Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

Chia sẻ: huutaisc

Chương I. Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư chứng khoán 1. Khái niệm 1.1 Khái niệm 1.2 Đặc điểm 2. Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán 2.1. Căn cứ vào mô hình tổ chức 2.2. Căn cứ vào cơ cấu huy động vốn 2.3. Căn cứ vào nguồn vốn huy động 3. Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán 3.1. Đối với nền kinh tế 3.2. Đối với thị trường chứng khoán 3.3. Đối với người đầu tư 3.4. Đối với người nhận đầu tư 4. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư chứng...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
Chương I. Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư chứng khoán
1. Khái niệm
1.1 Khái niệm
1.2 Đặc điểm
2. Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán
2.1. Căn cứ vào mô hình tổ chức
2.2. Căn cứ vào cơ cấu huy động vốn
2.3. Căn cứ vào nguồn vốn huy động
3. Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán
3.1. Đối với nền kinh tế
3.2. Đối với thị trường chứng khoán
3.3. Đối với người đầu tư
3.4. Đối với người nhận đầu tư
4. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán
5. Một số Quỹ đầu tư chứng khoán trên thế giới
Chương II. Hoạt động các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
I. Quỹ đầu tư theo quy chế của Việt Nam
II. Đánh giá chung về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt
Nam
III. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
1. Vietnam Fund
2. Beta Vietnam Fund
3. Vietnam Frontier Fund
4. Vietnam Enterprise Investments Ltd
5. Mekong Enterprise Fund
6. Vietnam Opportunities Fund
7. VietFund
Chương III. Giải pháp thúc đẩy sự hình thành và nâng cao hiệu quả
hoạt động của các Quỹ
đầu tư chứng khoán
1. Về phía Nhà nước
1.1. Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô
1.2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý
1.3. Nhà nước cần khuyến khích và hỗ trợ tích cực cho việc hình thành và phát
triển của Quỹ đầu tư
1.4. Thu hút đầu tư gián tiếp
1.5. Phát triển hệ thống ngân hàng ở Việt Nam
1.6. Thực hiện chính sách ưu đãi về thuế đối với hoạt động đầu tư chứng khoán
của Quỹ đầu tư.
1.7. Tạo lập thị trường hàng hoá cho thị trường chứng khoán bằng các biện
pháp
tăng cung kích cầu
1.8. Nhà nước đặt định hướng phát triển chung cho các Quỹ đầu tư
2. Về phía các Quỹ đầu tư
2.1. Chú trọng và đẩy mạnh việc đào tạo cơ bản đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư
chuyên nghiệp
2.2. Chú trọng nghiên cứu đồng thời phổ biến rộng rãi Quỹ đầu tư ra công
chúng
1
2.3. Chiến lược đầu tư thích hợp




Đề cương chi tiết
I. Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư chứng khoán
1.Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán
1.1 Khái niệm
Quỹ đầu tư chứng khoán là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ
các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác
1.2 Đặc điểm
Quỹ đầu tư chứng khoán có 3 đặc điểm cơ bản sau:
-Đầu tư của quỹ chủ yếu là đầu tư CK
-Quỹ thường ít tham gia điều hành DN mà nó đầu tư
-Mục đích: thu lợi từ hoạt động đầu tư
2. Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán
2.1. Căn cứ theo mô hình tổ chức
- Quỹ đầu tư theo mô hình công ty
- Quỹ đầu tư theo mô hình hợp đồng( tín thác
2.1.1 Quỹ đầu tư theo mô hình công ty

Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thành theo quy định
của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồng quản trị do các cổ đông
(nhà đầu tư) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn công ty quản
lý quỹ và giám sát hoạt động đầu tư của công ty quản lý quỹ và có quyền thay đổi công ty quản lý
quỹ. Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách
nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh
doanh khác. Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của UBCKNN, quỹ đầu tư
không có tư cách pháp nhân.

2.1.2 Quỹ đầu tư theo mô hình hợp đồng( tín thác)

Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Khác với mô hình quỹ đầu tư dạng công ty, mô hình này quỹ
đầu tư không phải là pháp nhân. Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy
động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó, ngân
hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và
ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ
của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư.
Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô hình quỹ đầu tư
dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất
từ khoản vốn đóng góp của họ.




2
2.2. Căn cứ vào cơ cấu huy động vốn
2.2.1. Quỹ đầu tư chứng khoán đóng (Closed-end Fund)
Quỹ đóng là Quỹ đầu tư chứng khoán trong đó người đầu tư không được quyền
bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ trước thời hạn kết thúc hoạt động hay giải
thể
2.2.2. Quỹ đầu tư chứng khoán mở (Opened-end Fund)
Quỹ mở được gọi phổ biến là Quỹ tương hỗ (Mutual Fund). Đây là quỹ được
phép phát hành liên tục các cổ phần mới để tăng vốn, đồng thời sẵn sàng thu
hồi lại các cổ phần đã phát hành mà nhà đầu tư bán lại cho quỹ bất cứ lúc nào
theo giá trị tài sản ròng chứ không theo giá thị trường trong một thời hạn luật
định.
2.3. Căn cứ vào nguồn vốn huy động
2.3.1. Quỹ đại chúng( quỹ đầu tư tập thể)
Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay
pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư
nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với
hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại. ví dụ: VF1, BF1
2.3.2. Quỹ thành viên( quỹ cá nhân)
Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có
thể được lựa chọn trước, là các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh
khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng.Số thành viên tham gia góp vốn không quá 30 và
chỉ bao gồm thành viên pháp nhân. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn,
và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ.
3. Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán
3.1. Đối với nền kinh tế
Quỹ đầu tư huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế ngay cả đối với nguồn vốn
nhỏ lẻ và trực tiếp tiến hành đầu tư chứ không phải cho vay. Quỹ còn hấp dẫn
đối với nguồn vốn từ nước ngoài chảy vào nhờ vào việc phát hành các chứng
chỉ quỹ có tính hấp dẫn cao với nhà đầu tư nước ngoài
3.2. Đối với thị trường chứng khoán
Quỹ đầu tư góp phần vào sự phát triển của thị trường sơ cấp và ổn định thị
trường thứ cấp. Các quỹ tham gia bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ và
trái phiếu doanh nghiệp, phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư làm tăng lượng cung
chứng khoán trên thị trường chứng khoán, tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị
trường
Nó góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp, giúp cho sự phát
triển của thị trường này thông qua các hoạt động đầu tư chuyên nghiệp với các
phương pháp đầu tư khoa học
Quỹ đầu tư góp phần làm xã hội hoá hoạt động đầu tư chứng khoán. Các quỹ
tạo một phương thức đầu tư được các nhà đầu tư nhỏ, ít có sự hiểu biết về
chứng khoán yêu thích. Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư
bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ
3.3. Đối với người đầu tư
Đa dạng hoá danh mục đầu tư và phân tán rủi ro. Bằng việc sử dụng tiền thu
được từ những nhà đầu tư để đầu tư phân tán vào danh mục các chứng khoán,
các Quỹ đầu tư làm giảm rủi ro cho các khoản đầu tư và làm tăng cơ hội thu
nhập cho các khoản đầu tư đó


3
Tiết kiệm chi phí đầu tư. Vì là những danh mục đầu tư lớn được quản lý chuyên
nghiệp, Quỹ đầu tư chịu chi phí giao dịch thấp hay được hưởng những ưu đãi về
phí giao dịch hơn các cá nhân đầu tư, kể cả những người mua bán thông qua
những công ty môi giới có mức phí hoa hồng thấp nhất
Tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư. Thay cho việc người đầu tư
phải đi thuê tư vấn để quản lý tài sản của mình thì họ chỉ cần đầu tư vào một
quỹ với chi phí giảm đi rất nhiều. Tiền tập hợp trong các Quỹ đầu tư chứng
khoán được đặt dưới sự quản lý của các nhà đầu tư chuyên nghiệp là các công
ty quản lý quỹ
An toàn trước các hành vi không công bằng. Người đầu tư có thể bị thiệt hại
nếu danh mục đầu tư của quỹ bị giảm giá trị do sự biến động giá chứng khoán
trên thị trường, nhưng xác suất bị tổn thất do gian lận, bê bối hoặc phá sản liên
quan đến công ty quản lý quỹ là rất nhỏ. Khuôn khổ pháp lý và việc quản lý
chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền đối với Quỹ đầu tư đem lại những đảm
bảo cơ bản.
Tính thanh khoản của chứng khoán đầu tư. Các nhà đầu tư vào Quỹ đầu tư
chứng khoán có thể bán chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu quỹ mình đang nắm giữ
vào bất cứ lúc nào cho chính Quỹ đầu tư (trong trường hợp Quỹ mở) hoặc trên
thị trường thứ cấp (đối với Quỹ đóng) để thu hồi vốn
3.4. Đối với người nhận đầu tư
Chi phí cho nguồn vốn phát triển thấp hơn khi vay ngân hàng. Trước đây, hệ
thống ngân hàng chiếm vai trò thống trị nền tài chính. Để vay được vốn, doanh
nghiệp phải thoả mãn một số điều kiện nhất định và lãi suất vay cao. Quỹ đầu
tư ra đời sẽ hạn chế được những nhược điểm của cơ chế cho vay của ngân hàng
Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn. Lợi ích này có được từ việc quỹ phát hành và
giao dịch các loại chứng khoán này trên thị trường đã thu hút sự chú ý của các
nhà đầu tư, đặc biệt là các chủ thể có khả năng tài chính lớn như ngân hàng,
các tổng công ty, các công ty bảo hiểm… đầu tư vào quỹ
Tận dụng được những kiến thức quản lý đầu tư, marketing và tài chính từ các
Quỹ đầu tư.
Ngoài cung cấp vốn cho doanh nghiệp, các công ty quản lý
quỹ đầu tư còn có dịch vụ cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn về kế hoạch
tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính và doanh
nghiệp khác
4. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán
4.1. Nguyên tắc huy động vốn
Việc huy động vốn của Quỹ đầu tư thông qua phát hành chứng khoán.
Tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để tạo thuận lợi cho việc
quản lý của quỹ cũng như hoạt động đầu tư của những người đầu tư.. Do vậy, nguyên tắc chung là
quỹ chỉ phát hành cổ phiếu (mô hình công ty) và chứng chỉ hưởng lợi (quỹ dạng tín thác). Ngoài
ra, quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu tư. Quỹ chỉ được phép vay vốn
ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn
4.2. Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ
Tài sản của quỹ phải được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản. Tổ chức này chịu trách
nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các nhà đầu tư, trên thế giới hiện nay thì các tổ chức bảo
quản tài sản thông thường là ngân hàng.
Nguyên tắc chung của hầu hết các nước là tổ chức bảo quản tài sản trong quá trình giám sát không
có quyền quyết định hoàn toàn mà phải cùng bàn bạc, biểu quyết với các chủ thể khác như công ty
quản lý quỹ
4
4.3. Nguyên tắc định giá phát hành và mua lại chứng chỉ của quỹ
Khi các nhà đầu tư đầu tư hoặc rút vốn của họ từ một quỹ, việc xác định giá phải dựa trên nguyên
tắc công bằng giữa các nhà đầu tư hiện tại với các nhà đầu tư mua hoặc bán chứng chỉ. Điều này
được thể hiện trong cách thức xác định giá trị tài sản của quỹ khi mua bán chứng chỉ.
4.4. Nguyên tắc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư
Việc cung cấp thông tin vừa có ý nghĩa là tạo cơ hội cho quỹ thu hút vốn đầu tư vừa để góp phần
bảo vệ lợi ích của người đầu tư
Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo sự
thống nhất dễ hiểu cho các nhà đầu tư
4.5. Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ
Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên quan với quỹ. Giao dịch giữa
các chủ thể có liên quan là các giao dịch liên quan tới tài sản của quỹ giữa một bên là Quỹ đầu tư và
một bên là chủ thể khác như công ty quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản giám sát, người bảo lãnh
phát hành, nhà tư vấn… mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng đến lợi ích của người đầu tư
hiện tại của quỹ
Tại Mỹ các Quỹ đầu tư hoạt động theo hai mô hình là mô hình công ty và mô hình tín thác. Trong
đó thì mô hình công ty đặc biệt là các quỹ dạng mở chiếm ưu thế hơn cả

5.Một số quỹ đầu tư chứng khoán trên thế giới

5.1. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường phát triển
5.1.1 . Hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán ở Mỹ
Quỹ đầu tư chứng khoán ở Mỹ có một lịch sử khá lâu đời và đã nhanh chóng phát huy được những
đặc tính ưu việt của mình nhờ được sự hỗ trợ đáng kể của một nền kinh tế phát triển khá ổn định và
một thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả.
5.1.2. Quỹ đầu tư chứng khoán ở Anh
Quỹ đầu tư chứng khoán ở Anh có thể tồn tại dưới hai dạng kết thúc đóng và kết thúc mở tương ứng
với hai loại hình quỹ đặc trưng của Anh là Quỹ tín thác đầu tư và Quỹ tín thác đơn vị.
Ở Anh, các công ty quản lý quỹ hay Quỹ đầu tư cũng không đảm nhận việc mua bán chứng chỉ quỹ
hay cổ phiếu trực tiếp tới công chúng, chức năng này thường do một công ty chứng khoán thực hiện
Các Quỹ đầu tư ở Nhật mang một số đặc điểm nổi bật sau. Các quỹ chỉ tồn tại theo mô hình tín thác
chứ không theo mô hình công ty
5.1.3. Hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán ở Nhật Bản
Quỹ đầu tư lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật vào năm 1941. Trải qua nhiều khó khăn nhưng kể từ năm
1996 trở lại đây, các Quỹ đầu tư đã thực sự bước vào giai đoạn phát triển ổn định và đóng một vai
trò quan trọng vào sự phát triển của thị trường chứng khoán và nền kinh tế nói chung
5.2. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường mới nổi
5.2 .1 Quỹ đầu tư chứng khoán tại Hàn Quốc
Quỹ đầu tư chứng khoán Hàn Quốc được hình thành từ năm 1969 với mô hình tương tự như mô
hình Quỹ đầu tư dạng tín thác ở Anh. Chính phủ Hàn Quốc quyết định chọn mô hình này là nhằm
hỗ trợ cho chính phủ trong các chính sách phát triển kinh tế. Bởi vì Quỹ đầu tư mô hình tín thác là
yếu tố cần
thiết trong việc huy động được một lượng vốn khổng lồ cho tiến trình phát triển kinh tế trong ngắn
hạn và đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tư chứng khoán gián
tiếp. Hiện nay, Hàn Quốc đã cho phép tồn tại cả hai mô hình tín thác và công ty
5.2.2. Quỹ đầu tư chứng khoán ở Thái Lan
Chỉ sau khi thị trường chứng khoán Thái Lan ra đời được một năm (năm 1974), chính phủ Thái Lan
đã rất chú trọng đến việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh chứng khoán và tăng cường khả năng huy
động vốn bằng cách thiết lập Quỹ đầu tư chứng khoán dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn. Nhờ
đó giúp giới đầu tư Thái Lan vốn rất bỡ ngỡ với thị trường chứng khoán có thể có được một phương
5
thức đầu tư mới đơn giản và an toàn hơn nhờ tính đầu tư chuyên nghiệp của quỹ. Tuy nhiên phải
đến hai năm sau, hệ thống Quỹ đầu tư
chứng khoán Thái Lan mới chính thức đi vào hoạt động. Trải qua nhiều thăng trầm, đến những năm
90, kể từ khi Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán mới ra đời vào năm 1992 thì hệ thống
Quỹ đầu tư chứng khoán ở Thái Lan mới phát triển rực rỡ. Sự thành công này phụ thuộc rất nhiều
vào khả năng phân phối và dịch vụ của các Quỹ đầu tư. Các quỹ đã xây dựng được các kênh phân
phối rất mạnh thông qua việc liên kết với các ngân hàng thương mại lớn. Góp thêm vào sự phát
triển của các quỹ còn phải kể đến các văn bản
luật và quy chế của uỷ ban chứng khoán hoạt động khá hiệu quả do được soạn thảo bởi những người
có kinh nghiệm. Bên cạnh đó, Thái Lan cũng khuyến
khích việc liên doanh với nước ngoài để thành lập Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ nhằm tranh
thủ vốn và kỹ năng của đối tác nước ngoài. Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng là cùng với
sự hoạt động của các tổ chức tín thác đầu tư, Thái Lan cũng đã có một sự quan tâm đúng mức đến
việc đào tạo
nguồn nhân lực cho hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán

Chương II. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TẠI VIỆT NAM

I. Quỹ đầu tư theo quy chế của Việt Nam
Quy chế về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán và
công ty quản lý quỹ định nghĩa Quỹ đầu tư chứng khoán như sau
“Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của người
đầu tư, được uỷ thác cho công ty quản lý quỹ quản lý và đầu tư vào
chứng khoán tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ”
Cũng theo tinh thần của quy chế, chỉ có hai loại quỹ căn bản được
đề cập, đó là Quỹ đầu tư chứng khoán đóng (Quỹ đóng) và Quỹ đầu
tư chứng khoán mở (Quỹ mở).
Tham gia trong quá trình hoạt động của quỹ chủ yếu có công ty
quản lý quỹ và ngân hàng giám sát. Công ty quản lý quỹ đứng ra
quản lý quỹ, phát hành chứng chỉ đầu tư,cử người điều hành, quản
lý hoạt động và chịu tráchnhiệm về hiệu quả và pháp lý của quỹ.
Ngân hàng giám sát đảm nhận việc bảo quản, lưu ký các chứng
khoán mà quỹ nắm giữ để kinh doanh, lưu giữ các hợp đồng kinh tế,
các chứng từ có liên quan tới tài sản của quỹ, đồng thời giám sát
hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ
Thành viên hội đồng quản trị công ty quản lý quỹ, người điều hành
công ty quản lý quỹ và những người điều hành quỹ không được là cổ
đông của ngân hàng giám sát
Theo nội dung của quy chế, công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư là
hai thực thể được cơ cấu và tổ chức khác nhau. Công ty quản lý quỹ
cùng lúc có thể khai sinh và quản lý nhiều quỹ độc lập nhau, đồng
thời có sự độc lập cả về tài sản, các nghĩa vụ tài chính giữa công ty
quản lý quỹ và một Quỹ đầu tư nào đó. Người điều hành quỹ là

6
người được công ty quản lý quỹ chỉ định để trực tiếp điều hành hoạt
động của một quỹ. Trong khi công ty quản lý quỹ được tổ chức và
hoạt động như một doanh nghiệp, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có
hội đồng quản trị và hệ thống hành chính nhân sự… thì Quỹ đầu tư
là một tập hợp có điều lệ và tài sản độc lập nhưng không có bộ máy
điều hành riêng gắn trựctiếp với nó. Quỹ đầu tư không là pháp nhân
mà chỉ có đại hội những người
đầu tư do công ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát triệu tập có
điều kiện
và tuỳ thuộc vào tình huống được nêu trong quy chế. Các Quỹ đầu
tư khi được
tổ chức theo SSC thì thực chất có thể xem là các sản phẩm của
công ty quản lý
quỹ đầu tư. Tuy nhiên, theo định nghĩa của quy chế, chúng lại được
xem là tài
sản uỷ thác cho công ty quản lý quỹ để quản lý
Một số quy định về cơ cấu vốn và điều kiện đầu tư của công ty quản

quỹ và Quỹ đầu tư được nêu trong quy chế như sau:
- Một Quỹ đầu tư chứng khoán, cả Quỹ đóng và Quỹ mở, phải đầu tư
tối
thiểu 60% tổng giá trị tài sản của chúng vào chứng khoán.
- Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của một
quỹ
đầu tư quá 15% tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của một tổ
chức phát
hành và không được đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của một
quỹ vào
chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành.
- Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của quỹ
để
cho vay và bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào, và không được phép
vay để tài
trợ cho hoạt động của quỹ trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang
trải cho các
chi phí cần thiết.
- Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của một
quỹ
để đầu tư trực tiếp vào bất động sản quá 10% giá trị tài sản của
quỹ.
- Một quỹ không được nắm giữ quá 10% tổng vốn cổ phần của một
công
7
ty không niêm yết, đồng thời không được sử dụng quá 5% tổng giá
trị tài sản
của quỹ để đầu tư vào riêng tại một công ty không niêm yết nào đó.
- Một quỹ không được nắm giữ quá 30% tổng giá trị tài sản của các
công
ty trong cùng một tập đoàn hay một nhóm công ty có quan hệ sở
hữu lẫn nhau.
- Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của các
quỹ
do mình quản lý để mua quá 49% tổng giá trị chứng khoán đang lưu
hành của
một tổ chức phát hành (đã tham gia thị trường chứng khoán) hoặc
một công ty
không niêm yết.
Về việc giải thể của quỹ. Quỹ chỉ được giải thể trong trường hợp kết
thúc
thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ quỹ, hoặc trong trường hợp
phải giải thể
quỹ nhằm bảo vệ lợi ích người đầu tư. Việc giải thể phải xin phép Uỷ
ban
chứng khoán nhà nước và chỉ được chấp thuận khi phương án giải
thể quỹ phù
hợp với quyền lợi người đầu tư. Trong trường hợp công ty quản lý
quỹ phá
sản, tài sản thuộc quỹ là của người đầu tư và không được tính là tài
sản của
công ty quản lý quỹ. Không ai được sử dụng vốn hay tài sản của của
quỹ để
thanh toán những khoản nợ của công ty quản lý quỹ.
II. Đánh giá chung về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt
Nam
Sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, đặc biệt là kể từ khi
Luật
đầu tư nước ngoài được ban hành vào tháng 2 năm 1998, hàng loạt
công ty
đầu tư nước ngoài đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Cùng với làn
sóng đầu tư
đó, trước năm 1993 khi có thông tin về sự hình thành của thị trường
chứng
khoán Việt Nam, một số Quỹ đầu tư cũng đã được thành lập. Đây là
các quỹ


8
đầu tư tư nhân thành lập ở nước ngoài nhưng được phép vào hoạt
động có hạn
chế ở Việt Nam.
- Tháng 10 năm 1991 : Vietnam Fund
- Tháng 06 năm 1992 : Vietnam Keppel Fund (The Vietnam
Investment
Fund Ltd.)
- Tháng 08 năm 1993 : Beta Vietnam Fund
- Tháng 07 năm 1994 : Vietnam Frontier Fund
- Tháng 07 năm 1994 : Vietnam Enterprise Investment Fund
- Tháng 09 năm 1994 : Templeton Vietnam Opportunities Fund
- Tháng 10 năm 1994 : Lazard Vietnam Fund
Tất cả các quỹ này đều được niêm yết ở Dublin, Ireland do lệnh cấm
vận
Việt Nam của Mỹ trước tháng 9 năm 1994. Sau khi dỡ bỏ lệnh cấm
vận,
Templeton Vietnam Opportunities Fund được thành lập và niêm yết
ở New
York Stock Exchange.
Cuối năm 1994, mặc dù số vốn các quỹ huy động chưa được đầu tư
hoàn
toàn nhưng giá giao dịch của các quỹ trên tất cả các thị trường
chứng khoán
đều được giao dịch ở mức Premium. Đây là thời gian các quỹ phát
triển rất
mạnh mẽ do thực tế năm 1993, 1994 là những năm cao điểm của
đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam. Việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận là một trong những
lý do
chính đem lại sự thành công vang dội này. Chính vì vậy, cổ phiếu
của các quỹ
đều được giao dịch ở mức Premium.
Bảng 2.1 : Hoạt động của các quỹ vào tháng 11 năm 1994
Nguồn: Reports by Baring Securities, Merril Lynch
Tất cả
Tên quỹ các quỹ trên nhìn chung đều được M/P là các TTCK nội địa vì
Vốn huy động Giá cổ phiếu gọi Quỹ Dạng quỹ
tất cả ( tr USD) (USD)
Vietnam Fund 75 15 +40.6% Dublin Đóng
Vietnam Keppel 12.5 - - - Đóng
Fund
Beta Vietnam Fund 68.3 52.5 +4.6% Dublin Đóng
Vietnam Frontier 27.5 5.5 +10.2% Dublin Đóng
Fund
Vietnam Lazard 58.8 - - - Đóng
Fund
Templeton 117 - +6.1% NYSE Đóng
Vietnam Fund 9
vốn của chúng đều được đầu tư vào một quốc gia riêng lẻ. Phương
pháp đầu tư
thông thường của các quỹ là mua cổ phiếu của các công ty không
được niêm
yết, các công ty được cổ phần hoá hay tham gia vào sự hình thành
của các
công ty mới như là những cổ đông sáng lập. Do ở Việt Nam vào năm
1993,
1994 không có thị trường chứng khoán nên các Quỹ đầu tư không
có sự lựa
chọn nào hơn là đầu tư vào những công ty không niêm yết. Vì vậy,
sự thành
thạo chuyên môn của họ trong việc điều hành các danh mục đầu tư
bị hạn chế
và các quỹ buộc phải đầu tư vào những công ty không được niêm
yết một cách
hấp tấp. Phụ thuộc vào kỹ năng quản lý, khả năng tiếp cận, các quỹ
sẽ đầu tư
vào những lĩnh vực khác nhau. Nhìn chung, tới năm 1998 các quỹ
đầu tư vào
những lĩnh vực sau:
- Bất động sản: toà nhà văn phòng, khách sạn, tổ hợp giải trí…
- Vật liệu xây dựng
- Dệt may
- Dược
- Sản phẩm nông nghiệp, chế biến thực phẩm
- Vận tải công cộng
- Sản xuất than thép
- Ngân hàng, tài chính
- Dịch vụ y tế và giáo dục
- Xây dựng
- Thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông
Tiêu chuẩn để quyết định đầu tư vào một dự án là tỷ lệ hoàn vốn nội
bộ
IRR (ít nhất là 20%), tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng cao, thời kỳ hoàn
vốn ngắn
(5 năm hoặc ít hơn, ngoại trừ các dự án đầu tư vào bất động sản)
bởi vì thời
gian hoạt động của các quỹ thông thường 10 năm là cao nhất. Dự
án còn phải
có triển vọng được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Trong thời
gian này,
10
khi chưa có thị trường chứng khoán Việt Nam thì cổ phiếu của một
số dự án
đã được niêm yết ở thị trường chứng khoán Hồng Kông hay
Singapore. Quá
trình để đưa ra quyết định đầu tư bằng cách chọn lựa và đánh giá
mỗi dự án
trước khi chúng được đưa ra hội đồng thẩm định đầu tư của mỗi quỹ
là một sự
chuẩn bị với sự thận trọng ở mức cao nhất và rất chuyên nghiệp.
Những đánh
giá đầu tư như vậy không chỉ liên quan tới bản thân quỹ mà còn
phải cần đến
dịch vụ của kiểm toán, công ty luật để giúp quỹ đưa ra những quyết
định đúng
đắn nhất. Quá trình này thông thường phải mất 6 tháng để đưa ra
quyết định.
Trong thực tế, mỗi quỹ phải xem xét 300 tới 400 dự án để chọn ra
khoảng 30
dự án làm thành một danh sách đầu tư tiềm năng. Từ danh sách
này, hội đồng
quản trị của quỹ sẽ lựa chọn ra khoảng 15 đến 20 dự án để đầu tư.
Với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, một vài quỹ đã điều chỉnh cả
những
quy định của thể chế tài chính để có thể đầu tư vào các công ty
tiềm năng trên
thị trường Việt Nam. Khi chưa có những văn bản luật nào cho phép
sự tham
gia của nhà đầu tư nước ngoài vào ngân hàng địa phương, các quỹ
đã táo bạo
đầu tư vào những ngân hàng cổ phần tư nhân. Nhiều quỹ đã sử
dụng thoả
thuận khoản vay có thể chuyển đổi để có thể đầu tư sớm vào ngân
hàng ACB,
ngân hàng Maritime hay ngân hàng AP…
Khi đầu tư vào Việt Nam, các quỹ phải đối mặt với nhiều rào cản
làm
hạn chế đầu tư. Với hành lang pháp lý còn nhiều bất cập, những hạn
chế trong
việc chuyển đổi tiền tệ, rủi ro tỷ giá đi liền với sự quan liêu và gánh
nặng hành
chính ở mọi cấp… đã làm giảm giá cổ phiếu của quỹ. Thêm vào đó,
khủng
11
hoảng tài chính khu vực năm 1997 và những hạn chế khác đã ảnh
hưởng tới
khuynh hướng đầu tư của nhiều nhà đầu tư vào thị trường Việt Nam.
Trong
một thời gian dài hoạt động tại Việt Nam nhưng quỹ Templeton
không thể
nhận ra đâu được là những dự án đầu tư phù hợp. Họ nhận được 250
lời đề
nghị đầu tư nhưng chỉ mới ký kết được mỗi 3 dự án. Không tìm được
cơ hội
đầu tư, Templeton Vietnam Opportunities Fund đã buộc phải cơ cấu
lại vốn,
phân nửa tài sản được trả lại cho các cổ đông và quyết định chuyển
90 triệu
USD còn lại trong quỹ sang một quỹ khác, chuyển trọng tâm hoạt
động sang
các thị trường khác trong Đông Nam Á, trở thành quỹ khu vực. Thực
tế, trong
bảy quỹ trên thì chỉ còn năm quỹ hoạt động cầm chừng hoặc bán tài
sản để kết
thúc hoạt động. Tổng số vốn đầu tư của Lazard Vietnam Fund là
58,8 triệu
USD nhưng quỹ mới chỉ đầu tư được 9,5 triệu USD tức 16% tổng vốn
của
mình, số còn lại vẫn ở dưới dạng tiền mặt. Do vậy, mặc dù, đến năm
2002 quỹ
mới hết thời hạn hoạt động nhưng Lazard Vietnam Fund đã kết thúc
sớm hoạt
động của mình vào năm 1998 bằng cách bán 6,6 triệu USD giá trị cổ
phần của
nhà máy đường Nagarjuna cho người điều hành Ấn Độ. Nó cũng bán
6.6%
vốn góp ở công ty cổ phần cơ điện lạnh REE trị giá 1 triệu USD cho
Dragon
Capital Ltd. Vietnam Keppel Fund thì chỉ đầu tư vào những dự án
nào mà có
sự tham gia của Keppel Corporation. Vào năm 1998, quỹ ngừng
hoạt động tại
Việt Nam. Tình hình đầu tư của các quỹ khác cũng không được khả
quan.
Vietnam Frontier mặc dù NAV tăng 18% nhưng điều đó cũng không
phản ánh
12
được gì vì các quỹ Mỹ Latin có mức tăng NAV trung bình là 31%.
Vietnam
Fund thì đang được giao dịch ở mức 18% Discount so với mức 75%
Premium
trong những năm đầu hoạt động. Tới bây giờ, trong bảy quỹ đó thì
chỉ còn bốn
quỹ hoạt động ở Việt Nam là: Vietnam Fund, Beta Vietnam Fund,
Vietnam
Frontier Fund, Vietnam Enterprise Investments Ltd. Chúng đang thu
hẹp hoạt
động của mình hoặc bán tài sản để kết thúc hoạt động của quỹ. Các
quỹ sẽ kết
thúc hoạt động nếu các cổ đông không bỏ phiếu để mở rộng hoạt
động của
quỹ. Tất cả các Quỹ đầu tư nêu trên đều là những Quỹ đầu tư
chuyên nghiệp,
được điều hành bởi các quản trị viên xuất sắc, trong đó có cả các
nhà đầu tư
Việt Nam tên tuổi rất nổi tiếng trong giới đầu tư quốc tế, song cuối
cùng họ
không đạt được thành công như mong muốn. “Việt Nam vẫn chỉ là
một lời dự
đoán tốt” đó là nhận định của các nhà đầu tư đối với Việt Nam.
Vậy thì lý do nào đã làm nên một bức tranh u ám cho phần
lớn các quỹ ?
Môi trường kinh tế không ổn định. Do tác động bất lợi của cuộc
khủng
hoảng tài chính tiền tệ khu vực lên các mặt hoạt động then chốt của
nền kinh
tế và những bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế. Đầu tư phát triển trong
nền kinh
tế, đặc biệt là đầu tư của các doanh nghiệp và của nhân dân vẫn
trầm lắng, đầu
tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh. Hoạt động thị trường nói chung
đều kém
sôi động. Cơ hội và môi trường đầu tư vẫn bấp bênh. Tiền gửi tiết
kiệm và các
nguồn vốn huy động qua ngân hàng tăng nhanh hơn mức tăng
trưởng tín dụng,
dẫn tới ứ đọng vốn. Trong khi các ngân hàng ứ thừa vốn thì các
doanh nghiệp
cần vốn lại e ngại đầu tư.
13
Trong bối cảnh nền kinh tế đó, hầu hết các công ty lâm vào tình
trạng
khó khăn, một số doanh nghiệp chỉ hoạt động cầm chừng nên các
Quỹ đầu tư
rất khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư. Tình trạng trầm lắng
của nền
kinh tế cũng gây nên tâm lý ngần ngại, e dè cho các tập đoàn tài
chính quốc tế
trong việc quyết định thành lập Quỹ đầu tư.
Hành lang pháp luật. Có thể thấy hành lang pháp luật của Việt Nam
đang
được cải tổ nhưng thực tế nó luôn không theo kịp diễn biến của thị
trường.
Giới hạn của Luật doanh nghiệp chỉ cho phép các đối tác nước ngoài
được
nắm giữ tối đa 30% cổ phiếu của một công ty. Do đó, tác động của
họ với đối
tác đầu tư hoàn toàn không đủ mạnh. Bên cạnh đó, các điều luật về
chứng
khoán, tài chính, ngân hàng có liên quan cũng đều không đồng bộ.
Tất cả
những bất cập đó khiến các Quỹ đầu tư phải hoạt động trong một
hành lang
pháp lý hẹp.
Sự phát triển của thị trường mới nổi khác. Trước đây các nhà đầu tư
rất
háo hức tham gia vào thị trường Việt Nam, coi đây là một thị trường
mới nổi
đầy tiềm năng. Nhưng sau một thời gian hoạt động không hiệu quả
tại Việt
Nam, bên cạnh đó lại xuất hiện nhiều thị trường mới nổi khác có môi
trường
đầu tư thuận lợi hơn nhiều so với Việt Nam, nên đã buộc các nhà
đầu tư phải
cân nhắc lại quyết định đầu tư của mình.
Hoạt động của thị trường chứng khoán. Hoạt động của các Quỹ đầu

có hiệu quả, có mang lại lợi nhuận hay không phụ thuộc vào sự sôi
động của
thị trường chứng khoán. Trong khi đó, nhịp độ hoạt động trên thị
trường

14
chứng khoán lại là hệ quả của sự tham gia của các doanh nghiệp và
sự quan
tâm của công chúng đầu tư vào thị trường chứng khoán. Nhiều
doanh nghiệp
cho rằng họ vẫn chưa thực sự có nhu cầu huy động vốn dài hạn
thông qua thị
trường chứng khoán. Một số doanh nghiệp chỉ cần nguồn vốn ngắn
hạn để
trang trải các chi phí sản xuất mà ngân hàng cũng có thể đáp ứng
được nhu
cầu này, hơn nữa lãi suất ngân hàng hiện nay tương đối thấp. Như
vậy, ban
đầu sự tham gia của các doanh nghiệp là khá hạn chế. Về phía công
chúng, họ
ngại môi trường kinh tế không ổn định dễ phát sinh rủi ro khi đầu tư
vào
chứng khoán.
Chính sách thu hút đầu tư. Các Quỹ đầu tư nước ngoài luôn nhắm
đến thị
trường chứng khoán và mong muốn đầu tư vào các cổ phiếu niêm
yết hoặc sắp
được niêm yết vì chất lượng và tính thanh khoản cao của thị trường
này. Quá
trình đầu tư gián tiếp này còn giúp họ tiết kiệm được thời gian
nghiên cứu cơ
hội và giảm thiểu chi phí đầu tư so với đầu tư trực tiếp trong khi vẫn
đóng góp
được vốn và kinh nghiệm quản trị cho các doanh nghiệp đầu tư. Tuy
nhiên,
các nhà quản lý hình như chưa có chính sách thông thoáng để thu
hút nguồn
vốn đầu tư gián tiếp này, họ sợ bị phụ thuộc vào nguồn vốn nước
ngoài.
Nhân sự. Trong một vài trường hợp, tuyển dụng các nhà quản lý dựa
trên
mối quan hệ cá nhân ở Việt Nam với kết quả là người quản lý không
phù hợp
với các tiêu chuẩn. Một số trường hợp khác, người điều hành được
tuyển do
các công ty săn đầu người nước ngoài nên họ không có kinh nghiệm
kinh

15
doanh ở Việt Nam và giải quyết những mâu thuẫn với nhân viên địa
phương.
Mặc dù với những hạn chế trên, nhưng từ năm 2002 đến nay, đã có
hai
Quỹ đầu tư mới đang đi vào hoạt động đó là Mekong Enterprise
Fund và
Vietnam Opportunities Fund. Đặc biệt một sự kiện nổi bật khác đó là
sự thành
lập của công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tiên tại Việt Nam
Vietnam
Management Fund. Phải chăng cơ hội đầu tư đã quay trở lại?
Dưới đây, chúng ta sẽ có một cái nhìn cụ thể về hoạt động của từng
quỹ
tại Việt Nam.
III. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
1. Vietnam Fund
Vietnam Fund là Quỹ đầu tư đầu tiên bước chân vào thị trường Việt
Nam
với tổng vốn đầu tư là 57,6 triệu USD. Cổ phần của quỹ ngoài việc
được niêm
yết trên Sở giao dịch chứng khoán Dublin, nó còn được giao dịch
trên thị
trường OTC London. Mục tiêu của Vietnam Fund là đạt được sự tăng
trưởng
vốn dài hạn thông qua việc đầu tư vào các dự án và công ty chưa
được niêm
yết tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu trên, quỹ thiết lập hai danh
mục đầu tư
theo tỷ lệ 40/60 cho các khoản đầu tư vào các công ty Việt Nam và
các liên
doanh do người nước ngoài điều hành. Quá trình đầu tư được chia
làm hai giai
đoạn mỗi giai đoạn có thời hạn 5 năm.
Vietnam Fund là quỹ dạng đóng, được tổ chức theo mô hình công ty.
Công ty quản lý quỹ là Vietnam Fund Management Company. Ngân
hàng
giám sát là Lloyds Bank. Công ty quản lý quỹ, ngân hàng Lloyds
nhận được
khoản thu phí từ 2,5% và 0,25% (ít nhất là 75.000 USD) trên giá trị
tài sản
ròng lần lượt từng năm một.

16
Chính sách định giá của Vietnam Fund là bất kỳ một sự gia tăng nào
về
giá trị tài sản thuần của quỹ và việc mua lại chúng của quỹ đều
được phản ánh
ở thu nhập giữ lại hơn là sự gia tăng về vốn. Điều này cho thấy các
nhà quản
lý đều đánh giá tình hình đầu tư tại Việt Nam không còn thuận lợi,
họ quan
tâm tới sự an toàn hơn là lợi nhuận. Để hạn chế rủi ro, các khoản
đầu tư vào
doanh nghiệp Việt Nam được quỹ cơ cấu sao cho một phần lợi
nhuận quỹ sẽ
nhận được dưới dạng cổ tức hoặc lợi nhuận được chia hàng năm và
phần còn
lại là do tăng trưởng vốn khi bán loại chứng khoán đầu tư đó hoặc
khi chứng
khoán đó được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mục
tiêu của
quỹ khi đầu tư vào các công ty Việt Nam là hy vọng chúng sẽ được
niêm yết
trên thị trường chứng khoán. Còn đối với khoản đầu tư vào các liên
doanh, lợi
nhuận chủ yếu thu được từ lãi vốn khi chuyển chứng khoán đầu tư
đó thành
tiền. Một nguyên tắc chung là quỹ sẽ bán phần đầu tư vào các công
ty mới
ngay khi chúng đi vào hoạt động chính thức. Quỹ không có ý định
nắm quyền
kiểm soát ở các công ty nhận đầu tư nhưng nếu cần thì quỹ sẽ thực
hiện quyền
đó để thay đổi hoạt động của các công ty sao cho có hiệu quả. Quỹ
cũng hạn
chế trong việc hỗ trợ các công ty Việt Nam và thường chỉ dừng lại
với vai trò
là một công ty quản lý giúp công ty nhận vốn tìm kiếm nhân viên
thích hợp để
cơ cấu lại bộ máy quản lý.
Từ khi bắt đầu hoạt động đến nay, quỹ đã thực hiện tất cả 11 khoản
đầu
tư trong đó có một khoản đầu tư đã được thu hồi vốn. Trong 11 dự
án đã đầu

17
tư đó thì có 6 vào các công ty trong nước. Trọng tâm đầu tư của quỹ
là các dự
án đầu tư trên 1 triệu USD vào các công ty trong nước và liên
doanh, ưu tiên
các công ty trong khu vực xuất khẩu có kim ngạch 4-10 triệu USD.
Lượng vốn
đầu tư của quỹ được phân chia theo tỷ lệ 32% NAV (tương ứng 18,4
triệu
USD) vào cổ phần của các công ty Việt Nam và 46,8% NAV (26,9
triệu USD)
vào cổ phần của các công ty nước ngoài còn lại là phần tài sản chưa
đầu tư.
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2003 thì NAV của quỹ
đang ở mức
10,07 USD3).




Bảng 2.2 : Danh mục các dự án đầu tư của quỹ Vietnam Fund
Nguồn: Báo cáo của Vietnam Fund năm 2002
Tên dự án Lĩnh vực Giá trị ĐT Tỷ lệ vốn %
(triệu USD)

1. Dragon Properties Bất động sản 10.57 18
Asia Holdings Bất
động sản
2. Anglo Vietnam Chế biến 9.04 16
Sugar Investment Chế
biến 9
3. Công ty Huy Hoàng Xây dựng 3.96 7
Xây dựng
4. Công ty xây dựng Bất động sản 3.55 6
Việt Hoa Bất động sản
5. Ngân hàng VP Dịch Dịch vụ tài chính 3.45 6
vụ tài chính
6. Công ty VF-CGZ Du Du lịch 4.514 8
lịch
7. Công ty Hun San Sản xuất công nghiệp 2.56 5
Sản xuất công nghiệp
8. Công ty Johnson Sản xuất công nghiệp 2.07 4
Suisse Asia Sản xuất
công nghiệp
9. Công ty Agravina Chế biến thực phẩm 0.79 1
Chế biến thực phẩm
10. Ngân hàng thương Dịch vụ tài chính 4 7
mại Á châu Dịch vụ
tài chính

18
3) www.investmentfunds.com
Theo cơ cấu ngành, phần đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất là bất động
sản
24,8%, tiếp đó là chế biến sản phẩm nông nghiệp 17,1%, công
nghiệp 15%,
dịch vụ tài chính 14,1% và du lịch 7,9 %. Nhìn chung, danh mục đầu
tư của
quỹ tương đối đa dạng, dàn trải ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác
nhau. Tuy
nhiên, tỷ lệ giữa các khoản đầu tư trong cùng một danh mục không
cân đối.
Trong 17% đầu tư vào nông nghiệp có tới 16% đầu tư vào công ty
đường
Anglo, chỉ 1% vào công ty Agravina. Tương tự, 24% đầu tư vào bất
động sản
thì 18% vào bất động sản của công ty Dragon còn lại 6% vào công
ty du lịch
Việt Hoa 4).Báo cáo của Vietnam Fund năm 2002
Trong các công ty Việt Nam, công ty Việt Hoa, công ty Hun San,
công ty
Huy Hoàng được quỹ đầu tư dưới hình thức nợ tài chính. Công ty
Huy Hoàng
là một công ty kinh doanh trong lĩnh vực phát triển nhà ở và xây
dựng. Năm
1993, quỹ đã đầu tư 4 triệu USD vào công ty này dưới dạng một
khoản vay có
thể chuyển đổi. Đây là một khoản vay có bảo lãnh của ngân hàng
và có thể
chuyển đổi thành 25% cổ phần của công ty. Cũng như công ty Huy
Hoàng,
công ty Việt Hoa chuyên xây dựng các trung tâm thương mại sau đó
cho thuê
tài chính dài hạn. Quỹ còn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ như
công ty
Hun San, một công ty sản xuất giày dép hàng đầu của Việt Nam.
Nhà quản lý
quỹ có chính sách cử nhân viên sang giúp Hun San để cải thiện tình
hình quản
lý tài chính và giảm bởt những khó khăn trong việc thanh toán của
công ty.
Hiện nay, công ty đang hoạt động rất hiệu quả, mức trả lãi suất
hàng năm
19
khoảng 7,4%.
Sự thành công của quỹ ở khu vực này đã làm thay đổi chính sách cổ
tức
của quỹ. Ban đầu, kế hoạch của ban lãnh đạo quỹ là không trả cổ
tức để tái
đầu tư toàn bộ lợi nhuận và lãi vốn từ các khoản đầu tư đã thực
hiện. Thế
nhưng nhờ có dòng thu nhập ổn định, từ tháng 7 năm 1997 quỹ
quyết định trả
cổ tức và vẫn thực hiện cam kết phân phối lãi cổ phần từ việc mua
lại chứng
chỉ. Cũng chính nhờ những thành công trên đã mở ra một chiến lược
mới cho
quỹ. Theo điều lệ quỹ, Vietnam Fund sẽ chính thức giải thể vào
ngày
31/10/2001. Thế nhưng, với việc thị trường chứng khoán Việt Nam
ra đời vào
tháng 7 năm 2000 thì việc thanh lý các khoản đầu tư vào năm 2001
là quá
sớm. Chính vì vậy, Vietnam Fund sẽ vẫn bảo đảm không thực hiện
các khoản
đầu tư mới mà chỉ theo đuổi chiến lược thanh lý các khoản đầu tư.
2. Beta Vietnam Fund
Beta Vietnam Fund được thành lập vào tháng 9 năm 1993 với tổng
tài
sản là 66 triệu USD. Quỹ dạng đóng được niêm yết trên Sở giao dịch
chứng
khoán Dublin. Quỹ được quản lý bởi công ty Indochina Asset
Management
với ngân hàng giám sát là ngân hàng Bermuda. Mục tiêu đầu tư của
Beta
Vietnam Fund là tăng trưởng vốn. Vì vậy, quỹ chỉ lựa chọn đầu tư
vào các
công ty nơi mà quỹ có thể mở rộng mức độ ảnh hưởng. Quỹ xác
định trọng
tâm đầu tư là vào các dự án đầu tư giá trị 1-5 triệu USD vào cổ
phiếu thiểu số
của các công ty nước ngoài quản lý, tránh đầu tư vào các công ty
đang hình
thành và các công ty trong nước. Khi đầu tư vào một dự án, người
quản lý quỹ

20
sẽ chú trọng 50% đến đội ngũ quản lý, 35% vào hiệu quả kinh
doanh của
ngành và 15% là vào khả năng tài chính. Như vậy, quỹ rất coi trọng
đến khả
năng quản lý của một dự án. Để hạn chế rủi ro, quỹ giới hạn các
khoản đầu tư
không niêm yết chỉ ở mức 5% NAV.
Bảng 2.3 : Danh mục các dự án đầu tư của quỹ Beta Vietnam Fund
Nguồn: Annual Report Company Data/ Bear Stearns
Tên dự án Lĩnh vực Giá trị ĐT % trên
(triệu USD) NAV
1. Saigon Water Park Giải trí 4,6 6,9
2. Anziol Thăm dò khí - -
3. Iddison Group Vietnam Tập đoàn - -
4. Indotel Khách sạn 6 9
5. Vietnam Industrial Investment Thép 1.1 1.6
6. Frontier Petrolium Thăm dò khí - -
7. Công ty vật liệu xây dựng KDL Vật liệu xây dựng 3.4 5.1
8. Indochina Finance Cho thuê tài chính 0.1 1.2
9. Công ty nước hoa quả Sản phẩm nông nghiệp 3 4.5
Indochina
10. Khách sạn và khu nghỉ Beta Khách sạn 7 10.6
11. Câu lạc bộ Golf Palace Đà Giải trí 0.3 0.6
Lạt
12. Câu lạc bộ Golf Phan Thiết Giải trí 0.1 0.2
13. Công ty TNHH giải trí Giải trí - -
Mekong
14. Bio Asia Công nghệ sinh học 2.9 4.3
15. Beta Vietnam Textile Dệt may - -
Industrial Ltd
16. Vina Taxi Ltd Giao thông 1.2 1.8
17. Greater Indochina Giáo dục/ truyền thông 3.7 5.5
Investment Ltd
18. Indochina Leasing Tài chính - -
19. Ngân hàng Ngoại thương VN Trái phiếu 8.8 13.1
20. Terrytex Pre Ltd Nhà phân phối 0.3 0.6



Quỹ có khoảng 18 danh mục đầu tư tại các công ty Việt Nam chiếm
57%
tổng tài sản của quỹ, 13,4% tiếp theo đầu tư vào các khoản nợ của
Việt Nam,
số còn lại đầu tư vào tài sản vãng lai. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của
quỹ là vào
kinh doanh khách sạn 19,6% vào khách sạn, khu nghỉ Beta và
Indotel với mục
đích đem lại một phương tiện đầu tư cho các dự án vào khách sạn
của quỹ ở


21
khu vực sông Mekong. Tiếp đến là vui chơi, giải trí 7,7%, vật liệu
xây dựng
6,7%, dệt may 5,9%… cuối cùng là nông nghiệp, công nghệ sinh
học 5).
5) Annual Report Company Data/ Bear Stearns
Trong quá trình đầu tư tại Việt Nam, Beta Vietnam Fund đã gặp
không ít
trở ngại. Đó là quỹ thiếu cách thức để thu hồi vốn đầu tư, thiếu tính
minh bạch
và quỹ có quá ít chuyên gia giỏi trong nước. Hiện nay, quỹ không
tăng cường
đầu tư vào các công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài nữa.
Giải pháp
đầu tư mà quỹ đang tiến hành trong thời gian này là chớp thời cơ để
thích ứng
với những cơ hội của thị trường do những thay đổi tích cực của môi
trường
kinh doanh đem lại.
3. Vietnam Frontier Fund
Vietnam Frontier Fund là quỹ liên hiệp các đảo Cayman được thành
lập
vào tháng 7 năm 1994 với tổng tài sản ban đầu là 53,2 triệu USD.
Công ty
quản lý quỹ là công ty Frontier Fund Management thuộc quyền sở
hữu của
Finansa Ltd (70%) và ABN-AMRO Hoare Govette Asia Ltd (30%).
Ngân
hàng giám sát là Citibank. Mục tiêu đầu tư của quỹ là tăng trưởng
vốn thông
qua đầu tư vào các công ty niêm yết hoặc chưa niêm yết hoạt động
ở Việt
Nam. Quỹ xác định trọng tâm đầu tư là vào các dự án đầu tư giá trị
1-5 triệu
USD vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các công ty
liên
doanh có người nước ngoài quản lý, ưu tiên các công ty có nguồn
thu ngoại tệ
mạnh. Ngoài ra, quỹ cũng đầu tư vào các dự án môi trường và dự án
đòi hỏi có
thời gian dài để thu hồi vốn. Mục tiêu của quỹ là việc quản lý và
phát triển các


22
dự án đã đầu tư hơn là việc tìm kiếm các dự án mới. Ngoài việc đầu
tư vào các
doanh nghiệp Việt Nam là chủ yếu thì quỹ cũng dành một phần tài
sản của
mình để đầu tư vào một số nước ở Châu Á. Để đảm bảo đa dạng hoá
danh
mục đầu tư, quỹ hạn chế mức vốn tối đa đầu tư vào một công ty bất
kỳ là 5
triệu USD.
Chiến lược của quỹ là đầu tư tích cực vào một danh mục đầu tư gồm
các
công ty Việt Nam, tập trung vào tìm kiếm lợi nhuận hơn là các mục
tiêu xã hội. Quỹ sẽ đầu tư như một chủ dự án hoặc người điều hành
chứ không phải là
một nhà đầu tư tài chính thụ động. Quỹ có đại diện trong ban quản
lý trong
khoảng hai phần ba số công ty mà quỹ đầu tư vào các phần đầu tư
còn lại quỹ
đều có quyền xem xét hoạt động quản lý hàng quý. Tuy nhiên, quỹ
sẽ không
can thiệp quá sâu vào hoạt động của các công ty nhận vốn mà chỉ
giới hạn ở
việc quản lý danh mục đầu tư của mình hoặc cung cấp kinh nghiệm
chuyên
môn cho đối tác của mình. Nhưng để bảo vệ lợi ích của mình quỹ có
thể can
thiệp nếu cảm thấy dự án đầu tư có nguy cơ thất bại.
Bảng 2.4 : Danh mục các dự án đầu tư của quỹ Vietnam Frontier
Fund
Nguồn: www.finansa.com
Tên dự án Lĩnh vực Giá trị ĐT %
(triệu USD) NAV
1. Các khoản nợ của chính phủ trên thị Đơn vị tín thác 7.5 14.1
trường mới nổi
2. Công ty Luks Xi măng 5.3 9.9
3. Quỹ Northbridge Phát triển nhà ở 5 9.4
4. Công ty dược phẩm MCA Y tế 2.5 4.8
5. Transport Technologies International Ltd Giao thông 1.6 3
6. Vietnam Industrial Investment Thép 1 2.1
7. Cà phê Mcullagh Nông nghiệp 0.3 0.5
8. Structural Steel Engineering Thép 0.05 0.1
9. Sân golf Indochina Giải trí - -
10. Indotel Khách sạn - -




23
50% tài sản của quỹ đầu tư vào 9 công ty Việt Nam, 14% vào các
quỹ
cho vay trên thị trường mới nổi. Lĩnh vực đầu tư lớn nhất là xây
dựng với 4 dự
án chiếm gần 20% tổng giá trị tài sản ròng, tiếp đến là bất động
sản, y tế, giao
thông…6) www.finansa.com
Thu nhập ròng của quỹ sẽ được chia cho các cổ đông hàng năm
ngay khi
quỹ thu đủ tiền để đáp ứng các khoản chi tiêu cần thiết. Quỹ cũng
được quyền
phân chia lãi vốn kể cả lãi thực hiện và lãi không thực hiện. Lãi thực
hiện là
lãi từ các khoản đầu tư mà đã chuyển thành tiền mặt có thể được
quỹ chia cho
người đầu tư tuỳ thuộc vào quyết định của ban giám đốc. Lãi không
thực hiện
là lãi từ các khoản đầu tư vẫn là các chứng khoán, chưa chuyển
thành tiền mặt,
dự kiến của ban giám đốc quỹ là không chia khoản lãi này.
Trừ trường hợp cổ đông của quỹ quyết định gia hạn hoạt động, quỹ
sẽ kết
thúc hoạt động của mình vào năm 2004. Tuy nhiên, trong trường
hợp lá phiếu
của một cổ đông đại diện cho ít nhất hai phần ba cổ phần của quỹ
được đưa ra
trước đại hội thường niên năm 2003 đồng ý gia hạn hoạt động thì
quỹ có thể
kéo dài thời gian hoạt động của mình thêm hai năm nữa đến
22/7/2006.
4. Vietnam Enterprise Investments Ltd
Vietnam Enterprise Investments Fund được thành lập tại đảo
Cayman
vào tháng 7 năm 1995, là quỹ hoạt động hiệu quả nhất trong số các
Quỹ đầu tư
tại Việt Nam. Quỹ do công ty Enterprise Investment Management
quản lý, đây
là một công ty con dưới quyền sở hữu của Dragon Capital. Quỹ
nhằm vào việc
cấp vốn phát triển cho các công ty lớn của Việt Nam. Chính vì vậy
mà người

24
ta còn gọi quỹ dưới một cái tên là Quỹ tiền phát hành - Pre IPO
(Innitial
Public Offering). Cách gọi vốn này là một phương thức huy động vốn
cho một
quỹ thông qua phát hành cổ phiếu hạng C. Quy mô tổng tài sản ban
đầu của
quỹ là 16,39 triệu USD cùng với 11,1 triệu USD có được nhờ phát
hành cổ
phiếu hạng C. Đến tháng 9 năm 2001, quỹ phát hành tiếp cổ phiếu
hạng C có
tổng giá trị là 16,4 triệu USD. Vào tháng 12 năm 2001, công ty tài
chính quốc
tế IFC cung cấp cho quỹ khoản vốn bổ sung trị giá 12 triệu USD.
Tổng tài sản
của quỹ tính đến tháng 9 năm 2002 là 64 triệu USD và nó đã được
đem đầu tư
hết 7). Chiến lược đầu tư của quỹ là tích cực đầu tư vào các công ty
Việt Nam
nhất là các công ty có thể được niêm yết để tạo độ an toàn cao và
đạt được
mục tiêu tăng trưởng vốn dài hạn. Tính đến thời điểm ngày 30
tháng 9 năm
2003, NAV của quỹ đang ở mức 1,03 USD 8).
Quan điểm của các nhà quản lý quỹ về việc bảo vệ lợi ích của quỹ là
phát
triển những mối quan hệ không chính thức với các công ty nhận đầu
tư, qua đó
cung cấp trợ giúp các kiến thức quản lý và kinh doanh khi cần thiết,
việc trợ
giúp này bao gồm cả việc tuyển dụng nhân viên.
Một đặc điểm trong chính sách của quỹ là quỹ không đầu tư vào các
dự
án là công ty liên doanh vì cho rằng phần vốn góp bên phía Việt
Nam, thường
là quyền sử dụng đất luôn được định giá quá cao, điều này có thể
ảnh hưởng
đến quyền lợi của quỹ. Ngoài ra, quỹ cũng hạn chế đầu tư vào các
công ty mới
ở mức 25% tổng tài sản của quỹ vì cho rằng việc đầu tư vào một
công ty chưa
được thành lập tốn thời gian và dễ rủi ro, ảnh hưởng tới thời hạn thu
hút vốn
25
của quỹ. Về giá trị đầu tư, mỗi dự án quỹ sẽ đầu tư khoảng từ 0,5
đến 2 triệu
USD.
Khi đưa ra quyết định đầu tư, quỹ đặt mục tiêu là tỷ lệ hoàn vốn nội
bộ
IRR từ 25%-30%, một chiến lược phát triển trong 3-5 năm và một tỷ
lệ chia cổ
tức là 10% khi hoạt động kinh doanh được thiết lập vững chắc. Quỹ
không có
ý định nắm quyền kiểm soát công ty mà nó đầu tư.
Trên 50% tài sản đầu tư của quỹ được đầu tư vào các công ty Việt
Nam,
tài trợ cho hoạt động quản lý của người Việt Nam. Lĩnh vực đầu tư
lớn nhất
của quỹ là tài chính 37%, tiếp theo đó là vào các ngành sản xuất
như xi măng
10%, thép 5% 9). Quan điểm của quỹ đánh giá cao hoạt động tài
chính là vì
cho rằng sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam sẽ còn phụ thuộc
nhiều vào
hoạt động tài chính. Ngoài tài chính thì các ngành đầu tư trọng điểm
khác của
quỹ bao gồm tiêu dùng nội địa, xuất khẩu sản phẩm công – nông
nghiệp, phát
triển phần mềm, cơ sở hạ tầng, bất động sản và du lịch.
Bảng2.5 : Danh mục 5 dự án lớn nhất của Vietnam Enterprise
Investment
Nguồn: www.dragoncapital.com
Tên dự án Giá trị (triệu USD) % trên Total return IRR
NAV
1. Vietnam 2028 Par 10,7 23,7 49,3% +41,4%
Bonds
2. Hanoi Lake View 7,8 17,4 146,5% +77,2%
3. REE Corp 5,7 8,7 59,7% +12,8%
4. Ngân hàng ACB 3,9 7,5 58,1% +8,9%
5. Vietnam Investment 2,6 5,5 47,5% +97,8%
Fund




7) www.dragoncapital.com
8) www.investmentfunds.com
9) www.dragoncapital.com




26
Hiện nay, quỹ đã đầu tư vào khoảng 15 dự án như công ty cổ phần

điện lạnh REE, ngân hàng ACB, ngân hàng VP, công ty cổ phần xi
măng Việt
Trung, Vietnam Investment Fund, Vietnam Industrial Investment,
trái phiếu,
Agro Industry, cà phê Đakman, công ty xây dựng TOGI, Hanoi Lake
View…
Vào tháng 2 năm 2003 vừa qua, quỹ đã đầu tư 0,4 triệu USD vào
Olympus
Pacific Minerals Inc.
Về chính sách trả cổ tức, quỹ dự định phân chia toàn bộ lợi nhuận
ròng
và lãi vốn hàng năm cho đến khi các nhà đầu tư đã thu đủ số tiền
đầu tư vào
quỹ. Sau đó, quỹ sẽ chỉ chia 50% lợi nhuận ròng và lãi vốn cho cổ
đông, phần
còn lại sẽ đem vào tái đầu tư. Đối với chính sách hoàn vốn, theo bản
cáo trạng
của công ty, quỹ sẽ hoạt động cho đến năm 2010 trừ khi các cổ
đông mua cổ
phiếu hạng C quyết định khác đi và sẽ bỏ phiếu thanh lý quỹ vào
năm 2005.
5. Mekong Enterprise Fund
Mekong Enterprise Fund ra đời vào tháng 4 năm 2002, đặt trụ sở tại
đảo
Cayman. Công ty quản lý quỹ là Mekong Capital. Hiện nay, quỹ chưa
được
niêm yết trên thị trường chứng khoán. Với số vốn đầu tư 18,5 triệu
USD, quỹ
tập trung vào đầu tư cổ phần của các doanh nghiệp tư nhân tại Việt
Nam, Lào,
Campuchia. Đầu tư cổ phần bao gồm có thể cổ phần phổ thông, cổ
phần ưu
đãi, trái phiếu chuyển đổi và các loại chứng khoán liên quan đến cổ
phần khác.
Quỹ đặt mục tiêu đạt được mức lợi nhuận thu được cao nhất có thể
đối với các
khoản đầu tư của mình và đồng thời tạo được tác động tích cực đến
sự phát
27
triển của các doanh nghiệp tư nhân tại vùng Mekong. Quỹ hướng
đến việc đạt
được các mục tiêu của mình bằng cách đưa ra những sự trợ giúp
đáng kể cho
các công ty mà quỹ đầu tư, đặc biệt trong việc giúp họ phát triển hệ
thống
quản lý như quản trị nhân sự, quản lý tài chính, quản lý thông tin…
dựa trên
những thông lệ quốc tế tốt nhất.
Thay vì tập trung vào các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hay các
công
ty nhà nước cổ phần hoá, quỹ chủ yếu tập trung vào các doanh
nghiệp thuộc
khu vực tư nhân do các nhà doanh nghiệp tại địa phương thành lập.
Tuy nhiên
quỹ chỉ tập trung đầu tư vào các công ty tận dụng được các lợi thế
cạnh tranh
trong vùng liên quan đến chi phí nhân công, nguồn tài nguyên thiên
nhiên.
Quỹ tập trung đầu tư vào việc mở rộng kinh doanh hoặc tái cơ cấu
của các
doanh nghiệp đang hoạt động. Quỹ thường không đầu tư vào các
công ty mới
thành lập, yêu cầu các công ty phải có thời gian hoạt động tối thiểu
là một năm
và phải đạt được những thành tựu rõ ràng để có thể được xem là
khoản đầu tư
tiềm năng của quỹ. Chiến lược đầu tư của quỹ chủ yếu tập trung
vào các
ngành sử dụng nhiều nhân lực và kinh doanh theo hướng xuất khẩu.
Hiện nay,
quỹ đang tập trung đầu tư vào những ngành sau:
- Chế biến nông nghiệp, bao gồm chế biến hải sản.
- Sản xuất đồ gỗ, bàn ghế và thủ công mỹ nghệ.
- Công nghiệp nhẹ, bao gồm may mặc, giày dép và nhựa.
- Phát triển và gia công phần mềm.
- Tích hợp hệ thống và tích hợp mạng.
- Các dịch vụ chuyên môn như công ty quảng cáo, luật và tư vấn.
- Phân phối và vận chuyển.
Tuy nhiên, quỹ không chỉ giới hạn đầu tư vào những ngành này mà


28
thể đầu tư vào những lĩnh vực khác. Nói chung, quỹ ưu tiên những
công ty sử
dụng nhiều nhân công trong hoạt động kinh doanh của mình, và
những công ty
có lợi thế cạnh tranh rõ ràng hay có năng lực cạnh tranh đặc biệt.
Quỹ dự định sẽ đầu tư trong khoảng từ 250.000 USD đến 1.850.000
USD
cho mỗi công ty. Như vậy khoản đầu tư trung bình vào khoảng
1.000.000
USD. Khoản đầu tư trung bình này nhỏ hơn các quỹ khác nên quỹ có
thể đầu
tư vào các công ty nhỏ hơn. Quỹ có thể nắm giữ tối đa 30% trong
tổng số cổ
phần đã phát hành của một công ty tại thời điểm đầu tư. Khi quỹ
đầu tư, quỹ
thường yêu cầu được quyền chỉ định một đại diện vào hội đồng
quản trị của
công ty. Vai trò của người đại diện này sẽ không liên quan đến việc
quản lý
hàng ngày của công ty. Thay vào đó, người giữ vai trò này sẽ giám
sát khoản
đầu tư, tư vấn và trợ giúp công ty nhằm tạo ra giá trị cho công ty.
Quỹ có thể
đầu tư vào các doanh nghiệp quốc doanh cổ phần hoá. Tuy nhiên,
quỹ chỉ có
thể đầu tư vào các công ty mà nhà nước nắm giữ ít hơn 35% tổng số
cổ phần
của công ty sau khi quỹ đầu tư.
Quỹ dự kiến sẽ hoạt động trong thời gian 10 năm kể từ ngày khai
trương
22/04/2002. Quỹ chỉ có thể tiến hành các hoạt động đầu tư trong 5
năm đầu.
Khi đầu tư, quỹ dự định sẽ nắm giữ khoản đầu tư từ 5 đến 8 năm.
Thời gian
nắm giữ khoản đầu tư sẽ có thể ngắn hơn hoặc dài hơn tuỳ thuộc
vào từng
trường hợp.
Kể từ khi hoạt động tới nay, Mekong Enterprise Fund đã thực hiện
được
ba dự án đầu tư. Công ty đầu tiên nhận được đầu tư của quỹ là công
ty nhựa

29
Tân Đại Hưng với số tiền đầu tư là 1,6 triệu USD. Đây là một trong
những
công ty tư nhân hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất túi
nhựa PP.
Quỹ hiện đang nắm giữ 28,5% cổ phần của công ty. Trong tháng 3
năm 2003,
quỹ đầu tư vào công ty cổ phần kiến trúc xây dựng AA và đến tháng
10 này,
quỹ đã đầu tư 745.000 USD vào công ty máy tính Lạc Việt. Lạc Việt
là một
trong những công ty dẫn đầu trong công nghệ mạng với nhiều
khách hàng lớn
như Citibank, ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng nông
nghiệp và phát
triển nông thôn, Ngân hàng đầu tư phát triển…

6. Vietnam Opportunities Fund
Vào tháng 10 năm 2003 vừa qua, Quỹ đầu tư nước ngoài mới -
Vietnam
Opportunities Fund - đã xuất hiện trên thị trường tài chính Việt Nam.
Đây là
quỹ dạng mở do một số tổ chức tài chính lớn thành lập để đầu tư
vào Việt
Nam. Bốn cổ đông chính của quỹ hiện tại bao gồm Quỹ đầu tư
Millenium
Partners (Mỹ), Deustche Bank Securities (Đức), Sun Wah Group và
Pacific
Alliance Group (Hong Kong). Công ty quản lý quỹ là VinaCapital
Asset
Management Ltd. Quy mô vốn của quỹ hiện nay là 10 triệu USD và
dự kiến sẽ
tăng lên 50 triệu USD trong vòng ba năm tới. Chứng chỉ của quỹ
hiện đang
được niêm yết trên thị trường chứng khoán London.
Chiến lược đầu tư trọng điểm của quỹ là vào các công ty có vốn đầu

nước ngoài đang hoạt động không tốt tại Việt Nam. Quỹ sẽ đầu tư
vào những
công ty này, giúp họ cơ cấu lại để nâng cao giá trị và phát triển lên,
sau đó sẽ
bán lại hoặc đưa lên niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ngoài
ra, quỹ cũng
30
sẽ đầu tư vào các công ty cổ phần hoá hoặc công ty cổ phần tư
nhân trong
nước. Ở những công ty này, quỹ sẽ tham gia góp vốn với tỷ lệ lớn từ
10% trở
lên để cùng tham gia công tác quản trị và phát triển doanh nghiệp,
chứ không
đầu tư vào doanh nghiệp mà tỷ lệ sở hữu quá nhỏ. Quỹ dự định sẽ
đầu tư
khoảng 1 – 2 triệu USD cho mỗi công ty.
So với các Quỹ đầu tư khác đang hoạt động tại Việt Nam, Vietnam
Opportunities Fund có lợi thế hơn về nhân sự. Toàn bộ cán bộ nhân
viên của
VinaCapital hiện là người Việt Nam. Họ là những người có kinh
nghiệm làm
việc lâu năm trong lĩnh vực tài chính và đầu tư, hiểu biết về tập
quán và doanh
nghiệp Việt Nam.
Hiện nay, quỹ đang tích cực triển khai hoạt động của mình. Nếu
không
có gì thay đổi, cuối tháng 10 này, quỹ sẽ ký hợp đồng đầu tư vào ba
dự án một
của công ty nước ngoài và hai doanh nghiệp Việt Nam.
7. VietFund
VietFund là Quỹ đầu tư đầu tiên của Việt Nam, liên doanh giữa ngân
hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) và Dragon Capital (Anh).
Hiện nay,
quỹ đang đợi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Công ty
quản lý quỹ
là Vietfund Management. Đây là công ty liên doanh quản lý quỹ đầu
tư chứng
khoán đầu tiên tại Việt Nam. Công ty được Uỷ ban chứng khoán nhà
nước cấp
giấy phép vào ngày 28/08/2003 vừa qua. Công ty được Sacombank
giao uỷ
thác quản lý 50 tỷ VND vốn đầu tư, ký kết thỏa thuận về hợp đồng
giám sát
với Ngân hàng ngoại thương Việt Nam và kết ước kiểm toán độc lập
với công
ty Ernst & Young Việt Nam. Vietfund Management đặt trụ sở tại
Thành phố
Hồ Chí Minh, có tổng số vốn đầu tư ban đầu là 16 tỷ VND do
Sacombank góp
31
70% và Dragon Capital góp 30%.
VietFund được thành lập dưới dạng mở với quy mô vốn của quỹ là
100 tỷ
VND, trong đó Dragon Capital và Sacombank mỗi bên góp 10 tỷ
VND ngay
khi thành lập và số còn lại huy động trong ba tháng tiếp theo. Số
vốn này sẽ
được nâng lên 150 tỷ VND trong năm hoạt động đầu tiên và 200 tỷ
VND
trong hai năm tiếp theo. Vốn của quỹ sẽ được huy động từ các tổ
chức tài
chính, cá nhân trong và ngoài nước. Khoảng 60% vốn của quỹ sẽ
tập trung
đầu tư cho các ngân hàng, doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,
phát triển
phần mềm, du lịch, nông nghiệp, cơ sở hạ tầng và chế biến thuỷ
sản. 40% còn
lại sẽ đầu tư cho các hoạt động khác. Để tạo điều kiện thanh khoản
cho các
nhà đầu tư, chứng khoán của quỹ sẽ được niêm yết và giao dịch
trên thị trường
chứng khoán Việt Nam khi phát hành.
Sự ra đời của Vietfund Management mang một ý nghĩa rất lớn,
không chỉ
là Công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tiên của Việt Nam mà nó còn
tạo ra một
kênh đầu tư mới cho lượng tiền nhàn rỗi trong dân với dịch vụ quản
lý đầu tư
chuyên nghiệp và góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường
chứng khoán
Việt Nam. Sau VietFund, hứa hẹn một loạt các Quỹ đầu tư, công ty
quản lý
quỹ nội địa ra đời như Quỹ đầu tư chứng khoán Sài Gòn, Saigon
Fund. Quỹ
này đang được công ty cổ phần TVH và Ngân hàng thương mại cổ
phần
Phương Nam triển khai với số vốn huy động khoảng 40 tỷ VND.
Ngoài ra,
công ty cổ phần công nghệ thông tin cũng đang có kế hoạch thành
lập Công ty
quản lý quỹ Feed-up và các Quỹ đầu tư.

32
Chương III. Giải pháp thúc đẩy sự hình thành và nâng cao
hiệu quả hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán

1. Về phía Nhà nước

1.1. Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô
Sự ổn định và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế vĩ mô có mối
quan
hệ mật thiết tới thị trường chứng khoán nói chung và sự phát triển
của các Quỹ
đầu tư chứng khoán nói riêng. Chỉ trong một nền kinh tế ổn định,
các chỉ số vĩ
mô như lạm phát, tỷ lệ tăng trưởng, tỷ giá hối đoái, mức lãi suất ổn
định thì
mới tạo lập được niềm tin và kích thích người đầu tư xoá bỏ tâm lý e
ngại, dè
chừng khi tham gia vào một hình thức đầu tư mới. Từ đó khuyến
khích các tổ
chức kinh tế tích cực hơn trong quyết định thành lập Quỹ đầu tư
chứng khoán
cũng như tạo ra môi trường tốt cho hoạt động của các Quỹ đầu tư
phát triển.
Trong bối cảnh nền kinh tế vĩ mô có nhiều dấu hiệu bất ổn, thiếu sự
kiểm soát
thì các nhà đầu tư không thể mạo hiểm tham gia vào thị trường
chứng khoán
vì họ không tin tưởng vào khả năng sinh lợi trên thị trường này. Điều
này dẫn
đến sự đình trệ trong hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán
nói riêng và
thị trường chứng khoán nói chung.
Một nền kinh tế ổn định còn giúp cho hệ thống doanh nghiệp có thể
duy
trì sự phát triển ổn định của mình, thu hút được các nguồn vốn đầu
tư trong và
ngoài nước. Khi các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, quan tâm tới
việc mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, họ sẽ có nhu cầu về vốn rất
cao và tìm
cách huy động dưới nhiều hình thức trong đó có việc tham gia vào
thị trường


33
chứng khoán. Đây là xu hướng tất yếu của các doanh nghiệp trong
một nền
kinh tế phát triển. Như vậy, nguồn cung hàng hoá cho thị trường
chứng khoán
sẽ phong phú. Đồng thời, khi đó các chứng khoán được phát hành ra
sẽ hấp
dẫn hơn đối với người đầu tư, do đó sẽ làm tăng tính thanh khoản
của các
chứng khoán, làm cho hoạt động kinh doanh chứng khoán sôi động.
Để có thể duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, kiểm soát
lạm
phát trong điều kiện chịu sự ảnh hưởng của những biến động kinh tế
thế giới
trong xu hướng toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay thì Việt Nam
phải thực
hiện một số biện pháp cơ bản sau:
- Thực hành tiết kiệm để tạo và nuôi dưỡng nguồn vốn cho đầu tư
phát
triển. Chính sách tiết kiệm phải đi đôi với chính sách khuyến khích
đầu tư và
chính sách khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, mở rộng thị
trường tiêu thụ
sản phẩm.
- Đầu tư phát triển phải là vấn đề ưu tiên hàng đầu trong các quyết
sách
kinh tế quốc gia. Đầu tư phải có trọng điểm, có ưu tiên theo hướng
chuyển
dịch cơ cấu theo hướng kết hợp phát triển theo chiều rộng với việc
hoàn thiện,
cải tiến thiết bị công nghệ theo chiều sâu.

1.2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý
Việc hoàn thiện hệ thống pháp lý là để tạo hành lang cho các tổ
chức tài
chính và doanh nghiệp hoạt động một cách công bằng và hiệu quả.
Hiện nay,
chúng ta đã có luật các tổ chức tín dụng nhưng chưa đề cập rõ về
Quỹ đầu tư.
Việc điều chỉnh các hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán chỉ dựa
vào quy
chế tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ
kèm theo
34
Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK ngày 13/10/1998. Nhưng để các
văn bản
này đi vào thực tiễn và phát huy hiệu lực thì cần sớm đưa các nội
dung này
vào trong khuôn khổ pháp lý cao hơn dưới hình thức các luật như
Luật về
Chứng khoán và thị trường chứng khoán, Luật các định chế tài chính
trung
gian khi thị trường chứng khoán Việt Nam dần đi vào hoạt động ổn
định.
Ngoài ra, do Quỹ đầu tư chứng khoán có một số đặc điểm riêng so
với các chủ
thể kinh doanh khác trên thị trường nên nó chịu sự chi phối của
nhiều bộ luật
khác có liên quan như Luật doanh nghiệp, Luật dân sự… Các bộ luật
này và
các văn bản dưới luật đi kèm có một số điểm bất đồng, chồng chéo
nhau và
chưa có sự bổ sung điều chỉnh đối với một hình thức đầu tư mới -
đầu tư qua
quỹ. Do vậy, một yêu cầu đang được đặt ra là cần phải tiếp tục bổ
sung, hoàn
thiện các bộ luật này để tạo nên một hệ thống pháp luật đồng bộ,
tạo sự công
bằng cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp cũng như nhằm giải
quyết một cách
nhanh chóng khi có tranh chấp xảy ra. Ví dụ như đối với Luật đầu tư
nước ngoài,
cần nhanh chóng chỉnh sửa nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho
các Quỹ đầu
tư nước ngoài được nắm giữ một tỷ lệ cổ phiếu của một công ty lớn
hơn tỷ lệ
hiện nay là 30%.

1.3. Nhà nước cần khuyến khích và hỗ trợ tích cực cho việc hình thành
và phát triển
của Quỹ đầu tư
Khi thị trường chứng khoán đã đi vào hoạt động thì việc hình thành
các
Quỹ đầu tư là hết sức cần thiết để tạo điều kiện cho công chúng có
thể tham


35
gia vào thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, Quỹ đầu tư chứng khoán
còn là
vấn đề rất mới và trong điều kiện hiện nay còn nhiều khó khăn để
quỹ ra đời
và hoạt động, do vậy rất cần có sự trợ giúp của nhà nước. Kinh
nghiệm của
Hàn Quốc cho thấy trong giai đoạn đầu phát triển thị trường chứng
khoán,
chính phủ Hàn Quốc đóng vai trò to lớn trong việc thúc đẩy trợ giúp
sự hình
thành và phát triển Công ty tín thác đầu tư. Tại Malaixia có Quỹ đầu
tư chứng
khoán do chính phủ thành lập tên là PNB. Nó có những quỹ chi
nhánh theo
chuyên ngành để hỗ trợ, giúp đỡ người dân mua các cổ phiếu của
các công
trình, công ty làm ăn có lãi. Giống với Malaixia, ở Singapore chính
phủ cũng
thành lập một Quỹ đầu tư chứng khoán của nhà nước với mục đích
tham gia
vào các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Số vốn của các
quỹ đó ngày
càng tăng khiến cho quỹ có thể mở rộng đầu tư ra nước ngoài. Do
vậy, sự trợ
giúp của nhà nước thể hiện ở việc nhà nước cần đi tiên phong trong
việc thành
lập công ty quản lý quỹ và thiết lập các Quỹ đầu tư để mở đầu tạo
niềm tin
cho công chúng trong đầu tư. Việc mở đầu thành công có ý nghĩa
rất quan
trọng để khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế và các tổ
chức khác.

1.4. Thu hút đầu tư gián tiếp
Chúng ta nên có chế độ ưu tiên đối với lĩnh vực đầu tư gián tiếp
cũng
được ưu đãi như đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp nước ngoài là một
hình thức
đầu tư phổ biến trên thế giới và quan trọng không kém so với hình
thức đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Việt Nam đã rất thành công trong thu hút vốn
đầu tư trực
36
tiếp nước ngoài nhưng xem ra việc thu hút đầu tư nước ngoài gián
tiếp vẫn
còn bị bỏ ngỏ. Các nhà quản lý hình như chưa có chính sách thông
thoáng để
thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp này, một phần vì sợ các nhà đầu
tư nước
ngoài có quyền rút vốn ồ ạt gây khủng hoảng cho nền tài chính
quốc gia tương
tự như cuộc khủng hoảng khu vực xảy ra vào năm 1997. Nhưng trên
thực tế,
tỷ lệ vốn đầu tư gián tiếp trên thị trường Việt Nam hiện nay chiếm
chưa đến
1% vốn đầu tư trực tiếp trong khi ở Thái Lan khi xảy ra khủng hoảng
tỷ lệ này
là 80%. Chính vì vậy, Việt Nam phải quan tâm hơn nữa tới kênh thu
hút vốn
này.

1.5. Phát triển hệ thống ngân hàng ở Việt Nam

Thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng có mối quan hệ
chặt chẽ
và gắn bó hữu cơ với nhau. Thị trường chứng khoán chỉ có thể phát
triển vững
chắc trên cơ sở một hệ thống ngân hàng lành mạnh và được kiểm
soát tốt. Đối
với các Quỹ đầu tư, ngân hàng đóng vai trò là chủ thể giám sát, bảo
quản tài
sản của quỹ. Muốn trở thành ngân hàng giám sát, ngân hàng đó
phải đáp ứng
các điều kiện do Uỷ ban chứng khoán nhà nước đề ra. Điều này đòi
hỏi ngân
hàng phải nỗ lực liên tục cơ cấu lại tổ chức, hoàn thiện các nghiệp
vụ phục vụ
khách hàng và từng bước chuẩn hoá các quy trình nghiệp vụ. Ngân
hàng nhà
nước nên có chế độ giám sát đảm bảo độ an toàn của các ngân
hàng thương
mại, xây dựng các môi trường pháp lý chặt chẽ, xây dựng các tiêu
chuẩn hạch
toán, báo cáo tài chính kế toán, kiểm toán rõ ràng và trung thực để
các ngân

37
hàng thương mại có thể đáp ứng một nghiệp vụ mới này.
Các ngân hàng thương mại là những tổ chức đóng vai trò tích cực
trong
hoạt động kinh doanh chứng khoán. Bởi vậy, hệ thống ngân hàng
thương mại
hoạt động lành mạnh và được ngân hàng trung ương kiểm soát và
giám sát
chặt chẽ sẽ có ảnh hưởng lớn đến tính lành mạnh của thị trường
chứng khoán.
Qua đó đã gián tiếp tạo điều kiện cho sự ra đời của các Quỹ đầu tư.
Nhà nước tích cực khuyến khích các ngân hàng tham gia tạo lực
lượng
nòng cốt cho thị trường chứng khoán. Ngân hàng nhà nước có thể
dành một
khoản chi nhất định cho việc thành lập các công ty chứng khoán
hoặc tăng vốn
điều lệ cho các ngân hàng thương mại quốc doanh để tạo cơ sở cho
các ngân
hàng thành lập công ty chứng khoán hoặc thực hiện việc liên doanh
với công
ty chứng khoán nước ngoài. Bên cạnh đó, ngân hàng không ngừng
nâng cao
nghiệp vụ, áp dụng các phương thức thanh toán… tạo điều kiện cho
mọi hoạt
động trên thị trường chứng khoán nói chung cũng như hoạt động
của các Quỹ
đầu tư nói riêng và nhất là có thể đáp ứng được các điều kiện để trở
thành tổ
chức bảo quản và giám sát tài sản cho các Quỹ đầu tư.
Một tin vui mới đến cho các ngân hàng là vừa qua Uỷ ban chứng
khoán
nhà nước đã ký giấy phép công nhận Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam và
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là ngân hàng lưu ký chứng
khoán.
Đây là bước chuẩn bị nhằm tiến tới việc thành lập các ngân hàng
giám sát khi
các Quỹ đầu tư ra đời.

1.6. Thực hiện chính sách ưu đãi về thuế đối với hoạt động đầu tư
chứng khoán của
Quỹ đầu tư.

38
Quỹ đầu tư chứng khoán là một loại hình tổ chức đầu tư còn rất mới
mẻ,
chắc chắn khi thành lập và những năm đầu mới đi vào hoạt động sẽ
gặp nhiều
khó khăn. Do vậy, việc thực hiện ưu đãi về thuế đối với hoạt động
đầu tư
chứng khoán của quỹ là việc hỗ trợ hết sức quan trọng và cần thiết
của nhà
nước đối với sự hoạt động và phát triển của Quỹ đầu tư chứng
khoán.
Hiện tại, chưa có bất cứ một quy định nào về thuế đối với Quỹ đầu
tư.
Theo quy định tại Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và thị
trường
chứng khoán: Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của người
đầu tư được
uỷ thác cho công ty quản lý quỹ và đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài
sản của quỹ
vào chứng khoán. Với quy định như vậy thì Quỹ đầu tư không có tư
cách pháp
nhân, không thuộc sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp, vì vậy
không phải là
đối tượng đánh thuế của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Ở nhiều
nước như
Pháp, Nhật… họ áp dụng nguyên tắc không đánh thuế các Quỹ đầu
tư, coi
Quỹ đầu tư là phương tiện, công cụ đầu tư cho các nhà đầu tư cá
nhân và tổ
chức, chứ không phải là một pháp nhân kinh doanh. Ngay cả trong
trường hợp
quỹ là pháp nhân, một số nước cũng áp dụng chế độ miễn trừ nhất
định để quỹ
này được hưởng ưu đãi thuế hoàn toàn. Các quy định về thuế đối với
Quỹ đầu
tư đảm bảo rằng, việc nhà đầu tư thực hiện đầu tư qua Quỹ đầu tư
và việc nhà
đầu tư đầu tư trực tiếp không qua quỹ là tương đương nhau trên góc
độ thuế.
Nhà đầu tư chỉ phải trả thuế thu nhập khi nhận lợi tức được chia từ
các quỹ
hoặc chia từ việc đầu tư trực tiếp không qua quỹ. Rõ ràng nếu thu
nhập đầu
39
vào và lợi nhuận của quỹ bị đánh thuế thì sẽ không khuyến khích
nhà đầu tư
đầu tư qua quỹ. Mô hình về thuế với Quỹ đầu tư như trên nhằm
khuyến khích
sự phát triển của loại hình đầu tư ưu việt này. Kết quả là nhà đầu tư
thấy rằng
việc họ đầu tư trực tiếp hay thông qua quỹ đều đem lại một mức
thuế như
nhau. Điều này sẽ tận dụng được hết mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong
công
chúng.
1.7. Tạo lập thị trường hàng hoá cho thị trường chứng khoán bằng các
biện pháp tăng
cung kích cầu
Quỹ đầu tư là một loại hình hoạt động gắn liền với thị trường chứng
khoán. Để Quỹ đầu tư hình thành và phát triển lành mạnh, tích cực,
việc đẩy
mạnh hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam cũng là một
nhân tố
quan trọng. Trên thực tế, số lượng và giá trị của các cổ phiếu và trái
phiếu
được niêm yết trên thị trường tập trung là rất nhỏ, trong khi chưa có
thị
trường giao dịch ngoài quầy, mức cầu cũng không khả quan. Để
khuyến khích
việc ra đời của các Quỹ đầu tư chứng khoán, nhà nước phải đảm
bảo hoạt
động của các quỹ này thông qua các biện pháp tăng cung kích cầu
trên thị
trường chứng khoán.
Các biện pháp tăng cung trên thị trường chứng khoán : Để xây dựng
một
thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả thì việc cung cấp
hàng hoá
chứng khoán cho thị trường là một vấn đề rất quan trọng. Thực tiễn
các thị
trường chứng khoán thế giới đã chứng minh rằng một thị trường
chứng khoán
sẽ không thể hoạt động một cách lành mạnh và hiệu quả nếu lượng
chứng
khoán cung cấp cho thị trường không nhiều và số lượng nhà đầu tư
nhỏ. Một

40
thị trường như vậy được coi là một thị trường mỏng, thiếu tính ổn
định và ít có
khả năng tự điều chỉnh, dễ bị tác động bởi các yếu tố khách quan
bên ngoài,
không đảm đương được vai trò là nơi huy động và phân bổ một cách
có hiệu
quả những nguồn lực trong xã hội.
Một trong những mục tiêu hàng đầu của Quỹ đầu tư là thực hiện đa
dạng
hoá đầu tư vào chứng khoán. Trong điều kiện hiện nay, số lượng
chứng khoán
giao dịch trên thị trường còn hạn chế. Để tạo điều kiện cho Quỹ đầu
tư bước
đầu đi vào hoạt động có hiệu quả, nhà nước cần trợ giúp hàng hoá
chứng
khoán cho sự hoạt động của các Quỹ đầu tư. Sự trợ giúp được thực
hiện bằng
cách khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nên dành
quyền ưu
tiên mua cổ phiếu bán ra bên ngoài. Hiện nay, khi cổ phần hoá
doanh nghiệp
nhà nước, thường dành một tỷ lệ từ 15% - 20% số cổ phiếu phát
hành để bán
ra bên ngoài cho công chúng. Thế nhưng, phần vốn thuộc sở hữu
nhà nước
của các doanh nghiệp cổ phần hoá chiếm tỷ lệ cao 35%, phần bán
cho cán bộ
công nhân viên trong doanh nghiệp còn cao hơn 38% do đó tỷ lệ
bán cho công
chúng thấp, không đáp ứng được một trong những điều kiện niêm
yết là 20%.
Bên cạnh đó, thực tế cho thấy những doanh nghiệp cổ phần hoá có
triển vọng
làm ăn tốt thì các nhà đầu tư riêng lẻ là công chúng khó có thể mua
được cổ
phiếu của các doanh nghiệp này. Vì thế, việc dành quyền ưu tiên
mua cho các
Quỹ đầu tư vừa tạo điều kiện cho các Quỹ đầu tư hoạt động lại vừa
có thể thực
hiện phổ biến rộng rãi cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần hoá
cho công
chúng qua việc họ mua chứng chỉ Quỹ đầu tư của quỹ.
41
Có thể áp dụng các giải pháp tài chính thích hợp để tăng cung hàng
hoá
cho thị trường như tín dụng nhà nước và thuế. Nước ta đang trong
thời kỳ đổi
mới và phát triển kinh tế nên nhu cầu chi cho đầu tư của ngân sách
là rất lớn
nên việc vận dụng công cụ tín dụng nhà nước là rất cần thiết để bù
đắp bội chi
ngân sách. Nhà nước cần có những dự án đầu tư mang tính khả thi
và có thể
đẩy mạnh việc phát hành các trái phiếu trung và dài hạn, đặc biệt là
những trái
phiếu công trình với lãi suất thấp hơn lãi suất huy động của ngân
hàng, vì trái
phiếu chính phủ là một mặt hàng ít rủi ro dựa trên uy tín của nhà
nước.
Hiện nay, chính phủ đã ban hành Nghị định 01/2000/ NĐ-CP quy
định
hai hình thức mới của việc phát hành trái phiếu chính phủ: phát
hành thông
qua các nhà bảo lãnh phát hành và thông qua đấu thầu tại Trung
tâm giao dịch
chứng khoán, mục đích tập trung thống nhất để trái phiếu chính phủ
có thể
giao dịch trên thị trường. Vấn đề đặt ra cho việc phát hành trái
phiếu chính
phủ là phải đổi mới thực sự cơ cấu phát hành. Trong điều kiện lãi
suất ngân
hàng thấp như hiện nay, nếu trái phiếu chính phủ dài hạn có mức lãi
suất
tương ứng thì sẽ ít hấp dẫn nhưng lãi suất trái phiếu chính phủ cũng
không nên
cao hơn lãi suất ngân hàng. Bên cạnh đó, phải tăng khả năng niêm
yết của trái
phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấp. Muốn vậy, trái phiếu cần
phải được
phát hành theo lịch biểu định kỳ thường xuyên. Việc phát hành từng
đợt phải
thống nhất về mệnh giá, lãi suất và thời hạn thanh toán mỗi đợt
phát hành phải
có khối lượng tương đối lớn.

42
Bên cạnh trái phiếu chính phủ, một nguồn hàng hoá không nhỏ
khác cho
thị trường chứng khoán là trái phiếu công ty. Để đảm bảo khả năng
thanh toán
và nâng cao năng lực tài chính doanh nghiệp, hiện nay việc cơ cấu
lại nợ cho
công ty nhà nước đang được đặt ra. Hơn nữa, nhà nước cần cắt
giảm triệt để
bao cấp lãi suất, nguồn vốn kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà
nước. Điều
này thúc đẩy họ phải chuẩn bị các điều kiện để phát hành trái phiếu
công ty.
Nhà nước khuyến khích các công ty phát hành chứng khoán ra công
chúng và niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nhà nước nên
nghiên cứu ban
hành các chính sách cho phép chuyển công ty liên doanh thành
công ty cổ
phần, chính sách khuyến khích phát hành ra công chúng của các
doanh nghiệp
cổ phần hoá và các công ty tư nhân, công ty liên doanh với nước
ngoài như:
chính sách ưu đãi thuế, chính sách ưu đãi cho vay thương mại, chính
sách cho
phép đăng ký phát hành khung, chính sách niêm yết giữa cổ phần
hoá và niêm
yết chứng khoán… Hiện tại, quy mô vốn của các Quỹ đầu tư nước
ngoài đã
giảm xuống còn 128 triệu USD, thế nhưng nguồn vốn này sẽ còn là
quá lớn so
với quy mô vốn giao dịch hiện nay trên thị trường chứng khoán Việt
Nam.Bên cạnh đó, tổng giá trị giao dịch của các công ty niêm yết
vào khoảng 140triệu USD trong khi các nhà đầu tư nước ngoài chỉ
được đầu tư đến 20% cổ
phiếu của các công ty niêm yết làm cho các nhà đầu tư có ít chọn
lựa để đầu tư
vào thị trường chứng khoán. Chính vì vậy, việc gia tăng tỷ lệ cho các
nhà đầu
tư nước ngoài là điều kiện cần để tăng nguồn cung của thị trường
chứng
khoán.
Ngoài việc tăng về số lượng chúng ta cần phải nâng cao chất lượng

43
chứng khoán thông qua việc tăng cường hoạt động quản lý phát
hành và niêm
yết để lựa chọn những công ty đủ chất lượng đưa vào thị trường.
Các biện pháp tăng cầu cho thị trường chứng khoán: Vấn đề đặt ra

phải tạo lập một cơ chế và môi trường đầu tư tốt để khuyến khích
công chúng
đầu tư vào chứng khoán. Để kích cầu, trước hết cần tiến hành giáo
dục, tuyên
truyền rộng rãi để thu hút sự quan tâm và nâng cao kiến thức của
công chúng
về chứng khoán, thị trường chứng khoán và đầu tư chứng khoán.
Có chính sách ưu đãi về thuế đối với các nhà đầu tư và thị trường
chứng
khoán trong giai đoạn đầu khi mới thành lập. Chưa nên áp dụng
thuế thu nhập
cá nhân đối với thu nhập ròng từ đầu tư chứng khoán, chưa nên
đánh vào cổ
tức thu được từ đầu tư chứng khoán. Thực hiện miễn giảm thuế đối
với các
công ty chứng khoán trong vài năm đầu mới thành lập để tăng
cường sức
mạnh tài chính của nó, nhanh chóng hội nhập vào thị trường vốn
đang cạnh
tranh ngày càng khốc liệt giữa các nước.
Có chính sách cho vay đầu tư chứng khoán một cách hợp lý để
người lao
động có thu nhập thấp cũng có quyền sở hữu cổ phiếu của doanh
nghiệp cổ
phần hoá. Thực chất là người lao động được mua chịu một số cổ
phiếu trả
chậm với lãi suất ưu đãi
Thúc đẩy sự ra đời của các trung gian tài chính với chức năng tạo
lập thị
trường, muốn vậy nhà nước cần phải thực hiện một số giải pháp
như: nâng
mức vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại quốc doanh để tăng
cường sức
mạnh tài chính cho các ngân hàng tạo cơ sở thành lập các công ty
chứng
khoán con tại các ngân hàng thương mại.

44
Đa dạng hoá người đầu tư: công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, ngân
hàng, cá
nhân, các hội đoàn thể trong và ngoài nước… Đồng thời đa dạng
hoá người
phát hành như chính phủ, địa phương, ngân hàng, tổ chức tài chính
phi ngân
hàng, doanh nghiệp…
Tạo cầu nối giữa cung và cầu chứng khoán. Qua 3 năm hoạt động,
thị
trường chứng khoán Việt Nam diễn biến hết sức phức tạp, biểu hiện
rõ nét
nhất được thể hiện qua sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu
chứng khoán,
làm đẩy giá thoát ly giá trị thực tế vốn có của nó. Có giai đoạn cầu
vượt xa
cung, cung vượt xa cầu và cho đến nay thì cầu giảm xuống rõ rệt,
có thể nói là
cung cầu chứng khoán đã không gặp nhau. Chính vì vậy, phải hình
thành
những kênh phân phối có hiệu quả đó là các công ty chứng khoán
có tác dụng
hướng dẫn và tư vấn cho người đầu tư về hình thức kinh doanh
chứng khoán.
Mặt khác, bên cạnh thị trường tập trung phải hình thành một thị
trường phi tập
trung OTC để các loại chứng khoán không được niêm yết có thể giao
dịch.
Theo kế hoạch việc xây dựng thị trường cổ phiếu của các doanh
nghiệp vừa và
nhỏ tại Hà Nội sẽ được xúc tiến, chuẩn bị điều kiện để sau năm
2010 chuyển
thành thị trường giao dịch chứng khoán phi tập trung. Trung tâm
giao dịch
chứng khoán TP Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng thành Sở giao dịch
chứng
khoán với hệ thống giao dịch, hệ thống giám sát và công bố thông
tin thị
trường tự động hoàn toàn.

1.8. Nhà nước đặt định hướng phát triển chung cho các Quỹ đầu tư
Khi phân tích hoạt động của các Quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam, có
45
thể nhận thấy rằng việc đầu tư vào kinh doanh bất động sản chiếm
tỷ trọng
khá lớn. Điều đó là hoàn toàn bình thường vì các quỹ phải tập trung
vào
những ngành nghề phù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình với
những dự

2. Về phía các Quỹ đầu tư
2.1. Chú trọng và đẩy mạnh việc đào tạo cơ bản đội ngũ cán bộ quản lý
đầu tư
chuyên nghiệp
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, một yếu tố có tính chất quyết
định
đến sự thành công của một Quỹ đầu tư đó là trình độ năng lực của
nhà quản lý
đầu tư chuyên nghiệp. Ở nhiều nước, các nhà đầu tư riêng lẻ thường
chọn Quỹ
đầu tư dựa trên cơ sở xem xét tài năng của các nhà đầu tư chuyên
nghiệp của
quỹ, người ta cũng sẵn sàng rút ra khỏi quỹ khi mà nhà quản lý
chuyên nghiệp
xuất sắc đó không còn làm cho quỹ nữa.
Thông thường ở một số nước Quỹ đầu tư do một nhà quản lý đầu tư
chuyên nghiệp điều hành, vừa thực hiện chiến lược đầu tư, vừa chịu
trách
nhiệm điều hành công việc hàng ngày. Hỗ trợ cho sự hoạt động của
nhà quản
lý chuyên nghiệp còn có đội ngũ chuyên viên phân tích tài chính.
Hiện nay,
các tổ chức thành lập Quỹ đầu tư chuẩn bị đội ngũ nhân lực cho quỹ
theo các
kênh:
- Cử một số nhân viên theo học các khoá đào tạo cơ bản về đầu tư,
phân
tích chứng khoán, về khung pháp lý cho hoạt động đầu tư và các
kiến thức
nghiệp vụ tài chính tín dụng. Sau đó các nhân viên này sẽ nhận
được chứng
chỉ và tham gia kỳ thi sát hạch để được cấp giấy phép hành nghề
đầu tư
chuyên nghiệp.


46
- Tuyển nhân viên có kiến thức về đầu tư hoặc có kinh nghiệm trong
lĩnh
vực tài chính tiền tệ, sau đó tiếp tục bồi dưỡng và bổ sung nâng cao
trình độ
kiến thức cho các nhân viên này.
- Cử nhân viên ra nước ngoài khảo sát, học tập, nghiên cứu về hệ
thống
Quỹ đầu tư ở một số nước.
Những điều kiện trên cho thấy, một nhà quản lý chuyên nghiệp thực
thụ
của Quỹ đầu tư chứng khoán phải có một kiến thức sâu rộng và đạo
đức nghề
nghiệp trong sáng, tạo cơ sở niềm tin cho công chúng. Điều đó đòi
hỏi phải có
kế hoạch, chương trình đào tạo có hệ thống để xây dựng đội ngũ
các nhà quản
lý chuyên nghiệp cho quỹ.

2.2. Chú trọng nghiên cứu đồng thời phổ biến rộng rãi Quỹ đầu tư ra
công chúng
Những vấn đề về tín thác và Quỹ đầu tư là những vấn đề còn rất
mới mẻ
ở Việt Nam. Do vậy, một mặt cần tiếp tục nghiên cứu về mặt lý luận
và kinh
nghiệm thực tiễn của các nước trong việc phát triển hệ thống tín
thác đầu tư.
Mặt khác, cần phổ biến rộng rãi những kiến thức cơ bản và thông tin
về Quỹ
đầu tư cho công chúng qua sách báo và các phương tiện thông tin
đại chúng.
Đối tượng thu hút các nhà đầu tư tham gia vào Quỹ đầu tư chủ yếu
là công
chúng. Vì thế sự thành công của quỹ phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu
biết và
tham gia của công chúng.
Hiện nay, bên cạnh các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho những người đi
sâu
vào thị trường chứng khoán, Uỷ ban chứng khoán nhà nước đang có
rất nhiều
hình thức để phổ cập kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng
khoán cho


47
công chúng như tổ chức các bài giảng, các lớp học ngắn ngày cho
những ai
quan tâm đến lĩnh vực này hay trang chuyên đề giải đáp trên các
tạp chí chứng
khoán. Nhưng với vai trò là người quản lý thị trường chứng khoán,
Uỷ ban
chứng khoán nhà nước cần phải đảm bảo các thông tin trên thị
trường chứng
khoán là chính xác, trung thực. Có như vậy mới giúp những người ít
hiểu biết
nhất vẫn tránh được rủi ro và việc quản lý thị trường được dễ dàng.
Tuy nhiên,
công tác tuyên truyền thời gian qua chưa được làm liên tục và có hệ
thống,
chưa nhận được sự quan tâm thích đáng tương xứng với tầm quan
trọng về
yêu cầu phát triển của thị trường. Nhiều chương trình tuyên truyền
mới chỉ
dừng lại ở mức thảo luận và đề xuất ý kiến mà chưa được triển khai
kịp thời
và bài bản. Các chương trình đào tạo vẫn còn quá ít và chỉ tập trung
vào thành
phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, chưa mở rộng sang các tỉnh
thành
khác.

2.3. Chiến lược đầu tư thích hợp
Tại Việt Nam, quy mô vốn của một dự án chỉ vào khoảng 10 triệu
USD,
do đó các Quỹ đầu tư cần xác định chiến lược đầu tư phù hợp, tập
trung tìm
kiếm các dự án thích hợp với mục tiêu đầu tư của mình. Mặt khác,
các quỹ
nên hạ thấp yêu cầu về tỷ suất lợi nhuận của các dự án cho phù hợp
với tình
hình kinh tế Việt Nam hiện tại. Có như vậy, các Quỹ đầu tư mới
không bị trói
buộc vào thị trường đầu tư của chính mình. Tuy có một đội ngũ
quản trị viên
xuất sắc song chủ yếu là người nước ngoài vì vậy các quỹ nên tham
khảo ý


48
kiến của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư của Việt Nam hơn
nữa nhằm
có một chiến lược tương thích với môi trường đầu tư Việt Nam.




DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
_ Tạp chí Chứng khoán Việt Nam năm 2001, 2006, 2007
_ Tạp chí Đầu tư chứng khoán năm 2002, 2003, ,2007,2008
_ Tạp chí Tài chính năm 2007
_ Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán
_ Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán
_ Giáo trình Thị trường chứng khoán – PGS-NGƯT Đinh Xuân Trình, PTS
Nguyễn Thị Quy - Trường Đại học Ngoại thương, 1998
_ Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ -
Ủy ban
Chứng khoán nhà nước, 1998
_ Mutual Fund Fact Book 2008
_ Báo cáo của MPDF
_ Giáo trình Những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng
khoán – Ủy
ban Chứng khoán nhà nước, NXB Chính trị quốc gia, 2002
_ www.ici.org
_ www.ifc.org
_ www.dragoncapital.com
_ www.finansa.com
_ www.investmentfunds.com
_ www.mekongcapital.com
_www.vietstock.com




49
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản