KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN III. VĂN HOÁ XÃ HỘI Văn hóa,

Chia sẻ: heavenmaster1995

KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN III. VĂN HOÁ XÃ HỘI Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao Văn hoá, thông tin: Những di tích và các giá trị văn hoá vật thể cũng như văn hóa phi vật thể, đặc biệt là bản sắc văn hoá các dân tộc luôn đư¬ợc gìn giữ và phát huy. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá và bản làng văn hoá, đặc biệt là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" phát triển mạnh. Toàn tỉnh có 800...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CỦA TỈNH ĐIỆN BIÊN III. VĂN HOÁ XÃ HỘI Văn hóa,

KHÁI QUÁT ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN CỦA
TỈNH ĐIỆN BIÊN



III. VĂN HOÁ XÃ HỘI


Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
Văn hoá, thông tin: Những di tích và các giá trị văn hoá vật thể cũng
như văn hóa phi vật thể, đặc biệt là bản sắc văn hoá các dân tộc luôn
đư¬ợc gìn giữ và phát huy. Phong trào xây dựng gia đình văn hoá và
bản làng văn hoá, đặc biệt là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" phát triển mạnh. Toàn tỉnh có
800 bản làng đăng ký đạt tiêu chuẩn bản làng văn hoá, trong đó
được công nhận đạt tiêu chuẩn 568 làng, bản.


Các lễ hội, các trò chơi dân gian truyền thống được giàn giữ và khôi
phục tiêu biểu là các lễ hội của đồng bào Thái, Mông, lễ hội đền
Hoàng Công Chất… Sóng truyền hình Việt Nam phủ được cho 84%
dân số, sóng truyền hình Tỉnh phủ được cho 67% dân số; Sóng phát
thanh Việt Nam phủ được cho 98,8% dân số, sóng truyền hình Tỉnh
phủ được cho 48% dân số.


Giáo dục - đào tạo:


Giáo dục: Toàn tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học và xoá
mù chữ. Chương trình phổ cập THCS được triển khai thực hiện từ
năm 2001, đến cuối năm 2007 đã có 72/106 xã, phường đạt chuẩn
phổ cập THCS. Đến nay toàn tỉnh có 372 cơ sở giáo dục các cấp gồm:
89 trường mầm non; 146 trường tiểu học; 111 trường THCS; 18
trường THPT; 1 trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, 6 TTGDTX
huyện , 1 TT.


Kỹ thuật tổng hợp - học nghề. Hệ thống các trường, lớp mẫu giáo
mầm non trong toàn tỉnh nói chung và ở các xã vùng cao biên giới,
các xã đặc biệt khó khăn nói riêng được củng cố và mở rộng. Đến nay
100% các xã đã có trường mẫu giáo hoặc lớp mẫu giáo gắn với các
trường tiểu học; tỉnh đã cơ bản xoá hoàn toàn xã trắng về giáo dục
mầm non.


Đào tạo: Hệ thống các trường đào tạo đã và đang được đầu tư xây
dựng đồng bộ và hoàn chỉnh, đáp ứng tốt yêu cầu giảng dạy, học tập
và sinh hoạt cho học sinh, sinh viên. Toàn tỉnh hiện có 1 trường dạy
nghề, 1 trường Cao đẳng Sư phạm và 2 trường Trung học chuyên
nghiệp (1 trường Trung học Y tế, 1 trường Trung học Kinh tế kỹ
thuật tổng hợp).


Hình thức đào tạo nghề có nhiều tiến bộ, nhiều ngành nghề mới
được xây dựng chương trình và đưa vào giảng dạy, từng bước đáp
ứng yêu cầu về lao động có tay nghề của các cơ sở sản xuất, kinh
doanh. Ngoài việc tự đào tạo, tỉnh còn liên kết với các trường đại
học, cao đẳng ở Hà Nội như: Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tài chính,
Đại học Nông nghiệp, Đại học Xây dựng, Đại học Giao thông... để đào
tạo cho đội ngũ cán bộ và con em trong tỉnh.


Khoa học - công nghệ và môi trường


Khoa học - công nghệ: Công tác khoa học - công nghệ và quản lý tài
nguyên - môi trường đã có những triển khai ứng dụng vào thực tiễn
sản xuất. Một số đề tài, dự án ứng dụng khoa học - công nghệ trong
sản xuất như: Trong nông nghiệp và thủy sản, đã tuyển chọn và đưa
vào sản xuất tập đoàn giống mới có năng suất chất lượng tốt như:
giống lúa, giống ngô, giống đậu tương, giống nấm, tập đoàn giống cây
ăn quả và các giống bò, lợn, gà, tôm, cá... góp phần đưa năng suất cây
trồng, vật nuôi tăng 15 - 20%. Bên cạnh những kết quả đã đạt được,
lĩnh vực khoa học - công nghệ và quản lý tài nguyên - môi trường ở
Điện Biên vẫn còn nhiều yếu kém so với các địa phương khác trong
vùng và cả nước, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh.




Môi trường: Môi trường không khí, chất lượng môi trường không
khí của Điện Biên chưa bị ô nhiễm, các chỉ tiêu SO2, NO2, Co, NO,
CO2, H2S, CH4 đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Ô nhiễm bụi và
tiếng ồn cũng chỉ xảy ra cục bộ tại một vài khu đô thị và tập trung
dân cư.


Môi trường nước, nguồn nước của các hồ chứa trong tỉnh hiện tại
đều chưa bị ô nhiễm. Song nước của một số sông suối chính ở vùng
lòng chảo Điện Biên, thị trấn Tuần Giáo, Điện Biên Đông, thị xã
Mường Lay... đã có biểu hiện ô nhiễm Nitrit, Colifom, chất rắn lơ
lửng, dầu mỡ, COD, BOD... do nước thải của các cơ sở sản xuất và
nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý thải trực tiếp ra sông, suối.


Nguồn nước ngầm trong tỉnh, nhất là ở các khu vực Điện Biên, Tuần
Giáo cũng đã có biểu hiện ô nhiễm Nitrit, Colifom... do hầu hết các
nước thải, chất thải rắn chưa được xử lý triệt để và việc khai thác sử
dụng nước ngầm tự phát, không đúng kỹ thuật. Môi trường đô thị, do
hệ thống tiêu thoát và xử lý nước thải ở các đô thị trong tỉnh chưa
đáp ứng yêu cầu nên chất lượng môi trường đô thị cũng đang có biểu
hiện ô nhiễm. Tình trạng ô nhiễm bụi, khí thải, tiếng ồn do hoạt động
giao thông và các cơ sở sản xuất cũng xảy ra thường xuyên. Hiện nay
việc thu gom các chất thải rắn mới đạt 60% tổng thải.


Toàn tỉnh chưa có quy hoạch các bãi chôn lấp đạt tiêu chuẩn vệ sinh,
các rác thải chỉ được tập trung và xử lý bằng hình thức chôn lấp đơn
giản nên đang gây ô nhiễm môi trường. Môi trường nông thôn, đến
nay tỷ lệ hộ trong toàn tỉnh có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn chỉ chiếm
khoảng 25 - 30%, số hộ dân sử dụng nước sạch đạt 57% (bao gồm
nước máy, hệ thống tự chảy, lu, mó...).
Y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng




Công tác y tế - chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng được quan tâm
chú trọng, đạt được nhiều thành quả trên mọi mặt cả về số lượng và
chất lượng phục vụ. Tính đến cuối năm 2007 toàn tỉnh có 10 bệnh
viện (1 bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh, 1 bệnh viện khu vực, 1 bệnh
viện Lao và bệnh Phổi, 1 bệnh viện y học cổ truyền, 6 bệnh viện
tuyến huyện), 1 khu điều trị phục hồi chức năng cho bệnh nhân
phong, 9 trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh, 1 công ty cổ phần dược
vật tư y tế, 19 phòng khám đa khoa khu vực và 106/106 xã có trạm y
tế xã, phường, thị trấn, với tổng số 1.303 giường bệnh, quân có 27,8
giường bệnh/1 vạn dân. Số bác sỹ/1 vạn dân là 4,6; số dược sỹ/ 1
vạn dân là 0,34.


Các bệnh viện và trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh được đầu tư xây
dựng cơ bản, trang thiết bị khá hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu khám
chữa bệnh. Riêng bệnh viện tuyến huyện và trạm y tế xã còn nhiều
khó khăn thiếu thốn cả về cơ sở vật chất và thiết bị khám chữa bệnh.
Mức sống dân cư, xóa đói giảm nghèo




Thực hiện việc lồng ghép các chương trình dự án và các chính sách
hỗ trợ phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo của Nhà nước và của
tỉnh; đời sống nhân dân các dân tộc đã có những bước cải thiện căn
bản, GDP bình quân đầu người năm 2007 ước đạt 365 USD/năm.
Hiện tại đã cơ bản không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân
mỗi năm 5%. Đến cuối năm 2007 toàn tỉnh có 89.500 hộ, trong đó có
29.368 hộ đói nghèo chiếm 32,81%. Hàng năm giải quyết việc làm
cho 7.000 lao động.


Nguồn nhân lực


Dân số: Dân số trung bình năm 2007 của tỉnh Điện Biên là 468.282
người, mật độ dân số bình quân 49 người/ km2, là một trong những
tỉnh có mật độ dân số thấp nhất trong cả nước và thấp hơn nhiều so
với mật độ dân số trung bình của vùng Tây Bắc (69 người/km2) và
của cả nước (254 người/km2).




Trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện có 21 dân tộc sinh sống, trong đó
dân tộc Thái chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 42,2%, tiếp đến là dân tộc
H’Mông chiếm 27,2%, dân tộc Kinh chiếm 19%, dân tộc Khơ Mú
3,9%, còn lại là các dân tộc khác như Dao, Hà Nhì, Hoa, Kháng... Các
dân tộc ở Điện Biên có những nét văn hoá đặc trưng của đồng bào
khu vực Tây Bắc.


Lao động: Số lao động trong độ tuổi của tỉnh năm 2007 là 285.652
người chiếm 61% dân số. Hiện nay số lao động đang làm việc trong
các ngành kinh tế quốc dân là 250.642 người, trong đó hầu hết là lao
động nông, lâm nghiệp chiếm tới 79,5% tổng số lao động đang làm
việc; lao động công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 6,5% và lao động
khu vực dịch vụ chiếm 14%. Số lao động chưa có việc làm hiện còn
khá lớn, khoảng 23.584 người, chiếm 8,6% tổng số lao động có khả
năng lao động.


Về chất lượng nguồn nhân lực: Những năm gần đây chất lượng lao
động ở Điện Biên đã được cải thiện một bước, trình độ văn hoá của
lực lượng lao động ngày được nâng cao. Tỷ lệ lao động không biết
chữ và chưa tốt nghiệp phổ thông giảm, số lao động tốt nghiệp THCS
và THPT ngày càng tăng. Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật tăng nhanh.


Chất lượng nguồn nhân lực của Điện Biên hiện nay còn rất thấp so
với các địa phương khác, tỷ lệ lao động qua đào tạo của toàn tỉnh đến
năm 2007 chỉ chiếm 21,4% số lao động trong độ tuổi, hầu hết lao
động qua đào tạo đều là cán bộ, công chức làm việc trong các lĩnh
vực quản lý nhà nước, sự nghiệp và các tổ chức đoàn thể... tập trung
ở thành phố Điện Biên Phủ, thị xã Mường Lay và các trung tâm thị
trấn huyện. Tại các khu vực khác, số lao động có kỹ thuật hầu như
không đáng kể. Hiện nay chất lượng nguồn nhân lực của Điện Biên
hiện còn rất nhiều bất cập cả về số lượng cũng như chất lượng và cơ
cấu.




V. CƠ SỞ HẠ TẦNG DỊCH VỤ DU LỊCH


Ngân hàng: Hệ thống các ngân hàng thương mại như Ngân hàng đầu
tư phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp đã có chi nhánh tại Trung tâm
các huyện và có dịch vụ phục vụ đến các xã thuận tiện cho quan hệ
giao dịch tín dụng của các nhà đầu tư.
Bảo hiểm: Dịch vụ bảo hiểm được phục vụ đầy đủ đủ bởi các doanh
nghiệp uy tín trong và ngoài nước từ các loại hình bảo hiểm thông
dụng như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ tới các loại hình bảo
hiểm khác theo yêu cầu của khách hàng.


Thương mại: Mạng lưới thương mại được phát triển mạnh mẽ với sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế các trung tâm huyện, thị và
cụm xã đều đã có chợ trung tâm các xã đều đã có các cơ sở kinh
doanh dịch vụ thương mại, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu
dùng hàng hoá, tiêu thụ nông sản cho nhân dân, nhất là nhân dân ở
các vùng cao, vùng xa.


Năm 2007 tổng doanh thu hàng hoá bán lẻ và dịch vụ thương mại
trên địa bàn ước đạt 1160 tỷ đồng, nhịp độ tăng trưởng bình quân
thời kỳ 2001 - 2005 đạt 16,29%/năm. Tuy nhiên về thương mại
quốc tế, nhất là xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu trên địa bàn còn
hạn chế chưa tương xứng với tiềm năng.
Dịch vụ vận tải: Dịch vụ vận tải phát triển mạnh, doanh nghiệp vận
tải Quốc doanh địa phương sớm được cổ phần hoá. Các nguồn lực
được tăng cường bổ sung, số đầu phương tiện và chất lượng được
đổi mới, hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều tiến bộ, đáp ứng
các nhu cầu vận tải hàng hoá và đi lại của nhân dân.
Dịch vụ Bưu điện: Các hoạt động bưu chính viễn thông cũng được
phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu. Trung tâm các huyện
và hầu hết các khu vực thị tứ đều đã được phủ sóng điện thoại di
động. Hầu hết các bưu cục đều đã mở các dịch vụ điện thoại đường
dài, phát hành báo chí, chuyển tiền qua bưu điện tại trung tâm các
xã... Nhiều loại hình phục vụ mới được áp dụng, góp phần tăng
doanh thu và đáp ứng nhu cầu của nhân dân.


Dịch vụ du lịch: Hiện nay toàn tỉnh có 83 cơ sở kinh doanh du lịch.
Hệ thống khách sạn du lịch cũng tăng khá với 38 khách sạn với tổng
số 687 phòng khách, trong đó trên 95% số phòng đạt tiêu chuẩn đón
khách quốc tế. Một số dự án phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn
hoá - lịch sử quy mô lớn và hiện đại... đã và đang được xây dựng đáp
ứng kịp thời nhu cầu của du khách như khu du lịch sinh thái Him La,
U Va, Hua Pe... Số du khách đến Điện Biên năm 2007 khoảng 155.000
lượt khách, trong đó có hơn 16.000 lượt khách quốc tế.


VI. KINH TẾ - XÃ HỘI


KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC


1. Lĩnh vực Kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá so với cùng kỳ nhiều năm. Dự
ước tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 10,86% [1]. Trong đó:
Nông lâm nghiệp tăng 5,6%, Công nghiệp xây dựng tăng 8,7%, Dịch
vụ tăng 16,24%. Cơ cấu kinh tế năm 2007: nông lâm nghiệp chiếm
36,37%, giảm 0,07%; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 24,74%, giảm
0,61%; Dịch vụ 38,89%, tăng 0,68% so với năm 2006.


1.1. Sản xuất nông – lâm nghiệp


1.1.1 Sản xuất lương thực: Tổng sản lượng lương thực năm 2007
ước đạt 187.864 tấn, tăng 1,2% so với năm 2006. Trong đó: Sản
lượng thóc ước đạt 131.543 tấn, lương thực bình quân đầu người
đạt 401 kg/năm. Trong đó:


- Tổng diện tích lúa chiêm xuân gieo cấy đạt 7.496 ha, năng suất bình
quân đạt 55,48 tạ/ha; sản lượng thu hoạch ước đạt 41.558 tấn.
- Diện tích lúa mùa đạt 15.553 ha, năng suất bình quân 41,66 tạ/ha,
sản lượng ước đạt 64.801,5.
- Diện tích lúa nương gieo trồng được 19.113 ha, sản lượng ước đạt
25.154,7 tấn.
- Cây ngô: Tổng diện tích ngô gieo trồng đạt 27.316 ha. Sản lượng
ước đạt 56.320 tấn, đạt 98 % kế hoạch.


1.1.2. Cây công nghiệp:
- Cây Đậu tương trồng được 9.138 ha, sản lượng thu hoạch ước đạt
10.950 tấn.
- Cây bông trồng được 1.377 ha, sản lượng ước đạt 2.042 tấn.


- Tiếp tục duy trì 223 ha chè và 412 ha cà phê hiện có, đồng thời
triển khai chăm sóc 7 ha chè và 90 ha cà phê trồng mới, sản lượng
chè búp tươi ước đạt 68 tấn, cà phê nhân 949 tấn.
1.1.3- Chăn nuôi: Tốc độ tăng đàn gia súc, gia cầm khá nhanh, ổn
định.


Theo số liệu điều tra ngày 01/8/2007, đàn gia súc có khoảng
369.701 con, trong đó có 105.199 con trâu, tăng 3,93% so với cùng
kỳ năm trước; 32.198 con bò, tăng 7,65% so với cùng kỳ năm trước,
232.304 con lợn, tăng 5,24% so với cùng kỳ năm trước.


Cuối tháng 7 và đầu tháng 8 trên địa bàn huyện Điện Biên và thành
phố Điện Biên Phủ xuất hiện dịch cúm gia cầm, song đã được kiểm
soát, dập tắt kịp thời. Tổng số gia cầm bị tiêu huỷ 29.340 con, trong
đó gà 1.842 con, vịt 25.957 con, ngan 1.541 con.


Tuy nhiên tốc độ phát triển đàn gia cầm của tỉnh vẫn đạt khá, ước
đạt trên 1,4 triệu con, tăng trên 26% so với năm 2006.
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 1.681 ha, tăng 2,8% so với năm
2006. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 926 tấn, tăng 6,8% so với năm
2006.


1.1.4- Lâm nghiệp: Thực hiện khoanh nuôi tái sinh 124.786 ha rừng,
đạt 99,9%, bảo vệ 8.252 ha đạt 208,3% kế hoạch, trồng rừng mới
được 897,2 ha (Trong đó rừng phòng hộ 309 và rừng sản xuất 588,2
ha) bằng 35,8% kế hoạch. Tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 44% [2], tăng
2% so với năm 2006.




1.2. Về Sản xuất công nghiệp:


Sản xuất công nghiệp ổn định và có bước tăng trưởng so với năm
trước. Dự ước giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2007
đạt 350,6 tỷ đồng (giá so sánh 1994), tăng 12,51% so với năm 2006.
Trong đó: Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 15,9%; khu vực
doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 7,72%, khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 29,5%, khu vực cá thể tăng 15,76%). Sản lượng một
số sản phẩm có mức tăng trưởng khá (trên 20%) là: thức ăn gia súc,
bột giấy, trang in, xi măng, cọc bê tông, tấm lợp, nước máy…
1.3. Hoạt động Thương mại - Dịch vụ:


- Dịch vụ thương mại: Dự ước tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ
thương mại đạt 1.440 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2006. Các mặt
hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân được cung
ứng đầy đủ.


- Du lịch: Tổng số du khách đến Điện Biên năm 2007 ước đạt 180
ngàn lượt khách, tăng 16,12% so năm trước, trong đó khách quốc tế
ước đạt 22 ngàn lượt, tăng 37,5 % so với năm trước; đặc biệt là sau
khi khai trương cửa khẩu quốc tế Tây Trang đã có một số đoàn
khách từ Thái Lan sang Điện Biên thăm quan, du lịch. Doanh thu xã
hội từ hoạt động du lịch ước đạt 72 tỷ đồng, tăng 20% so với năm
2006.


- Hoạt động xuất - nhập khẩu: Tháng 5/2007 chính quyền 2 tỉnh
Điện Biên và Phoong Sa Ly đã chính thức công bố khai trương cặp
cửa khẩu quốc tế Tây Trang - Xốp Hùn, là điều kiện thuận lợi để đẩy
mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh của tỉnh. Dự ước
kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 2 triệu 500 ngàn USD. Trong đó
xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của địa phương ước đạt 1,87 triệu
USD; nhập khẩu đạt 1,7 triệu USD, tăng 41% so với năm 2006.
- Dịch vụ vận tải: Do việc nâng cấp cải tạo các tuyến quốc lộ 6, 279 và
12 diễn ra trong khi không có đường tránh, giá xăng dầu tăng cao
làm phát sinh chi phí đã ảnh hưởng khá nhiều đến hoạt động vận tải
đường bộ. Dự ước khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 135 triệu
398 ngàn tấn.km, tăng 0,96%; hành khách luân chuyển đạt 120 triệu
098 ngàn người.km, tăng 2,86% so với năm 2006.


- Tài chính - Tiền tệ:


+ Về thu ngân sách: Tổng thu ngân sách địa phương dự ước đạt
1.939,9 tỷ đồng, tăng 27,4% so với năm 2006. Trong đó thu ngân
sách trên địa bàn ước đạt 154,2 tỷ đồng. Thu trợ cấp ngân sách
Trung ương ước đạt 1.471 tỷ đồng.
+ Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 1.749 tỷ đồng, trong đó chi
đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước
đạt 697,5 tỷ đồng, chi thường xuyên 991 tỷ đồng.


+ Hoạt động Ngân hàng, kho bạc đã đáp ứng nhu cầu tiền mặt, tiền
gửi, cho vay phục vụ nhu cầu của các thành phần kinh tế, phát triển
các loại hình dịch vụ tiền tệ; các Ngân hàng giữ mức nợ xấu ổn định
ở mức an toàn; hệ thống kho bạc có nhiều cố gắng để thực hiện tốt
công tác giám sát chi và kiểm soát thanh toán.
1.4. Phát triển các thành phần kinh tế:
Trong 11 tháng đầu năm 2007 có thêm 80 doanh nghiệp được cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 535 tỷ
đồng; nâng tổng số các doanh nghiệp toàn tỉnh lên 363 doanh nghiệp
với tổng số vốn đăng ký 1.950 tỷ đồng hoạt động ở hầu hết các
ngành và lĩnh vực kinh tế.


Đã hoàn thành việc sắp xếp doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1, đã
bàn giao 13 doanh nghiệp có vốn nhà nước cho Tổng công ty đầu tư
và kinh doanh vốn nhà nước quản lý. Hoàn chỉnh đề án sắp xếp đổi
mới 13 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước do tỉnh quản lý giai đoạn
2007-2010 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.


Kinh tế tập thể được củng cố và phát triển. Năm 2007 có 12 hợp tác
xã được thành lập, đưa tổng số hợp tác xã trên địa bàn toàn tỉnh lên
79 hợp tác xã với số vốn đăng ký là 50,5 tỷ đồng, bao gồm 35 HTX
nông lâm thủy sản, 32 HTX công nghiệp - xây dựng và 12 HTX khác.
Ngoài ra còn có 129 tổ hợp tác, trong đó 56% tổ hợp tác hoạt động
trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp.


2. Về tình hình thực hiện đầu tư phát triển


Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2007 ước huy
động đạt 2.002 tỷ đồng, tăng 7,6% so với dự kiến trong kế hoạch đầu
năm. Gồm có nguồn vốn ngân sách và có nguồn gốc từ ngân sách
chiếm khoảng 75%, vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế chiếm
25%.
Trong đó:


+ Vốn do địa phương quản lý: 1.340 tỷ đồng
+ Vốn các Bộ ngành trung ương đầu tư: 475 tỷ đồng


Tuy các nguồn đầu tư phát triển huy động từ các thành phần kinh tế
và vốn đầu tư của các Bộ ngành Trung ương trên địa bàn không đạt
kế hoạch, song nguồn vốn của ngân sách do địa phương quản lý đã
huy động thêm trong năm khá lớn, như nguồn trái phiếu cho các dự
án đầu tư cho các xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã được chấp
thuận 208 tỷ đồng, bổ sung tăng thu 25 tỷ đồng, tạm ứng 65 tỷ đồng,
bổ sung có mục tiêu 55 tỷ, huy động các nguồn ODA khác như dự án
làng trẻ SOS, dự án Tỉnh Bạn Hữu trẻ em, vốn JBIC dư của chương
trình IV với tổng mức đầu tư cho các dự án này trên 100 tỷ đồng
(thực hiện trong giai đoạn 2007 – 2009)… đã góp phần quan trọng
đảm bảo nguồn lực đầu tư theo kế hoạch, phục vụ mục tiêu tăng
trưởng chuyển dịch cơ cấu và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng trên
địa bàn trong năm 2007.
Tổng số vốn thực hiện và giải ngân ước đạt 1.816 tỷ đồng, tăng 40%
so với năm 2006 và tương đương 66% GDP của Tỉnh.


Kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội: Đến hết
năm 2007 đã có 100/106 xã, phường có đường ô tô đến trung tâm,
trong đó 70/106 xã đi lại được 2 mùa; 100% xã, phường có điện
thoại và điểm bưu điện văn hoá xã ; 81/106 xã, phường có điện lưới
quốc gia đến trung tâm xã, có 72% dân cư thành thị được sử dụng
nước sạch và 61% dân cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt.


3. Các mặt Văn hóa- xã hội:


3.1. Về giáo dục: Năm học 2007-2008 toàn tỉnh có 372 trường với
6.220 lớp (trong đó có 400 lớp phổ cập) và 136.384 học sinh, so với
cùng kỳ năm học trước tăng 49 trường và tăng 4.699 học sinh.


- Công tác phổ cập và xoá mù chữ:


Trong năm đã công nhận thêm 29 xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học
đúng tuổi, nâng tổng số xã toàn tỉnh được công nhận lên 62 xã,
phường, tăng 16,9% kế hoạch; Đồng thời tập trung triển khai phổ
cập trung học cơ sở trên địa bàn các xã trong toàn tỉnh, đến cuối
năm công nhận thêm 16 xã đạt chuẩn, nâng tổng số xã, phường đạt
chuẩn lên 72 xã, đạt 100% KH;


- Công tác đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề: Năm 2007 đã cấp
bằng tốt nghiệp cho trên 1.470 sinh viên. Qui mô học sinh đầu năm
học 2007-2008 của 3 trường chuyện nghiệp là 3.645 học viên (chỉ
tính hệ chính qui), trong đó số học sinh, sinh viên tuyển mới đầu
năm là 1.462 học viên tăng 123 học viên so với năm học trước.


- Công tác đào tạo nghề: Với 3 cơ sở đào tạo nghề đã đào tạo được
4.424 học viên. Trong đó: Đào tạo hệ dài hạn (trung cấp: 424 h/v,
ngắn hạn (sơ cấp) 4.000 h/v. Trong đó đào tạo cho nông dân và
thanh niên dân tộc thiểu số là 1.400 học viên, chiếm 35%).


3.2. Về Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân :


- Công tác khám chữa bệnh được chú trọng với tổng số lần khám
bệnh tại các cơ sở y tế là 871.619 lần đạt 91% kế hoạch năm tăng
5,8% so với cùng kỳ năm trước, tổng số lượt bệnh nhân điều trị nội
trú là 43.472 bệnh nhân đạt 116% so với kế hoạch và tăng 5,6% so
với cùng kỳ năm trước. Bình quân ngày sử dụng giường bệnh đạt 31
ngày/tháng. Đến nay toàn tỉnh đã phát thẻ bảo hiểm y tế cho người
nghèo 328.496 thẻ, với tổng số kinh phí 26.279 triệu đồng; 91% trẻ
em < 6 tuổi được cấp thẻ khám chữa bệnh.
- Các mục tiêu chương trình y tế quốc gia được đẩy mạnh Các hoạt
động phòng chống HIV/AIDS được triển khai tương đối tốt, công tác
quản lý và giám sát HIV/AIDS được tiến hành thường xuyên.


3.3. Công tác Dân số - Gia đình & Trẻ em được các cấp, các ngành
quan tâm chỉ đạo. Đã tổ chức chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản
kế hoạch hóa gia đình ở 87 xã. Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các
biện pháp tránh thai 68% đạt; Giảm tỷ lệ sinh 1%o. Tỷ lệ sinh con
thứ ba giảm 1% so với năm 2006. Tỷ lệ phát triển dân số 2,01%; Dân
số trung bình ước khoảng 468.282 người.


3.4. Văn hoá thông tin- TDTT:


Tổng số giờ phát thanh trong năm đạt 90,8 % kế hoạch và tăng 2,3%
so với cùng kỳ năm trước. Tổng số giờ phát sóng truyền hình toàn
tỉnh đạt 118,4 % kế hoạch, tăng 20,4% so với năm trước.


3.5. Lao động, thương binh và xã hội:


- Chương trình giải quyết việc làm của tỉnh đã được triển khai phối
hợp tốt với các chương trình khác, đã ổn định việc làm thường
xuyên cho 256.474 lao động, giải quyết việc làm mới cho 7.000 lao
động. Tổ chức xuất khẩu lao động cho 200 người đi Malaysia và Hàn
Quốc.
- Trong năm đã có 3.263 hộ thoát nghèo (4,86%). Tỷ lệ đói nghèo
của tỉnh đã giảm từ 38,77% năm 2006, xuống còn 33,91% năm
2007.


- Công tác cai nghiện: Trong năm đã và đang cai nghiện tại cộng đồng
và Trung tâm cai nghiện cho 1.912 người, triển khai tổng điều tra
người nghiện ma túy, kết quả điều tra đến 31/7/2007 toàn tỉnh có
4.887 người nghiện ma túy, là cơ sở để lập kế hoạch cai nghiện cho
các năm tiếp theo.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản