HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH (Kỳ 4)

Chia sẻ: Barbie Barbie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
101
lượt xem
21
download

HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH (Kỳ 4)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

III. CÁC HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH : 1) Hội chứng tiền đình ngoại biên : tổn thương bộ phận cảm nhận hoặc dây TK tiền đình. Triệu chứng chủ quan: chóng mặt dữ dội, xảy ra từng cơn Triệu chứng khách quan mang tính chất toàn diện và hòa hợp : Toàn diện: tất cả các rối loạn tiền đình đều hiện diện như rung giật nhãn cầu (ngang-xoay tròn), lệch các ngón tay, rối loạn tĩnh trạng, rối loạn dáng đi. Hòa hợp : các triệu chứng đều cùng về một phía thường là bên bệnh Thường kèm theo các rối...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH (Kỳ 4)

  1. HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH (Kỳ 4) BS LÊ TỰ PHƯƠNG THẢO III. CÁC HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH : 1) Hội chứng tiền đình ngoại biên : tổn thương bộ phận cảm nhận hoặc dây TK tiền đình. Triệu chứng chủ quan: chóng mặt dữ dội, xảy ra từng cơn Triệu chứng khách quan mang tính chất toàn diện và hòa hợp : Toàn diện: tất cả các rối loạn tiền đình đều hiện diện như rung giật nhãn cầu (ngang-xoay tròn), lệch các ngón tay, rối loạn tĩnh trạng, rối loạn dáng đi. Hòa hợp : các triệu chứng đều cùng về một phía thường là bên bệnh Thường kèm theo các rối loạn thính giác như ù tai, giảm thính lực.
  2. 2) Hội chứng tiền đình trung ương: tổn thương nhân tiền đình hoặc các đường liên hệ nhân tiền đình với hệ TK trung ương. Triệu chứng không điển hình như trong tổn thương tiền đình ngoại biên, có sự khác biệt rõ rệt so với hội chứng tiền đình ngoại biên. · Trước hết là do tổn thương nằm xa đường ốc tai và dây VII nên không có ù tai, điếc tai hay tổn thương dây VII đi kèm. Thêm vào đó chóng mặt không là triệu chứng chủ yếu mà chỉ là triệu chứng thứ yếu: chóng mặt ít hơn, không rõ như trong hội chứng tiền đình ngoại biên. Trong khi đó mất thăng bằng mới là triệu chứng quan trọng nhất. · Các dấu hiệu khách quan thường là hằng định: rung giật nhãn cầu thường tự phát và đơn thuần: đứng dọc trong tổn thương cuống não, ngang trong tổn thương cầu não và xoay tròn trong tổn thương hành não. · Triệu chứng không toàn diện vì không có đủ cùng lúc các dấu hiệu. · Cuối cùng là sự mất hòa hợp rất ro vì rung giật nhãn cầu có thể có nhiều hướng (multidirectionnel: đưa mắt sang (P), rung giật nhãn cầu đáng sang (P), : đưa mắt sang (T), rung giật nhãn cầu đáng sang (T), : đưa mắt lên trên, rung giật nhãn cầu đáng lên trên) chiều chậm của rung giật
  3. nhãn cầu có thể không cùng chiều với ngón tay chỉ lệch, với chiều ngã về một bên trong nghiệm pháp Romberg. · Ngoài ra còn có hiện diện các tổn thương thần kinh như dấu hiệu tiểu não, tổn thương thân não (dấu hiệu tháp: yếu liệt, tổn thương vận nhãn) III. CĂN NGUYÊN CÁC HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH A. HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH NGOẠI BIÊN 1. Cơn chóng mặt dữ dội xuất hiện cấp tính Trong trường hợp này chẩn đoán tổn thương tiền đình không có gì khó khăn cả: chóng mặt rất rõ, thường là xoay tròn và nặng lên khi cử động đầu. Chóng mặt đi kèm với buồn nôn, ói mửa và rối loạn thăng bằng (chóng mặt thường gây nên té ngã, bệnh nhân đi chệnh choạng hoặc không thể đi được). Khám lâm sàng ghi nhận có rung giật nhãn cầu và ngón tay chỉ lệch. 1.1 Hội chứng tiền đình ngoại biên đi kèm với điếc tai Bệnh Ménière hay hội chứng Menière là bệnh lý gồm những cơn chóng mặt lập đi lập lại phối hợp với ù tai và điếc dần dần tai bên bệnh. Lúc đầu ù và/hoặc điếc tai có thể không xuất hiện trong những cơn đầu của bệnh. Nhưng
  4. khi bệnh tiến triển thì các triệu chứng này xuất hiện đều đặn và cường độ tăng dần lên trong cơn chóng mặt. Cơn chóng mặt thường xảy ra đột ngột, kéo dài nhiều phút hoặc cả giờ đồng hồ. Chóng mặt thường theo kiểu xoay tròn và ở mức độ nặng làm bệnh nhân không thể đứng hoặc đi lại được. Chóng mặt thường đi kèm với buồn nôn, ói mửa, ù tai, cảm giác đầy cả tai, và giảm thính lực (cường độ có thể tăng dần trong cơn). Khám lâm sàng ghi nhận rung giật nhãn cầu có hướng ngang (có khi kèm thêm xoay tròn). Pha chậm của rung giật nhãn cầu cũng như hướng ngón tay chỉ lệch, hướng nghiêng người trong nghiệm pháp Romberg đều cùng phía với tai bệnh. Bệnh nhân có khuynh hướng nằm nghiêng, tai bệnh hướng lên trên (nằm áp tai lành xuống mặt giường) và không thích nhìn sang bên lành vì động tác này làm nặng thêm tình trạng chóng mặt và rung giật nhãn cầu. Các cơn thay đổi rất nhiều về mức độ nặng nhẹ và về tần số xuất hiện. Cơn có thể xảy ra nhiều lần trong tuần và nhiều tuần liên tiếp, hoặc có khi chỉ tái phát sau nhiều năm không có cơn. Trong các thể nhẹ của bệnh, bệnh nhân thường có cảm giác nặng đầu, kém tập trung chứ không phải chóng mặt đúng nghĩa, và có thể bị chẩn đoán lầm là lo lắng hoặc trầm cảm.
  5. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20 đến 50, nam nữ đều mắc bệnh như nhau Tiêu chuẩn chẩn đoán: 1. Có những cơn tương tự trước đó. 2. Tuổi thường gặp từ 30-50 tuổi. 3. Trong cơn có chóng mặt dữ dội đi kem với giảm thính lực một bên, ù tai hoặc cảm giác đặc cả tai 4. Khám lâm sàng ghi nhận rung giật nhãn cầu đánh về chiều ngược với bên tai bệnh, còn nghiệm pháp ngón tay chỉ lệch và nghiệm pháp Romberg thì nghiêng về tai bệnh. 5. Không có các dấu hiệu tổn thương thần kinh trung ương. 6. Thính lực đồ ghi nhận điếc tiếp nhận một bên tai, chủ yếu ở những tần số cao và có hiện tượng chọn lọc. Cơ chế bệnh sinh chưa rõ, có thể là do tăng thể tích trong hệ thống nội dịch do giảm sự hấp thu hoặc tắc nghẽn trong ống dẫn. Điều trị: Điều trị trong cơn cấp: nằm tại giường là phương pháp điều trị tốt nhất vì bệnh nhân có thể tìm ra một tư thế thích hợp để chóng mặt ít xảy ra nhất.
  6. Trong những cơn kéo dài có thể dùng dimenhydrinate, cyclizine, meclizine. Chế độ ăn giảm muối cũng nên dùng dù rằng hiệu quả của chế độ ăn này khó mà đánh giá được. Có thể điều trị bằng phẫu thuật.
Đồng bộ tài khoản