phỏng vấn. Phải tìm hiểu trước về vấn đề cần phỏng vấn và vạch ra một số câu hỏi. Không nhất thiết phải ghi ra nhiều câu hỏi mà quan trọng là câu hỏi trọng tâm. • Có thể trao đổi trước nội dung với người được phỏng vấn nhưng không nên đưa trước những câu hỏi cụ thể vì sẽ mang tính sắp đặt và không tự nhiên. • Đến phỏng vấn đúng giờ, thậm chí đến sớm để sắp đặt máy quay, bối cảnh. • Trước khi phỏng vấn nên tạo không khí cởi mở, thân thiện với người được phỏng vấn. Trong khi camera đang chuẩn bị thì biên tập viên nên dành thời gian trao đổi với người được phỏng vấn về nội dung. Quan trọng nhất là biến cuộc phỏng vấn trở thành một cuộc trò chuyện cởi mở và thoải mái. • Biên tập viên ngồi thoải mái, lịch sự và ngang hàng với người được phỏng vấn. Tránh ngồi cao quá, thấp quá hay ngồi không thoải mái. Mấu chốt là: luôn luôn nhìn vào mắt gười được phỏng vấn một cách thân thiện và chú ý. Tạo cảm giác người được phỏng vấn đang trò chuyện với công chúng chứ không phải với riêng biên tập viên. • Lắng nghe tích cực và ngắt lời khi cần thiết. Thậm chí, hỏi lại nếu vấn đề nêu ra chưa đầy đủ và thuyết phục. • Không ép buộc hay gợi ý câu trả lời một cách thô thiển.
  14. • Không lặp lại câu hỏi cho nhiều người trong cùng một cuộc phỏng vấn. Mỗi người được phỏng vấn là một câu hỏi khác nhau để tạo sự phong phú và không trùng lặp về thông tin. • Nên áp dụng các câu hỏi mở để thu nhận được nhiều thông tin. • Nếu hỏi nhiều câu hỏi và sử dụng nhiều lần trong phóng sự thì nên thay đổi góc máy. Tạo sự phong phú và không nhàm chán về hình ảnh. • Biên tập viên xưng “tôi” và người trả lời phỏng vấn cũng xưng “tôi” trong quá trình phỏng vấn. Trừ những trường hợp đặc biệt. VD: Sẽ là ngớ ngẩn khi người được phỏng vấn trả lời rằng: “bác nghĩ rằng vấn đề này phải sớm được khắc phục...”. Biên tập viên đại diện cho một cơ quan truyền thông, do đó phải tạo cảm giác tin cậy và ngang hàng trong mọi trường hợp. Người được phỏng vấn đang nói với hàng triệu khán giả chứ không phải đang trò chuyện với một người cháu nào đó. 3. Những điều cần lưu ý • Biên tập viên xuất hiện trên phỏng vấn phải lịch sự, vì vậy nên chú ý về hình thức và trang điểm. • Biên tập viên nên ngồi gần sát máy quay vì hiện nay, khuôn hình trong phỏng vấn chủ yếu là 3/4 (góc nghiêng). Người được phỏng vấn nhìn thẳng vào mắt biên tập viên. Biên tập viên phải ngồi thoải mái để trò chuyện, tránh ngồi gượng ép, co cúi, không đàng hoàng, cầm micro thoải mái, mắt biên tập viên không tập trung vào cuộc trò chuyện gây mất hứng thú cho người được phỏng vấn. • Người được phỏng vấn không nên nhìn thẳng vào camera vì góc hình này quá trịnh trọng, giống như người được phỏng vấn đang tuyên bố một điều gì đó chứ không phải đang trò chuyện với biên tập viên và khán giả.
  15. • Làm “sống” hình ảnh cuộc phỏng vấn bằng một vài góc quay khác nhau, cảnh biên tập viên lắng nghe, cảnh toàn 2 người, cảnh qua vai hay bối cảnh xung quanh. Điều này rất có lợi khi dựng hình. Hơn nữa, tạo cho cuộc phỏng vấn có sự trao đổi và lắng nghe thực sự chứ không phải “độc thoại nội tâm”. • Không nên để cuộc phỏng vấn quá chết và im ắng. Nên vận dụng hợp lý âm thanh của hiện trường. Chính âm thanh của hiện trường sẽ tạo cảm giác hấp dẫn cho những thông tin đang được đưa ra. • Biên tập viên nên chỉnh sửa trang phục lại cho người được phỏng vấn. Nên tháo kính (nếu là kính râm), bỏ mũ…. hay sửa lại trang phục cho phù hợp. Nếu ngồi ghế thì nên lưu ý không nên để người được phỏng vấn ngồi tựa lưng quá sau ghế hay vị tay lên ghế một cách thái quá. • Trong khi camera đang chuẩn bị thì nên tạo cảm giác thoải mái cho người được phỏng vấn bằng những câu chuyện ngoài lề, chuyện vui để làm mối cho cuộc phỏng vấn. Tránh tạo cảm giác quá căng thẳng trước khi máy quay bắt đầu chạy. • Phông nền phỏng vấn phải có lợi cho nội dung phỏng vấn. Phông nền phải có chút thông tin và ăn nhập với nội dung phỏng vấn. Tránh để người phỏng vấn đứng, ngồi trước những phông nền bất lợi như sáng, tối, tương phản về màu sắc, tạo cảm giác khô khan do phông nền quá bẹt và gò bó. • Nếu bắt khôn hình chặt nên chú ý khuôn hình phải có chỗ để bar chữ chú thích tên, tuổi ở phía dưới hay logo của nhà đài ở phía trên. Nhiều trường hợp bar chữ chú thích rơi vào miệng người được phỏng vấn rất phản cảm. • Không nên sử dụng một phỏng vấn quá dài vì nó gây nhàm chán cho khán giả. Những thông tin không cần thiết lắm có thể cho vào phần text của phóng sự.
  16. • Có thể sử dụng phỏng vấn ngắn (khoảng 5-6 giây) nếu phỏng vấn hay nhưng nên chú ý đến việc cần có thời gian để bắn bar chú thích về tên, tuổi địa chỉ người được phỏng vấn thì khán giả mới kịp hiểu. • Hỏi thật kỹ tên, tuổi, địa chỉ, chức danh của người được phỏng vấn. Nên xin danh thiếp, ghi rõ vào sổ hoặc hỏi luôn vào micro với các chú thích rõ ràng để tránh nhầm lẫn. • Tuyệt đối đánh bar chữ sai tên tuổi của người được phỏng vấn. • Trước khi phỏng vấn một nhân vật nào đó, nên có một chuỗi hình ảnh về người này rồi phỏng vấn mới xuất hiện. Tạo cảm giác liền mạch và ăn nhập, mang tính xâu chuỗi. VD: Người được phỏng vấn không xuất hiện trong phóng sự nhưng lại tham gia trả lời phỏng vấn là tối kỵ. Trừ những trường hợp liên kết một chuỗi phỏng vấn để tạo diễn đàn. • Nếu có ý định sử dụng các phỏng vấn liền nhau thì nên tính đến các góc quay (không nên cùng trục quay). Tạo cảm giác đối thoại của các phỏng vấn chứ không phải là các ý kiến nối nhau. • Nội dung của phỏng vấn không trùng lặp với thông tin của phần lời dẫn trong phóng sự. Nên nhấn mạnh phần thông tin chưa được thông báo hơn là lặp lại những gì đã nói. • Không nên hỏi các câu hỏi mang tính số liệu, thống kê hay báo cáo mà nên khai thác theo kiểu cảm xúc trước một vấn đề nào đó. Khán giả muốn biết người được phỏng vấn có phản ứng gì khi sự kiện xẩy ra. • Micro cầm thoải mái, ngay ngắn, không nên xuất hiện micro nhiều trong khuôn hình. Không để micro động vào các vật khác để tránh tiếng sột soạt hay cầm không thoải mái sẽ bị mỏi tay khi phỏng vấn quá lâu.
  17. • Biên tập viên định phỏng vấn nhiều câu nhưng có thể ngừng phỏng vấn nếu một câu trả lời đã bao hàm và đầy đủ các thông tin cần thiết. • Tính kỹ trường hợp phỏng vấn xuất hiện đầu và cuối phóng sự vì hình ảnh của người phỏng vấn và MC sẽ liên tiếp nhau. • Nội dung trám phỏng vấn phải phù hợp và có thông tin. Không nên: trong lúc phỏng vấn lại minh họa chính hình ảnh của người đang phỏng vấn. • Không nên nhìn chằm chặp vào quyển sổ với nhưng câu hỏi có sẵn. Trò chuyện chứ không phải hỏi cung. • Nên dung bút và sổ ghi lại những nội dung quan trọng để không mất nhiều thời gian đọc băng khi làm hậu kỳ. • Sử dụng sổ bé (bằng lòng bàn tay) để gọn nhẹ trong nhiều trường hợp. • Chú ý khi bắt khuôn hình phỏng vấn. VD: sẽ là bất lợi khi bắt cận hình một người mặt có vấn đề. Trường hợp này nên bắt cảnh toàn. • Tránh những tạp âm không cần thiết như tiếng quạt, điều hòa, xe cộ v.v…/. KỲ 1: CẢM GIÁC VỀ KHÔNG GIAN: Trước hết, chiếc máy quay cơ động, chiếc máy của toàn cảnh lưu động làm chúng ta được sống trong một không gian hiện thực. Cái không gian đã không trở thành một viễn thị (tức là hình ảnh mà chúng ta ngắm từ bên ngoài, trái lại nó vẫn là một không gian trong đó chúng ta di chuyển cùng với bản than chiếc máy quay,
  18. và chúng ta đo những bước chân, qua đó rút kinh nghiệm sống về thời gian cần thiết để vượt những khoảng cách ấy. Trong phim Jeanne D’arc của Dreyer, chúng ta không hề thấy địa điểm của Pháp đình tôn giáo. Chúng ta không nhìn thấy nó. Như vậy chúng ta chỉ được xem một hình ảnh với hai chiều, mặc dù nó nằm trong luật viễn cận. Những máy quay lia trước những cái đầu. Chúng ta vượt qua không gian cùng với chiếc máy và chúng ta cảm thấy không gian ấy. TÍNH LIÊN TỤC CỦA KHÔNG GIAN: Trong phim Một Mối Tình Của Jeanne Ney của Pabsi: Một gã cho vay nặng lãi, lo lắng ban đêm cầm đèn pin đảo qua khắp ngôi nhà của hắn. Chùm tia sáng này bò theo dọc tường, từ vật này sang vật khác. Chiếc máy quay đi theo nó trong một hình toàn cảnh. Nó ngập ngừng dừng lại một lát, run rẩy. Chùm tia sáng vẫn dó dẫm tiến lên, như một cái ăng-ten bị kích thích. Mỗi bước tiến lên trong căn phòng là một bí mật mới, một khả năng mới, một chờ đợi mới. Những đặc điểm được vượt qua từng bước một. máy quay theo dõi nó từng giây một, trong căn nhà. Nhưng trong cả cảnh viễn thị được quay rút ngắn, thời gian vẫn còn cho thấy tính hiện thực của không gian. Trong phim Bóng Tối Trên Yoshiwara, Kinugasa bất thình lình chuyển máy quay từ vật này sang vật kia với tốc độ của mắt nhìn. Nhưng khỏang trung gian không bị che lấp. Tính lien tục của không gian, không bị gián đọan. Chúng ta cảm thấy thế, không phải với tư cách là cái kho chứa, cái địa điểm nhận những đồ vật mà với tư cách chính mình là không gian, độc lập với những vật cá biệt. Trong Nhựa Đường, Joe May cho ta thấy căn phòng của viên đội cảnh sát. Chúng ta đi từ vật này sang vật kia bằng máy quay. Từ cái tủ com-mốt đến cái chuồng chim, từ cái bàn đã bày bữa ăn đến cái đồng hồ treo
  19. tường và cuối cùng đến con người ngồi trong căn phòng, tựa hồ chúng ta là một trong những người chủ nhà của nó. Chính nhờ có những khoảng cách đã đi qua đó, chúng ta cảm thấy sự chung sống trong ngôi nhà tiểu tư sản này ngột ngạt biết bao – đó là điều một hình tòan thể không thể cho chúng ta cảm thấy được... KỲ 2: TRÌ HOÃN KHOẢNG CÁCH Chúng ta nhìn thấy trên đặc tả một thay đổi diễn cảm đột ngột, một nụ cười hay một sự khiếp sợ. Nhân vật hữu quan đã nhìn thấy một cái gì, cái gì thế? Chúng ta vẫn chưa biết, máy quay ghi một toàn cảnh về phía mắt nhìn, thong thả rất thong thả đi qua khoảng cách trung gian cho tới khi nguyên nhân của thay đổi diễn cảm xuất hiện trên hình ảnh. Hoặc ngược lại: Trong một cuộc đối thoại, máy quay đưa đi đưa lại toàn cảnh của đặc tả, từ người đối thoại này đến người kia. Người này làm một cái gì đó, người kia sẽ phản ứng ra sao? Chúng ta không biết ngay lập tức. Máy quay từ từ xoay về phía anh ta và người xem phải đoán trước… Ở đây thời gian tự nhiên cũng có thể bị kéo dài ra. Cái gì đó không gây hiệu quả trái tự nhiên, vì nó không bị cảm thấy như một ngưng đọng của hành động, mà như một sự trì hoãn của thể hiện. Đây là một thí dụ cổ điển lấy từ phim Charlot Đi Lính, Chaplin ở trong một chiến hào cùng với những người khác đợi lệnh tấn công. Run lên vì sợ hãi, anh ta rõ ràng phải cố gắng một cách tuyệt vọng để vờ ra vẻ bình thường (vì không có nghệ thuật nào để tỏ ra can đảm khi người ta sợ hãi, nhưng sợ đến thế thì…). Trong cơn bị kích động, Chaplin đánh vỡ cái gương trong túi, những người bạn mê tín thấy thế liền trách anh ta. Vì lúc này anh ta bị điềm gỡ rồi, những người bạn
  20. không thể lùi thật xa trong cái chiến hào chật hẹp – chỉ hai ba bước là đã hết… Nhưng hình toàn cảnh chiếu cái khoảng cách ấy chậm chạp đến nỗi như kéo dài ra bất tận. với cử chỉ nhút nhát, ngập ngừng Chaplin cố chìa tay về phía các bạn nhưng sao họ xa cách đến thế. Bởi vì việc đó kéo dài quá, cho đến khi máy quay đang đưa theo con mắt nhìn của anh ta xoay trở lại. Anh ta cảm thấy sự xa cách ấy lớn quá… “Chẳng lẽ bị cô độc trên đời đến thế này sao?”. Cái nhìn chậm chạp như nói lên điều ấy. Người ta đã nhìn thấy những hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ của sa mạc, khoảng vô tận được chụp hình. Nhưng chưa có người nào bị cô độc khủng khiếp đến thế. Cái ba bước chân ấy quanh Chaplin trở thành sa mạc của sự ruồng bỏ không phương cứu chữa. bởi vì thời gian có vẻ như lâu đến chết người – nhờ toàn cảnh cho đến lúc người ta nhìn thấy người đồng loại. Anh ta mang trong người tất cả nỗi cô độc của tạo vật. Vả lại là kẻ đồng đội trong một cuộc đua ngựa hoặc đi săn. Người ta vẫn ngồi tại chỗ và thưởng thức. Một phần của giây đồng hồ có thể cảm thấy được. Sự phát triển có thực của tình huống trở thành dựng phim. Chúng ta trở lại phim Một Mối Tình Của Jeanne Ney, Feanne gặp người đàn ông mà cô ta yêu lần đầu sau một thời gian xa cách khá lâu. Họ đã nhìn thấy nhau nhưng một hàng rào sắt đã ngăn họ đến với nhau. Ô tô của Feanne ở bên này hàng rào trong khi người yêu của cô ta đi phía bên kia. Máy quay đi theo họ, hai người đều có trong cảnh. Sự kích thích của phút cuối kéo dài trong một nhịp độ mạnh dần. Họ ôm chầm lấy nhau. Nhưng việc này không phải là một động tác kéo dài trong một giây. Họ lao vào nhau bằng cách vượt một khoảng cách rộng. Khoảng cách ấy hóa thành sự cưỡng lại, sự chia cách. Vượt qua nó, chiếc máy quay đã đo được cường độ của một lòng khát khao cháy bỏng... KỲ 3: DỰNG CHỦ QUAN
Đồng bộ tài khoản