Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Huu Tai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:49

3
1.660
lượt xem
844
download

Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương I. Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư chứng khoán 1. Khái niệm 1.1 Khái niệm 1.2 Đặc điểm 2. Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán 2.1. Căn cứ vào mô hình tổ chức 2.2. Căn cứ vào cơ cấu huy động vốn 2.3. Căn cứ vào nguồn vốn huy động 3. Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán 3.1. Đối với nền kinh tế 3.2. Đối với thị trường chứng khoán 3.3. Đối với người đầu tư 3.4. Đối với người nhận đầu tư 4. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư chứng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

  1. Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam Chương I. Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư chứng khoán 1. Khái niệm 1.1 Khái niệm 1.2 Đặc điểm 2. Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán 2.1. Căn cứ vào mô hình tổ chức 2.2. Căn cứ vào cơ cấu huy động vốn 2.3. Căn cứ vào nguồn vốn huy động 3. Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán 3.1. Đối với nền kinh tế 3.2. Đối với thị trường chứng khoán 3.3. Đối với người đầu tư 3.4. Đối với người nhận đầu tư 4. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 5. Một số Quỹ đầu tư chứng khoán trên thế giới Chương II. Hoạt động các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam I. Quỹ đầu tư theo quy chế của Việt Nam II. Đánh giá chung về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam III. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam 1. Vietnam Fund 2. Beta Vietnam Fund 3. Vietnam Frontier Fund 4. Vietnam Enterprise Investments Ltd 5. Mekong Enterprise Fund 6. Vietnam Opportunities Fund 7. VietFund Chương III. Giải pháp thúc đẩy sự hình thành và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán 1. Về phía Nhà nước 1.1. Duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô 1.2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý 1.3. Nhà nước cần khuyến khích và hỗ trợ tích cực cho việc hình thành và phát triển của Quỹ đầu tư 1.4. Thu hút đầu tư gián tiếp 1.5. Phát triển hệ thống ngân hàng ở Việt Nam 1.6. Thực hiện chính sách ưu đãi về thuế đối với hoạt động đầu tư chứng khoán của Quỹ đầu tư. 1.7. Tạo lập thị trường hàng hoá cho thị trường chứng khoán bằng các biện pháp tăng cung kích cầu 1.8. Nhà nước đặt định hướng phát triển chung cho các Quỹ đầu tư 2. Về phía các Quỹ đầu tư 2.1. Chú trọng và đẩy mạnh việc đào tạo cơ bản đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư chuyên nghiệp 2.2. Chú trọng nghiên cứu đồng thời phổ biến rộng rãi Quỹ đầu tư ra công chúng 1
  2. 2.3. Chiến lược đầu tư thích hợp Đề cương chi tiết I. Những vấn đề cơ bản về Quỹ đầu tư chứng khoán 1.Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán 1.1 Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác 1.2 Đặc điểm Quỹ đầu tư chứng khoán có 3 đặc điểm cơ bản sau: -Đầu tư của quỹ chủ yếu là đầu tư CK -Quỹ thường ít tham gia điều hành DN mà nó đầu tư -Mục đích: thu lợi từ hoạt động đầu tư 2. Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán 2.1. Căn cứ theo mô hình tổ chức - Quỹ đầu tư theo mô hình công ty - Quỹ đầu tư theo mô hình hợp đồng( tín thác 2.1.1 Quỹ đầu tư theo mô hình công ty Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồng quản trị do các cổ đông (nhà đầu tư) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn công ty quản lý quỹ và giám sát hoạt động đầu tư của công ty quản lý quỹ và có quyền thay đổi công ty quản lý quỹ. Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác. Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của UBCKNN, quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân. 2.1.2 Quỹ đầu tư theo mô hình hợp đồng( tín thác) Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Khác với mô hình quỹ đầu tư dạng công ty, mô hình này quỹ đầu tư không phải là pháp nhân. Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô hình quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ. 2
  3. 2.2. Căn cứ vào cơ cấu huy động vốn 2.2.1. Quỹ đầu tư chứng khoán đóng (Closed-end Fund) Quỹ đóng là Quỹ đầu tư chứng khoán trong đó người đầu tư không được quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ trước thời hạn kết thúc hoạt động hay giải thể 2.2.2. Quỹ đầu tư chứng khoán mở (Opened-end Fund) Quỹ mở được gọi phổ biến là Quỹ tương hỗ (Mutual Fund). Đây là quỹ được phép phát hành liên tục các cổ phần mới để tăng vốn, đồng thời sẵn sàng thu hồi lại các cổ phần đã phát hành mà nhà đầu tư bán lại cho quỹ bất cứ lúc nào theo giá trị tài sản ròng chứ không theo giá thị trường trong một thời hạn luật định. 2.3. Căn cứ vào nguồn vốn huy động 2.3.1. Quỹ đại chúng( quỹ đầu tư tập thể) Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại. ví dụ: VF1, BF1 2.3.2. Quỹ thành viên( quỹ cá nhân) Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng.Số thành viên tham gia góp vốn không quá 30 và chỉ bao gồm thành viên pháp nhân. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ. 3. Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán 3.1. Đối với nền kinh tế Quỹ đầu tư huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế ngay cả đối với nguồn vốn nhỏ lẻ và trực tiếp tiến hành đầu tư chứ không phải cho vay. Quỹ còn hấp dẫn đối với nguồn vốn từ nước ngoài chảy vào nhờ vào việc phát hành các chứng chỉ quỹ có tính hấp dẫn cao với nhà đầu tư nước ngoài 3.2. Đối với thị trường chứng khoán Quỹ đầu tư góp phần vào sự phát triển của thị trường sơ cấp và ổn định thị trường thứ cấp. Các quỹ tham gia bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp, phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư làm tăng lượng cung chứng khoán trên thị trường chứng khoán, tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường Nó góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp, giúp cho sự phát triển của thị trường này thông qua các hoạt động đầu tư chuyên nghiệp với các phương pháp đầu tư khoa học Quỹ đầu tư góp phần làm xã hội hoá hoạt động đầu tư chứng khoán. Các quỹ tạo một phương thức đầu tư được các nhà đầu tư nhỏ, ít có sự hiểu biết về chứng khoán yêu thích. Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ 3.3. Đối với người đầu tư Đa dạng hoá danh mục đầu tư và phân tán rủi ro. Bằng việc sử dụng tiền thu được từ những nhà đầu tư để đầu tư phân tán vào danh mục các chứng khoán, các Quỹ đầu tư làm giảm rủi ro cho các khoản đầu tư và làm tăng cơ hội thu nhập cho các khoản đầu tư đó 3
  4. Tiết kiệm chi phí đầu tư. Vì là những danh mục đầu tư lớn được quản lý chuyên nghiệp, Quỹ đầu tư chịu chi phí giao dịch thấp hay được hưởng những ưu đãi về phí giao dịch hơn các cá nhân đầu tư, kể cả những người mua bán thông qua những công ty môi giới có mức phí hoa hồng thấp nhất Tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư. Thay cho việc người đầu tư phải đi thuê tư vấn để quản lý tài sản của mình thì họ chỉ cần đầu tư vào một quỹ với chi phí giảm đi rất nhiều. Tiền tập hợp trong các Quỹ đầu tư chứng khoán được đặt dưới sự quản lý của các nhà đầu tư chuyên nghiệp là các công ty quản lý quỹ An toàn trước các hành vi không công bằng. Người đầu tư có thể bị thiệt hại nếu danh mục đầu tư của quỹ bị giảm giá trị do sự biến động giá chứng khoán trên thị trường, nhưng xác suất bị tổn thất do gian lận, bê bối hoặc phá sản liên quan đến công ty quản lý quỹ là rất nhỏ. Khuôn khổ pháp lý và việc quản lý chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền đối với Quỹ đầu tư đem lại những đảm bảo cơ bản. Tính thanh khoản của chứng khoán đầu tư. Các nhà đầu tư vào Quỹ đầu tư chứng khoán có thể bán chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu quỹ mình đang nắm giữ vào bất cứ lúc nào cho chính Quỹ đầu tư (trong trường hợp Quỹ mở) hoặc trên thị trường thứ cấp (đối với Quỹ đóng) để thu hồi vốn 3.4. Đối với người nhận đầu tư Chi phí cho nguồn vốn phát triển thấp hơn khi vay ngân hàng. Trước đây, hệ thống ngân hàng chiếm vai trò thống trị nền tài chính. Để vay được vốn, doanh nghiệp phải thoả mãn một số điều kiện nhất định và lãi suất vay cao. Quỹ đầu tư ra đời sẽ hạn chế được những nhược điểm của cơ chế cho vay của ngân hàng Tiếp cận nguồn tài chính dài hạn. Lợi ích này có được từ việc quỹ phát hành và giao dịch các loại chứng khoán này trên thị trường đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư, đặc biệt là các chủ thể có khả năng tài chính lớn như ngân hàng, các tổng công ty, các công ty bảo hiểm… đầu tư vào quỹ Tận dụng được những kiến thức quản lý đầu tư, marketing và tài chính từ các Quỹ đầu tư. Ngoài cung cấp vốn cho doanh nghiệp, các công ty quản lý quỹ đầu tư còn có dịch vụ cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn về kế hoạch tài chính, marketing và các mối quan hệ với các tổ chức tài chính và doanh nghiệp khác 4. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 4.1. Nguyên tắc huy động vốn Việc huy động vốn của Quỹ đầu tư thông qua phát hành chứng khoán. Tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để tạo thuận lợi cho việc quản lý của quỹ cũng như hoạt động đầu tư của những người đầu tư.. Do vậy, nguyên tắc chung là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu (mô hình công ty) và chứng chỉ hưởng lợi (quỹ dạng tín thác). Ngoài ra, quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu tư. Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn 4.2. Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ Tài sản của quỹ phải được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản. Tổ chức này chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các nhà đầu tư, trên thế giới hiện nay thì các tổ chức bảo quản tài sản thông thường là ngân hàng. Nguyên tắc chung của hầu hết các nước là tổ chức bảo quản tài sản trong quá trình giám sát không có quyền quyết định hoàn toàn mà phải cùng bàn bạc, biểu quyết với các chủ thể khác như công ty quản lý quỹ 4
  5. 4.3. Nguyên tắc định giá phát hành và mua lại chứng chỉ của quỹ Khi các nhà đầu tư đầu tư hoặc rút vốn của họ từ một quỹ, việc xác định giá phải dựa trên nguyên tắc công bằng giữa các nhà đầu tư hiện tại với các nhà đầu tư mua hoặc bán chứng chỉ. Điều này được thể hiện trong cách thức xác định giá trị tài sản của quỹ khi mua bán chứng chỉ. 4.4. Nguyên tắc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư Việc cung cấp thông tin vừa có ý nghĩa là tạo cơ hội cho quỹ thu hút vốn đầu tư vừa để góp phần bảo vệ lợi ích của người đầu tư Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo sự thống nhất dễ hiểu cho các nhà đầu tư 4.5. Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên quan với quỹ. Giao dịch giữa các chủ thể có liên quan là các giao dịch liên quan tới tài sản của quỹ giữa một bên là Quỹ đầu tư và một bên là chủ thể khác như công ty quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản giám sát, người bảo lãnh phát hành, nhà tư vấn… mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng đến lợi ích của người đầu tư hiện tại của quỹ Tại Mỹ các Quỹ đầu tư hoạt động theo hai mô hình là mô hình công ty và mô hình tín thác. Trong đó thì mô hình công ty đặc biệt là các quỹ dạng mở chiếm ưu thế hơn cả 5.Một số quỹ đầu tư chứng khoán trên thế giới 5.1. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường phát triển 5.1.1 . Hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán ở Mỹ Quỹ đầu tư chứng khoán ở Mỹ có một lịch sử khá lâu đời và đã nhanh chóng phát huy được những đặc tính ưu việt của mình nhờ được sự hỗ trợ đáng kể của một nền kinh tế phát triển khá ổn định và một thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả. 5.1.2. Quỹ đầu tư chứng khoán ở Anh Quỹ đầu tư chứng khoán ở Anh có thể tồn tại dưới hai dạng kết thúc đóng và kết thúc mở tương ứng với hai loại hình quỹ đặc trưng của Anh là Quỹ tín thác đầu tư và Quỹ tín thác đơn vị. Ở Anh, các công ty quản lý quỹ hay Quỹ đầu tư cũng không đảm nhận việc mua bán chứng chỉ quỹ hay cổ phiếu trực tiếp tới công chúng, chức năng này thường do một công ty chứng khoán thực hiện Các Quỹ đầu tư ở Nhật mang một số đặc điểm nổi bật sau. Các quỹ chỉ tồn tại theo mô hình tín thác chứ không theo mô hình công ty 5.1.3. Hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán ở Nhật Bản Quỹ đầu tư lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật vào năm 1941. Trải qua nhiều khó khăn nhưng kể từ năm 1996 trở lại đây, các Quỹ đầu tư đã thực sự bước vào giai đoạn phát triển ổn định và đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển của thị trường chứng khoán và nền kinh tế nói chung 5.2. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường mới nổi 5.2 .1 Quỹ đầu tư chứng khoán tại Hàn Quốc Quỹ đầu tư chứng khoán Hàn Quốc được hình thành từ năm 1969 với mô hình tương tự như mô hình Quỹ đầu tư dạng tín thác ở Anh. Chính phủ Hàn Quốc quyết định chọn mô hình này là nhằm hỗ trợ cho chính phủ trong các chính sách phát triển kinh tế. Bởi vì Quỹ đầu tư mô hình tín thác là yếu tố cần thiết trong việc huy động được một lượng vốn khổng lồ cho tiến trình phát triển kinh tế trong ngắn hạn và đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính thông qua hoạt động đầu tư chứng khoán gián tiếp. Hiện nay, Hàn Quốc đã cho phép tồn tại cả hai mô hình tín thác và công ty 5.2.2. Quỹ đầu tư chứng khoán ở Thái Lan Chỉ sau khi thị trường chứng khoán Thái Lan ra đời được một năm (năm 1974), chính phủ Thái Lan đã rất chú trọng đến việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh chứng khoán và tăng cường khả năng huy động vốn bằng cách thiết lập Quỹ đầu tư chứng khoán dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn. Nhờ đó giúp giới đầu tư Thái Lan vốn rất bỡ ngỡ với thị trường chứng khoán có thể có được một phương 5
  6. thức đầu tư mới đơn giản và an toàn hơn nhờ tính đầu tư chuyên nghiệp của quỹ. Tuy nhiên phải đến hai năm sau, hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán Thái Lan mới chính thức đi vào hoạt động. Trải qua nhiều thăng trầm, đến những năm 90, kể từ khi Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán mới ra đời vào năm 1992 thì hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán ở Thái Lan mới phát triển rực rỡ. Sự thành công này phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phân phối và dịch vụ của các Quỹ đầu tư. Các quỹ đã xây dựng được các kênh phân phối rất mạnh thông qua việc liên kết với các ngân hàng thương mại lớn. Góp thêm vào sự phát triển của các quỹ còn phải kể đến các văn bản luật và quy chế của uỷ ban chứng khoán hoạt động khá hiệu quả do được soạn thảo bởi những người có kinh nghiệm. Bên cạnh đó, Thái Lan cũng khuyến khích việc liên doanh với nước ngoài để thành lập Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ nhằm tranh thủ vốn và kỹ năng của đối tác nước ngoài. Một vấn đề nữa không kém phần quan trọng là cùng với sự hoạt động của các tổ chức tín thác đầu tư, Thái Lan cũng đã có một sự quan tâm đúng mức đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống Quỹ đầu tư chứng khoán Chương II. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM I. Quỹ đầu tư theo quy chế của Việt Nam Quy chế về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ định nghĩa Quỹ đầu tư chứng khoán như sau “Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của người đầu tư, được uỷ thác cho công ty quản lý quỹ quản lý và đầu tư vào chứng khoán tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ” Cũng theo tinh thần của quy chế, chỉ có hai loại quỹ căn bản được đề cập, đó là Quỹ đầu tư chứng khoán đóng (Quỹ đóng) và Quỹ đầu tư chứng khoán mở (Quỹ mở). Tham gia trong quá trình hoạt động của quỹ chủ yếu có công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát. Công ty quản lý quỹ đứng ra quản lý quỹ, phát hành chứng chỉ đầu tư,cử người điều hành, quản lý hoạt động và chịu tráchnhiệm về hiệu quả và pháp lý của quỹ. Ngân hàng giám sát đảm nhận việc bảo quản, lưu ký các chứng khoán mà quỹ nắm giữ để kinh doanh, lưu giữ các hợp đồng kinh tế, các chứng từ có liên quan tới tài sản của quỹ, đồng thời giám sát hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ Thành viên hội đồng quản trị công ty quản lý quỹ, người điều hành công ty quản lý quỹ và những người điều hành quỹ không được là cổ đông của ngân hàng giám sát Theo nội dung của quy chế, công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư là hai thực thể được cơ cấu và tổ chức khác nhau. Công ty quản lý quỹ cùng lúc có thể khai sinh và quản lý nhiều quỹ độc lập nhau, đồng thời có sự độc lập cả về tài sản, các nghĩa vụ tài chính giữa công ty quản lý quỹ và một Quỹ đầu tư nào đó. Người điều hành quỹ là 6
  7. người được công ty quản lý quỹ chỉ định để trực tiếp điều hành hoạt động của một quỹ. Trong khi công ty quản lý quỹ được tổ chức và hoạt động như một doanh nghiệp, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có hội đồng quản trị và hệ thống hành chính nhân sự… thì Quỹ đầu tư là một tập hợp có điều lệ và tài sản độc lập nhưng không có bộ máy điều hành riêng gắn trựctiếp với nó. Quỹ đầu tư không là pháp nhân mà chỉ có đại hội những người đầu tư do công ty quản lý quỹ hoặc ngân hàng giám sát triệu tập có điều kiện và tuỳ thuộc vào tình huống được nêu trong quy chế. Các Quỹ đầu tư khi được tổ chức theo SSC thì thực chất có thể xem là các sản phẩm của công ty quản lý quỹ đầu tư. Tuy nhiên, theo định nghĩa của quy chế, chúng lại được xem là tài sản uỷ thác cho công ty quản lý quỹ để quản lý Một số quy định về cơ cấu vốn và điều kiện đầu tư của công ty quản lý quỹ và Quỹ đầu tư được nêu trong quy chế như sau: - Một Quỹ đầu tư chứng khoán, cả Quỹ đóng và Quỹ mở, phải đầu tư tối thiểu 60% tổng giá trị tài sản của chúng vào chứng khoán. - Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của một quỹ đầu tư quá 15% tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành và không được đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của một quỹ vào chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành. - Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của quỹ để cho vay và bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào, và không được phép vay để tài trợ cho hoạt động của quỹ trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang trải cho các chi phí cần thiết. - Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của một quỹ để đầu tư trực tiếp vào bất động sản quá 10% giá trị tài sản của quỹ. - Một quỹ không được nắm giữ quá 10% tổng vốn cổ phần của một công 7
  8. ty không niêm yết, đồng thời không được sử dụng quá 5% tổng giá trị tài sản của quỹ để đầu tư vào riêng tại một công ty không niêm yết nào đó. - Một quỹ không được nắm giữ quá 30% tổng giá trị tài sản của các công ty trong cùng một tập đoàn hay một nhóm công ty có quan hệ sở hữu lẫn nhau. - Công ty quản lý quỹ không được phép dùng vốn và tài sản của các quỹ do mình quản lý để mua quá 49% tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành (đã tham gia thị trường chứng khoán) hoặc một công ty không niêm yết. Về việc giải thể của quỹ. Quỹ chỉ được giải thể trong trường hợp kết thúc thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ quỹ, hoặc trong trường hợp phải giải thể quỹ nhằm bảo vệ lợi ích người đầu tư. Việc giải thể phải xin phép Uỷ ban chứng khoán nhà nước và chỉ được chấp thuận khi phương án giải thể quỹ phù hợp với quyền lợi người đầu tư. Trong trường hợp công ty quản lý quỹ phá sản, tài sản thuộc quỹ là của người đầu tư và không được tính là tài sản của công ty quản lý quỹ. Không ai được sử dụng vốn hay tài sản của của quỹ để thanh toán những khoản nợ của công ty quản lý quỹ. II. Đánh giá chung về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam Sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, đặc biệt là kể từ khi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành vào tháng 2 năm 1998, hàng loạt công ty đầu tư nước ngoài đã bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam. Cùng với làn sóng đầu tư đó, trước năm 1993 khi có thông tin về sự hình thành của thị trường chứng khoán Việt Nam, một số Quỹ đầu tư cũng đã được thành lập. Đây là các quỹ 8
  9. đầu tư tư nhân thành lập ở nước ngoài nhưng được phép vào hoạt động có hạn chế ở Việt Nam. - Tháng 10 năm 1991 : Vietnam Fund - Tháng 06 năm 1992 : Vietnam Keppel Fund (The Vietnam Investment Fund Ltd.) - Tháng 08 năm 1993 : Beta Vietnam Fund - Tháng 07 năm 1994 : Vietnam Frontier Fund - Tháng 07 năm 1994 : Vietnam Enterprise Investment Fund - Tháng 09 năm 1994 : Templeton Vietnam Opportunities Fund - Tháng 10 năm 1994 : Lazard Vietnam Fund Tất cả các quỹ này đều được niêm yết ở Dublin, Ireland do lệnh cấm vận Việt Nam của Mỹ trước tháng 9 năm 1994. Sau khi dỡ bỏ lệnh cấm vận, Templeton Vietnam Opportunities Fund được thành lập và niêm yết ở New York Stock Exchange. Cuối năm 1994, mặc dù số vốn các quỹ huy động chưa được đầu tư hoàn toàn nhưng giá giao dịch của các quỹ trên tất cả các thị trường chứng khoán đều được giao dịch ở mức Premium. Đây là thời gian các quỹ phát triển rất mạnh mẽ do thực tế năm 1993, 1994 là những năm cao điểm của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận là một trong những lý do chính đem lại sự thành công vang dội này. Chính vì vậy, cổ phiếu của các quỹ đều được giao dịch ở mức Premium. Bảng 2.1 : Hoạt động của các quỹ vào tháng 11 năm 1994 Nguồn: Reports by Baring Securities, Merril Lynch Tất cả Tên quỹ các quỹ trên nhìn chung đều được M/P là các TTCK nội địa vì Vốn huy động Giá cổ phiếu gọi Quỹ Dạng quỹ tất cả ( tr USD) (USD) Vietnam Fund 75 15 +40.6% Dublin Đóng Vietnam Keppel 12.5 - - - Đóng Fund Beta Vietnam Fund 68.3 52.5 +4.6% Dublin Đóng Vietnam Frontier 27.5 5.5 +10.2% Dublin Đóng Fund Vietnam Lazard 58.8 - - - Đóng Fund Templeton 117 - +6.1% NYSE Đóng Vietnam Fund 9
  10. vốn của chúng đều được đầu tư vào một quốc gia riêng lẻ. Phương pháp đầu tư thông thường của các quỹ là mua cổ phiếu của các công ty không được niêm yết, các công ty được cổ phần hoá hay tham gia vào sự hình thành của các công ty mới như là những cổ đông sáng lập. Do ở Việt Nam vào năm 1993, 1994 không có thị trường chứng khoán nên các Quỹ đầu tư không có sự lựa chọn nào hơn là đầu tư vào những công ty không niêm yết. Vì vậy, sự thành thạo chuyên môn của họ trong việc điều hành các danh mục đầu tư bị hạn chế và các quỹ buộc phải đầu tư vào những công ty không được niêm yết một cách hấp tấp. Phụ thuộc vào kỹ năng quản lý, khả năng tiếp cận, các quỹ sẽ đầu tư vào những lĩnh vực khác nhau. Nhìn chung, tới năm 1998 các quỹ đầu tư vào những lĩnh vực sau: - Bất động sản: toà nhà văn phòng, khách sạn, tổ hợp giải trí… - Vật liệu xây dựng - Dệt may - Dược - Sản phẩm nông nghiệp, chế biến thực phẩm - Vận tải công cộng - Sản xuất than thép - Ngân hàng, tài chính - Dịch vụ y tế và giáo dục - Xây dựng - Thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông Tiêu chuẩn để quyết định đầu tư vào một dự án là tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR (ít nhất là 20%), tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng cao, thời kỳ hoàn vốn ngắn (5 năm hoặc ít hơn, ngoại trừ các dự án đầu tư vào bất động sản) bởi vì thời gian hoạt động của các quỹ thông thường 10 năm là cao nhất. Dự án còn phải có triển vọng được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Trong thời gian này, 10
  11. khi chưa có thị trường chứng khoán Việt Nam thì cổ phiếu của một số dự án đã được niêm yết ở thị trường chứng khoán Hồng Kông hay Singapore. Quá trình để đưa ra quyết định đầu tư bằng cách chọn lựa và đánh giá mỗi dự án trước khi chúng được đưa ra hội đồng thẩm định đầu tư của mỗi quỹ là một sự chuẩn bị với sự thận trọng ở mức cao nhất và rất chuyên nghiệp. Những đánh giá đầu tư như vậy không chỉ liên quan tới bản thân quỹ mà còn phải cần đến dịch vụ của kiểm toán, công ty luật để giúp quỹ đưa ra những quyết định đúng đắn nhất. Quá trình này thông thường phải mất 6 tháng để đưa ra quyết định. Trong thực tế, mỗi quỹ phải xem xét 300 tới 400 dự án để chọn ra khoảng 30 dự án làm thành một danh sách đầu tư tiềm năng. Từ danh sách này, hội đồng quản trị của quỹ sẽ lựa chọn ra khoảng 15 đến 20 dự án để đầu tư. Với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, một vài quỹ đã điều chỉnh cả những quy định của thể chế tài chính để có thể đầu tư vào các công ty tiềm năng trên thị trường Việt Nam. Khi chưa có những văn bản luật nào cho phép sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào ngân hàng địa phương, các quỹ đã táo bạo đầu tư vào những ngân hàng cổ phần tư nhân. Nhiều quỹ đã sử dụng thoả thuận khoản vay có thể chuyển đổi để có thể đầu tư sớm vào ngân hàng ACB, ngân hàng Maritime hay ngân hàng AP… Khi đầu tư vào Việt Nam, các quỹ phải đối mặt với nhiều rào cản làm hạn chế đầu tư. Với hành lang pháp lý còn nhiều bất cập, những hạn chế trong việc chuyển đổi tiền tệ, rủi ro tỷ giá đi liền với sự quan liêu và gánh nặng hành chính ở mọi cấp… đã làm giảm giá cổ phiếu của quỹ. Thêm vào đó, khủng 11
  12. hoảng tài chính khu vực năm 1997 và những hạn chế khác đã ảnh hưởng tới khuynh hướng đầu tư của nhiều nhà đầu tư vào thị trường Việt Nam. Trong một thời gian dài hoạt động tại Việt Nam nhưng quỹ Templeton không thể nhận ra đâu được là những dự án đầu tư phù hợp. Họ nhận được 250 lời đề nghị đầu tư nhưng chỉ mới ký kết được mỗi 3 dự án. Không tìm được cơ hội đầu tư, Templeton Vietnam Opportunities Fund đã buộc phải cơ cấu lại vốn, phân nửa tài sản được trả lại cho các cổ đông và quyết định chuyển 90 triệu USD còn lại trong quỹ sang một quỹ khác, chuyển trọng tâm hoạt động sang các thị trường khác trong Đông Nam Á, trở thành quỹ khu vực. Thực tế, trong bảy quỹ trên thì chỉ còn năm quỹ hoạt động cầm chừng hoặc bán tài sản để kết thúc hoạt động. Tổng số vốn đầu tư của Lazard Vietnam Fund là 58,8 triệu USD nhưng quỹ mới chỉ đầu tư được 9,5 triệu USD tức 16% tổng vốn của mình, số còn lại vẫn ở dưới dạng tiền mặt. Do vậy, mặc dù, đến năm 2002 quỹ mới hết thời hạn hoạt động nhưng Lazard Vietnam Fund đã kết thúc sớm hoạt động của mình vào năm 1998 bằng cách bán 6,6 triệu USD giá trị cổ phần của nhà máy đường Nagarjuna cho người điều hành Ấn Độ. Nó cũng bán 6.6% vốn góp ở công ty cổ phần cơ điện lạnh REE trị giá 1 triệu USD cho Dragon Capital Ltd. Vietnam Keppel Fund thì chỉ đầu tư vào những dự án nào mà có sự tham gia của Keppel Corporation. Vào năm 1998, quỹ ngừng hoạt động tại Việt Nam. Tình hình đầu tư của các quỹ khác cũng không được khả quan. Vietnam Frontier mặc dù NAV tăng 18% nhưng điều đó cũng không phản ánh 12
  13. được gì vì các quỹ Mỹ Latin có mức tăng NAV trung bình là 31%. Vietnam Fund thì đang được giao dịch ở mức 18% Discount so với mức 75% Premium trong những năm đầu hoạt động. Tới bây giờ, trong bảy quỹ đó thì chỉ còn bốn quỹ hoạt động ở Việt Nam là: Vietnam Fund, Beta Vietnam Fund, Vietnam Frontier Fund, Vietnam Enterprise Investments Ltd. Chúng đang thu hẹp hoạt động của mình hoặc bán tài sản để kết thúc hoạt động của quỹ. Các quỹ sẽ kết thúc hoạt động nếu các cổ đông không bỏ phiếu để mở rộng hoạt động của quỹ. Tất cả các Quỹ đầu tư nêu trên đều là những Quỹ đầu tư chuyên nghiệp, được điều hành bởi các quản trị viên xuất sắc, trong đó có cả các nhà đầu tư Việt Nam tên tuổi rất nổi tiếng trong giới đầu tư quốc tế, song cuối cùng họ không đạt được thành công như mong muốn. “Việt Nam vẫn chỉ là một lời dự đoán tốt” đó là nhận định của các nhà đầu tư đối với Việt Nam. Vậy thì lý do nào đã làm nên một bức tranh u ám cho phần lớn các quỹ ? Môi trường kinh tế không ổn định. Do tác động bất lợi của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực lên các mặt hoạt động then chốt của nền kinh tế và những bất hợp lý trong cơ cấu kinh tế. Đầu tư phát triển trong nền kinh tế, đặc biệt là đầu tư của các doanh nghiệp và của nhân dân vẫn trầm lắng, đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh. Hoạt động thị trường nói chung đều kém sôi động. Cơ hội và môi trường đầu tư vẫn bấp bênh. Tiền gửi tiết kiệm và các nguồn vốn huy động qua ngân hàng tăng nhanh hơn mức tăng trưởng tín dụng, dẫn tới ứ đọng vốn. Trong khi các ngân hàng ứ thừa vốn thì các doanh nghiệp cần vốn lại e ngại đầu tư. 13
  14. Trong bối cảnh nền kinh tế đó, hầu hết các công ty lâm vào tình trạng khó khăn, một số doanh nghiệp chỉ hoạt động cầm chừng nên các Quỹ đầu tư rất khó khăn trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư. Tình trạng trầm lắng của nền kinh tế cũng gây nên tâm lý ngần ngại, e dè cho các tập đoàn tài chính quốc tế trong việc quyết định thành lập Quỹ đầu tư. Hành lang pháp luật. Có thể thấy hành lang pháp luật của Việt Nam đang được cải tổ nhưng thực tế nó luôn không theo kịp diễn biến của thị trường. Giới hạn của Luật doanh nghiệp chỉ cho phép các đối tác nước ngoài được nắm giữ tối đa 30% cổ phiếu của một công ty. Do đó, tác động của họ với đối tác đầu tư hoàn toàn không đủ mạnh. Bên cạnh đó, các điều luật về chứng khoán, tài chính, ngân hàng có liên quan cũng đều không đồng bộ. Tất cả những bất cập đó khiến các Quỹ đầu tư phải hoạt động trong một hành lang pháp lý hẹp. Sự phát triển của thị trường mới nổi khác. Trước đây các nhà đầu tư rất háo hức tham gia vào thị trường Việt Nam, coi đây là một thị trường mới nổi đầy tiềm năng. Nhưng sau một thời gian hoạt động không hiệu quả tại Việt Nam, bên cạnh đó lại xuất hiện nhiều thị trường mới nổi khác có môi trường đầu tư thuận lợi hơn nhiều so với Việt Nam, nên đã buộc các nhà đầu tư phải cân nhắc lại quyết định đầu tư của mình. Hoạt động của thị trường chứng khoán. Hoạt động của các Quỹ đầu tư có hiệu quả, có mang lại lợi nhuận hay không phụ thuộc vào sự sôi động của thị trường chứng khoán. Trong khi đó, nhịp độ hoạt động trên thị trường 14
  15. chứng khoán lại là hệ quả của sự tham gia của các doanh nghiệp và sự quan tâm của công chúng đầu tư vào thị trường chứng khoán. Nhiều doanh nghiệp cho rằng họ vẫn chưa thực sự có nhu cầu huy động vốn dài hạn thông qua thị trường chứng khoán. Một số doanh nghiệp chỉ cần nguồn vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí sản xuất mà ngân hàng cũng có thể đáp ứng được nhu cầu này, hơn nữa lãi suất ngân hàng hiện nay tương đối thấp. Như vậy, ban đầu sự tham gia của các doanh nghiệp là khá hạn chế. Về phía công chúng, họ ngại môi trường kinh tế không ổn định dễ phát sinh rủi ro khi đầu tư vào chứng khoán. Chính sách thu hút đầu tư. Các Quỹ đầu tư nước ngoài luôn nhắm đến thị trường chứng khoán và mong muốn đầu tư vào các cổ phiếu niêm yết hoặc sắp được niêm yết vì chất lượng và tính thanh khoản cao của thị trường này. Quá trình đầu tư gián tiếp này còn giúp họ tiết kiệm được thời gian nghiên cứu cơ hội và giảm thiểu chi phí đầu tư so với đầu tư trực tiếp trong khi vẫn đóng góp được vốn và kinh nghiệm quản trị cho các doanh nghiệp đầu tư. Tuy nhiên, các nhà quản lý hình như chưa có chính sách thông thoáng để thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp này, họ sợ bị phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài. Nhân sự. Trong một vài trường hợp, tuyển dụng các nhà quản lý dựa trên mối quan hệ cá nhân ở Việt Nam với kết quả là người quản lý không phù hợp với các tiêu chuẩn. Một số trường hợp khác, người điều hành được tuyển do các công ty săn đầu người nước ngoài nên họ không có kinh nghiệm kinh 15
  16. doanh ở Việt Nam và giải quyết những mâu thuẫn với nhân viên địa phương. Mặc dù với những hạn chế trên, nhưng từ năm 2002 đến nay, đã có hai Quỹ đầu tư mới đang đi vào hoạt động đó là Mekong Enterprise Fund và Vietnam Opportunities Fund. Đặc biệt một sự kiện nổi bật khác đó là sự thành lập của công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tiên tại Việt Nam Vietnam Management Fund. Phải chăng cơ hội đầu tư đã quay trở lại? Dưới đây, chúng ta sẽ có một cái nhìn cụ thể về hoạt động của từng quỹ tại Việt Nam. III. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam 1. Vietnam Fund Vietnam Fund là Quỹ đầu tư đầu tiên bước chân vào thị trường Việt Nam với tổng vốn đầu tư là 57,6 triệu USD. Cổ phần của quỹ ngoài việc được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Dublin, nó còn được giao dịch trên thị trường OTC London. Mục tiêu của Vietnam Fund là đạt được sự tăng trưởng vốn dài hạn thông qua việc đầu tư vào các dự án và công ty chưa được niêm yết tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu trên, quỹ thiết lập hai danh mục đầu tư theo tỷ lệ 40/60 cho các khoản đầu tư vào các công ty Việt Nam và các liên doanh do người nước ngoài điều hành. Quá trình đầu tư được chia làm hai giai đoạn mỗi giai đoạn có thời hạn 5 năm. Vietnam Fund là quỹ dạng đóng, được tổ chức theo mô hình công ty. Công ty quản lý quỹ là Vietnam Fund Management Company. Ngân hàng giám sát là Lloyds Bank. Công ty quản lý quỹ, ngân hàng Lloyds nhận được khoản thu phí từ 2,5% và 0,25% (ít nhất là 75.000 USD) trên giá trị tài sản ròng lần lượt từng năm một. 16
  17. Chính sách định giá của Vietnam Fund là bất kỳ một sự gia tăng nào về giá trị tài sản thuần của quỹ và việc mua lại chúng của quỹ đều được phản ánh ở thu nhập giữ lại hơn là sự gia tăng về vốn. Điều này cho thấy các nhà quản lý đều đánh giá tình hình đầu tư tại Việt Nam không còn thuận lợi, họ quan tâm tới sự an toàn hơn là lợi nhuận. Để hạn chế rủi ro, các khoản đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam được quỹ cơ cấu sao cho một phần lợi nhuận quỹ sẽ nhận được dưới dạng cổ tức hoặc lợi nhuận được chia hàng năm và phần còn lại là do tăng trưởng vốn khi bán loại chứng khoán đầu tư đó hoặc khi chứng khoán đó được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Mục tiêu của quỹ khi đầu tư vào các công ty Việt Nam là hy vọng chúng sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Còn đối với khoản đầu tư vào các liên doanh, lợi nhuận chủ yếu thu được từ lãi vốn khi chuyển chứng khoán đầu tư đó thành tiền. Một nguyên tắc chung là quỹ sẽ bán phần đầu tư vào các công ty mới ngay khi chúng đi vào hoạt động chính thức. Quỹ không có ý định nắm quyền kiểm soát ở các công ty nhận đầu tư nhưng nếu cần thì quỹ sẽ thực hiện quyền đó để thay đổi hoạt động của các công ty sao cho có hiệu quả. Quỹ cũng hạn chế trong việc hỗ trợ các công ty Việt Nam và thường chỉ dừng lại với vai trò là một công ty quản lý giúp công ty nhận vốn tìm kiếm nhân viên thích hợp để cơ cấu lại bộ máy quản lý. Từ khi bắt đầu hoạt động đến nay, quỹ đã thực hiện tất cả 11 khoản đầu tư trong đó có một khoản đầu tư đã được thu hồi vốn. Trong 11 dự án đã đầu 17
  18. tư đó thì có 6 vào các công ty trong nước. Trọng tâm đầu tư của quỹ là các dự án đầu tư trên 1 triệu USD vào các công ty trong nước và liên doanh, ưu tiên các công ty trong khu vực xuất khẩu có kim ngạch 4-10 triệu USD. Lượng vốn đầu tư của quỹ được phân chia theo tỷ lệ 32% NAV (tương ứng 18,4 triệu USD) vào cổ phần của các công ty Việt Nam và 46,8% NAV (26,9 triệu USD) vào cổ phần của các công ty nước ngoài còn lại là phần tài sản chưa đầu tư. Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2003 thì NAV của quỹ đang ở mức 10,07 USD3). Bảng 2.2 : Danh mục các dự án đầu tư của quỹ Vietnam Fund Nguồn: Báo cáo của Vietnam Fund năm 2002 Tên dự án Lĩnh vực Giá trị ĐT Tỷ lệ vốn % (triệu USD) 1. Dragon Properties Bất động sản 10.57 18 Asia Holdings Bất động sản 2. Anglo Vietnam Chế biến 9.04 16 Sugar Investment Chế biến 9 3. Công ty Huy Hoàng Xây dựng 3.96 7 Xây dựng 4. Công ty xây dựng Bất động sản 3.55 6 Việt Hoa Bất động sản 5. Ngân hàng VP Dịch Dịch vụ tài chính 3.45 6 vụ tài chính 6. Công ty VF-CGZ Du Du lịch 4.514 8 lịch 7. Công ty Hun San Sản xuất công nghiệp 2.56 5 Sản xuất công nghiệp 8. Công ty Johnson Sản xuất công nghiệp 2.07 4 Suisse Asia Sản xuất công nghiệp 9. Công ty Agravina Chế biến thực phẩm 0.79 1 Chế biến thực phẩm 10. Ngân hàng thương Dịch vụ tài chính 4 7 mại Á châu Dịch vụ tài chính 18
  19. 3) www.investmentfunds.com Theo cơ cấu ngành, phần đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất là bất động sản 24,8%, tiếp đó là chế biến sản phẩm nông nghiệp 17,1%, công nghiệp 15%, dịch vụ tài chính 14,1% và du lịch 7,9 %. Nhìn chung, danh mục đầu tư của quỹ tương đối đa dạng, dàn trải ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, tỷ lệ giữa các khoản đầu tư trong cùng một danh mục không cân đối. Trong 17% đầu tư vào nông nghiệp có tới 16% đầu tư vào công ty đường Anglo, chỉ 1% vào công ty Agravina. Tương tự, 24% đầu tư vào bất động sản thì 18% vào bất động sản của công ty Dragon còn lại 6% vào công ty du lịch Việt Hoa 4).Báo cáo của Vietnam Fund năm 2002 Trong các công ty Việt Nam, công ty Việt Hoa, công ty Hun San, công ty Huy Hoàng được quỹ đầu tư dưới hình thức nợ tài chính. Công ty Huy Hoàng là một công ty kinh doanh trong lĩnh vực phát triển nhà ở và xây dựng. Năm 1993, quỹ đã đầu tư 4 triệu USD vào công ty này dưới dạng một khoản vay có thể chuyển đổi. Đây là một khoản vay có bảo lãnh của ngân hàng và có thể chuyển đổi thành 25% cổ phần của công ty. Cũng như công ty Huy Hoàng, công ty Việt Hoa chuyên xây dựng các trung tâm thương mại sau đó cho thuê tài chính dài hạn. Quỹ còn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ như công ty Hun San, một công ty sản xuất giày dép hàng đầu của Việt Nam. Nhà quản lý quỹ có chính sách cử nhân viên sang giúp Hun San để cải thiện tình hình quản lý tài chính và giảm bởt những khó khăn trong việc thanh toán của công ty. Hiện nay, công ty đang hoạt động rất hiệu quả, mức trả lãi suất hàng năm 19
  20. khoảng 7,4%. Sự thành công của quỹ ở khu vực này đã làm thay đổi chính sách cổ tức của quỹ. Ban đầu, kế hoạch của ban lãnh đạo quỹ là không trả cổ tức để tái đầu tư toàn bộ lợi nhuận và lãi vốn từ các khoản đầu tư đã thực hiện. Thế nhưng nhờ có dòng thu nhập ổn định, từ tháng 7 năm 1997 quỹ quyết định trả cổ tức và vẫn thực hiện cam kết phân phối lãi cổ phần từ việc mua lại chứng chỉ. Cũng chính nhờ những thành công trên đã mở ra một chiến lược mới cho quỹ. Theo điều lệ quỹ, Vietnam Fund sẽ chính thức giải thể vào ngày 31/10/2001. Thế nhưng, với việc thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời vào tháng 7 năm 2000 thì việc thanh lý các khoản đầu tư vào năm 2001 là quá sớm. Chính vì vậy, Vietnam Fund sẽ vẫn bảo đảm không thực hiện các khoản đầu tư mới mà chỉ theo đuổi chiến lược thanh lý các khoản đầu tư. 2. Beta Vietnam Fund Beta Vietnam Fund được thành lập vào tháng 9 năm 1993 với tổng tài sản là 66 triệu USD. Quỹ dạng đóng được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Dublin. Quỹ được quản lý bởi công ty Indochina Asset Management với ngân hàng giám sát là ngân hàng Bermuda. Mục tiêu đầu tư của Beta Vietnam Fund là tăng trưởng vốn. Vì vậy, quỹ chỉ lựa chọn đầu tư vào các công ty nơi mà quỹ có thể mở rộng mức độ ảnh hưởng. Quỹ xác định trọng tâm đầu tư là vào các dự án đầu tư giá trị 1-5 triệu USD vào cổ phiếu thiểu số của các công ty nước ngoài quản lý, tránh đầu tư vào các công ty đang hình thành và các công ty trong nước. Khi đầu tư vào một dự án, người quản lý quỹ 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản