HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Tác giả viết bài

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
157
lượt xem
77
download

HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Tác giả viết bài

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Viện Khoa học kiểm sát – VKSNDTC Bảo vệ nhà đầu tư là vấn đề có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán còn rất non trẻ như ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện chúng ta bắt đầu tham gia WTO đồng nghĩa với sự tham gia của các đối tác rất có tiềm lực và kinh nghiệm từ các nước. Để bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời với việc không ngừng hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, cần đặc biệt...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Tác giả viết bài

  1. HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Tác giả viết bài này vào thời điểm tháng 11 năm 2006 THS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI – Viện Khoa học kiểm sát – VKSNDTC Bảo vệ nhà đầu tư là vấn đề có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán còn rất non trẻ như ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện chúng ta bắt đầu tham gia WTO đồng nghĩa với sự tham gia của các đối tác rất có tiềm lực và kinh nghiệm từ các nước. Để bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời với việc không ngừng hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, cần đặc biệt coi trọng việc hoàn thiện các biện pháp pháp luật bảo vệ họ một cách đồng bộ, bao gồm cả các biện pháp pháp luật có liên quan như hành chính, dân sự, hình sự… 1. Biện pháp hành chính Theo quy định của Luật Chứng khoán (LCK) Luật Chứng khoán sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007., các biện pháp hành chính được áp dụng bao gồm các biện pháp quản lý và các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau: 1.1. Biện pháp quản lý a. Quản lý việc chào bán chứng khoán ra công chúng Khi nhà đầu tư (NĐT) mua các chứng khoán (CK) được chào bán tức là nhà đầu tư đã chuyển giao một khoản tiền cho tổ chức phát hành và đổi lại, NĐT được sở hữu các CK – bằng chứng về quyền tài sản (quyền sở hữu vốn trong công ty cổ phần hoặc quyền chủ nợ) và được hưởng những lợi ích mà chứng khoán đó mang lại. Chất lượng và giá trị của CK hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hoạt động của tổ chức phát hành và sự biến động của thị trường. Tuy nhiên, NĐT không thể trực tiếp kiểm tra chất lượng và đánh giá được
  2. giá trị của CK như đối với các loại hàng hoá thông thường khác mà chỉ căn cứ vào các thông tin liên quan đến tổ chức phát hành và đợt phát hành để đánh giá giá trị của chứng khoán khi quyết định đầu tư. Do đó, nếu tổ chức phát hành hoạt động kém hiệu quả hoặc cố ý đưa ra những thông tin không chính xác về tình hình tài chính và đợt phát hành thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của NĐT nói riêng cũng như sự an toàn và hiệu quả của thị trường CK nói chung. Chính vì vậy, pháp luật đã đặt ra những quy định nhằm quản lý chặt chẽ việc chào bán CK ra công chúng. Theo quy định của LCK , cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán CK là Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán CK ra công chúng bao gồm việc cấp Giấy chứng nhận chào bán CK ra công chúng, xem xét gia hạn việc phân phối CK , yêu cầu báo cáo kết quả đợt chào bán, đình chỉ hoặc huỷ bỏ chào bán CK ra công chúng… những nội dung này được quy định tại Chương II của LCK . Tuy nhiên, LCK chưa quy định cụ thể các hình thức chào bán CK ra công chúng cũng như các điều kiện chào bán cụ thể đối với từng hình thức chào bán, nhất là việc chào bán CK trong một số trường hợp đặc biệt (như chào bán CK của các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi chuyển đổi thành công ty cổ phần, chào bán CK của các tổ chức tài chính quốc tế). Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần sớm ban hành nghị định hướng dẫn thi hành LCK để hướng dẫn cụ thể các vấn đề này. b. Quản lý công ty đại chúng Để bảo vệ quyền lợi của NĐT khi họ tham gia đầu tư vào cổ phiếu của các công ty đại chúng, LCK quy định công ty đại chúng phải thực hiện nghĩa vụ nộp Hồ sơ công ty đại chúng cho UBCKNN theo quy định tại khoản 2 Điều 25 và Điều 26 LCK . UBCKNN có trách nhiệm công bố tên, nội dung kinh doanh và các thông tin khác liên quan đến công ty đại chúng trên phương tiện thông tin của UBCKNN. Đây chính là nguồn thông tin làm cơ sở cho NĐT xem xét, đánh giá trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào CK của công ty đại chúng.
  3. Bên cạnh đó, Luật còn quy định các tổ chức, cá nhân trở thành cổ đông lớn của công ty đại chúng phải báo cáo với UBCKNN theo Điều 29 LCK ; trường hợp tổ chức, cá nhân chào mua công khai (chào mua cổ phiếu có quyền biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ 25% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng hoặc chào mua mà đối tượng được chào mua bị bắt buộc phải bán cổ phiếu mà họ sở hữu), thì phải gửi đăng ký chào mua đến UBCKNN và chỉ được thực hiện việc chào mua công khai sau khi UBCKNN chấp thuận. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của cổ đông nhỏ trong công ty đại chúng. c. Quản lý thị trường giao dịch chứng khoán Theo quy định của LCK , chỉ có SGDCK và TTGDCK mới được phép tổ chức thị trường giao dịch CK . Ngoài hai chủ thể này, không tổ chức, cá nhân nào được phép tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán (Điều 33 Luật Chứng khoán). Theo quy định của LCK thì SGDCK, TTGDCK là pháp nhân thành lập và hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Đây là một điểm mới, khác với quy định của Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về CK và thị trường CK Theo Nghị định 144/2003 thì TTGDCK là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc UBCKNN còn SGDCK là một pháp nhân tự chủ về tài chính, chịu sự giám sát và quản lý của UBCKNN.. Tuy nhiên, cho đến nay mới chỉ có hai TTGDCK, chưa thành lập SGDCK. Theo quy định của LCK thì việc thành lập, giải thể, chuyển đổi cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu của SGDCK, TTGDCK phải do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính chứ không thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp; SGDCK, TTGDCK phải chịu sự quản lý, giám sát của UBCKNN. Bộ Tài chính có thẩm quyền phê chuẩn Điều lệ và các chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc SGDCK, TTGDCK sau khi có ý kiến của chủ tịch UBCKNN theo quy định tại Điều 35 và Điều 36 LCK . Thời hạn để thực hiện việc chuyển đổi TTGDCK hiện nay thành SGDCK, TTGDCK theo quy định của LCK là 18 tháng, kể từ ngày Luật có hiệu lực. Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định hướng dẫn vấn đề này.
  4. d. Quản lý niêm yết chứng khoán Niêm yết CK là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại SGDCK hoặc TTGDCK (khoản 18 Điều 6 LCK ). SGDCK, TTGDCK có quyền chấp thuận, huỷ bỏ niêm yết chứng khoán và giám sát việc duy trì điều kiện niêm yết CK của các tổ chức niêm yết, đây cũng là một điểm mới của LCK so với quy định của Nghị định 144/2003 (theo Nghị định 144/2003, tổ chức phát hành muốn niêm yết chứng khoán phải được UBCKNN cấp giấy phép). Tuy vậy, tổ chức phát hành khi niêm yết chứng khoán tại SGDCK, TTGDCK phải đáp ứng các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu CK , nhằm bảo đảm CK được niêm yết, giao dịch tại SGDCK, TTGDCK phải là hàng hoá có chất lượng cao, qua đó bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Trong thời gian tới, để triển khai thi hành LCK , Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định hướng dẫn cụ thể về điều kiện, hồ sơ, thủ tục niêm yết chứng khoán để tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý niêm yết CK . e. Quản lý việc đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán chứng khoán Theo quy định của pháp luật, để hoàn tất một giao dịch CK , sau khi lệnh giao dịch CK được thực hiện sẽ được chuyển sang hệ thống thanh toán, bù trừ, đăng ký và lưu ký CK . Hệ thống này sẽ thực hiện việc bù trừ để xác định được bên sẽ phải giao chứng khoán và bên phải trả tiền; thực hiện các nghiệp vụ chuyển giao CK và thanh toán số tiền mua CK đó thông qua tài khoản của các bên; đăng ký các thông tin về CK và quyền sở hữu CK của người nắm giữ CK và lưu giữ, bảo quản CK của khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với CK . Các hoạt động này góp phần quan trọng vào việc quản lý có hiệu quả thị trường CK ; giảm rủi ro cho hoạt động của thị trường; giảm thiểu chi phí cho các chủ thể tham gia thị trường CK ; đồng thời góp phần giúp các đối tượng của hệ thống tăng nhanh vòng quay vốn; qua đó góp phần bảo vệ quyền lợi cho các NĐT. Các hoạt động này sẽ do Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK) và các thành viên lưu ký (TVLK) thực hiện. Theo Điều 42 LCK, TTLKCK là pháp nhân thành lập và hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của LCK . Việc thành lập, giải thể, chuyển đổi cơ cấu tổ chức, hình thức sở hữu của TTLKCK do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
  5. TTLKCK chịu sự quản lý và giám sát của UBCKNN. Bộ trưởng Bộ Tài chính có thẩm quyền phê chuẩn các chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc TTLKCK theo đề nghị của Hội đồng quản trị sau khi có ý kiến của Chủ tịch UBCKNN. Đây cũng là một quy định mới của LCK so với Nghị định 144/2003 và Quyết định của 189/2005/QĐ-TTg ngày 27/7/2005 về việc thành lập TTLKCK Theo các quy định trước đây thì TTLKCK là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc UBCKNN, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng, kinh phí hoạt động do Ngân sách Nhà nước cấp. Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ cần sớm ban hành nghị định hướng dẫn về việc chuyển TTLKCK sang mô hình mới theo quy định của LCK . g. Quản lý các tổ chức kinh doanh chứng khoán Các tổ chức kinh doanh CK bao gồm các công ty CK , công ty quản lý quỹ đầu tư CK . Các chủ thể này tham gia vào thị trường CK với nhiều tư cách: vừa là nhà môi giới CK , giúp các NĐT thực hiện việc mua, bán CK để hưởng hoa hồng; vừa trực tiếp tham gia mua bán CK để hưởng lợi. Điều đó có thể dẫn đến khả năng công ty CK vì quyền lợi của mình mà làm thiệt hại đến lợi ích của NĐT là khách hàng của công ty. Vì vậy, pháp luật có những quy định nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động của các tổ chức kinh doanh CK . Theo Điều 59 LCK , công ty CK , công ty quản lý quỹ đầu tư CK phải được UBCKNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động (giấy phép). Giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Để được cấp giấy phép, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải có đủ các điều kiện về trụ sở, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh chứng khoán, điều kiện về mức vốn pháp định, điều kiện về chứng chỉ hành nghề kinh doanh CK của người điều hành và các nhân viên kinh doanh của công ty. Trong quá trình hoạt động, nếu có sự thay đổi hoặc tổ chức lại thì phải được sự chấp thuận của UBCKNN theo quy định tại các Điều 68 và Điều 69 LCK . Trường hợp vi phạm các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 70 LCK thì có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc bị thu hồi giấy phép. h. Thanh tra chứng khoán
  6. Thanh tra CK là hoạt động quản lý nhà nước nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về CK và thị trường CK ; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo vệ nhà đầu tư khỏi những rủi ro phát sinh từ những hoạt động không đúng đắn của các đối tượng thanh tra. 1.2. Biện pháp xử lý vi phạm hành chính Trong lĩnh vực CK , vi phạm hành chính có thể biểu hiện dưới nhiều dạng, trong đó có những vi phạm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT như: - Vi phạm quy định về chào bán CK ra công chúng: giả mạo hồ sơ, công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật, sử dụng thông tin ngoài Bản cáo bạch để thăm dò thị trường, phân phối CK không đúng với nội dung của đăng ký chào bán… - Vi phạm quy định về công ty đại chúng: không nộp hồ sơ công ty đại chúng cho UBCKNN theo quy định của pháp luật, không tuân thủ các quy định về quản trị công ty… - Vi phạm quy định về niêm yết CK : có sự giả mạo trong hồ sơ niêm yết CK ; không chấp hành đầy đủ các quy định về thời gian, nội dung và phương tiện công bố thông tin về việc niêm yết… - Vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh chứng khoán và chứng chỉ hành nghề chứng khoán: không thực hiện đúng quy định của LCK về quản lý tiền, chứng khoán của khách hàng; làm trái lệnh của NĐT ; không thực hiện chế độ bảo mật thông tin của khách hàng; cho mượn tiền, chứng khoán trên tài khoản của khách hàng; cầm cố hoặc sử dụng tiền, chứng khoán trên tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng uỷ thác… - Vi phạm quy định về giao dịch chứng khoán: sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán CK cho chính mình hoặc cho người khác; tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho
  7. người khác mua, bán CK trên cơ sở thông tin nội bộ; thao túng giá CK , tạo ra giá CK giả tạo, giao dịch giả tạo… - Vi phạm quy định về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán CK : xác nhận số liệu, chuyển giao CK không đúng thời hạn; sửa chữa giả mạo chứng từ trong thanh toán; vi phạm chế độ bảo quản CK ; chế độ đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán CK ; chế độ bảo mật tài khoản lưu ký của khách hàng; không cung cấp kịp thời danh sách người nắm giữ CK cho tổ chức phát hành… - Vi phạm quy định về công bố thông tin: các chủ thể có nghĩa vụ công bố thông tin như tổ chức phát hành, công ty đại chúng, tổ chức niêm yết, công ty CK, công ty quản lý quỹ và công ty đầu tư CK công bố thông tin không đầy đủ, kịp thời, đúng hạn, đúng phương tiện theo quy định, công bố thông tin sai sự thật hoặc làm lộ bí mật số liệu, tài liệu hoặc không công bố thông tin theo quy định của LCK … Điều 119 LCK quy định: tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính nêu trên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo các hình thức sau: - Hình thức xử phạt chính: phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; - Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung bao gồm: đình chỉ hoạt động; thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường CK , chứng chỉ hành nghề CK ; tịch thu toàn bộ các khoản thu từ việc thực hiện các hành vi vi phạm mà có và số CK được sử dụng để vi phạm. Ngoài các hình thức xử phạt nêu trên, tổ chức, cá nhân vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp như: buộc chấp hành quy định của pháp luật; buộc huỷ bỏ, cải chính những thông tin sai lệch, thông tin sai sự thật; buộc phải thu hồi số CK đã phát hành, hoàn trả tiền đặt cọc hoặc tiền mua CK cho các nhà đầu tư. Theo quy định tại Điều 120 LCK thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động CK và thị trường CK thuộc về Chánh Thanh tra CK và Chủ tịch UBCKNN, theo đó
  8. Chánh Thanh tra CK có quyền áp dụng các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền, còn Chủ tịch UBCKNN có quyền áp dụng tất cả các hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Điều 119 LCK . LCK cũng quy định giao cho Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền, mức độ xử phạt đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động CK và thị trường CK . Vì vậy, trong thời gian tới Chính phủ cần khẩn trương ban hành nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động CK và thị trường CK để cụ thể hoá các quy định của LCK , thay thế cho Nghị định 161/2004/NĐ-CP ngày 7/9/2004. 2. Biện pháp giải quyết tranh chấp về đầu tư chứng khoán Trong quan hệ về đầu tư CK , khi xảy ra tranh chấp, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT , các bên tranh chấp có thể giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà giải hoặc yêu cầu Trọng tài hoặc Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. 2.1. Biện pháp thương lượng Thương lượng là biện pháp giải quyết tranh chấp theo đó các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn mà không cần có sự tham gia của bên thứ ba. Pháp luật về CK và thị trường CK của một số nước trên thế giới còn coi thương lượng là một điều kiện bắt buộc trước khi các bên sử dụng các hình thức giải quyết tranh chấp khác. Ví dụ: khoản 2.2. Điều 202 Luật về chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hàn Quốc quy định: khi nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp của các bên liên quan đến việc mua, bán hoặc các giao dịch chứng khoán khác thì trưởng ban giám sát của UBCK Hàn Quốc có thể thông báo cho các bên liên quan về việc yêu cầu tự thương lượng, hoà giải trong vòng 30 ngày, kể từ khi có yêu cầu này.ở Việt Nam, trong các nghị định về CK và thị trường CK trước đây và Điều 131 LCK cũng có quy định “tranh chấp phát sinh trong hoạt động CK và thị trường CK tại Việt Nam có thể được giải quyết thông qua thương lượng”. Tuy nhiên, thủ tục thương lượng như thế nào và việc bảo đảm thi hành các giải pháp đã được thoả thuận trên cơ sở thương lượng ra sao thì chưa có quy định pháp luật điều chỉnh, chính vì vậy cơ chế giải quyết tranh chấp bằng thương
  9. lượng chưa phát huy được hiệu quả mặc dù nó có ưu điểm là giảm thiểu được xung đột xã hội và chi phí xã hội, bảo vệ được uy tín, bí mật kinh doanh của các bên. 2.2. Biện pháp hoà giải Khác với thương lượng, hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp đòi hỏi phải có sự tham gia của một bên thứ ba, đóng vai trò làm trung gian hoà giải, để giúp các bên phân tích, nhận thức rõ vấn đề tranh chấp, hỗ trợ, thuyết phục các bên tìm kiếm các giải pháp nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn. Tuy nhiên, bên thứ ba là trung gian hoà giải không quyết định tranh chấp của các bên và các bên có quyền chấm dứt vai trò của bên thứ ba bất kỳ lúc nào. Thực tế cho thấy, kết quả hoà giải phụ thuộc rất nhiều vào uy tín, kinh nghiệm và kỹ năng của bên trung gian hoà giải. Trước đây, theo quy định của Nghị định 144 thì “Trung tâm giao dịch CK , Sở giao dịch CK và UBCKNN có thể làm trung gian hoà giải các tranh chấp phát sinh” (khoản 1 Điều 113 Nghị định 144). Điều 37 LCK cũng quy định SGDCK, TTGDCKcó quyền làm trung gian hoà giải theo yêu cầu của thành viên giao dịch khi phát sinh tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch CK . Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, nếu tranh chấp phát sinh giữa NĐT với thành viên giao dịch hoặc giữa thành viên giao dịch với các chủ thể có liên quan trong hoạt động giao dịch chứng khoán thì thành viên giao dịch có quyền đề nghị SGDCK, TTGDCK làm trung gian hoà giải, vậy nhà đầu tư có quyền này không? nếu NĐT không có quyền đề nghị SGDCK, TTGDCK làm trung gian hoà giải thì có thể yêu cầu tổ chức, cá nhân nhân khác làm trung gian hoà giải được hay không? Kết quả hoà giải thành có mang tính bắt buộc đối với các bên tranh chấp và có được bảo đảm thi hành hay không? Mặt khác, hoà giải có phải là thủ tục bắt buộc trước khi NĐT sử dụng các hình thức giải quyết tranh chấp khác không?… Những vấn đề này cần phải có văn bản hướng dẫn thi hành. 2.3. Biện pháp trọng tài Trọng tài là một biện pháp giải quyết tranh chấp khá phổ biến trên thế giới. ở Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động CK bằng trọng tài cũng đã được quy định trong các Nghị định 48/1998, Nghị định 144/2003 và tại Điều 131 LCK . Tuy nhiên,
  10. LCK không quy định cụ thể thẩm quyền của trọng tài thương mại cũng như trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài mà những vấn đề này được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này. Theo thủ tục trọng tài, thì tranh chấp về đầu tư CK sẽ được đưa ra trọng tài giải quyết nếu giữa các bên (NĐT và chủ thể có liên quan) đã có thoả thuận trọng tài. Hội đồng trọng tài (do Trung tâm Trọng tài tổ chức hoặc do các bên thành lập) sẽ quyết định tranh chấp của các bên. Quyết định của Hội đồng trọng tài có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tranh chấp, các bên phải thi hành, trừ trường hợp Toà án huỷ quyết định trọng tài theo quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại. Một vấn đề vướng mắc hiện nay trong việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động CK theo thủ tục trọng tài là việc xác định thẩm quyền của trọng tài thương mại. Theo Điều 2 Pháp lệnh trọng tài thương mại 25/2/2003 thì Trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại. Vậy, hoạt động đầu tư CK có phải là hoạt động thương mại không? Nếu theo quy định của Luật Thương mại 2005 thì hoạt động thương mại là hoạt động của thương nhân nhằm mục đích sinh lợi, mà thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Điều 6 Luật Thương mại). Trong quan hệ đầu tư CK , NĐT có thể là cá nhân không có đăng ký kinh doanh hoặc là tổ chức đầu tư CK (công ty CK , công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư…). Vậy nếu căn cứ vào quy định nêu trên thì chỉ khi quan hệ đầu tư có sự tham gia của NĐT là tổ chức mới thoả mãn các điều kiện của hoạt động thương mại. Mặt khác, nếu căn cứ vào khoản 1 Điều 29 BLTTDS thì tranh chấp về kinh doanh, thương mại phải là tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Như vậy, quan hệ đầu tư của các NĐT cá nhân, không có đăng ký kinh doanh thì chỉ là hành vi dân sự, tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu tư này có thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại không? Vấn đề này cần được hướng dẫn cụ thể. Chúng tôi cho rằng, nên mở rộng thẩm quyền cho Trọng tài thương mại được giải quyết cả các tranh chấp này khi các bên có thoả thuận trọng tài.
  11. 2.4. Biện pháp tố tụng tư pháp Tranh chấp trong quan hệ đầu tư CK có thể được Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng tư pháp khi có một bên khởi kiện ra trước Toà, yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án với tư cách là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ quyết định tranh chấp của các bên. Bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với các bên tranh chấp, các bên phải thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự. Việc giải quyết tranh chấp được tiến hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS). Vấn đề cần lưu ý là việc xác định Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư CK . Để làm rõ vấn đề này phải xuất phát từ tính chất của quan hệ đầu tư CK có tranh chấp. Trong hoạt động đầu tư CK , tranh chấp phát sinh có thể là tranh chấp hợp đồng Ví dụ: hợp đồng mở tài khoản giữa công ty chứng khoán và nhà đầu tư là khách hàng của công ty; hợp đồng quản lý danh mục đầu tư; hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán… ; tranh chấp về mua, bán CK ; tranh chấp về quyền sở hữu CK ; tranh chấp giữa các NĐT là cổ đông của công ty với nhau, giữa cổ đông với công ty liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty, phân phối lợi nhuận… Để xác định thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp nêu trên, chúng tôi cho rằng cần phải căn cứ vào quy định tại Điều 25, Điều 29 và Điều 33 BLTTDS. Theo đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư CK được xác định như sau: - Trường hợp tranh chấp về mua, bán CK (mua bán cổ phiếu, trái phiếu hoặc các CK khác) phát sinh giữa các NĐT với các chủ thể có liên quan mà các bên tranh chấp đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận, hoặc tranh chấp phát sinh giữa các nhà đầu tư là cổ đông của công ty với nhau, giữa cổ đông với công ty liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty, phân phối lợi nhuận, thì được coi là tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo quy
  12. định của Điều 29 BLTTDS và Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó theo thủ tục sơ thẩm là Toà kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh; - Trường hợp tranh chấp về đầu tư CK là tranh chấp về hợp đồng dân sự hoặc về quyền sở hữu CK thì được coi là tranh chấp về dân sự theo quy định tại Điều 25 BLTTDS và Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó theo thủ tục sơ thẩm là Toà án nhân dân cấp huyện hoặc là Toà dân sự Toà án nhân dân cấp tỉnh (nếu có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài). Tuy nhiên, trên thực tế việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa Toà kinh tế và Toà dân sự cũng gặp phải không ít những khó khăn, vướng mắc, nhất là trong quan hệ về đầu tư CK, việc xác định tính chất của quan hệ đầu tư là tranh chấp về kinh doanh, thương mại hay tranh chấp về dân sự là không đơn giản. Ví dụ: quan hệ giữa NĐT là cá nhân với công ty CK trong việc mua, bán CK thì được coi là quan hệ kinh doanh, thương mại (điểm l khoản 1 Điều 29 BLTTDS); nhưng cũng là quan hệ giữa NĐT và công ty CK đó trong hợp đồng tư vấn đầu tư CK thì lại được coi là tranh chấp về hợp đồng dân sự, điều này rõ ràng có điểm chưa hợp lý, thiếu sức thuyết phục. Mặt khác, việc hiểu như thế nào là “tranh chấp về mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác” cũng còn vướng mắc: hiểu theo nghĩa đó là tranh chấp giữa bên mua và bên bán trong việc mua bán CK hay là tất cả các tranh chấp liên quan đến việc mua, bán CK (ví dụ: tư vấn về mua bán chứng khoán; môi giới mua, bán CK; thực hiện các thủ tục mua, bán CK …). Vấn đề này cũng cần có hướng dẫn cụ thể. 3. Biện pháp hình sự LCK đã quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số hành vi vi phạm trong hoạt động CK và thị trường CK, cụ thể là: - Hành vi giả mạo hồ sơ đăng ký chào bán CK ra công chúng (khoản 1 Điều 121) và giả mạo hồ sơ niêm yết CK (khoản 1 Điều 123);
  13. - Hành vi cố ý thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật, sử dụng thông tin ngoài Bản cáo bạch để thăm dò thị trường, phân phối CK không đúng với nội dung của đăng ký chào bán về loại CK, thời hạn phát hành và khối lượng tối thiểu theo quy định, thông báo phát hành trên các phương tiện thông tin đại chúng không đúng nội dung và thời gian quy định (khoản 2 Điều 121); - Hành vi lợi dụng chức trách, nhiệm vụ để cho mượn tiền, CK trên khoản của khách hàng; cầm cố hoặc sử dụng tiền, CK trên tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng uỷ thác (khoản 3 Điều 125); - Hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán CK ; tiết lộ thông tin hoặc đề nghị người khác mua, bán CK (khoản 1 Điều 126); - Hành vi thao túng giá chứng khoán, tạo ra giá CK giả tạo, giao dịch giả tạo (khoản 3 Điều 126); - Hành vi cố ý cung cấp tài liệu giả, làm giả, làm sai lệch hoặc tiêu huỷ tài liệu giao dịch để lừa đảo; dụ dỗ khách hàng mua, bán CK (khoản 4 Điều 126); - Hành vi tạo dựng và tuyên truyền thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường CK, gây lũng đoạn thị trường giao dịch CK (khoản 5 Điều 126); - Hành vi vi phạm quy định về thời hạn xác nhận số liệu; chuyển giao CK; sửa chữa giả mạo chứng từ trong thanh toán; vi phạm chế độ bảo quản CK; chế độ đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán CK; chế độ bảo mật tài khoản lưu ký của khách hàng; không cung cấp đầy đủ, kịp thời danh sách người nắm giữ CK cho tổ chức phát hành (khoản 1 Điều 127); Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm nêu trên phải căn cứ vào quy định của BLHS. Tuy nhiên, BLHS hiện hành lại chưa có quy định cụ thể về các tội danh trong hoạt động CK và thị trường CK. Hiện nay, có một số tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự 1999 (BLHS) có thể vận dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số hành vi phạm tội trong lĩnh vực CK như: tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 BLHS); tội lừa đảo chiếm
  14. đoạt tài sản (Điều 139 BLHS); tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142 BLHS); tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 267 BLHS); tội cố ý làm lộ bí mật công tác (Điều 286 BLHS)… Tuy vậy, có những hành vi không thể căn cứ vào các quy định của BLHS hiện hành để xử lý vì không phù hợp hoặc Bộ luật chưa có quy định. Ví dụ: hành vi sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán CK; tiết lộ thông tin hoặc đề nghị người khác mua, bán CK (pháp luật của một số nước gọi hành vi này là giao dịch nội gián); hành vi thao túng giá CK, tạo ra giá CK giả tạo, giao dịch giả tạo (hành vi lũng đoạn thị trường)… Đây là những hành vi vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch của hoạt động CK và thị trường CK, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của NĐT, cần phải được quy định thành các tội danh cụ thể trong BLHS.
Đồng bộ tài khoản