Hội chứng "Ome(n)s"

Chia sẻ: Nguyen Phuonganh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
46
lượt xem
3
download

Hội chứng "Ome(n)s"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Như chúng ta biết, bệnh dịch sử dụng "-ome" và "-omic" bắt nguồn từ genome, một thuật ngữ mới mô tả toàn bộ trình tự DNA của một sinh vật. Tuy nhiên, thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà thực vật học người Đức Hans Winkler khoảng năm 1920 với nghĩa là từ kết hợp của gene vàchromosome.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hội chứng "Ome(n)s"

  1. Hội chứng "Ome(n)s" Như chúng ta biết, bệnh dịch sử dụng "-ome" và "-omic" bắt nguồn từ genome, một thuật ngữ mới mô tả toàn bộ trình tự DNA của một sinh vật. Tuy nhiên, thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà thực vật học người Đức Hans Winkler khoảng năm 1920 với nghĩa là từ kết hợp của gene vàchromosome. Thuật ngữ transcriptome (tất cả các RNA được mã hóa bởi genome)
  2. và proteome (tất cả sản phẩm protein được dịch mã và sửa đổi từ những RNA này) đã ra đời ngay sau đó Mọi chuyện dần giống như một chiếc xe xuống dốc không phanh. Gần như trong mọi lĩnh vực cứ một tập hợp lớn hơn một phần tử có ý nghĩa dần dần được "Ome" hóa. Những thuật ngữ được sử dụng một cách tràn lan, đầy sáng tạo trong những văn bản khoa học đã gây những khó hiểu cho người đọc ở mức độ nhất định. Ngay chỉ kể riêng trong lĩnh vực Sinh học, người ta đã dễ dàng liệt kê hàng loạt các thuật ngữ
  3. như kinome, lipidome, glycome, int eractome, splicome rồi đến cả cellome, fluxome hoặc thậm chí CHOome. Bạn có thể tìm thấy danh sách của hơn một trăm "ome" tại genomic glossaries. Câu chuyện chưa dừng lại ở đó đâu. Ngoài những ví dụ trên, gần đây thuật ngữ allosterome được đề xuất bởi Janet Lindsley và Jared Rutter trong bài "Whence cometh the allosterome" (PNAS 103:10533-5). Họ lập luật rằng "cơ chế điều hòa allosteric chưa được coi trọng đúng mức trong ngành sinh học (...) và rất nhiều chất tương tác allosteric còn chưa được
  4. phát hiện". Do đó, một cách logic, mọi chất có kiểu điều hòa allosteric của tế bào cần được gọi là "allosterome". Một thuật ngữ khác methylome dùng để mô tả tất cả các dạng methyl hóa DNA của một tế bào. Tuy nhiên, khác với lập luận phía trên, lĩnh vực này được nghiên cứu khá toàn diện và một công trình mới đây đăng trên Cell là "Genome-wide high-resolution mapping and functional analysis of DNA methylation in Arabidopsis". Điều thú vị ở chỗ bài bình luận cho công trình này mang tên "The first high-resolution
  5. DNA"methylome"" được đăng trong cùng số tạp chí. Chúng ta dường như không thể dự đoán được điểm dừng của quá trình khuyếch đại "ome" này. Tuy nhiên, không phải ai cũng vui vẻ đón nhận sự ra đời của các "ome" này. Trên bộ từ điển Wikipedia, sau khi khẳng định những giá trị hữu ích của genome, transcriptome cũng như proteome đem lại, bài viết khẳng định các "ome" khác sẽ phải trải qua một quá trình chọn lọc tự nhiên và tiến hóa. Theo dần thời gian, những thuật ngữ hữu dụng và hợp lý sẽ được giữ lại còn những thứ khác sẽ nằm trong tập hợp các
  6. "Rác-ome" (pseudoomics haynonsensomics). Dường như trong chúng ta, những "khoa học gia-ome", một số người đã bắt đầu cảm thấy bị spam.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản