Kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe của ngành học mầm non

Chia sẻ: phuonguyen123

Giá trị dinh dưỡng của rau và trái cây: Ăn nhiều rau, quả giúp cơ thể tránh được các bệnh về tim, đột quỵ, ổn định huyết áp và ngăn ngừa một số bệnh ung thư, hạn chế hiệu quả các bệnh liên quan đến đường ruột đặc biệt là viêm ruột thừa, bảo vệ mắt khỏi bị 2 loại bệnh thoái hóa rất phổ biến, đó là đục nhân mắt và chấm đen trong mắt…

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Kế hoạch truyền thông giáo dục sức khỏe của ngành học mầm non

Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com

KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC

KHOẺ

CỦA NGÀNH HỌC MẦM NON

Tháng 1:

1.
Những điều cần tránh trong ăn uống để bảo vệ sức khoẻ.
2.
Giá trị dinh dưỡng của rau và trái cây. Hướng dẫn cách làm

một số nước trái cây.
3.
Giới thiệu các món ăn có sử dụng rau cho trẻ.
4.
Hướng dẫn cách chế biến các món ăn có sử dụng rau phù hợp

với trẻ dưới 1 tuổi và trên 1 tuổi.
5.
Phòng bệnh tiêu chảy – Chăm sóc trẻ tiêu chảy.
6.
Tuyên truyền chích ngừa bệnh sởi.
7.
Tuyên truyền hiệu quả phòng chống béo phì.Giới thiệu các

hoạt động vui chơi tích cực cho trẻ bằng hình ảnh.
8.
Tuyên truyền xếp loại tay nghề cho giáo viên.




Những điều cần tránh trong ăn uống để bảo vệ sức khỏe.

Ăn thức ăn không đảm bảo vệ sinh, ôi thiu , không rõ nguồn
gốc dễ gây ngộ độc thực phẩm.
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com

Ăn nhiều bánh kẹo, uống thức uống có ga….không đảm bảo
về thành phần dinh dưỡng cho cơ thể lại dễ gây béo phì.

Ăn uống không đủ chất, không đủ thành phần dinh dưỡng
trong các bữa ăn, chỉ ăn một loại thức ăn ưa thích sẽ gây mất cân
bằng dinh dưỡng.

Không ăn rau quả, đây là nguồn cung cấp vitamin cần thiết
cho cơ thể.

Ăn không đủ bữa , không theo giờ giấc.



Giá trị dinh dưỡng của rau và trái cây.
Hướng dẫn cách làm một số loại nước trái cây.
Đã gọi là một chế độ ăn uống khoa học, và an toàn thì không thể thiếu
rau xanh và các loại hoa quả
.
1.
Giá trị dinh dưỡng của rau và trái cây

Ăn nhiều rau, quả giúp cơ thể tránh được các bệnh về tim, đột quỵ,
ổn định huyết áp và ngăn ngừa một số bệnh ung thư, hạn chế hiệu quả
các bệnh liên quan đến đường ruột đặc biệt là viêm ruột thừa, bảo vệ
mắt khỏi bị 2 loại bệnh thoái hóa rất phổ biến, đó là đục nhân mắt và
chấm đen trong mắt…
Không ít người không có thói quen ăn nhiều rau và hoa quả, hoặc nếu
có thì thực đơn cũng rất nghèo nàn.
Ngoài ra, những nhầm lẫn giữa rau và củ quả như cho rằng khoai tây
cũng là một loại rau... (thực tế khoai tây chỉ cung cấp tinh bột giống các
loại ngũ cốc khác chứ không phải là một loại rau) hoặc đa số mọi người
chỉ nghĩ rau xanh, hoa quả chỉ có tác dụng nhuận tràng, tránh táo bón và
làm đẹp da...
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Các kết quả nghiên cứu mới nhất được thực hiện rất công phu
của các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu sức khỏe của Đại học
Harvard đã đưa ra những mối liên hệ chặt chẽ về tác dụng của rau, quả
với khả năng ngăn chặn nguy cơ mắc các bệnh ung thư và tim mạch.
Tuy nhiên, ăn nhiều thôi chưa đủ mà còn cần phải đa dạng hóa thực
đơn nữa.
Cũng theo kết luận rút ra từ các cuộc nghiên cứu này, mỗi ngày cơ thể
cần từ 150-250g rau quả. Với những ai mỗi ngày cần ít nhất 2000 calo để
duy trì cân nặng và sức khỏe cần bổ sung 200-300g rau quả.
Rau quả với bệnh tim mạch
Rau quả có tác dụng chống lại các bệnh tim mạch và đột quỵ. Đây
là một kết luận rõ ràng và đã được công nhận trên toàn thế giới. Những
người ăn rất nhiều rau, quả thì nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cũng như
khả năng phát triển của các loại bệnh này thấp hơn nhiều so với những
người ăn ít hơn.
Những người ăn khoảng 200-300g rau, quả/ngày giảm hơn 30% nguy
cơ mắc bệnh tim và đột quỵ so với những người chỉ ăn ở mức tối thiểu (ít
hơn 50g/ngày).
Mặc dù rau quả có tác dụng chung chống các bệnh tim mạch, nhưng
vẫn có một số loại rau quả có tác dụng nhiều hơn và có khả năng phòng
tránh nhiều loại bệnh khác, đặc biệt là: các loại rau màu xanh đậm, nhiều
lá như rau diếp, rau bina (cải bó xôi); các loại rau thuộc họ cải như bông
cải xanh (súp lơ), bắp cải, các loại cải xoăn và các loại quả họ cam chanh
như cam, chanh, bưởi.
Bạn cần đa dạng hóa các loại rau và hoa quả. Chọn nhiều loại rau gồm
các loại rau nhiều lá, rau xanh, rau lá sậm, các loại rau và hoa quả có màu
vàng, đỏ, cà chua, cà chua đóng hộp và các loại quả thuộc họ cam chanh.
Khác với các loại thực phẩm khác khi ăn quá nhiều thường phát sinh
tác dụng phụ, ăn nhiều rau xanh không bao giờ thừa.

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nên ăn quá nhiều một lúc hoặc
tăng lượng rau, quả lên một cách đột ngột và chỉ chọn loại rau nào nhiều
dinh dưỡng nhất hay hợp khẩu vị nhất mà thôi.
Ngược lại, bạn phải tăng một cách từ từ, mỗi ngày tăng ít một và cố
gắng đa dạng càng nhiều loại rau quả càng tốt.
Trong 2 nghiên cứu do Đại học Harvard thực hiện đều cho kết quả:
bằng cách tăng lượng rau hoa quả từ từ như vậy nguy cơ mắc các bệnh
tim mạch giảm thêm 4%.
Rau quả với huyết áp
Huyết áp cao là yếu tố cơ bản và chủ yếu gây ra các bệnh về tim và đột
quỵ. Do vậy, việc kiểm soát huyết áp đóng vai trò rất quan trọng và chế độ
ăn uống là một công cụ hữu hiệu để hạ huyết áp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người bị huyết áp cao sau một thời
gian tuân thủ chế độ ăn đầy đủ rau xanh và hoa quả, huyết áp đã trở lại
mức bình thường mà không cần phải dùng bất cứ loại thuốc bổ sung nào
khác.
Ăn nhiều rau quả làm giảm cholesterol
Trong một nghiên cứu về tim, phổi và máu của Viện nghiên cứu tim
mạch quốc gia Mỹ trên 4466 trường hợp cả nam lẫn nữ, những người ăn
nhiều hơn 100g rau, quả/ngày có khả năng giảm đáng kể cholesterol LDL
(là những cholesterol có hại cho cơ thể).
Mặc dù các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra kết luận cuối cùng về việc
rau quả làm giảm cholesterol như thế nào nhưng có một điều chắc chắn
rằng ăn nhiều rau quả cũng giống như ăn ít thịt và bơ sữa, nghĩa là các
chất béo bão hòa có khả năng làm tăng cholesterol trong máu sẽ được
giảm bớt.
Ngoài ra thành phần chất xơ trong rau quả cũng góp phần ngăn chặn
quá trình hấp thụ cholesterol từ thức ăn vào cơ thể.
Rau quả và bệnh ung thư


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Hàng loạt các nghiên cứu mới nhất đã tìm ra một mối liên hệ
chặt chẽ giữa việc ăn nhiều rau quả và khả năng ngăn chặn ung thư.
Viện nghiên cứu các bệnh ung thư Quốc tế nằm trong chương trình
hoạt động của Tổ chức y tế thế giới WHO gần đây đã hoàn thành một bản
tổng kết về rau quả và bệnh ung thư.
Bản tổng kết đã đưa ra kết luận: “Chế độ ăn nhiều rau quả có thể
giảm bớt nguy cơ mắc ung thư thực quản, phổi, ổ bụng, răng miệng, họng,
trực tràng, thanh quản, thận và bàng quang.
Ngoài ra ăn nhiều rau còn làm giảm nguy cơ mắc ung thư ruột kết, trực
tràng, ung thư vòm miệng, họng, ổ bụng, thanh quản, phổi, buồng trứng và
thận”.
Điều quan trọng là bạn phải ăn rau quả đều đặn và nhiều loại
khác nhau. Tức là phải ăn thường xuyên, mỗi ngày ăn đủ lượng rau
và quả theo quy định thì khả năng phòng tránh ung thư sẽ cao hơn.
Đặc biệt, mỗi loại rau quả khác nhau lại có tác dụng phòng chống và
ngăn ngừa một loại bệnh ung thư khác nhau. Ví dụ, cà chua có tác dụng
chống ung thư tiền liệt tuyến đặc biệt với các dạng ung thư tuyến tiền liệt
cấp tính.
Một trong những yếu tố tạo nên điều đặc biệt này ở cà chua đó là nhờ
sắc tố đỏ - lycopen có khả năng tham gia tích cực vào quá trình chống ung
thư tiền liệt tuyến.
Rau quả với các bệnh về dạ dày và ruột
Một trong những chất quan trọng nhất trong rau quả là loại chất xơ
khó tiêu hóa. Khi các chất xơ này đi qua hệ tiêu hóa, chúng hút nước và
phồng lên như các miếng xốp. Những miếng xốp này có thể “hạ nhiệt”
những đoạn ruột dễ bị kích thích và sau đó bằng cách kích thích nhu
động ruột chúng góp phần giảm bớt (thậm chí loại bỏ) chứng táo bón.
Các hoạt động làm mềm của các loại chất xơ khó tiêu hóa trong rau quả
có thể làm giảm áp lực bên trong ruột, giúp ngăn ngừa bệnh viêm túi thừa

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
(là sự phát triển các bọng nhỏ dễ bị kích thích trong ruột) và ngăn chặn quá
trình viêm nhiễm gây đau đớn do các bọng này gây ra.
Rau quả và thị lực
Cố gắng ăn nhiều rau và hoa quả hơn mức độ như hiện nay.
Nếu cơ thể bạn cần 2000calo/ngày để duy trì cân nặng và sức khỏe thì
bạn phải nạp vào cơ thể ít nhất 200-300g rau một ngày.
Ăn nhiều rau và hoa quả giúp duy trì thị lực tốt. Ai cũng biết cà rốt, đu
đủ giàu vitamin A giúp tăng cường thị lực.
Những loại rau và hoa quả khác còn có tác dụng ngăn ngừa 2 loại
bệnh liên quan đến thoái hóa mắt là đục nhân mắt và chấm đen trong
mắt vốn ảnh hưởng đến hàng triệu đàn ông và phụ nữ trên 65 tuổi.
Đục nhân mắt là chứng xuất hiện dần dần những đám mây quanh thủy
tinh thể. Chấm đen trong mắt là hiện tượng tâm võng mạc bị phá hủy dần
và triệu chứng đầu tiên là xuất hiện một chấm mờ mờ tại tâm của mọi vật
khi bạn nhìn. Khi quá trình thoái hóa này phát triển, tầm nhìn sẽ bị thu hẹp.
Những loại gốc tự do do ánh nắng mặt trời, khói thuốc lá, ô nhiễm
không khí, nhiễm trùng và hệ trao đổi chất tạo ra là nguyên nhân chủ yếu
gây ra hiện tượng này. Các loại rau lá xanh đậm có chứa hai loại sắc tố là
lutein và zeaxanthin, có thể làm tiêu tan các gốc tự do trước khi chúng ảnh
hưởng đến các mô nhạy cảm trong mắt.
Nói tóm lại, ăn nhiều rau, hoa quả và tinh bột có khả năng làm giảm
nguy cơ phát triển bệnh đục nhân mắt và chấm đen trong mắt, nhất là với
người cao tuổi.
Hay giao tiếp nên ăn gì?
Rất nhiều người công việc gắn liền với các buổi giao tế, tiệc tùng liên
miên. Trí óc căng thẳng, sự tập trung cao độ dẫn đến máu lên não không
đủ. Đồng thời với “xúc tác” là một số chất gây hại như cồn và nicotin…
khiến cho chức năng gan dần dần bị suy giảm, cơ thể mỏi mệt.
Để giải quyết tình trạng này, khi ăn tiệc, bạn nên chọn một số loại

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
thực phẩm có lợi cho gan như: cá sốt chua ngọt, đậu giá chua ngọt, ngó sen
ngọt, củ niễng chua ngọt… Đậu giá, ngó sen, củ niễng cũng là những loại
thực phẩm bao hàm lượng cenluloz tương đối cao, có thể trung hòa các axit
trong thịt.
Những loại thực phẩm có lượng đạm phong phú như trứng muối, đậu,
canh gà hầm… có thể hóa giải sự kích thích của cồn với dạ dày, có ích cho
việc hóa giải các chất gây hại cho cơ thể.
Sau bữa tiệc, trở về nhà có thể uống một cốc sữa chứa ít bơ hoặc một
bát cháo ngô nhỏ. Lưu ý không nên ăn cà rốt và mì lạnh.
2. Hướng dẫn làm nước trái cây
Nước cà chua:
Nguyên liệu: ½ trái ca chua
Cách làm: lấy trái cà chua chín trụng vào nước sôi trong hai phút để vỏ
mềm. Để dễ bóc vỏ ta nên cắt hình chữ thập dưới đít trái cà chua trước khi
trụng nước sôi
Sau khi trụng và lột vỏ , băm nhuyễn rooif cho vào túi lưới sạch vắt lấy
nước. Có thể dùng máy xay sinh tố xay nhuyễn sau đó cho thêmvào một ít
nước cho lõang hơn. Lưu ý phải bỏ hết phần hột cà chua.
Nước cà rốt
Nguyên liệu: 1 củ cà rốt
Cách làm: Rửa sạch và cắt miếng nhỏ , cho vào nồi và nấu với 30-50 ml
nước, nấu lửa nhỏ trong 10 phút , rồi lọc lấy nước đổ vào chén
Nước rau cải ngọt
Nguyên liệu: 6 miếng lá cải ngọt, rửa thật sạch.
Cách làm: Cho vào nồi khỏang 50ml nước sôi, lá cải xắt nhuyễn cho
vào nồi nước nước sôi nấu 1 phút rồi tắt bếp, đợi nguội lọc lấy nước cho
vào tô.
Nước dưa leo
Nguyên liệu: ½ trái dưa leo


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Cách làm: sau khi rửa sạch , bỏ vỏ. Ta dùng bàn chà để bào nhỏ dưa leo
rồi dùng vải thưa vắt nước, nếu dùng máy ép sinh tố thì càng tốt.
Nước bom
Nguyên liệu: ½ trái bom
Cách làm: bom rửa sạch cắt đôi, lấy ½ trái gọt bỏ vỏ, bỏ hột, dùng đồ
báo để bào thành sợi, rồi dùng vải thưa vắt lấy nước cốt .
Nước cam
Nguyên liệu: ½ trái cam
Cách làm: rửa sạch cam, xẻ đôi lấy ½, dùng đồ vắt cam để vắt lấy
nước , có thể dùng nguyên chất hoặc pha loãng với một ít nước chín để
nguội.
Nước trái dâu
Nguyên liệu: ¾ trái dâu, 1 muỗng nước chín
Cách làm: dau rửa sạch, băm nhỏ cho vào chén, dùngmuỗng tán
nhuyễn, sau đó lọc qua rây, dùng muỗng ép cho ra hết nước cốt, thêm một
ít nước chín trộn đều.
Nước đào
Nguyên liệu: ½ trái đào, 1 muỗng nước chín
Cách làm: chọn quả đào chín, gọt bỏ vỏ, xắt nhuyễn, cho vào một ít
nước, trộn đều
Nước táo
Nguyên liệu: 10-20 trái táo.
Cách làm: nếu sử dụng táo khô phải ngâm 1 giờ trong nước . Táo tươi
chỉ cần rửa sạch, táo đã ngâm nước hoặc táo tươi vớt ra cho vào chén rồi
bỏ vào xửng để hấp khỏang 10-15 phút , lấy nước táo trong chén vào ly
cho bé dùng

Phòng bệnh tiêu chảy – Chăm sóc trẻ bị tiêu chảy.
1. Phòng bệnh tiêu chảy.


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
- Nuôi con bằng sữa mẹ.
- Cho trẻ ăn bổ sung đúng và hợp lý, đảm bảo vệ sinh khi chế biến,
bảo quản, dùng nguồn nước sạch, thực phẩm sạch và tươi không bị nhiễm
khuẩn hoặc hóa chất bảo vệ thực vật.
- Rửa tay bằng xà phòng: Sau khi đi ngoài, thay tã lót cho trẻ, trước khi
chế biến thức ăn, cho trẻ ăn, chăm sóc trẻ.
- Sử dụng hố xí hợp vệ sinh, xử lý an toàn phân trẻ nhỏ bị tiêu chảy.
- Tiêm phòng sởi: Trẻ mắc bệnh sởi hoặc sau khi khỏi do mắc tiêu
chảy, lỵ nặng dần tới tử vong. Tiêm vacxin sởi có thể phòng ngừa được
25% tử vong liên quan tới tiêu chảy trẻ dưới 5 tuổi.
2. Chăm sóc trẻ bị tiêu chảy.: Chăm sóc trẻ bị tiêu chảy cần
tuântheo 3 nguyên tắc sau.
- Vẫn tiếp tục cho bú và ăn đầy đủ để tránh mất sức. Trẻ mắc bệnh
thường biếng ăn, vì thế nên làm những món trẻ thích. Không nên kiêng
chất béo vì dầu, mỡ rất cần thiết khi trẻ bị tiêu chảy. Nên cho ăn nhiều
bữa (tăng 2 lần so với bình thường).
- Cho trẻ uống nước nhiều hơn bình thường, có thể dùng thêm nước
cam vắt tươi và nước dừa tươi. Uống Oresol để bù lại lượng dịch và
chất điện giải trong cơ thể (việc pha, uống loại thuốc này phải theo đúng
hướng dẫn, nếu không sẽ gây nhiều biến chứng nặng như phù, tiêu chảy
nhiều hơn, rối loạn điện giải).
- Khi thấy trẻ có những dấu hiệu như bỏ ăn uống, bệnh ngày càng
nặng, khát nước, phân có máu..., cần đưa đến cơ sở y tế ngay


Tuyên truyền phòng ngừa bệnh sởi
Sởi là một bệnh lây lan do siêu vi, thường gặp ở trẻ em với đặc điểm
lâm sàng là viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa,
sau đó phát ban đặc hiệu ở ngoài da, nên nhân dân thường gọi là ban đỏ.
Sởi thường để lại nhiều biến chứng nặng.

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Tác nhân gây bệnh là siêu vi, thuộc nhóm RNA Paramyxovirus, genus
Morbillivirus; siêu vi sởi có trong nhớt cổ họng, trong máu, trong nước tiểu
bệnh nhi ở cuối giai đoạn ủ bệnh và một thời gian sau khi phát ban, có thể
sống ít nhất 34 giờ trong không khí. Bệnh lây bằng đường hô hấp, do chất
nhớt cổ họng có chứa virus sởi văng ra ngoài không khí khi bệnh nhân nói
chuyện, hắt hơi, sổ mũi.
Sởi có thể xảy ra khắp mọi nơi, suốt cả năm, bệnh rất lây lan, dễ phát
triển thành dịch, chu lỳ 2-4 năm một lần trong những thành phố lớn; tính
chu kỳ là do số lượng người chưa có miễn dịch trong cộng đồng đạt đến
tỷ lệ cao thích hợp (khoảng 40-50%): nếu lúc đó xuất hiện vài ca bệnh sởi
là dịch có thể xảy ra. Tuổi dễ mắc bệnh là từ 6 tháng đến 10 tuổi, trẻ dưới
6 tháng có kháng thể của mẹ truyền qua nhau khi còn là thai nhi, sau đó
kháng thể giảm dần. Khoảng 90% các trẻ em trên 10 tuổi đã có kháng thể
chuyên biệt với bệnh sởi; hầu hết người lớn ít bị bệnh vì đã có miễn dịch.
Bệnh sởi có những đặc trưng: dễ chẩn đoán, không có ổ chứa siêu vi ở
thú vật, không có trung gian truyền bệnh, chỉ có một tuýp huyết thanh và
thuốc chủng có hiệu quả; do đó, có thể thanh toán hoàn toàn. Ở các nước
phát triển, hiện nay có những vùng không còn bệnh sởi nữa và số trẻ em
được miễn dịch lên đến trên 90%.
Khi nhiễm siêu vi sởi, bệnh được biểu hiện qua 4 giai đoạn:
- Giai đoạn ủ bệnh: từ 10-12 ngày, trẻ không có triệu chứng gì, đến
ngày thứ 9-10, trẻ có thể bị sốt nhẹ.
- Giai đoạn khởi phát: lây lan nhất, kéo dài 4-5 ngày, các biểu hiện
chính là:
Sốt, kèm theo nhức đầu, mệt mỏi, đau cơ, khớp.
- Viêm long: là triệu chứng luôn luôn xuất hiện trong bệnh sởi. Viêm
ở mắt gây chảy nước mắt, nhiều ghèn, kết mạc mắt đỏ, bệnh nhi sợ ánh
sáng. Giác mạc và mi mắt có thể sưng phù. Viêm ở mũi gây hắc hơ, sổ
mũi, khàn giọng, ho có đàm, đôi khi kèm viêm thanh quản co rít. Viêm


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
đường tiêu hóa gây tiêu chảy.
Trong họng-miệng có những chấm trắng nhỏ độ 1mm, nổi trên niêm
mạc má màu đỏ sung huyết, ngang với răng hàm thứ nhất, gọi là dấu
Koplik, dấu hiệu này xuất hiện và biến mất trong vòng 12-18 giờ.
- Giai đoạn phát ban: ban xuất hiện đầu tiên ở sau tai, lan dần ra hai
bên má, cổ, ngực, bụng và hai cánh tay. Trong 24 giờ kế tiếp, ban lan ra
sau lưng, hông và chi dưới, 2-3 ngày thì lan toàn thân. Ban màu hồng nhạt,
ấn vào biến mất, có khuynh hướng kết dính lại, nhưng xem kẽ có những
khoảng da lành không bị tổn thương nằm giữa những vùng phát ban.
Cần lưu ý: trong các thể nhẹ thì ban đỏ thưa thớt, không lan đến chân
chớ không phải do uống thuốc đông y như Tiêu ban lộ, và ở thể nặng thì
ban dày đặc, gần như toàn bộ da bị chr kín, ngay cả bàn tay và chân, cần
được chăm sóc dinh dưỡng chu đáo, chớ không phải ra ban nhiều là tốt.
Khi bắt đầu phát ban, nhiệt độ tăng đột ngột, nhưng khi ban đã
mọc đến chân thì nhiệt độ giảm. Ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ suy dinh dưỡng
thường kèm theo ói, tiêu chảy hoặc viêm tai giữa, viêm phế quản.
- Giai đoạn phục hồi: thường thì sởi “bay” theo trình tự xuất hiện, để
lại những vết thâm trên mặt, da.
Bản thân bệnh sởi lành tính, nếu không được chăm sóc kỹ hoặc
ngược lại kiêng khem quá đáng, sẽ có nhiều biến chứng nguy hiểm.
Viêm phổi là một trong những biến chứng thường gặp nhất, có thể do
chính siêu vi sởi hay do bội nhiễm vi trùng khác như phế cầu, liên cầu, tụ
cầu… Bệnh nhi vẫn còn sốt sau khi phát ban, ho kéo dài, trong thể nặng có
thể suy hô hấp. Sởi còn có nguy cơ làm trầm trọng một bệnh lao tiềm tàng.
Viêm tai giữa là biến chứng đứng hàng thứ hai, bệnh nhi sốt cao, quấy
khóc, chảy mủ vàng ở tai, nếu điều trị chậm sẽ gay ra thủng màng nhĩ.
Viêm thanh quản, có thể xuất hiện sớm trong giai đoạn viêm long hay
phát ban; bệnh nhi lên cơn khó thở về đêm, ho khan hay khàn giọng, diễn
tiến thường lành tính; hoặc xuất hiện trễ trong thời kỳ hồi phục với tình

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
trạng khó thởthanh quản do phù nề hay có màng giả, đôi khi gây suy hô
hấp nặng.
Viêm não tuỷ là biến chứng hiếm gặp nhưng trầm trọng; bệnh nhi sốt
cao, nhức đầu, ói mửa, cổ cứng rồi lơ mơ, co giật. Tử vong có thể lên
đến 10%, nếu sống sót có nhiều di chứng thần kinh trầm trọng vĩnh viễn.
Cam tẩu mã, thường gặp ở bệnh nhi suy dinh dưỡng và vệ sinh răng
miệng kém. Là tình trạng nhiễm trùng kém hoại tử ở môi, niêm mạc
miệng, má, lở loét rất nhanh, đưa đến mất tổ chức mô ở môi, miệng.
Viêm ruột kéo dài dẫn đến tiêu chảy liên tục và suy dinh dưỡng. Chế
độ ăn kiêng sữ quá cũng gây suy dinh dưỡng và loét giác mạc mắt
Tuyên truyền tiêm vacxin phòng ngừa bệnh sởi.
- Sởi là một bệnh đã được đưa vào chương trình quốc gia tiêm chủng
mở rộng, tất cả trẻ em 9 tháng tuổi đều được tiêm ngừa, tỉ lệ bệnh đã
giảm nhưng bệnh chưa phải là đã được thanh toán. Vì vậy, sau khi “tiêm
vacxin sởi lần một” từ một tháng trở lên, cần “tiêm nhắc lại mũi hai” để
hệ miễn dịch làm việc.
Để đảm bảo an toàn cho trẻ, khoảng cách giữa hai mũi tiêm vaccin sởi
là hơn một tháng.
Trẻ em trong diện tiêm, nếu trong vòng 1 tháng trở lại có tiêm các loại
vaccin có chứa vaccin sởi như MMRII, Trimovax, Priorix… sẽ không được
tiêm trong chiến dịch này.
Sau khi tiêm sởi trong đợt này, các phụ huynh nếu đưa con em đi tiêm
ngừa dịch vụ, cũng phải lưu ý tránh các loại có chứa vaccin sởi nêu trên,
để đảm bảo khoảng cách an toàn.
An toàn tiêm chủng là vấn đề quan tâm hàng đầu của ngành y tế. Mỗi
đội tiêm đều có bác sĩ phụ trách; đảm bảo 1 bơm tiêm – 1 kiêm vô trùng
cho một mũi tiêm, vaccin sởi luôn luôn được bảo quản ở nhiệt độ dưới 8
độ C; lọ vaccin đã khui quá 8 giờ sẽ hủy, không hút sẵn vaccin vào bơm
tiêm để chờ trẻ đến tiêm; thực hiện đúng kỹ thuật tiêm dưới da 0,5ml cho

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
mỗi mũi tiêm; sử dụng hộp an toàn cho mỗi bàn tiêm để đựng bơm tiêm đã
dùng; không để trẻ đói khi đi tiêm vaccin; có sẵn nước uống và đường tại
các điểm tiêm.
Vấn đề phòng chống sốc: mặc dù vaccin sởi thuộc loại an toàn nhất,
nhưng vẫn có thể có phản ứng phụ; ngành y tế đã chuẩn bị rất kỹ việc
phòng chống sốc, các nhân viên y tế tham gia tiêm chủng đều được tập
huấn chuyên môn, xử trí các trường hợp tai biến.




Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản