HỌC THUYẾT PHÂN TÂM HỌC S. FREUD

Chia sẻ: joskhanh252

“Tâm Lý Học” là một khoa học về tính quy luật của sự phát triển và vận hành của tâm lý với tư cách là hình thức đặc biệt của hoạt động sống”. Cho nên, em muốn nghiên cứu “Tâm Lý Học” nói chung và đặc biệt đối với “Phân Tâm Học” để qua đó em có thể hiểu và có thể phục vụ cho cuộc sống của chính mình và của mọi người tốt đẹp hơn.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: HỌC THUYẾT PHÂN TÂM HỌC S. FREUD

HỌC THUYẾT PHÂN TÂM HỌC S. FREUD



1. Vào đề: “ Tại sao lại viết về học thuyết này?”


1. 1. Trước tiên phải nói đến đó là sự đam mê, sự thích thú học hỏi về “Tâm Lý
Học”.


- “Tâm Lý Học” là một khoa học về tính quy luật của sự phát triển và vận
hành của tâm lý với tư cách là hình thức đặc biệt của hoạt động sống”(1). Cho nên,
em muốn nghiên cứu “Tâm Lý Học” nói chung và đặc biệt đối với “Phân Tâm
Học” để qua đó em có thể hiểu và có thể phục vụ cho cuộc sống của chính mình
và của mọi người tốt đẹp hơn.


- Em rất thích và ngưỡng mộ S.Freud. Ông là người sáng lập ra “Phân Tâm
Học”, là một tâm lý gia nổi tiếng của cõi vô thức. Em mong ước sau này em cũng
có thể nghiên cứu và tìm ra được một thuyết về “tâm lý” để có thể giúp ích cho
cuộc sống và được lưu truyền cho thế hệ mai sau.


1. 2. “Phân Tâm Học” là một trường phái tâm lý học khách quan đi sâu vào nghiên
cứu hiện tượng vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo của đời sống
tâm lý người. Qua đó, “Phân Tâm Học” có ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống
của chúng ta.


- Một trong những ứng dụng to lớn là chữa trị các người bệnh tâm thần.
Trong chữa trị bệnh tâm thần S.Freud đã có những đóng góp hết sức có giá trị cho
khoa học.




1
_________________________________________
(1) … “Từ điển tâm lý học”. A. V . Pêtơrôpxki và M. G. Iarôsepxki chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, Matxcơva
1990, trang 311(tiếng Nga)…

- Tuy nhiên nhờ Freud mà ngày nay người ta đã có những ý nghĩ rất khác nhau
về chính mình. Họ chấp nhận các khái niệm của Freud như: ảnh hưởng của tiềm
thức đối với ý thức, nguồn gốc tính dục của bệnh thần kinh, sự hiện hữu và tầm
quan trọng của tính dục trẻ thơ, tác dụng mặc cảm Ơ-đip" vào các giấc mộng, tình
trạng "dồn nén"… Những khuyết điểm của con người như lỡ lời, nhớ mặt quên
tên và quên lời hứa đều mang một ý nghĩa mới xét theo quan điểm của Freud. Hiện
nay khó mà xác định được hết những định kiến mà Freud phải chống lại để truyền
bá học thuyết của ông. Những định kiến này còn cố chấp hơn cả những định kiến
mà Copernicus và Darwin đã vấp phải.


1. 3. “Phân Tâm Học” có ảnh hưởng rất lớn đối với một số ngành khoa học khác.


- Dầu sao, có thể chứng minh được hay không thì học thuyết của Sigmund
Freud cũng đã có một ảnh hưởng vô song đối với tư duy hiện đại. Ngay Einstein
cũng không kích thích trí tưởng tượng hay thâm nhập vào đời sống của người
đương thời bằng Sigmund Freud. Nhờ tìm tòi nghiên cứu những thứ chưa bao giờ
ai hiểu biết về trí não con người mà Sigmund Freud đã đưa ra được những ý tưởng
và những từ ngữ mà ngày nay đã chan hòa vào cuộc sống thường nhật của chúng
ta. Thực vậy, tất cả mọi lĩnh vực tri thức của con người như văn chương, nghệ
thuật, tôn giáo, nhân chủng học, giáo dục, luật pháp, xã hội học, luật học, sử học
và những môn học về xã hội hay cá nhân khác đều chịu ảnh hưởng của học thuyết
Sigmund Freud.


- Ảnh hưởng của học thuyết Freud đối với văn học và nghệ thuật cũng đáng
chú ý không kém. Trong tiểu thuyết, thơ, kịch và các hình thức văn chương khác,
những ý tưởng chính của Freud đã được phát triển trong ít năm gần đây. Bernard
Dana Evans Voto đã miêu tả quan niệm là “chưa có một nhà khoa học nào khác có
một ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng rãi đến văn học như Freud”. Ảnh hưởng của



2
Freud trong hội họa, điêu khắc và thế giới nghệ thuật nói chung cũng sâu xa không
kém




1. 4. “ Phân Tâm Học” đối với loài người chúng ta vô cùng quan trọng(2):


- Trước hết nó là một những pháp tâm bệnh lý, giúp y khoa khám phá và chữa
trị những trường hợp tâm bệnh mà trước nay với phương pháp của khoa học thực
nghiệm nó chưa đủ khả năng điều trị.


- Đặc biệt nó là một thuyết tâm lý giúp ta khám phá chiều sâu vô tận của
tiềm thức mà có thể nói được là chiều sâu đời sống, thế giới của tất cả các căn
nguyên, động cơ bí ẩn của ý thức và nhân cách của chúng ta.


2. Nội dung của học thuyết “Phân Tâm Học”.


2. 1. Cơ sở triết học và nguồn gốc nảy sinh của “Phân Tâm Học”


Sự khủng hoảng của tâm lý học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX như chúng ta
được biết đã dẫn đến sự ra đời của “Phân Tâm Học”. Một trường phái tâm lý học
khách quan đi sâu nghiên cứu hiện tượng vô thức trong con người, coi vô thức là
mặt chủ đạo của đời sống tâm lý người, là đối tượng thực sự của tâm lý học.


Trong tất cả các ngành khoa học, người ta thường thừa nhận tâm lý học là
một môn khoa học bí hiểm và tối tăm nhất, và khó có thể chứng minh bằng khoa
học hơn bất cứ bộ môn nào khác. Bản chất của những sự vật ở đây luôn luôn có
sự hư hư thực thực và sự bất ngờ, vì nhà tâm lý học phải nghiên cứu về một hiện
tượng tự nhiên bí mật nhất, đó là cuộc sống tâm lý của con người. Một lý thuyết
hóa học hay vật lý có thể được chứng minh hay bác bỏ những phương pháp kỹ
thuật trong phòng thí nghiệm, nhưng đối với giá trị của một lý thuyết tâm lý học,


3
rất có thể không sao chứng minh được một cách minh bạch, cho nên nhiều cuộc
tranh luận bão táp đã nổi lên xung quanh Sigmund Freud và khoa phân tâm học suốt
sáu chục năm ròng.
_________________________________________
(2)… “ Thăm dò tiềm thức” của Carl Gustav Jung, Vũ Đình Lưu dịch. Hoàng Đông Phương xuất bản. Trang thư
Hoàng Phương Đông.

Người sáng lập ra “Phân Tâm Học” là S.Freud (1856 – 1939), bác sỹ thần
kinh và tâm thần người Áo gốc Do Thái, sinh ở Tiệp Khắc, du học ở Áo, Pháp,
Đức…Khi Freud chào đời ở Freiberg thuộc miền Moravia, tác phẩm Nguồn gốc
các chủng loài chưa xuất hiện. Năm đó là năm 1985. Cũng như Karl Marx, tổ tiên
Freud có nhiều người là pháp sư đạo Do Thái. Ông được đưa tới thành Vienna thủ
đô nước Áo vào năm lên bốn tuổi và đã sống gần suốt cả tuổi trưởng thành tại
đây. Theo Ernest Jones, người viết tiểu sử chính của Freud thì ông đã được thừa
hưởng của cha ông là mộtnhà buôn len, "tính hoài nghi sâu sắc về những tai biến
bất thường của cuộc đời, thói quen dùng giai thoại Do Thái để châm biếm các
quan điểm đạo đức, không tín ngưỡng những vấn đề tôn giáo". Bà mẹ Freud sống
tới năm 59 tuổi, bản tính năng động và nhanh nhẹn. Sigmund Freud là đứa con
cưng đầu lòng của bà. Sau này Freud đã viết "một người đã từng là con yêu đặc
biệt của một bà mẹ thì suốt đời người ấy có cái cảm giác là một kẻ đi chinh phục,
và chính cái lòng tin chiến thắng ấy luôn đem lại thành công thực sự". Vào những
năm đầu của cuộc đời, Freud rất tin vào thuyết của Darwin vì ông thấy rằng
"Những thuyết ấy làm cho người ta có thể hy vọng vào những bước tiến phi
thường trong việc tìm hiểu thế giới". Dự định sẽ trở thành thầy thuốc, ông đã theo
học trường Đại học Y khoa thành Vienna. Và ông đã đỗ bác sĩ năm 1881. Là một
thầy thuốc trẻ tuổi của bệnh viện đa khoa, chữa trị đủ mọi loại bệnh, ông tiếp tục
nghiên cứu môn thần kinh bệnh học và giải phẫu thần kinh.
Ít năm sau, số mệnh xoay chiều và bất thần làm tên tuổi của ông nổi tiếng
khắp thế giới. Một bạn đồng nghiệp của ông đã đi Paris và ông bèn đi theo sang
thành phố này. Tại đây, ông cùng làm việc với Jean Charcot, lúc ấy đã là một nhà
bệnh lý học và thần kinh học người Pháp nổi tiếng. Ở đây, lần đầu tiên ông được
tiếp xúc với công trình của Charcot về bệnh loạn thần kinh và cách dùng phương
pháp thôi miên để điều trị bệnh này. Freud đã thoả mãn khi thấy Charcot chứng


4
minh được "bệnh loạn thần kinh thật mà và loạn thần kinh giả do dùng thôi miên
tạo ra. Nhưng khi trở lại thành Vienna, Freud không làm thế nào để thuyết phục
được các bác sĩ đồng nghiệp: họ không tin là phương pháp chữa bệnh loạn thần
kinh bằng thôi miên lại có cơ sở khoa học. Và người ta còn trừng phạt những ý
nghĩ quá tạo bạo của ông bằng cách đuổi ông ra khỏi phòng thí nghiệm giải phẫu
thần kinh. Từ đấy Freud tách khỏi môi trường đại học và không còn tiếp tục tham
gia những buổi họp của giới trí thứcở Vienne nữa. Trong lúc hành nghề bác sĩ tư,
ông tiếp tục dùng phương pháp thôi miên để thí nghiệm trong nhiều năm nữa,
nhưng dần dần ông đã bỏ phương pháp điều trị này chỉ vì ít người hợp với lối
chữa bằng thôi miên và cũng vì đôi khi thôi miên có những hiệu quả không hay với
nhân cách người bệnh. Thay vào đó, Freud bắt đầu phát triển một phương pháp
mới, ông đặt tên là "tự do liên tưởng", về sau kỹ thuật này đã trở thành một tiêu
chuẩn thực hành của khoa học phân tâm học. Freud hẳn là người sáng lập ra môn
thần kinh bệnh học, điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Trước ông, các nhà thần
kinh bệnh học chỉ quan tâm đến những triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt
(schizophrenia) và chứng tâm thần suy giảm (lẩm cẩm), cần phải giam lại trong
bệnh viện. Ngay từ khi chữa chứng dồn nén và chứng thần kinh tương khắc, Freud
đã đi tới kết luận là không phải chỉ riêng con bệnh mà cả những người lành mạnh
bình thường cũng mang trong mình những xung khắc tâm thần tương tự. Đi xa hơn
nữa, bệnh tâm thần không phải là bệnh theo nghĩa thông thường được chấp nhận
mà là trạng thái tâm lý của trí não. Vấn đề quan trọng là làm thế nào để điều trị
những chứng rối loạn tâm thần đang lan tràn rộng rãi ấy. Căn cứ vào những quan
sát, thí nghiệm và kinh nghiệm thực hành khi điều trị cho nhiều người bệnh ở
Vienna, Freud đã xây dựng cơ sở cho khoa phân tâm học vào khoảng cuối thế kỷ
19. Freud là một trong những nhà khoa học đã sáng tác nhiều hơn hết trong thời đại
chúng ta. Sự phong phú về những đề tài mới mẻ cùng những phần đóng góp về
tâm lý do ngòi bút của ông đem lại không thể thu gọn trong bất cứ một cuốn sách
hay tờ báo nào. Theo ông, thì chắc chắn cuốn sách quan trọng ra đời sớm nhất của
ông mà cũng được ông yêu thích nhất là cuốn Đoán Mộng xuất bản năm 1900.
Sách này gồm hầu hết những quan sát cơ bản và những suy luận của ông. Trong
cuốn Nghiên cứu về chứng loạn thầnkinh xuất bản sớm hơn (tức là vào năm



5
1895), ông đã bộc lộ niềm tin rằng "yếu tố chính trong sự rối loạn về tính dục là
sự suy yếu gây ra cả bệnh tâm thần (neuros) lẫn bệnh tâm thần suy nhược
(psychoneuroses)". Đó là nền tảng của thuyết phân tâm. Vài năm sau đó, Freud
hoàn chỉnh được lý thuyết của ông về sức đối kháng, hiện tượng chuyển biến tính
dục tuổi thơ, mối tương quan giữa những ký ức bất mãn và ảo tưởng, giữa cơ chế
tự vệ (defense mechanism) và sự dồn nén.(3)
_________________________________________
(3)… “Phân tâm học nhập môn” của Sigmund Freud, dịch giả: Nguyễn Xuân Hiến.

Trong cuộc đời hoạt động khoa học và thông qua các nghiên cứu thực tiễn
chữa trị bệnh tâm thần, S. Freud đã gặp gỡ, tiếp xúc học hỏi ở khá nhiều các tác
giả bậc thầy đi trước về triết học, y học, sinh học, sinh lý thần kinh, trực tiếp
nhất là về các phương pháp chữa trị bệnh tâm thần. Có thể kể đến các tư tưởng
của các học giả có tên tuổi sau:


- Tư tưởng của nhà sinh lý học người Đức E. W. Brucke (1819 – 1892),
người đã đưa lý thuyết hóa học, lý thuyết bảo toàn năng lượng vào giải
thích các hiện tượng sinh lý người.


- Tư tưởng của nhà triết học, nhà bác học, nhà hoạt động xã hội người
Đức Leibniz về trạng thái vô thức của các đơn tử. Toàn thể vũ trụ được
hình thành từ những thực thể đơn thể . Đơn tử có nhiều trạng thái: Trạng
thái có ý thức và trạng thái vô thức. Trạng thái vô thức là trạng thái đơn
giản. Ở trạng thái này, con người không hay biết, đều được Freud rất quan
tâm.


- Tư tưởng của nhà triết học duy tâm người Đức Schopenhauer (1788 –
1860) về khái niệm phi lực, lực phi lý. Ông quan niệm phi lực, lực phi lý
trong mỗi con người ngược với lý trí, nhưng có vai trò rất lớn thúc đẩy con
người hành động một cách mù quáng tựa như vô nghĩa. Điều này được ông
trình bày trong tác phẩm “thế giới với tính cách là ý chí và biểu tượng” xuất
bản năm 1919.



6
- Phương pháp thôi miên chữa bệnh tâm thần của nhà sinh lý học và là
bác sĩ tâm thần người Áo J. Breuer (1842 – 1925). Năm 1895 ông đã công bố
chung với Breuer trong công trình “Các nghiên cứu về Hystêri”. Freud đã
học được ở Breuer phương pháp giải tỏa tâm lý bằng biện pháp thôi miên
với người bệnh, cho phép đưa các ký ức thuộc tiềm thức trở lại tầng ý thức
làm thuyên giảm rõ rệt các triệu chứng tâm thần. Sau này trong khi chữa trị
trên các ca cụ thể, Freud tự thấy, muốn chữa trị được bệnh, phải tiến hành
phân tích tâm lý, tìm ra nhân tố vô thức đẻ ra các triệu chứng bệnh khác
nhau hiện đang bị mắc nghẽn, ẩn dấu sâu bên trong người bệnh. Khác với
Breuer, ông còn dùng một kỹ thuật riêng – mà ông gọi là kỹ thuật ép, nhằm
phát hiện ra những quá trình tinh thần vô thức ở người bệnh.(4)


- Tư tưởng về sức mạnh của đam mê tính dục trong các hiện tượng tâm
thần của bác sỹ tâm thần Pháp M. Charcot (1825 – 1893). Ông là thầy dạy
của Freud. Về sau này, Freud đã mất công tìm kiếm nhằm rõ hiện tượng
đam mê dục tính ở con người trong công trình “Ba tiểu luận về thuyết tính
dục” nổi tiếng của ông như mọi người được biết.


2. 2. Những luận điểm chủ yếu của học thuyết “Phân Tâm Học”của S. Freud.


2. 2. 1. Quan niệm về bản chất của tâm hồn, tâm lý con người.


Học thuyết phân tâm của Freud được xây dựng trên khái niệm vô thức. Freud
quan niệm, tất cả các hiện tượng tâm thần của con người về bản chất là hiện
tượng vô thức. Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sống tâm lý con người. Mọi
hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tùy theo tương quan của
những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo những qui luật khác
hẳn với ý thức.(5)




7
Vai trò quan trọng của cái vô thức trong đời sống tâm lý người được S. Freud
làm rõ trong các công trình nghiên cứu về bệnh Hystêri, về giấc mơ và về lý thuyết
tính dục cũng như ở nhiều vấn đề khác được đề cập liên quan trong các nghiên
cứu cụ thể của ông:




___________________________________
(4)…Xem David Staford – Clark, Freud đã thực sự nói gì, NXB Thế giới, Hà Nội 1998, trang 69 – 70…
(5)… “Lịch sử tâm lý học”.GS. TS. Nguyễn Ngọc Phú. NXB ĐH QGHN, trang 185…



a. Những nghiên cứu về bệnh Hystêri:


+ Đây là tên của một công trình của ông được công bố chung với J.
Breuer (1842 – 1925). Có thể nói khởi đầu của phân tâm học là các nghiên
cứu về Hystêri, bệnh tâm thần thường gặp nhất ở phụ nữ.
Thông qua việc chữa bệnh tâm thần, hai ông đã nhận thấy do những cảm giác
trầm nhược như sợ hãi, xấu hổ, lo âu hay đau đớn về thể chất ở một mức độ
nào đó có thể là nguyên nhân đưa đến một chứng bệnh phổ biến gọi là
Hystêri. Đó là một loại bệnh xuất hieenh từng cơn, tự nhiên xuất hiện, rồi lại
tự nhiên biến mất với những biểu hiện rất đa dạng như tự cười phá lên, tự
nhiên bị câm, tự nhiên bị liệt một bên…rồi lại trở thành bình thường.


+ Các kết quả nghiên cứu của Freud và Breuer đã chỉ rõ:


- Chứng Hystêri thông thường không có một tác động gây chấn
thương duy nhất mà có nhiều chấn thương bộ phận.


- Triệu chứng Hystêri sẽ biến mất một khi người bệnh hiểu rõ
ký ức về tác động khởi phát đánh thức được mối xúc động của người
bệnh có liên quan trực tiếp đến ký ức này.


8
- Trong các ca bệnh, thông thường người bệnh khó nhớ lại
những điều thực sự gây bệnh vì hoạt động tâm thần của con người có
những qui luật riêng đã bị thay đổi, điều chỉnh. Trí nhớ của người
bệnh không hề giữ lại một dấu vết nào của những tình tiết đã trải qua
hoặc nếu có, chúng chỉ được còn giữ lại ở dạng sơ sài nhất. Còn ký
ức về những điều nhục nhã mà họ gặp phải trước đây lại được thay
đổi bằng một sự cải chính các sự kiện, bằng ý thức cá nhân về phẩm
giá. Khi người bệnh sực nhớ lại những điều đã thực sự trải qua thì
chính họ là người khổ sở trước hết.


- Freud cũng đã phát hiện ra rằng trong các căn bệnh Hystêri, vai
trò của những xung lực tình dục rất lớn và đó là điều bất đồng căn
bản giữa S. Freud và J. Breuer dẫn đến sự chia tay của hai người,
đồng thời khẳng định tính độc lập của các công trình nghiên cứu hình
thành học thuyết phân tâm học của S. Freud.


- Nghiên cứu trên các ca bệnh cụ thể và trực tiếp chữa bệnh,
Freud đã đi đến kết luận: Chìa khóa để hiểu các chứng nhiễu tâm nói
chung và những triệu chứng Hystêri nói riêng là ở chỗ đi tìm cho được
cái vô thức là nguyên nhân gây bệnh nằm ở bên dưới các triệu chứng
bệnh. Muốn vậy cần phải tiến hành phân tích tâm lý người bệnh để
tìm cho được nguồn gốc gây bệnh ẩn dấu sâu trong vô thức người
bệnh.


- Cách thức mà Freud đã tiến hành: Lúc đầu, ông dùng thôi miên
để giúp người bệnh nhớ lại những điều đã trải qua. Sau đó, ông dùng
một kỹ thuật của riêng ông: Kỹ thuật ép cùng với phương pháp liên
tưởng tự do nhằm giúp người bệnh xóa đi những tắc nghẽn trong
những liên tưởng bằng lời. Ông phân loại các chứng nhiễu tâm: Nhiễu
tâm thức thời và loạn nhiễu tâm.



9
b. Lý giải các giấc mơ:


+ Năm 1900, Freud công bố công trình “Lý giải các giấc mơ”. Việc phân
tích cặn kẽ các giấc mơ của người nào đó đã trải qua là một thành công của
ông, con đương đi đến làm rõ cái vô thức.


+ Các giấc mơ đã tạo nên một sự hấp dẫn đặc biệt đối với Freud, bởi
theo ông, có thể từ việc phân tích các giấc mơ, chúng ta có thể nhìn thấy rõ
hơn cấu trúc tâm thần người, rõ hơn về cái vô thức trong con người. Từ các
ca lâm sàng trong chữa trị bệnh tâm thần, ông đã đi đến kết luận:


- Các giấc mơ đều không xa lạ với người nằm mơ, đều luôn khó
hiểu với người đó.


- Các giấc mơ đều có một ý nghĩa nhất định nào đó. Không
những giấc mơ có một ý nghĩa mà ý nghĩa của giấc mơ là nguyên nhân
gây nên giấc mơ.


- Trong các giấc mơ có các “ý tưởng tiềm ẩn” cần được khám
phá. Nội dung biểu hiện của giấc mơ có thể thực hiện trá hình những
ham muốn bị dồn nén vào vùng vô thức. Việc nghiên cứu về các giấc
mơ giúp chúng ta hiểu rõ hơn những cội nguồn sáng tạo của trí tưởng
dân gian của dân tộc Việt Nam.


- Từ việc làm rõ bốn nguồn gốc đặc thù của giấc mơ, ông đã chỉ
ra năm cơ chế chính của giấc mơ, đó là:
.. Cô đặc..
.. Di chuyển..
.. Kịch hóa..
..Tượng trưng hóa..



10
..Chế biến lần thứ hai..


c. Lý thuyết tình dục:


+ “Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục”là một trong những tác phẩm chủ
yếu của Freud trên con đường xây dựng phân tâm học được công bố vào năm
1905. Công trình này làm rõ cơ sở lý thuyết về các chứng nhiễu tâm, giải
thích nhu cầu dồn nén và những nguồn năng lực xúc cảm nằm bên dưới
những vận động và những ứng xử có ý thức và vô thức của con người. Freud
đã gọi năng lực đó là Libido..


+ Trong công trình này, Freud đã chỉ rõ:


- Đới sống tính dục của con người không phải được bắt nguồn
vào tuổi dạy thì mà trái lại được biểu hiện rất sớm từ khi con người
mới sinh ra. Khái niệm tính dục khác hẳn với khái niệm sinh dục chứa
đựng một nghĩa rộng hơn nhiều và bao gồm nhiều hoạt động không
có liên quan với cơ quan sinh dục..


- Đời sống tính dục bao hàm chức năng cho phép thu được các
khoái cảm từ những vùng khác nhau của thân thể; Các vùng cơ thể
gây khoái cảm cho con người, Freud gọi là các vùng kích dâm, đầu tiên
là miệng; sau đó là hậu môn, tiếp theo là toàn bộ những bí mật của cơ
thể do bị trẻ tự khám phá ở thân thể của nó…


+ Từ những phân tích khá sâu sắc về tình dục, Freud đã đi đến xem xét
những sự loạn dâm, thói phô bày, ác dâm, khổ dâm….đều là những hiện
tượng có thật trong đời sống tính dục của con người. Đặc biệt Freud đã phân
tích khá sâu những biến đổi tính dục ở tuổi dạy thì, chấm dứt thời kỳ tiềm ẩn
của đời sống tính dục.




11
Các công trình này đã khắng định khái niệm cơ bản do Freud đề xướng là
“Libiolip”, giúp chứng minh cho sức mạnh của cái vô thức.


+ Theo Freud, đam mê tình dục giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong đời
sống tâm lý, là cội nguồn của mọi cội nguồn tinh thần con người, đâu đâu
cũng thấy đam mê tình dục hoàn thành. Đó là nguyên nhân của bệnh tâm thần
cũng như của mọi sáng tạo, kể cả văn học nghệ thuật. Đam mê đó trong học
thuyết Freud là trung tâm của các bản năng và được gọi là “ mặc cảm Ơ-
đíp”(6)



_________________________________________
(6)… “ Nhập môn tâm lý học” của Phạm Minh Hạc. NXB Giáo Dục 1980. Trang 75.

2. 2. 2. Một nội dung quan trọng của học thuyết phân tâm học do S. Freud sáng
lập là việc xác định cấu trúc của bộ máy tâm thần con người.


Trên cơ sở chữa trị các bệnh Hystêri, phân tích lý giải các giấc mơ…Freud đã
đi đến xác định bộ máy tâm thần con người bao gồm 3 khối (7):


a. Cái ấy ( cái vô thức) bao gồm các bản năng vô thức: ăn uống, tình dục,
tự vệ, trong đó bản năng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ,
đời sống tâm lý và hành vi của con người. Cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thỏa
mãn và đòi hỏi.


b. Cái tôi là con người thường ngày, con người ý thức, tồn tại theo nguyên
tắc hiện thực. Cái tôi có ý thức theo Freud là cái tôi giả hiệu, cái tôi bề ngoài
của nhân lõi bên trong là “cái ấy”, cái tôi còn chịu ảnh hưởng của cái siêu tôi.


c. Cái siêu tôi là cái siêu phàm, cái tôi lí tưởng không bao giờ vươn tới
được và tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt chèn ép.




12
Sự quan hệ của ba miền trên , theo Freud, đó là quan hệ của ba tầng: tầng vô
thức biểu hiện vai trò của di truyền; tầng tiền ý thức là cái con người đã và đang
trải nghiệm, mang tính ngẫu nhiên, tức thời và tầng ý thức biểu hiện vai trò áp chế
của người khác, của xã hội. Ba khối này tạo nên ba con người: khối vô thức tạo
nên con người trung tín mà nguyên tắc sống của nó là chỉ mong muốn đòi được
thỏa mãn bằng mọi cách trong đó thỏa mãn các đam mê tính dục giữ vị trí hàng
đầu. Khối tiền ý thức tạo nên con người thực tại, hoạt động tuân theo nguyên tắc
hiện thực. Còn khối ý thức tạo nên con người xã hội hoạt động tuân theo nguyên
tắc kiểm duyệt chèn ép các con người trung tính và con người thực tại.




___________________________________________
(7)… “ Nhập môn tâm lý học” của GS. TS. Nguyễn Quang Uẩn. Khoa “Tâm Lí Giáo Dục” - Trường ĐH SPHN.năm
2005. Trang 44.

Trong đó, con người trung tính là con người thực nhất trong các con người, tự nó
có nguồn năng lượng đảm bảo cho toàn bộ hoạt động tinh thần của con người. Ba
con người này trong một con người cụ thể luôn tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau…
Sự mất cân bằng trong ba con người này làm nảy sinh các bệnh tâm thần khác
nhau có ở con người.


Đối với Freud, ý thức chỉ được xem như một phần tương đối nhỏ và tạm
thời trong toàn bộ đời sống tinh thần của cá nhân. Khu vực vô thức của đời sống
tinh thần rộng lớn hơn rất nhiều lần so với khu vực hữu thức, nó như là phần chìm
của tảng băng trôi.(1).


2. 2. 3. Phân tâm học đã luận giải xây dựng lý thuyết tổng quát vè các chứng
nhiễu tâm và đề xuất phương pháp trị liệu bênh tâm thần bằng “tự do liên tưởng”
“giải tỏa tâm lý”.


Freud đã xác nhận có những bệnh do chứng nhiễu tâm gây ra, điều mà
đương thời, mọi người đều phủ nhận, từ chối trách nhiệm chữa trị. Bằng nghiên



13
cứu lâm sàng trên các ca chữa bệnh do chính mình thực hiện, Freud đã đi tới 6 loại
nhiễu tâm(5):
- Các chứng Hystêri và nhân cách Hystêri.


- Những trạng thái lo hãi; những nhân cách lo lắng và dễ tổn thương.


- Những rối loạn ám ảnh – thúc đẩy những nhân cách ám ảnh.


- Trầm nhược thần kinh; những nhân cách đặc biệt dễ tổn thương vì
những tình cảm thất bại và tuyệt vọng.
- Những thái độ nhạy cảm quá mức, hay nghi ngờ và hoang tưởng bộ
phận.


_________________________________________
(1)…Xem David Staford – Clark, Freud đã thực sự nói gì, NXB Thế giới, Hà Nội 1998, trang157.

- Những rối loạn đặc thù của tình trạng chưa trưởng thành tính dục;
những nhân cách thích thú với những rối loạn ấy và nạn nhân của những rối
loạn ấy.


3. Đánh giá về thành công, hạn chế của “ Phân Tâm Học” và việc
vận dụng nó trong đời sống, giảng dạy.


3. 1. Thành công của “ Phân Tâm Học”:


- S. Freud đã có một ý tưởng khoa học đúng đắn: Tâm lý học phải có một con
đường riêng của mình. Ông đã bắt tay vào việc xây dựng phân tâm học học, khởi
đầu là một trào lưu tâm lý học chống lại nền tâm lý học duy tâm, chủ quan để xây
dựng một nền tâm lý học khách quan. Sự xuất hiện của phân tâm học một cách
khách quan đã làm cho tâm lý học phát triển.




14
- Các kết quả của phân tâm học được rút ra từ những nghiên cứu thực hành
chữa bệnh tâm thần do chính S. Freud tiến hành. Những thành tựu mà ông mang
đến cho khoa học loài người nói chung, tâm lý học nói riêng là một khám phá vô
cùng lớn về một mảng hiện tượng vô thức ở con người mà cho đến nay trên lĩnh
vực này chưa có ai vượt qua được Freud.


- S. Freud đã đề xuất ra một phương pháp “liên tưởng tự do” nhằm giải tỏa
tâm lý, chữa trị cho các người bệnh tâm thần. Phương pháp này đã được sử dụng
khá rộng rãi và có hiệu quả trong các bệnh viện tâm thần. Công lao của Freud
trong lĩnh vực này rõ ràng là không nhỏ.


3. 2. Những hạn chế của “ Phân Tâm Học”:


- Do nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người, Freud đã không nhận thấy
được mặt bản chất trong ý thức của con người, không thấy được bản chất xã hội
– lịch sử của các hiện tượng tâm lý người. Luận điểm, động lực của mọi hoạt
động tâm lý người là cái vô thức gắn liền với các đam mê tính dục là một luận
điểm không đúng.


- Quan niêm về con người và nhân cách con người trong phân tâm học Freud
cũng bộc lộ những khía cạnh không đúng đắn. Con người trong thuyết phân tâm là
con người cơ thể, con người sinh vật bị phân ly ra nhiều mảng, con người với
những mong muốn chủ yếu là thỏa mãn các đam mê tính dục, con người đối lập
với xã hội.


- Do những quan niệm sai trái như ở trên, một số các học giả kế tục Freud đã
cố gắng tìm cách khắc phục các hạn chế của phân tâm học, mong muốn xây dựng
một phân tâm học mới. Những cố gắng này là đáng kể làm cho phân tâm học có
điều kiện thân nhập sâu vào các lĩnh vực đời sống xã hội.




15
- Về mặt chính trị - xã hội, một cách khách quan, phân tâm học của Freud đã
trở thành cơ sở cho một thứ triết lý sống không tích cực, luôn có xu hướng đối lập
với xã hội trong các tầng lớp xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ ở các nước phương
Tây: sống chỉ đòi hỏi xã hội và người khác thỏa mãn nhu cầu của mình mà không
tính đến trước tiên phần đóng góp của mình cho xã hội.


3. 3. Vận dụng “ Phân Tâm Học” trong đời sống, giảng dạy.


3. 3. 1. Vận dụng trong đời sống:


“Phân Tâm Học” đã được vận dụng có thể nói là rất triệt để trong đòi sống
tâm lý con người:


- Giúp y khoa khám phá và chữa trị những trường hợp tâm bệnh
mà trước nay với phương pháp của khoa học thực nghiệm nó chưa đủ
khả năng điều trị.


- Giúp ta khám phá chiều sâu vô tận của tiềm thức mà có thể nói
được là chiều sâu đời sống, thế giới của tất cả các căn nguyên, động cơ
bí ẩn của ý thức và nhân cách của chúng ta.


3. 3. 2. Vận dụng trong công tác giảng dạy:


“ Phân Tâm Học” đã được vận dụng trong công tác giảng dạy:


- Giúp Giảng Viên giảng dạy tốt, đồng thời chia sẻ những kinh
nghiệm, những hiểu biết cho sinh viên, giúp sinh viên sống lành mạnh…
- Giúp sinh viên tiếp thu bài tốt, đồng thời ứng dụng ngay trong
cuộc sống, học hỏi kinh nghiệm ở các Giảng Viên.




16
MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ĐÃ SỬ DỤNG:


1. Từ điển tâm lý học”. A. V . Pêtơrôpxki và M. G. Iarôsepxki chủ
biên, NXB Chính trị Quốc gia, Matxcơva 1990.
2. “ Thăm dò tiềm thức” của Carl Gustav Jung, Vũ Đình Lưu dịch.
Hoàng Đông Phương xuất bản. Trang thư Hoàng Phương Đông.
3. “Phân tâm học nhập môn” của Sigmund Freud, dịch giả:
Nguyễn Xuân Hiến
4. Xem David Staford – Clark, Freud đã thực sự nói gì, NXB Thế
giới, Hà Nội 1998.
5. “Lịch sử tâm lý học”.GS. TS. Nguyễn Ngọc Phú. NXB ĐH
QGHN.
6. “ Nhập môn tâm lý học” của Phạm Minh Hạc. NXB Giáo Dục
1980.
7. “ Nhập môn tâm lý học” của GS. TS. Nguyễn Quang Uẩn. Khoa
“Tâm Lí Giáo Dục” - Trường ĐH SPHN.năm 2005.




17
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản