Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chia sẻ: kaka_nuce

Theo nghĩa hẹp, CNH được hiểu là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp là chủ đạo.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

 

  1. - Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa Theo nghĩa hẹp, CNH được hiểu là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp là chủ đạo. Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp. Người ta cũng phân biệt "CNH cổ điển" theo kiểu nước Anh và châu Âu hai thế kỷ trước với "CNH kiểu mới" có kết hợp với tin học hóa, toàn cầu hóa kinh tế và kinh tế tri thức. Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, HĐH là quá trình chuyển biến từ tính chất truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến, hiện đại. Về ý nghĩa kinh tế, HĐH được giải thích là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, bắt đầu từ thế kỷ XVII đến nay và vẫn còn chưa kết thúc. Có người chia quá trình HĐH thành hai giai đoạn: Hiện đại hóa lần thứ nhất tương ứng với thời kỳ CNH cổ điển, và HĐH lần thứ hai tương ứng với thời kỳ tri thức hóa. Ở nước ta, hiện nay thường dùng cụm từ CNH, HĐH với cách hiểu là "công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn kết với nhau trong cùng một quá trình, ngay từ đầu và suốt trong các giai đoạn phát triển". Ở đây, CNH được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ giới hạn ở khía cạnh kinh tế, mà còn cả về mặt xã hội, văn hóa. Hiện đại hóa hiểu theo nghĩa thông dụng, thời gian chỉ là thứ nguyên so sánh. Nói cách khác, chúng ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, song không hoàn toàn như công nghiệp hóa kiểu cổ điển, chỉ chú ý phát triển công nghiệp để tăng cao tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội, mà đồng thời phát triển công nghệ, thực hiện tin học hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức, nghĩa là thực hiện "công nghiệp hóa kiểu mới" hay nói như văn kiện Đại hội IX công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Căn cứ vào các văn kiện của Đảng và Nhà nước, CNH ở nước ta có những đặc điểm là CNH gắn kết với HĐH trong suốt các giai đoạn phát triển, vừa mang tính chất công nghiệp hóa về kinh tế - xã hội,
  2. vừa có tính chất hiện đại hóa về công nghệ ở mức tương ứng. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện theo cách rút ngắn thời gian để sớm có thể đuổi kịp các nước trong vùng và trên thế giới. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa thể hiện định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công bằng xã hội, cân đối giữa phát triển kinh tế và xã hội. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng phát triển bền vững, ngoài chính sách xã hội còn quan tâm bảo vệ và cải thiện môi trường. Trong thực hiện CNH, HĐH coi giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là nền tảng và động lực của sự phát triển; coi trọng CNH, HĐH trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhất là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Dựa vào định hướng và các tính chất trên, có thể xây dựng một mô hình CNH phù hợp và xác định các tiêu chí định lượng để đánh giá trình độ CNH và so sánh với các nước khác. 2 - Về tiêu chí công nghiệp hóa Nghị quyết Đại hội IX đặt ra mục tiêu: đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, song ngoài một số mục tiêu mang tính định tính, không nêu rõ những tiêu chí để xác định thế nào là một nước công nghiệp, thế nào là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và thế nào là cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Hiện nay, trên thế giới các nhà nghiên cứu sử dụng hàng trăm tiêu chí khác nhau để nhận biết và đánh giá các dạng, loại và trình độ phát triển, mỗi tiêu chí đều thể hiện một tính chất được lượng hóa và một mức độ phải đạt. ở mỗi nước và mỗi giai đoạn phát triển thường sử dụng một hệ thống các tiêu chí khác nhau. Trong điều kiện Việt Nam, khi chọn hệ thống tiêu chí CNH theo hướng hiện đại (CNH kiểu mới) cần tôn trọng một số nguyên tắc sau: Phải thể hiện rõ định hướng và các đặc trưng CNH của nước ta; Tương hợp với các tiêu chí đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới để tiện so sánh, đánh giá; Các dữ liệu thống kê của Việt Nam và quốc tế có đủ để tính toán các chỉ tiêu
  3. định lượng; Đơn giản, thuận tiện, định nghĩa rõ ràng không thể nhầm lẫn. Tiêu chí đánh giá không thể, hoặc rất khó, quy về một chỉ số đơn nhất vì các yếu tố đặc trưng có thể khác nhau khá lớn về bản chất, song số lượng tiêu chí cũng không nên quá lớn để dễ phân tích và tìm kiếm số liệu. Để thuận tiện cho việc so sánh, có thể sắp xếp các tiêu chí vào các nhóm, mỗi nhóm đại diện cho một khía cạnh của sự phát triển. Ứng với yêu cầu CNH ở nước ta, có thể có các nhóm về kinh tế, khoa học - công nghệ, chính sách xã hội, cải thiện môi trường, chất lượng cuộc sống... Từ các tiêu chí phản ánh các đặc trưng CNH trên, có thể tính toán hoặc suy diễn ra các chỉ tiêu định lượng và lựa chọn mức độ của mỗi chỉ tiêu tương ứng với trình độ hoàn thành CNH. Theo kinh nghiệm nước ngoài, trình độ hoàn thành CNH có thể lấy tương đương với mức bình quân của 18 nước phát triển nhất (theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới WB) vào những năm 60 của thế kỷ XX. Nếu có đủ cơ sở, cũng có thể tham chiếu một số ít chỉ tiêu liên quan hiện đại hóa vào khoảng 1-2 thập niên sau. Qua nghiên cứu, bước đầu có thể nêu ra một danh mục tiêu chí và chỉ tiêu sau: - Chỉ tiêu kinh tế: GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương PPP; tỷ trọng kinh tế nông nghiệp trong GDP; tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao động; năng suất lao động bình quân; tiêu hao năng lượng đầu người; tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trên GDP; chỉ số cạnh tranh quốc tế. - Chỉ tiêu xã hội và chất lượng cuộc sống: chỉ số phát triển con người (HDI); tỷ lệ đô thị hóa; khoảng cách đô thị và nông thôn; chỉ số GINI. (1) - Chỉ tiêu môi trường: tỷ lệ sử dụng nước sạch; chi phí bảo vệ và cải thiện môi trường trong GDP; tỷ lệ chất thải được xử lý; tỷ lệ phủ xanh đất nước.
  4. - Chỉ tiêu tin học hóa và kinh tế tri thức: tỷ lệ hộ gia đình có máy tính và nhập mạng; tỷ lệ kinh phí cho nghiên cứu và triển khai R&D chiếm trong GDP; số chứng chỉ về phát minh - sáng chế trên 10.000 dân; tỷ trọng sản phẩm công nghệ mới, công nghệ cao trong sản lượng công nghiệp và hàng xuất khẩu. Hệ thống các chỉ tiêu kinh tế - xã hội được lựa chọn có cơ sở khoa học sẽ cho phép thấy rõ chúng ta đang đứng ở vị trí nào trên con đường CNH, HĐH, còn cách xa đích bao nhiêu, và cần tập trung năng lực vào những lĩnh vực nào để sớm đứng vào hàng ngũ những nước công nghiệp hoặc "cơ bản" có thể coi là một nước công nghiệp. 3 - Về công nghiệp hóa rút ngắn và vấn đề đuổi kịp các nước Có nhiều lý do để tin tưởng rằng CNH của nước ta có nhiều khả năng để rút ngắn thời gian so với các nước CNH cổ điển châu Âu trước đây. Một mặt, việc gắn kết cả yêu cầu CNH và HĐH vào cùng trong một quá trình sẽ cho phép tránh được trùng lặp trong nhiều bước có tính chuyển tiếp và một số khâu cơ cấu lại hai ba lần. Mặt khác, tiến trình CNH của chúng ta không phải là một quá trình tự phát, tự điều chỉnh, mà là một tiến trình có điều khiển, chỉ đạo theo một đường lối và một chiến lược nhất quán với những bước đi có chọn lọc, có tính toán hợp lý. Ngoài ra, chúng ta cũng thừa hưởng được nhiều kinh nghiệm cả thành công và thất bại của các nước đi trước. Với đà phát triển khá nhanh của nước ta như hiện nay, đến năm 2020 GDP bình quân đầu người cũng mới đạt trên dưới 2.000 USD. Với mức thu nhập ấy, các chỉ tiêu phát triển khác cũng khó có khả năng đạt mức cao, chất lượng của sự phát triển khó bảo đảm vững chắc. Bởi vậy, con đường an toàn cho việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững và rút ngắn thời gian có thể dựa trên hai yếu tố. Một là, nhanh chóng phát triển công nghệ mới, công nghệ cao để nâng cao và duy trì tốc độ phát triển. Hai là, chuẩn bị tốt nhất các điều kiện tiền đề cho CNH, HĐH (giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, kết cấu hạ tầng, thể chế quản lý...) để nắm bắt và lợi dụng tối đa thời cơ thuận lợi khi nó xuất hiện để tạo ra những bước phát triển có tính
  5. nhảy vọt với tốc độ đột biến cao hơn. Nội dung đó cũng đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, đây đồng thời cũng là sự đúc rút từ kinh nghiệm của một số nước công nghiệp mới. Vấn đề đuổi kịp các nước đi trước có thể thực hiện được trong một khoảng thời gian hợp lý hay không cũng là một vấn đề cần được làm rõ. Nếu so sánh với một vài nước khu vực, thì thời gian đuổi kịp còn khá dài. Ví dụ, thu nhập bình quân đầu người hiện nay của Thái Lan, Trung Quốc cao gấp 3- 4 lần so với Việt Nam, nhưng tốc độ tăng thu nhập cũng xấp xỉ hoặc cao hơn ta. Trong khi đó, nếu tốc độ phát triển của Việt Nam được giữ liên tục như hiện nay thì sau 30 năm nữa cũng vẫn chưa thể đuổi kịp họ về thu nhập. Như vậy, bài toán đuổi kịp tính với hai nước trên hầu như không khả thi trong trung hạn. Tuy nhiên, nếu tính so sánh với bình quân của các nhóm nước, mà chúng ta cần đặt mục tiêu đuổi kịp, như nhóm các nước đang phát triển, nhóm nước châu Á, hay mức bình quân toàn cầu v.v., thì kết cục bài toán lại hoàn toàn khác. Ví dụ, so với nhóm các nước đang phát triển, thì sẽ cần 20 năm để đuổi kịp và bắt đầu vượt lên trước. So với bình quân toàn cầu sẽ cần khoảng 30 năm, và thậm chí so với mức khởi đầu của các nước đã phát triển, mà tốc độ tăng trưởng liên tục thường rất thấp, chúng ta cũng sẽ thấy rõ khả năng đuổi kịp là hiện thực. Hơn nữa, những ước tính trên đây mới chỉ xét đến một yếu tố tăng trưởng về kinh tế - thu nhập bình quân đầu người, chưa tính đến ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đang có lợi cho chỉ số tăng trưởng của những nước như Việt Nam và cũng chưa kể đến khả năng có thể có bước phát triển đột biến khi có cơ hội như dự kiến của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Các nhà nghiên cứu nước ngoài ước tính Trung Quốc đã đi được 73% trên con đường công nghiệp hóa, và cũng theo ước tính trên, Việt Nam cũng đã đạt được 61%. Như vậy, mục tiêu năm 2020 "cơ bản trở thành một nước công nghiệp" không phải là không có cơ sở để thực hiện. 4 - Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
  6. a - Cần tạo trong nông nghiệp, nông thôn môi trường ban đầu thích hợp để có thể tiếp nhận những chính sách và giải pháp cụ thể của quá trình CNH, HĐH. Có ba việc cần làm trước: - Sớm hoàn thành chương trình xóa đói, giảm nghèo ở các vùng nông thôn, tạo mặt bằng kinh tế - xã hội tương đối đồng đều. Quan tâm vấn đề áp dụng những tiêu chuẩn nghèo đói sát với tiêu chuẩn quốc tế để dễ đánh giá và so sánh, đồng thời chú trọng đến yêu cầu bền vững, không để xảy ra hiện tượng đói nghèo trở lại và làm biến dạng môi trường nông thôn. - Sớm xây dựng một nền kinh tế hàng hóa ở nông thôn, phá vỡ thế độc canh, tự cấp tự túc còn rớt lại. Muốn vậy, chỉ giúp nông thôn xây dựng kết cấu hạ tầng tối thiểu (điện, đường, trường, trạm, chợ) và cho vay vốn ban đầu vẫn chưa đủ. Còn cần sớm hình thành một mạng lưới công ty, xí nghiệp vừa và nhỏ (kể cả cực nhỏ) trên cơ sở huy động sự tham gia của các doanh nghiệp từ các vùng công nghiệp, các lực lượng quân đội tại chỗ làm kinh tế và nguồn vốn của Nhà nước. - Xây dựng quy hoạch về an toàn lương thực và bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn, vừa sử dụng hợp lý đất đai, mặt nước, vừa chủ động phòng chống thiên tai. b - Việc áp dụng các phương pháp công nghiệp và tổ chức tiên tiến vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tạo năng suất cao và chất lượng hàng hóa nông sản đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước, sẽ bảo đảm cho thu nhập của người nông dân được nâng lên xấp xỉ với mặt bằng thu nhập chung của xã hội. Muốn đạt được yêu cầu trên, trước hết cần đầu tư vào các biện pháp kỹ thuật: thủy lợi hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa và điện khí hóa. Bên cạnh đó, các giải pháp về tổ chức sản xuất đang đặt ra những vấn đề bức xúc. Không thể công nghiệp hóa nông nghiệp trên cơ sở những mảnh ruộng quá manh mún, những tổ chức sản xuất quá nhỏ bé, luôn bị động về tiêu thụ sản phẩm và khó khăn về áp dụng các biện pháp công nghệ mới. Các hình thức hợp tác xã sản xuất ở đồng bằng và các kiểu trang trại ở vùng trung du, miền núi và ven biển phải đóng góp
  7. vào việc mở rộng quy mô khai thác, nhờ đó các biện pháp kỹ thuật mới phát huy được hiệu quả. Mặt khác, muốn đưa nông nghiệp lên trình độ hiện đại thì đã đến lúc cần tạo điều kiện để áp dụng một cách phổ biến các công nghệ mới vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xây dựng những khu nông nghiệp công nghệ cao, đổi mới kỹ thuật và tổ chức sản xuất, kể cả tổ chức lại cuộc sống ở các vùng nông thôn. c - Một nhân tố quan trọng trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là vấn đề phát triển công nghiệp ở các vùng nông thôn hay là vấn đề cơ cấu lại kinh tế và lao động nông thôn. Theo số liệu thống kê, lao động nông nghiệp hiện đang đóng góp khoảng 20% GDP toàn quốc, tỷ lệ đó sẽ giảm dần (tuy giá trị tuyệt đối vẫn tăng), dự báo có thể xuống dưới 10% sau năm 2020. Như vậy, muốn tăng thu nhập của nông dân lên gần với mức chung của cả nước thì tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn cần giảm nhiều, diện tích đất canh tác cho mỗi lao động phải tăng lên... Do đó số lao động dôi dư ở vùng nông thôn sẽ rất lớn. Tạo việc làm mới sẽ là vấn đề cấp bách và kéo dài trong suốt thời kỳ CNH, HĐH. Đương nhiên là khu vực công nghiệp và dịch vụ (sẽ chiếm đến 80% - 90% nền kinh tế) phải có nhiệm vụ thu hút số lao động dôi dư đó. Song nếu chuyển tất cả về mấy thành phố lớn và các khu công nghiệp sẽ không thể là phương án tối ưu. Tuy có thể tăng nhanh tỷ lệ đô thị hóa, nhưng những nhu cầu về đất đai, kết cấu hạ tầng và rủi ro về môi trường là rất khó giải quyết, chưa kể nhu cầu về vốn đầu tư để tạo ra việc làm trong công nghiệp hiện đại. Giải pháp thích hợp sẽ là tích cực phát triển công nghiệp và dịch vụ ở các vùng nông thôn, hình thành một mạng lưới công - thương vừa, nhỏ và siêu nhỏ vừa nằm gần các vùng nguyên liệu và hộ tiêu thụ, vừa tạo nhiều việc làm và có thể xử lý tốt vấn đề môi trường và đô thị hóa. Ngoài những khu công nghiệp tập trung lớn hàng trăm héc-ta, trong quy hoạch phát triển cần sắp xếp một mạng lưới "tiểu khu công nghiệp" hay cụm công nghiệp vừa và nhỏ ở khắp các tỉnh (trong đó có
  8. các cụm làng nghề) để cho công nghiệp cũng như đô thị không bị quá tải bởi tình trạng tập trung vào một số cực, mà điều kiện thực tế không đủ sức chịu đựng về mọi phương diện xã hội, môi trường và cung ứng... d - Một vấn đề bao trùm về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới. Giai đoạn đầu cần quan tâm đến đường sá và điện nước. Vấn đề đòi hỏi nhiều thời gian hơn là việc sắp xếp lại dân cư cho phù hợp với phân bố lại lao động và cải thiện môi trường sống vùng nông thôn để vẫn giữ nguyên được khung cảnh thiên nhiên đặc trưng làng quê, nhưng lại có được những tiện nghi đời sống hiện đại như ở các đô thị. Thực hiện những yêu cầu trên, cách tốt nhất là sắp xếp và hình thành nhiều thị trấn nhỏ làm nơi tập trung công nghiệp và dịch vụ, nơi ươm tạo và phát triển kỹ thuật, công nghệ phục vụ nông thôn, và biến những nơi này thành điểm văn hóa nông thôn mới. Một mạng lưới những thị trấn như vậy, phân bố rộng trên tất cả các vùng lãnh thổ, nối liền với những trung tâm công nghiệp mới và những đô thị đã có sẵn bằng một hệ thống giao thông thuận lợi, một mạng thông tin và các hạ tầng kỹ thuật... có thể bảo đảm cho sự phát triển hài hòa của toàn bộ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước. Song song với việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật đó, cần thực hiện chương trình nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài ở vùng nông thôn ngang tầm nhiệm vụ mới. 5 - Về phát triển khoa học, công nghệ Vấn đề làm thế nào để khoa học, công nghệ (kể cả giáo dục và đào tạo) thực sự trở thành nền tảng và động lực của CNH, HĐH đã được làm rõ dần với chủ trương của Chính phủ về "xã hội hóa", đổi mới quản lý công tác khoa học, công nghệ và đổi mới quản lý giáo dục đại học.
  9. Cơ chế quản lý khoa học, công nghệ những năm qua thường không nối kết trực tiếp người nghiên cứu với người sử dụng kết quả nghiên cứu. Giữa 2 khâu cung và cầu đó thường phải qua khâu trung gian là Nhà nước, kinh phí nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ chủ yếu là từ ngân sách nhà nước. Trong khi đó, doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp nhà nước) không bị ràng buộc (đúng ra là chưa có động lực) phải tìm đến tiến bộ khoa học. Các cơ quan khoa học, công nghệ lớn phần nhiều là thuộc sở hữu nhà nước, tình trạng bao cấp làm cho lao động của các nhà khoa học chưa được đánh giá đúng mức do hoạt động khoa học, công nghệ còn tập trung quá nhiều vào Nhà nước, phụ thuộc vào cơ chế hành chính quan liêu, phần lớn được ngân sách nhà nước bao cấp. Để khắc phục những nhược điểm trên, Nhà nước nên tập trung chủ yếu vào việc ban hành các chính sách quản lý và khuyến khích hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, xác định các hướng ưu tiên cho từng thời kỳ tương ứng với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Về nhu cầu nghiên cứu, Nhà nước đặt hàng bằng phương thức giao thầu hoặc đấu thầu các đề tài về quản lý nhà nước và khoa học cơ bản, đồng thời lập các quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, công nghệ và quỹ "mạo hiểm" để hỗ trợ một phần cho các đề tài về sản xuất, kinh doanh phục vụ các hướng ưu tiên quốc gia và bù đắp cho phần rủi ro trong nghiên cứu khoa học, công nghệ. Có cơ chế khuyến khích và ràng buộc để các doanh nghiệp trực tiếp đặt hàng với các tổ chức nghiên cứu, được nhận sự hỗ trợ của các quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, công nghệ, được ưu đãi trong việc lập quỹ khoa học, công nghệ và trong khai thác, sử dụng các kết quả nghiên cứu công nghệ trong nước. Các tổ chức khoa học, công nghệ áp dụng cơ chế sự nghiệp mới, có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kế hoạch hoạt động, về tổ chức nhân sự và thu chi tài chính, không phân biệt thuộc trung ương hay địa phương, công lập hay dân lập, chỉ còn sự khác nhau về trình độ, năng lực chuyên môn, khoa học, nghĩa là năng lực cạnh tranh. Thu nhập của cán bộ khoa học phải dựa vào kết quả của lao động khoa học bỏ ra, có thể rất cao nếu đem
  10. ứng dụng vào thực tế có hiệu quả, nhưng cũng có thể chỉ đạt mức bình thường nếu chưa được ứng dụng, hoặc chưa có kết quả. Ngoài ra, cần có chế tài cụ thể trong việc bảo vệ quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản