KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ - Tháng 10

Chia sẻ: phuonguyen123

Thông báo tình trạng dinh dưỡng của trẻ qua kết quả cân đo đầu năm học và tình hình khám sức khoẻ định kỳ. Vệ sinh răng miệng – Hướng dẫn gia đình dạy trẻ đánh răng đúng cách và giữ gìn vệ sinh răng miệng – Cách chọn bàn chải đánh răng cho trẻ. Bệnh giun – Tuyên truyền tẩy giun cho cả gia đình. Vận động phụ huynh cho các cháu tẩy giun trong cùng thời điểm. Xử trí khi trẻ bị sốt – Trách nhiệm của gia đình và nhà trường khi trẻ bị bệnh. Phòng bệnh...

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ - Tháng 10

Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com

KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG SỨC KHỎE CỦA

NGÀNH HỌC MẦM NON NĂM HỌC 2006- 2007.

Tháng 10/06:

1.
Thông báo tình trạng dinh dưỡng của trẻ qua kết quả cân đo đầu

năm học và tình hình khám sức khoẻ định kỳ.
2.
Vệ sinh răng miệng – Hướng dẫn gia đình dạy trẻ đánh răng đúng

cách và giữ gìn vệ sinh răng miệng – Cách chọn bàn chải đánh răng cho

trẻ.
3.
Bệnh giun – Tuyên truyền tẩy giun cho cả gia đình. Vận động phụ

huynh cho các cháu tẩy giun trong cùng thời điểm.
4.
Xử trí khi trẻ bị sốt – Trách nhiệm của gia đình và nhà trường khi

trẻ bị bệnh.
5.
Phòng bệnh đau mắt – Các tật của mắt – Hưởng ứng ngày thị giác

thế giới 8/10.
6.
Hưởng ứng tuần lễ Dinh dưỡng và phát triển – từ 16/10 – 23/10.

(Khẩu hiệu theo chủ đề của năm). Tổ chức nói chuyện chuyên đề.
7.
Phòng ngộ độc thực phẩm. Giới thiệu cách lựa chọn thực phẩm an
toàn.
8.
Vệ sinh môi trường.



Vệ sinh răng miệng – hướng dẫn trẻ đánh răng đúng cách


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com

cách chọn bàn chải đánh răng.
1.
Vì sao trẻ dễ bị sâu răng:

Trẻ em vệ sinh răng miệng kém: những mảnh vụn thức ăn, các chất
bột đường... bám trên bề mặt răng sẽ bị vi khuẩn trong miệng làm lên men
thành acid. Acid sẽ phá hủy men răng, gây sâu răng.

Trẻ con thường ăn bánh mứt kẹo ngoài các bữa ăn chính.

Vì răng sữa có buồng tủy to hơn răng vĩnh viễn nên khi bị sâu răng
dễ bị viêm tủy. Điều trị rất ít hiệu quả.

Răng sữa có cấu tạo kém bền chắc hơn răng vĩnh viễn.

2.
Để tránh sâu răng cho trẻ cần chú ý

Thứ nhất là cấu tạo răng sữa được bền chắc: Điều này phải được thực
hiện từ khí bé còn là bào thai trong bụng mẹ cho đến lúc thay răng.
Khi có thai, mẹ không được dùng kháng sinh có sắc tố vàng như Tetracyclin,
Doxycillin. Đối với bé thì phải tránh dùng thuốc kháng viêm có nhân Corticoid
như: Prednisone, Dexamethason,... không được dùng kháng sinh Tetracycline,
Doxycillin vì sẽ làm răng dễ bể, răng bị vàng.
Thức ăn trẻ con phải cung cấp đầy đủ sinh tố A, C, D, các muối khoáng,
calcium, magnésium,... để giúp răng phát triển, chất flour giúp cho cấu tạo răng
bền vững. Các sinh tố và muối khoáng trên có trong các loại rau, quả, củ, thịt, cá,
tép, trứng, sữa, thức ăn biển như: cá, cua, nghêu, sò... Cần cho bé ăn đầy đủ các
loại thức ăn bằng cách thay đổi món hàng ngày. Nếu cháu chỉ ăn thịt, không ăn
tép, cá, rau, củ... thì cấu tạo răng không bền mà sự phát triển của bé cũng kém,
có thể đưa đến suy dinh dưỡng.
Thứ hai là giữ vệ sinh răng miệng. Để tránh tạo ra chất acid làm hư men
răng, phải giúp trẻ giữ cho miệng sạch, không còn mảnh thức ăn hay chất bột
đường dính trên răng, bằng các cách sau:

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Dùng bàn chải nhỏ (loại dành cho trẻ em), lông mềm và kem đánh răng
không cay dùng cho trẻ con, tập cho trẻ chải răng sau các bữa ăn và trước khi
đi ngủ. Lúc đầu trẻ có thể không chịu, nhưng cứ kiên nhẫn, trẻ sẽ quen dần.
Trong lúc trẻ chưa đủ răng, chỉ mới mọc vài cái, thì dùng gạc quấn quanh
ngón tay để rửa các bề mặt của răng sau khi ăn. Nếu trẻ còn bú bình ban đêm,
thì sau khi bú sữa phải cho bé bú nước để rửa sạch răng miệng. Tức là, muốn
tránh sâu răng cho trẻ con, phải tập cho bé có thói quen giữ vệ sinh răng miệng.
Chính thói quen tốt này sẽ giúp bé giữ gìn cả răng sữa lẫn răng trưởng thành sau
này.
3- Hướng dẫn trẻ chải răng đúng cách
- Giới thiệu cho trẻ biết mặt ngòai, mặt trong, mặt nhai của răng
- Hướng dẫn trẻ đáng răng theo thứ tự hàm trên, hàm dưới, bên phải, bên
trái, chải mặt ngoài, mặt trong rồi đến mặt nhai.
- Lông bàn chải sát đường viền lợi , chếch 45 độ so vối trục răng, chải mỗi
vùng 10 lần , hàm trên hất xuống, hàm dưới hất lên. Khi chải mặt nhai , đặt
lông bàn chải song song với mặt nhai kéo đi kéo lại.
- Đanh xong răng phải rửa sạch bàn chải vẫy khô và cắm vào cốc, để cán ở
phía dưới, lông bàn chải ơ phía trên
- hằng ngày phải đánh răng đều đặn vào mỗi buổi tối trước khi đi ngú và
buổi sáng sau khi ngủ dậy và sau các bữa ăn

4- Cách chọn bàn chải đánh răng
Bàn chải đánh răng hiện nay rất đa dạng về chủng loại, màu sắc, kiểu
dáng.... Tuy nhiên để đánh răng đạt hiệu quả cao nhất thì những bàn chải đơn
giản và có độ cong vừa phải luôn là sự lựa chọn sáng suốt. Với trẻ nhỏ nên chọn
bàn chải cỡ nhỏ, màu sắc sặc sỡ phù hợp sở thích của trẻ với trẻ. Ngoài ra chúng
ta cũng nên sử dụng các bàn chải có độ cứng vừa phải, nếu cứng quá sẽ dế gây
tổn thương cho lợi.
Khoảng bao lâu thì thay bàn chải một lần?
Thông thường, phần cước của bàn chải sẽ bị loe sau thời gian sử dụng
khoảng 4 đến 6 tuần. Đó là lúc chúng ta nên thay bàn chải mới



Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Bệnh giun
Giun sán là những ký sinh trùng phổ biến ở Việt Nam và số người mang
loại ký sinh trùng cũng tương đối nhiều. Riêng ở trẻ nhỏ hầu hết đều có giun.
Nguyên nhân là do trẻ ở bẩn, không được chăm sóc chu đáo, do trẻ ham chơi tay
không sạch mút vào miệng, ngậm đồ chơi bám bụi bẩn, tay bẩn cầm bánh kẹo,
ăn thức ăn không được nấu chín.
Mặt khác, do ruồi nhặng bám vào chỗ bẩn, phân rác, rồi lại bám vào thức ăn
mang theo trứng giun, từ đó trứng giun sẽ dễ dàng chui vào ruột trẻ và sinh sản
rất nhanh.
Có nhiều loại giun sán, nhưng trẻ thường hay bị giun đũa và giun kim. Ngoài
ra còn có nhiều loại khác như sán lá, sán dây và các loại giun chỉ, giun móc, cũng
có thể mắc ở trẻ con, nhưng ít hơn.
1. Triệu chứng lâm sàng
Trẻ có giun thường gầy ốm, xanh xao, bụng to bè, chậm lớn. Hậu quả như
vậy là do các chất bổ béo bị giun ăn mất, hơn nữa trẻ lại kém ăn hay buồn nôn,
có khi nôn ra thức ăn, có khi nôn ra cả giun đằng miệng. Trẻ hay đau bụng vùng
quanh rốn, rối loạn tiêu hóa, phân lỏng. Trường hợp có giun nhiều quá trong ruột
có thể gây tắc ruột, hoặc giun di chuyển lung tung chui cả vào ống mật làm trẻ
đau bụng dữ dội.
Giun đũa có màu trắng hồng, thân tròn như chiếc đũa, sống trong ruột non,
trứng đẻ trong ruột, rồi theo phân đi ra ngoài. Nếu trẻ ăn phải thức ăn không
sạch, trứng giun theo đường tiêu hóa vào dạ dày xuống ruột nở thành giun con,
đi vào mạch máu qua gan, phổi, rồi lại nuốt trở lại dạ dày xuống ruột sống cố
định và lớn ở đây. Rọi phổi bằng tia X thấy có đám mờ, dễ lầm với viêm phổi
trong thời gian giun chui qua phổi; làm cho bé có thể bị ho kéo dài gầy gò, mệt
mỏi. Sống trong ruột non, giun tiêu thụ một phần chất bổ, đáng lẽ dùng để nuôi
cơ thể trẻ, vì thế mà trẻ gầy còm, ốm yếu, xanh xao, thiếu máu. Không những
thế giun còn tiết ra chất độc, khiến cho trẻ biếng ăn, khó ngủ làm cho trẻ có thể
trở nên càu nhàu, hay bực tức, tính tình thay đổi, ít vận động.
Giun kim là loại có hình thể nhỏ như chiếc kim khâu, màu trắng, sống trong
trong ruột già và thường đẻ trứng ở hậu môn về đêm khoảng 9-10 giờ.


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Giun kim có thể làm cho trẻ luôn khó chịu, hậu môn bị ngứa phải gãi, nhất là
ban đêm, khi giun chui xuống đẻ. Vì vậy trẻ ngủ không yên, trằn trọc hay nghiến
răng, có khi nói mê, đái dầm. Trẻ biếng ăn, có lúc rối loạn tiêu hóa, đau bụng
vùng dưới rốn. Trẻ có giun kim đôi khi gây viêm ruột thừa. Ngoài ra, còn có các
loại ký sinh trùng khác ít gặp ở trẻ con hơn như giun móc, giun chỉ v.v... Loại
giun móc này sống trong ruột ở đoạn manh tràng, nó bám chặt vào niêm mạc
ruột mà hút chất bổ của bé làm cho bé xanh xao, thiếu máu, uống thuốc tẩy cũng
không ra, phải có thuốc đặc hiệu mới trị nổi. Còn phải kể đến một số khác như
sán lá, sán dây gồm nhiều đốt, đứt dần từng đốt, thường xuyên bò ra ngoài hậu
môn trẻ, cũng làm cho trẻ bứt rứt, khó chịu.
2. Chữa bệnh giun sán
Khi chữa trị cần phải chú ý, vì trẻ có thể bị mắc nhiều loại, thí dụ vừa giun
đũa lẫn giun kim, hoặc giun móc lẫn giun kim v.v... Vì vậy phải thử xem phân
có loại giun nào, để chọn thuốc có tác dụng, đồng thời trên nhiều loại giun
sán; nên tẩy đúng lúc và chú ý liều lượng dùng cho trẻ để tránh trường hợp bất
thường là giun sán bị kích thích, đi lạc chỗ như chui vào ống mật chẳng hạn, rất
nguy hiểm cho trẻ nếu chẩn đoán không ra.
Tốt nhất cứ 6 tháng, chậm là 12 tháng, nên cho trẻ tẩy giun một lần; trước
đây ta thường cho uống loại thuốc Piperazin, có tác dụng tốt là không gây độc,
để trị giun đũa và giun kim thì uống liền 5-7 ngày. Thuốc Mebendagol có tác
dụng xổ cả 4 loại giun: giun đũa, giun kim, giun tóc, giun móc. Tuy nhiên, đối
với từng loại thuốc khác nhau. Hiện tại, trên thị trường có nhiều loại thuốc diệt
ký sinh trùng đặc hiệu và phổ rộng, tác dụng gây ức chế hấp thu glucose ở giun
hoặc làm yếu ký sinh trùng để nó dễ dàng chuyển qua phân để thải ra ngoài.
Mặc dù khi cho trẻ uống có thể dựa vào chỉ dẫn trên nhãn, nhưng tốt nhất là hỏi
ý kiến của thầy thuốc để sử dụng loại thuốc nào cho thích hợp để chữa trị đặc
hiệu vì nếu uống quá liều sẽ gây hại cho cơ thể, nhưng nếu uống không đủ liều,
giun không những không ra, mà còn di chuyển lung tung thì rất phiền phức.
Đối với trẻ đã tẩy giun rồi, mà vẫn còn xanh xao, yếu, kém ăn, cần phải
kiểm tra xem có loại giun sán gì khác nữa không, hoặc có thể trẻ bị bệnh khác
như: còi xương, suy dinh dưỡng, xơ nhiễm lao v.v... để chữa trị cho đúng hướng.
3. Đề phòng
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
Để đề phòng bệnh giun sán, điều quan trọng là phải tuyệt đối giữ vệ sinh
thân thể, nhất là vệ sinh ăn uống. Thức ăn cho trẻ phải luôn nấu chín; nước
uống phải được đun sôi để nguội, không được uống nước lã; không để trẻ lê la
dưới đất, nhất là không mặc quần thủng đít; vệ sinh tay chân trẻ luôn sạch, cắt
móng tay, không đi chân đất, vì ấu trùng giun móc ở ngoài đất có thể đi xuyên
qua da kẽ chân của trẻ để vào máu, vào phổi, vào ruột và sinh sống tại đó gây tác
hại cho trẻ. Quần áo của trẻ bị giun nên thay thường xuyên, ngâm nước sôi hoặc
phơi chỗ có nắng nhiều cho chết trứng giun. Phân của trẻ có giun cũng cần phải
được tẩy trùng sạch sẽ. Tập cho trẻ tự phòng bệnh bằng cách có thói quen rửa
tay sạch trước khi ăn và khi cầm bánh kẹo




Xử trí khi trẻ bị sốt – Trách nhiệm của gia đình và nhà

trường khi trẻ bị bệnh.

1- Xử lí khi trẻ bị sốt


Nếu dùng thuốc rồi mà trẻ không giảm sốt, có thể tắm cho bé bằng nước có
nhiệt độ thấp hơn thân nhiệt 1-20C, trong khoảng 10 phút. Làm như vậy 2-3 lần
trong ngày.
Khi trẻ bị sốt, trước hết là bạn cởi bớt quần áo cho bé, chỉ mặc một bộ quần
áo ngủ cho thoáng. Không đắp chăn dạ hoặc len. Nếu cần, chỉ đắp chăn đơn
(như khăn trải giường). Nhiệt độ trong phòng khoảng 200C là vừa.
Thuốc thường dùng để hạ sốt cho trẻ là paracetamol. Liều lượng phụ thuộc
vào số cân nặng hoặc số tuổi của trẻ, được ghi trong hướng dẫn sử dụng hoặc
đơn bác sĩ. Bạn cần nhớ lượng thuốc tối đa được dùng.
Mỗi thứ thuốc có thể được trình bày dưới các dạng khác nhau như viên, đóng
gói, sirô, viên đặt ở hậu môn... Cần biết rõ mỗi viên, mỗi gói, mỗi thìa... tương
ứng với lượng thuốc là bao nhiêu. Nhiều thuốc mang tên khác nhau nhưng trong
thành phần cũng paracetamol, cần đọc công thức để khỏi dùng quá liều.
Phương pháp hạ nhiệt từ bên ngoài
Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
- Ngâm nước: Áp dụng khi bé không đáp ứng với thuốc hạ sốt. Nếu thấy mặt
bé tái hoặc người run thì phải bế ra khỏi nước; choàng khăn và lau khô ngay.
- Chườm nước đá: Đựng nước đá vào một túi vải hay cao su rồi đặt vào gáy,
hoặc nách, háng, có đệm một lớp vải hay len. Có thể làm nhiều lần trong ngày
và thay nước đá khi đã tan hết. Nếu không có nước đá, đắp khăn tẩm nước mát
lên trán cũng được.
- Nhỏ mũi: Nếu bác sĩ đã chỉ định dùng thuốc nhỏ mũi có kháng sinh, hãy
dùng dụng cụ bóp - hút bằng cao su, rửa lỗ mũi cho bé bằng nước muối sinh lý
rồi dùng ống nhỏ giọt nhỏ thuốc vào mũi bé. Sau khi dùng, phải rửa ống nhỏ giọt
bằng cồn 90 độ. Trước khi dùng thuốc nhỏ mũi, để thuốc vào một chén nước
ấm để hâm cho thuốc ấm lên.
- Xông: Đổ nước nóng vào bồn tắm hay một chậu lớn rồi pha một thìa súp
dầu khuynh diệp hoặc benjoin vào. Phòng tắm đóng kín để hơi bốc lên không bị
thoát ra ngoài. Bế bé trên tay hoặc để chơi ở dưới sàn có trải khăn. Khoác một
khăn tắm quanh người bé, không cần mặc quần áo. Mồ hôi bé sẽ ra nhiều. Hơi
nước nóng có dầu sẽ thấm qua da được bé thở hít vào phổi.
- Sau khi bé ra mồ hôi, quấn khăn quanh người rồi bế ra khỏi phòng tắm, lau
khô.. Chú ý không để bé bị lạnh khi ra khỏi phòng. Phương pháp này rất tốt cho
trẻ em bị sốt vì đau họng
2- Chăm sóc sức khỏe khi trẻ bị bệnh.
- Cho trẻ bú bình thường. Nếu trẻ không bú được thì vắt sữa ra cốc, dùng thìa
cho trẻ ăn.
- Ăn nhiều lọai thức ăn để bữa ăn đủ chất, ăn nhiều bữa hơn bình thường,
chọn những thức ăn dễ tiêu hóa, luôn thay đổi cách chế biến.
- Chú ý cho trẻ uống nước chín đầy đủ( nhất là khi trẻ bị sốt, bị tiêu chảy),
uống bổ sung thêm nước hoa quả, nước rau.
- Đảm bảo chăm sóc vệ sinh cá nhân , giúp trẻ tăng sức đề kháng, chống đỡ
bệnh tật.
- Tạo mọi điều kiện để trẻ được sống ở nơi không khí trong lành, thóang.




Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com

Phòng bệnh đau mắt – Các tật của mắt –

Hưởng ứng ngày thị giác thế giới 8/10

1. Nguyên nhân:
- Nhiễm khuẩn: vi khuẩn tụ cầu, tạp khuẩn, virus, ký sinh trùng...
- Vật lý: gió, bụi, cát, ánh sáng, sức nóng, tia X.
- Hóa học: các chất axit, kiềm, iot, cồn.
- Dị ứng: dị ứng thuốc, do côn trùng, theo mùa.
2. Triệu chứng chung:
Thời gian ủ bệnh khoảng 3 ngày.
- Triệu chứng chức năng: Bệnh nhân thấy:
+ Ngứa, cộm, chói, đau nhức, đỏ mắt, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và tiết
nhiều dử mắt. Đôi khi ngủ dậy, dử mắt làm hai mi dính chặt lại khiến bệnh nhân
khó mở mắt. Khi khởi bệnh, thường một mắt bị viêm trước, vài ngày sau mới
đến mắt kia. Một số trường hợp có xuất huyết kết mạc, gây đỏ mắt kéo dài;
nếu nặng có thể mờ mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng do tổn thương giác mạc.
+ Khó nhìn, nhưng không giảm thị lực.
- Triệu chứng thực thể: Khám trực tiếp sẽ thấy những tổn thương cơ bản:
đỏ mắt, mi mắt có thể sưng nề, kết mạc phù nề, xuất huyết dưới kết mạc, nhú
mạch máu, hột, trường hợp nặng có thể làm cho giác mạc bị mờ đục, khi đó thị
lực giảm rất nhiều.
- Toàn thân: Có thể sốt nhẹ, sưng hạch góc hàm hoặc hạch sau tai, họng đỏ,
amidan sưng to.
3. Đường lây lan của bệnh:
Bệnh có thể lây từ người này sang người khác do virus gây bệnh. Virus có
nhiều trong nước mắt và dử mắt người bệnh, có thể lây qua các đường:
- Vật dụng sinh hoạt: do dùng chung khăn và chậu rửa mặt, bệnh nhân dụi
mắt và cầm nắm vào các đồ vật sẽ lây cho những người dùng chung đồ vật đó,
hoặc lây qua môi trường bể bơi. Ở một số nơi do vệ sinh kém có thể lây qua vật


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
trung gian là ruồi.
- Đường nước bọt: nước mắt tiết ra sau khi làm nhiệm vụ dinh dưỡng và làm
sạch cho mắt sẽ thoát qua lệ đạo xuống mũi, họng và khi bệnh nhân nói chuyện,
ho hoặc hắt hơi thì virus sẽ theo nước bọt bắn ra ngoài và lây bệnh cho người
khác.
4. Điều trị bệnh:
Nên đến khám tại các cơ sở khám chữa mắt để có chẩn đoán và phương
pháp điều trị hợp lý. Tránh tự mua thuốc về nhỏ gây ra biến chứng nguy hiểm.
- Kháng sinh tra tại mắt: Tobrex, oflovid, okacin... Có thể tra mắt 6-8 lần mỗi
ngày.
- Dùng kháng sinh toàn thân: Khi bệnh nhân sốt, sưng hạch, viêm họng, có
thể dùng: erythromyxin, cephalexine...
- Thuốc điều trị triệu chứng: Khi bệnh nhân sốt, đau nhức, có thể dùng thuốc
chống viêm, giảm đau: paracetamon...; dùng thuốc chống viêm giảm phù nề:
Amitase, Alphachymotrypsine...
- Thuốc dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng: Chế độ ăn và bổ sung các
vitamin nhóm B, C.

5. Hậu quả của bệnh:
Bệnh có thể khỏi hoàn toàn trong vòng 1 đến 2 tuần không để lại di chứng,
tuy nhiên thường gây ra một số hậu quả:
- Ảnh hưởng đến sinh hoạt và lao động.
- Có thể gây nên tổn thương giác mạc: như viêm giác mạc đốm, viêm giác
mạc chấm nông gây giảm thị lực kéo dài.
- Có thể lây lan thành dịch.
6. Phòng bệnh:
- Luôn vệ sinh sạch sẽ, khi đi đường bụi phải đeo kính, tra nước muối sinh lý
để rửa mắt.
- Khi bị viêm kết mạc cấp thì phải có ý thức phòng tránh lây nhiễm cho
người khác như: dùng riêng khăn và chậu rửa mặt, đeo kính và đeo khẩu trang,
hạn chế đến nơi đông người. Trước khi dùng các vật dụng chung phải rửa tay
xà phòng và tra mắt ít nhất 1 lần/ngày bằng dung dịch muối 0,9%. Khi có người
trong gia đình bị đau mắt đỏ, cần cách ly, không dùng chung khăn mặt. Ở những

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
nơi công cộng như trường học, nhà trẻ, cần có giải pháp phòng ngừa: rửa tay
thường xuyên, cách ly người bệnh.
Các tật của mắt:
+ Cận thị.
Cận thị là loại bệnh về mắt tương đối phổ biến ở trẻ. Bệnh do một số
nguyên nhân: Trẻ thiếu ngủ hoặc ít ngủ. Trẻ phát triển rất nhanh, đặc biệt từ 7
đến 9 tuổi, trong khoảng thời gian này nếu thời gian ngủ của trẻ quá ít hoặc do
không đủ thời gian để ngủ vì cha mẹ bắt học quá nhiều cũng dễ gây ra cận thị.
Đặc biệt, trẻ sơ sinh trọng lượng cơ thể nhẹ trên dưới 2,5kg, đến tuổi thiếu niên
đều bị cận thị. Trẻ sinh thiếu tháng từ hai tuần trở lên thường bị cận từ khi học
vỡ lòng. Bệnh cận thị cũng có di truyền, nhưng mức độ di truyền liên quan mật
thiết tới mức độ cận thị của bố mẹ - bố mẹ bị cận thị dưới 3 diôp khả năng di
truyền sang con cái rất nhỏ, bố mẹ bị cận từ 6 diôp trở lên thì khả năng di truyền
là 100%.
Thực tế cho thấy, những năm gần đây trẻ xem tivi quá nhiều. Các bé 4 -
5 tháng tuổi, đã nhận biết được âm thanh và màu sắc đều thích thú khi nghe
nhạc quảng cáo của tivi và xem chương trình quảng cáo trên tivi. Trẻ lớn hơn
một chút, từ 12 tháng tuổi đến 4 - 5 tuổi, bé nào cũng dán mắt vào tivi, vừa xem
quảng cáo, vừa xem các chương trình dành cho thiếu nhi. Nhiều gia đình còn dỗ
con ăn bằng cách mở các băng đĩa ca nhạc dành cho thiếu nhi để bé ăn nhanh,
không bỏ bữa... Nếu ngày nào bé cũng xem tivi trên 2 giờ dồng hồ với khoảng
cách từ mắt tới tivi nhỏ hơn 3 mét thị lực sẽ suy giảm rất nhiều. Rất đông số các
bé xem tivi nhiều đều bị bệnh loạn thị và loạn thị từ lúc 3 - 4 tuổi - độ tuổi mẫu
giáo chứ không phải bậc tiểu học
+ Viễn thị.
Trẻ bị viễn thị: trẻ nhìn rõ những vật ở xa và không rõ những vật ở gần. Viễn
thị bắt đầu có biểu hiện ngay từ khi mới lọt lòng và sẽ mất dần và sẽ mất hẳn
khi bé được 6-10 tuổi. Chứng viễn thị làm cho bé luôn có cảm giác đau nhói mắt,
mỏi mắt, đau đầu sau mỗi lần đọc sách và thậm chí bé không nhìn rõ chữ viết
trên bảng. Nếu chứng viễn thị không được chữa trị sớm sẽ dễ chuyển sang tật
lác mắt. Trẻ bị viễn thị ở mức độ nhẹ cần đeo kính lồi để đọc sách, đánh máy
tính, xem vô tuyến còn trẻ bị viễn thị ở mức độ nặng cần liên tục để có thể nhìn

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
thấy rõ những vật ở gần và cả những vật ở xa.
+ Lọan thị.
Trẻ bị loạn thị: Nguyên nhân là do giác mạc mắt có độ cong không đều nhau.
Do đó hình ảnh phản ảnh bị sai lệch, có lúc rõ lúc không. Trẻ bị loạn thị nhìn
những vật theo chiều ngang rõ nét hơn theo chiều dọc. Ngay khi con bạn đeo
kính, nhất thiết bạn phải theo dõi thường xuyên và cho trẻ đi kiểm tra mắt trung
bình cứ 6 tháng hoặc 1 năm kiểm tra 1 lần.
+ Lác mắt
Khi mắt bị lác, hai mắt sẽ nhìn theo hai hướng khác nhau và sẽ nhìn
thành hai hình. Lúc đó, não sẽ xóa bỏ hình ảnh của mắt lác, ức chế không cho
mắt này nhìn và gây ra nhược thị. Vì vậy, người bệnh sẽ mất khả năng nhìn
bằng hai mắt đồng thời không có được thị giác hai mắt.
Trẻ từ một tháng tuổi trở lên bị lác mắt cần phải coi là nghiêm trọng
và đưa đi khám ngay. Điều trị lác mắt có 3 bước liên quan chặt chẽ với nhau là:
Điều trị nhược thị, điều trị thẳng trục nhãn cầu để hết lác và điều trị phục hồi
thị giác hai mắt. Mắt bị lác thường có tật khúc xạ đi kèm và làm trầm trọng thêm
tình trạng nhược thị cũng như các rối loạn thị giác hai mắt. Vì thế, trẻ bị lác mắt
nếu có tật khúc xạ đi kèm bắt buộc phải đeo kính.
Điều trị lác mắt càng sớm càng tốt, không những rút ngắn thời gian
điều trị, tăng cường hiệu quả điều trị mà còn nâng cao cơ hội phục hồi thị giác
hai mắt. Các phương pháp điều trị khác như: Đeo kính, bịt mắt tập chỉnh quang,
điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật… được thầy thuốc chỉ định tùy từng trường
hợp cụ thể. Ngoài ra, sau khi điều trị khỏi lác mắt, trẻ vẫn cần được theo dõi lâu
dài để duy trì kết quả điều trị đã đạt được.
+ Hưởng ứng ngày thị giác thế giới




Phòng ngộ độc thực phẩm.

Giới thiệu cách lựa chọn thực phẩm an toàn

Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
1-Phòng ngộ độc thực phẩm
+ Nguyên nhân gây ra ngộ độc thức ăn:
- Do nhiễm hoá chất: Hoá chất bảo vệ thực vật, các hoá chất
phụ gia thực phẩm, phẩm mầu, hàn the.
- Chất lượng thực phẩm kém: Bị ôi thiu, nhiễm vi sinh vật , độc tố vi sinh
vật, nấm mốc... Thức ăn có chứa chát độc như sắn, măng, khoai tây mầm, lạc
mốc, cóc, các nóc..., thức ăn chưa nấu chín.
- Do bị nhiễm bẩn trong quá trình chế biến thức ăn như tay bẩn,
dụng cụ không sạch, để lẫn dụng cụ đựng thức ăn sống, chín.
- Do thiếu nước hoặc nước không sạch.
- Do bảo quản thức ăn không tốt, ruồi nhặng. . .
+ Biện pháp phòng tránh:
- Nên ký hợp đòng mua bán thực phẩm sạch, vận động phụ huynh có thực
phẩm sạch bán cho bếp ăn,
- Tổ chức làm VAC nếu có điều kiện.
- Chọn thực phẩm tươi ngon, không dập nát, không có mùi vị khác lạ.
- Trong chế biến thức ăn nên dùng phẩm mầu có nguồn gốc tự
nhiên như gấc, gừng, nghệ . . .
-Sử dụng nước sạch, rửa rau nhiều lần dưới vòi nước sạch.
- Nấu thức ăn chín kỹ, ăn thức ăn vừa nấu xong, bảo quản cẩn
thận thức ăn đã nấu chín, không để ruồi nhặng gây ô nhiếm thức ăn.
-Bếp sạch sẽ, đảm bảo nguyên tắc một chiều, có dụng cụ chế biến thực
phẩm sống, chín riêng, không để lẫn lộn thức ăn sống, chín, rửa sạch bát đũa,
nên tráng nước sôi trước khi dùng.
- Dùng nước sạch, rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi v ệ sinh.
- Người thường xuyên chế biến thực phẩm phải được khám sức
khoẻ không mang bệnh truyền nhiễm.
- Lưu mẫu thức ăn theo quy định.
- Bếp sạch sẽ, đảm bảo nguyên tắc một chiều, có dụng cụ chế biến thực
phẩm sống, chín riêng, không để lẫn lộn thức ăn sống, chín, rủa sạch bát đũa,
nên tráng nước sôi trước khi dùng.


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
- Dùng nước sạch, rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi vệ sinh,
được khám sức khoẻ, không mang bệnh truyền nhiễm.
- Lưu mẫu thức ăn theo quy định.
2 Cách lựa chọn thực phẩm an toàn
a) Chọn thịt:
+ Thịt lợn :mặt cắt của thịt có màu hồng sáng, bì mỏng mềm mại, thớ thịt
săn, độ đàn hồi tốt( lấy ngón tay ấn vào thịt khi buông ra không để lại vết lõm
tay), thịt cầm chắc tay, ráo, mỡ màu sáng, có độ chắc, mùi vị bình thường, mặt
khớp xương láng và trong, tủy bám chặc vào thành ống tủy ,đàn hồi.
+ Thịt bò: thịt tươi, ngon cầm chắc tay, ráo hơi dính, thớ thịt mịn, màu đỏ
tươi,,gân trắng mỡ hơi vàng. Thịt bò cái ngon hơn thịt bò đực
+ Thịt bê: thớ thịt mịn, mỡ trắng , ăn mềm hơn thịt bò.
+ Thịt trâu: thớ thịt to, màu thịt đỏ tía, mỡ trắng hơn thịt bò
b) Chọn mua gia cầm
+ Chọn gà: chọn con khỏe mạnh, màu đỏ tươi, chânthẳnh, nhẵn không đóng
vẫy, ức dày, hậu môn không ướt, không nên chọn gà già quá, hoặc non quá( bấm
nhẹ dưới ức thấy xương mềm là gà non, xương cứng nhọn là gà già), tốt nhất là
chọn gà gần đẻ , da lông mềm mại, lỗ chân lông nhỏ, mào đỏ, hậu môn nhỏ, gà
ta thịt vàng ăn thơm ngon hơn gà công nghiệp.
+ Chọn vịt: chọn con trưởng thành và béo, mọc đủ lông ( điểm mú của 2 cánh
vuùa đủ chéo vào nhau). Không nên chọn vịt non vì ăn không ngon lại mất nhiều
công nhổ lông tơ, vịt non mỏ mềm, vịt già mỏ nhỏ và cứng. Khác vối gà, vịt đục
ngon hơn vịt cái.
c) Chọn trứng : vỏ sáng màu , có một lớp màng mỏng nổi lên những hạt
giống bịu phấn( vỏ không bóng). Cầm trứng soi vào đèn hoặc ánh sáng mặt trời
thấy lòng trắng, lòng đỏ không phân biệt rõ, khối lòng đỏ hiện lên như một bóng
mờ nằm ở chính giữa, nếu thả xuống chậu nước, trứng sẽ chìm, nằm ngang
dưới đấy chậu.
d) Chọn thủy sản
+ Chọn cá: cá tươi, mình cứng, vẫy sáng, óng ánh, mắt cá sáng, trong, đầy
và sạch, mang cá màu đỏ tươi, không nhớt, tịt cá có tính đàn hồi tốt , tốt nhất là


Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Website hỗ trợ giảng dạy và chăm sóc trẻ em
www.mamnon.com
chọn cá bơi trong chậu
+ Chọn tôm: tôm tươi, vỏ có độ bóng sáng, trong xanh, trơn láng, cứng và dai,
không nên mua tôm đầu dễ rời, chân và càng dễ rụng
+ Chọn cua: dùng tay ấn mạnh vào yếm cua, cua chắc nhiều thịt thì yếm
cứng, không bị lún xuống, muốn ăn cua gạch chọn con cái, muốn ăn cua thịt thì
chọn cua đực (yêm nhỏ)
+ Chọn ốc: dùng tay đụng nhẹ vào vãy ốc, nếu ốc sống sẽ tự khép kín vẫy,
ốc béo thì vẫy ở gần miệng ốc, ốc gầy vẫy lùi vào trong, ốc chết có mùi hôi, vẫy
thụt vào trong
e) Chọn rau quả tươi: rau, quả tươi, sáng màu, không dập nát. Nên chọn rau
có màu xanh non hoặc xanh thẫm, củ quả có màu vàng, đỏ để chế biến cho trẻ
ăn(vì có chứa nhiều vitamin C và caroten)




Trẻ em hôm nay – Thế giới ngày mai
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản