Hyperfocal

Chia sẻ: Nguyenhoang Phuonguyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
83
lượt xem
27
download

Hyperfocal

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khi bạn lấy nét vào điểm xa vô cực thì hình ảnh sẽ rõ nét từ vô cực cho đến một khoảnhg cách nào đó trước ống kính. Khoảng cách không rõ nét trước ống kính khi bạn lấy nét ở vô cực gọi là Hyperfocal. Sau khi xác định được khoảng hyperfocal bạn lấy nét lại vào khoảng cách đó. Lúc này độ sâu trường ảnh DOF sẽ bắt đầu từ giữa khoảng hyperfocal đến vô cực. Thực tế đây là DOF lớn nhất mà bạn có thể đạt được. Tuy nhiên bạn phải lưu ý rằng khoảng cách...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hyperfocal

  1. Hyperfocal Khi bạn lấy nét vào điểm xa vô cực thì hình ảnh sẽ rõ nét từ vô cực cho đến một khoảnhg cách nào đó trước ống kính. Khoảng cách không rõ nét trước ống kính khi bạn lấy nét ở vô cực gọi là Hyperfocal. Sau khi xác định được khoảng hyperfocal bạn lấy nét lại vào khoảng cách đó. Lúc này độ sâu trường ảnh DOF sẽ bắt đầu từ giữa khoảng hyperfocal đến vô cực. Thực tế đây là DOF lớn nhất mà bạn có thể đạt được. Tuy nhiên bạn phải lưu ý rằng khoảng cách hyperfocal này không cố định mà phụ thuộc vào khẩu độ ống kính. Ở mỗi F-stop thì khoảng cách hyperfocal đều khác nhau. Như vậy trong trường hợp chụp hình cần lấy dof thật rộng, hình rõ nét trong phạm vi lớn nhất thì bạn sẽ lấy nét vào khoảng cách hyperfocal kết hợp với đóng nhỏ độ mở ống kính lại. Kỹ thuật lấy nét theo khoảng cách hyperfocal sử dụng khi bạn chụp hình trong đó có nhiều chủ đề đòi hỏi bạn phải lấy rõ nét từ khoảng cách gần nhất đến xa nhất, nghĩa là DOF lớn nhất. Chứ không nhất thiết là chụp landscape.
  2. Lần 1 không phải lấy nét vào đường chân trời mà lấy nét ở vô cực nghĩa là bạn xoay cái vòng chỉnh focus về vạch vô cực. kế đến tìm xem điểm rõ nét gần máy nhất nằm ở khoảng cách nào. Đó chính là hyperfocal distance . Với máy số thì chụp review một tấm xem thế nào. Còn máy film thì sử dụng chức năng xem dof... sau cùng lấy nét lại vào khoảng cách hyper focal vừa tìm được ở trên. Như vậy bạn sẽ có thêm được một khoảng rõ nét gần hơn với lần đầu. Nói chung những kỹ năng này chỉ mang tính tương đối. Dùng nhiều thì bạn sẽ quen với ống kính của mình. Nếu cứ áp dụng đúng kỹ thuật này là các bác có DOF lớn nhất ứng với tiêu cự và khẩu độ ống kính trong các trường hợp. Tuy nhiên, cái kỹ thuật này không áp dụng được cho chụp macro, dù cái này trong nhiều trường hợp cũng đòi hỏi DOF rất "sâu". Thực tế thì chỉ còn landscape là cần DOF lớn, cho nên kỹ thuật này được áp dụng phổ biến nhất với chụp landscape. Về thực hành thì theo cái hình vẽ trên, các bác cũng thấy là với mỗi tiêu cự và khẩu độ ống kính thì có một hyperfocal tương ứng. Chứ thực tế thì màn hình LCD của máy số cũng khó mà giúp ta nhận ra cái điểm nào bắt đầu out net khi focus vào vô cực để xác định hyperfocal. Dùng nút Depth preview trên (D)SLR cũng khó nhận ra lắm nhất là khi khép khẩu lớn vì nó sẽ tối xầm. Cái này có công thức tính sẵn rồi. Cho nên, nếu thuộc cái công thức ấy thì các bác cứ phang thẳng ra, còn không thì nhét cái bảng tính Hyperfocal người ta làm sẵn để lúc nào chụp thì lôi ra tra cứu. H = l^2 / (f.c) H: hyperfocal
  3. l : tiêu cự ống kính f : khẩu độ c : đường kính circle of confusion (với film 35mm thì họ chọn là ~ 0.025mm) Ta được cái bảng sau:
  4. Source: Nikonians.org Trông vào thì thấy ngay là với góc càng rộng (l càng nhỏ) và khép khẩu sâu (f càng lớn) thì sẽ cho H nhỏ tức là DOF thật lớn. Thích hợp nhất với chụp landscape. Và cũng không thể áp dụng các con số trên cho việc chụp thể loại nào khác ngoài landscape cả. Đồng thời, ở khoảng cách H nhỏ thì dễ ước lượng bằng mắt thường hơn. Cho nên chỉ cần quan tâm đến tiêu cự dưới 80mm and/or khẩu độ khép tương đối sâu. Chứ tele trở lên là mệt rồi. hyperfocal chỉ hiệu quả khi dùng với ống kính góc rộng và khép khẩu nhỏ lại. Asahinguyen tui gói gọn trong cái bảng sau cho các bạn dễ bỏ túi.
Đồng bộ tài khoản