Hợp tác dùng thuốc: Chuyện không nhỏ

Chia sẻ: De Khi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
62
lượt xem
6
download

Hợp tác dùng thuốc: Chuyện không nhỏ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Những bệnh mãn tính rất cần sự hợp tác dùng thuốc của BN. Thực tế cho thấy, hiện nay đối với nhiều bệnh nhân (BN), vấn đề hợp tác dùng thuốc (HTDT) là khái niệm hoàn toàn xa lạ. Sự cần thiết của việc HTDT Tốt nhất khi bị bệnh, BN sẽ đi khám bệnh để được bác sĩ khám, chẩn đoán xác định bệnh, ghi đơn thuốc và sau đó BN sẽ dùng đúng các loại thuốc đã được chỉ định trong đơn hầu được chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, những điều vừa nêu thường không xảy ra trọn vẹn, đặc...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hợp tác dùng thuốc: Chuyện không nhỏ

  1. Hợp tác dùng thuốc: Chuyện không nhỏ Những bệnh mãn tính rất cần sự hợp tác dùng thuốc của BN. Thực tế cho thấy, hiện nay đối với nhiều bệnh nhân (BN), vấn đề hợp tác dùng thuốc (HTDT) là khái niệm hoàn toàn xa lạ. Sự cần thiết của việc HTDT Tốt nhất khi bị bệnh, BN sẽ đi khám bệnh để được bác sĩ khám, chẩn đoán xác định bệnh, ghi đơn thuốc và sau đó BN sẽ dùng đúng các loại thuốc đã được
  2. chỉ định trong đơn hầu được chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, những điều vừa nêu thường không xảy ra trọn vẹn, đặc biệt ở giai đoạn sau cùng, BN vì nhiều lí do bỏ ngang việc dùng thuốc, thuốc không dùng đúng thời gian của liệu trình để bệnh không được chữa khỏi. Nếu dùng câu chữ HTDT sẽ cho thấy sự bình đẳng giữa BN và thầy thuốc, BN chịu dùng thuốc là vì lợi ích của cả đôi bên (lợi ích của BN là được chữa khỏi bệnh, còn lợi ích của thầy thuốc là thực hiện nghề nghiệp cao quý của mình chữa khỏi bệnh). Còn nói “tuân trị” là đặt vị trí của BN thấp hơn, BN vì sợ thầy thuốc mà chấp nhận vâng lời dùng thuốc theo đúng chỉ định của BS. Một số nhà y dược học đã định nghĩa HTDT là sự cộng tác của BN trong việc thực hiện chế độ điều trị bằng thuốc do thầy thuốc chỉ định mà sự cộng tác này dựa trên mối tin cậy thân thiết của BN. Có nhiều yếu tố làm cho HTDT không tốt, trong đó có mối liên hệ giữa BN và thầy thuốc, vì vậy, định nghĩa nhấn mạnh sự tin cậy thân thiết của BN đối với thầy thuốc đảm nhận việc chữa bệnh. Thực trạng của HTDT hiện nay không sáng sủa, có lắm vấn đề, cho nên WHO kêu gọi các nhà chuyên môn y dược đề xuất các chiến lược cần thiết cải thiện HTDT trên phạm vi toàn cầu. Nhiều công trình nghiên cứu đã được các nhà y dược thực hiện ở nhiều nước nhằm đánh giá thực trạng HTDT và đề ra các biện pháp can thiệp hữu hiệu. Các nhà khoa học nhất trí cho rằng để BN HTDT tốt, họ cần được giúp đỡ 3 việc sau: Tiếp cận dễ dàng và thuận lợi với thuốc men: BN rất dễ bỏ cuộc, không tiếp tục dùng thuốc nếu thuốc mua với chế độ dùng thuốc quá phức tạp (như dùng
  3. quá nhiều lần trong ngày, có thuốc phải dùng đến 5 lần/ngày) hoặc không tiện dụng (dùng dạng tiêm chích thay vì uống) làm BN hoặc ngưng điều trị hoặc thay đổi cách dùng không còn hiệu quả. Điều đáng quan tâm hơn hết là giá thuốc. Ở nước ta, báo chí thường xuyên nêu vấn đề tăng giá thuốc bất hợp lý bởi vì xét cho cùng, giá thuốc không ổn định sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến HTDT. Tăng cường sự hiểu biết của BN về tình trạng bệnh và chế độ điều trị bằng thuốc: BN cần biết rõ những điều cơ bản về bệnh của họ và về thuốc, để hiểu vì sao phải dùng thuốc, thuốc sẽ cho tác dụng như thế nào đối với bệnh, phải uống thuốc bao nhiêu lần trong ngày và cần bao nhiêu loại thuốc để chữa khỏi bệnh, khi dùng thuốc có thể bị các tác dụng phụ nào hay không. Hình thành và củng cố động cơ HTDT ở BN: tức là phải tạo được niềm tin ở BN muốn chữa bệnh dứt khoát phải hợp tác với thầy thuốc dùng đúng và đủ thuốc. Ở đây rất cần đến mối quan hệ tốt đẹp giữa BN và các thành viên trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, đó là bác sĩ điều trị, dược sĩ cấp và tư vấn dùng thuốc, điều dưỡng chăm sóc bệnh hàng ngày. Phải tạo niềm tin như thế nào mà BN thấy việc nhớ dùng thuốc là mệnh lệnh từ trái tim của mình, gắn việc dùng thuốc vào sinh hoạt hàng ngày và duy trì việc dùng thuốc dù sinh hoạt hàng ngày có thay đổi (như BN đái tháo đường duy trì tốt việc dùng thuốc kiểm soát đường huyết khi đi du lịch cũng giống như ở nhà).
  4. Các biện pháp để thúc đẩy Có những bệnh có thể phải dùng thuốc lâu việc HTDT dài, thậm chí suốt đời (như bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, động kinh…) nếu người bệnh bỏ Biện pháp kỹ thuật: bác sĩ ngang việc dùng thuốc sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến điều trị khi chỉ định thuốc hoặc bản thân người bệnh. Nhưng cũng có những bệnh dược sĩ khi cấp thuốc nên lựa chọn nếu bỏ ngang, không dùng thuốc đúng liệu trình, thuốc mà chế độ dùng thuốc thuận hậu quả xấu không chỉ xảy ra cho BN mà còn gây tiện hơn, như dùng dạng thuốc lỏng nguy hại rất lớn cho sức khỏe cộng đồng. Như việc chữa trị lao không đúng cách, không dùng thuốc (sirô, hỗn dịch…) cho trẻ em, dùng theo đúng thời gian của phác đồ điều trị có thể đưa dạng thuốc phóng thích kéo dài đến hiện tượng “lao đa kháng thuốc” (nhiều thuốc dùng 1 lần thay vì 3 - 4 lần trong kháng lao không còn hiệu quả) và nay là “lao siêu ngày đối với người cần dùng thuốc kháng thuốc” (là loại mà thuốc kháng lao dự trữ lâu dài (thậm chí có thuốc trị loãng dùng sau cùng vẫn không có tác dụng) rất nguy xương dùng 1 lần trong ngày cũng hiểm. còn có sự bất tiện nay nên thay bằng thuốc chỉ cần dùng 1 lần trong tuần). Biện pháp truyền thông - giáo dục: trước hết, chính các bác sĩ, dược sĩ là người thích hợp nhất giúp BN nâng cao hiểu biết về bệnh tật và thuốc men chữa trị có liên quan. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy HTDT của BN tốt hơn rất nhiều khi nhà điều trị không kiệm lời, chịu khó nói năng với lời lẽ chân tình giúp BN hiểu rõ về bệnh tình để từ đó có sự tin cậy về chế độ dùng thuốc. Người ta
  5. cũng ghi nhận vai trò rất lớn của các phương tiện truyền thông đại chúng, trong đó có báo chí, về việc nâng cao kiến thức để BN hợp tác tốt việc dùng thuốc. Ngoài hai biện pháp chủ yếu trên, các nhà khoa học còn nêu thêm một số biện pháp khác để thúc đẩy và cải thiện HTDT. Như dùng biện pháp giúp thay đổi thái đô (thật ra cũng giống như biện pháp kỹ thuật nêu ở trên, như dùng thiết bị báo tín hiệu hoặc dùng điện thoại báo giờ uống thuốc để giúp BN nhớ giờ dùng thuốc). Hoặc dùng biện pháp gây ảnh hưởng lên tình cảm của BN (như nhờ sự hỗ trợ của những người cùng nhiễm HIV/AIDS, gọi là đồng đẳng để giúp HTDT trong điều trị căn bệnh thế kỷ này). Tất cả những biện pháp cải thiện nêu trên đều nhằm đến trung tâm điểm là BN để cải thiện HTDT. Nhưng việc thực hiện thành công hay thất bại là tùy thuộc vào các nhà chuyên môn y dược, đặc biệt có cả các nhà quản lý của ngànhY tế. Chính họ sẽ khơi mở giúp cho HTDT ngày càng được cải thiện hơn để BN được chữa trị bằng thuốc tốt nhất.
Đồng bộ tài khoản