Khảo sát lớp biểu mô sắc tố ở bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch bằng chụp cắt lớp cố kết quang học SD - OCT

Chia sẻ: Roong KLoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
4
lượt xem
0
download

Khảo sát lớp biểu mô sắc tố ở bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch bằng chụp cắt lớp cố kết quang học SD - OCT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung của bài viết trình bày về lớp biểu mô sắc tố ở bệnh nhân bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch bằng chụp cắt lớp cố kết quang học SD – OCT. SD - OCT giúp khảo sát những thay đổi của lớp biểu mô sắc tố ở bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch. Những tổn thương mà SD - OCT phát hiện ra ở lớp tế bào này có thể giúp hiểu thêm về sinh bệnh học của bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khảo sát lớp biểu mô sắc tố ở bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch bằng chụp cắt lớp cố kết quang học SD - OCT

Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> <br /> KHẢO SÁT LỚP BIỂU MÔ SẮC TỐ Ở BỆNH HẮC VÕNG MẠC<br /> TRUNG TÂM THANH DỊCH<br /> BẰNG CHỤP CẮT LỚP CỐ KẾT QUANG HỌC SD-OCT<br /> Võ Thị Hoàng Lan*, Vũ Hải Phượng*<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Khảo sát lớp biểu mô sắc tố ở bệnh nhân bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch bằng chụp cắt<br /> lớp cố kết quang học SD – OCT.<br /> Phương pháp: Tiến cứu cắt ngang, mô tả có phân tích. Nghiên cứu tiến hành trên 88 mắt của 83 bệnh nhân<br /> bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch đến khám tại bệnh viện Mắt TP. Hồ Chí Minh từ 05/1012 – 02/2013.<br /> Tất cả bệnh nhân được tiến hành chụp cắt lớp quang học võng mạc bằng máy SD-OCT.<br /> Kết quả: Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 40,7 ± 7,616. Trong 88 mắt của mẫu bất thường biểu mô<br /> sắc tố chiếm tỷ lệ cao nhất 45,5%. Trong 73 mắt có thay đổi biểu mô sắc tố, bất thường biểu mô sắc tố chiếm tỷ lệ<br /> 54,8%, bong biểu mô sắc tố đơn ổ 34,2%, bong đa ổ là 11%. Vị trí tổn thương biểu mô sắc tố trên hình chụp SDOCT gặp nhiều là vùng hoàng điểm với tỷ lệ 56,2% Không có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa vị trí và hình<br /> thái tổn thương biểu mô sắc tố trên hình ảnh SD-OCT và sự suy giảm thị lực của bệnh nhân.<br /> Kết luận: SD-OCT giúp khảo sát những thay đổi của lớp biểu mô sắc tố ở bệnh hắc võng mạc trung tâm<br /> thanh dịch. Những tổn thương mà SD-OCT phát hiện ra ở lớp tế bào này có thể giúp hiểu thêm về sinh bệnh học<br /> của bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch.<br /> Từ khoá: bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch, SD-OCT.<br /> <br /> ABSTRACT<br /> ALTERATIONS OF RETINAL PIGMENT EPITHELIUM IN CENTRAL SEROUS<br /> CHORIORETINOPATHY<br /> Vo Thi Hoang Lan, Vu Hai Phuong<br /> * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 - Supplement of No 1 - 2014: 86 - 90<br /> Purpose: To examine with Spectral Domain Optical Coherence Tomography (SD-OCT) the alterations of<br /> retinal pigment epithelium (RPE) in central serous chorioretinopathy (CSC).<br /> Methode: this was a observational case study of 88 consecutive eyes of 83 patients with various phases of<br /> CSC. All patients have been scanned by Spectral Domain Optical Coherence Tomography.<br /> Results: The mean age of the patients was 40.7 ± 7.616. SD-OCT showed RPE abnormalities in 40 eyes<br /> (45.5%), RPE detachment (PED) in 33 eyes (37.5%). In the group of 73 eyes with pigment epithelial changes,<br /> SD-OCT showed RPE irregularity in 40 eyes (54.8%), single PED in 25 eyes (34.2%), multiple PED in 8 eyes<br /> (11%). The location of the foiveal RPE abnormality is 56.2%. There was no statistically significant association<br /> between the type of PED or RPE irregularity and the visual acuity.<br /> Conclusion: FD-OCT enable us to detect the alterations of retinal pigment epithelium in eyes with central<br /> serous chorioretinopathy and their role in the pathophysiology of CSC.<br /> Keywords: central serous chorioretinopathy, SD-OCT.<br /> <br /> * BV Mắt TP.HCM<br /> Tác giả liên lạc: BS Vũ Hải Phượng ĐT: 0913920958<br /> <br /> 86<br /> <br /> Email: vuhaiphuong2003@yahoo.com<br /> <br /> Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng – Răng Hàm Mặt<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch là<br /> một trong mười bệnh thường gặp hàng đầu của<br /> những tổn thương nguyên phát ở võng mạc cực<br /> sau. Bệnh gây tổn hại thị giác từ nhẹ đến nặng.<br /> Bệnh biểu hiện bằng bong thanh dịch lớp võng<br /> mạc thần kinh cảm thụ ánh sáng, do sự gia tăng<br /> tính thấm của dịch từ mao mạch hắc mạc đến<br /> màng dưới võng mạc xuyên qua hàng rào biểu<br /> mô sắc tố, làm thay đổi cấu trúc - hình thái của<br /> võng mạc trung tâm cũng như cấu trúc - hình<br /> thái của biểu mô sắc tố.<br /> Trong những năm gần đây chụp cắt lớp cố<br /> kết quang học (OCT) được sử dụng ngày càng<br /> nhiều để đánh giá những biến đổi ở võng mạc<br /> cũng như biểu mô sắc tố trong những giai<br /> đoạn cấp và mạn tính của bệnh hắc võng mạc<br /> trung tâm thanh dịch do những ưu điểm so<br /> với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh<br /> khác như thời gian thực hiện nhanh chóng,<br /> không khó chịu cho bệnh nhân. Ở Việt Nam<br /> đã có các công trình nghiên cứu về bệnh hắc<br /> võng mạc trung tâm thanh dịch, về chụp cắt<br /> lớp cố kết quang học. Song việc tìm hiểu<br /> những thay đổi về cấu trúc và chức năng của<br /> biểu mô sắc tố trong bệnh hắc võng mạc trung<br /> tâm thanh dịch trên hình ảnh của chụp cắt lớp<br /> quang học vẫn chưa được thực hiện.<br /> <br /> ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU<br /> Dân số mục tiêu<br /> Bệnh nhân bệnh hắc võng mạc trung tâm<br /> thanh dịch trên lâm sàng. Dân số chọn mẫu<br /> nghiên cứu: tất cả bệnh nhn đến khám tại bệnh<br /> viện Mắt và được chẩn đoán là bệnh hắc võng<br /> mạc trung tâm thanh dịch trên lâm sàng từ<br /> 05/1012 – 02/2013- thỏa mãn các điều kiện sau:<br /> đáy mắt soi được các thành phần của võng mạc,<br /> có khả năng hợp tác để đo thị lực, khai thác bệnh<br /> sử, chụp cắt lớp quang học SD-OCT, bệnh nhân<br /> đồng ý tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân bị loại<br /> khỏi mẫu nghiên cứu khi: có các bệnh hay có<br /> nguy cơ gây tổn thương võng mạc phối hợp như<br /> <br /> Mắt<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> đái tháo đường, cao huyết áp,… có các bệnh lý<br /> phối hợp của các môi trường trong suốt không<br /> soi được đáy mắt như: sẹo giác mạc, đục thể<br /> thủy tinh, vẫn đục dịch kính, viêm màng bồ<br /> đào,…<br /> <br /> Phương pháp nghiên cứu<br /> Tiến cứu cắt ngang, mô tả có phân tích.<br /> <br /> Qui trình tiến hành<br /> Bệnh nhân vào viện sau khi khai thác các<br /> triệu chứng chủ quan khiến bệnh nhân đi khám<br /> bệnh như giảm thị lực, ám điểm, biến dạng<br /> hình,… khai thác tiền sử và quá trình bệnh lý.<br /> Tiến hành đo thị lực bằng bảng thị lực<br /> Snellen, trường hợp thị lực nhỏ hơn 10/10 tiến<br /> hành thử thị lực bằng hộp kính và kính lỗ. Khám<br /> mắt toàn diện bằng sinh hiển vi để phát hiện<br /> bệnh lý khác tại mắt nếu có. Nhỏ dãn đồng tử<br /> bên mắt bệnh bằng dung dịch Mydriacyl 0,1%.<br /> Soi đáy mắt bằng kính sinh hiển vi kết hợp với<br /> kính Volk tìm tình trạng bong thanh dịch vùng<br /> hoàng điểm. Bệnh nhân được chẩn đoán lâm<br /> sàng bệnh HVMTTTD. Cho bệnh nhân đi chụp<br /> SD-OCT.<br /> Mỗi bệnh nhân có một bảng thu thập số liệu.<br /> Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS<br /> for Window phiên bản 11.5.<br /> <br /> KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN<br /> Nghiên cứu 88 mắt của 83 bệnh nhân bệnh<br /> hắc võng mạc trung tâm thanh dịch đến khám<br /> tại bệnh viện Mắt TP. Hồ Chí Minh từ 05/1012 –<br /> 02/2013- trong đó nam:nữ là 5,3:1. Theo các<br /> nghiên cứu khác, tác giả Võ Quang Minh năm<br /> 2000 và 2007(9,10) tỷ lệ này là 5:1. Phạm Minh<br /> Khoa(2010)(8) là 4,6:1 và tác giả Nguyễn Thị Thu<br /> Thủy (2012)(7) là 5:1. Yasuhiko Hirami (2007)(11) tỷ<br /> lệ này là 9:1, Nair (2011)(6) là 4:1 và Hyung Chan<br /> Kim (2012)(3) là 3:1.Điều này có thể do đặc điểm<br /> giới tính có liên quan với tính chất công việc<br /> (nam giới chịu nhiều áp lực trong cuộc sống,làm<br /> các công việc năng nhọc, thức khuya,…), hay các<br /> nguy cơ khác thường gặp ở nam giới hơn như<br /> hút thuốc, uống rượu bia dẫn đến sự chênh lệch<br /> <br /> 87<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> <br /> về giới tính trong bệnh lý này.<br /> <br /> Nguyễn Thị Thu Thủy (2012)(7). Thị lực giảm<br /> <br /> Tuổi trung bình 40,7 ± 7,616. Nhóm tuổi<br /> thường gặp nhất là 36 – 40 tuổi chiếm tỷ lệ<br /> 30,3%. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu<br /> trong và ngoài nước: nghiên cứu của tác giả<br /> Phạm Minh Khoa (2011)(8) và Nguyễn Thị Thu<br /> Thủy (2012)(7). Đây là lứa tuổi lao động chính<br /> trong xã hội, chịu trách nhiệm kinh tế trong<br /> phần lớn gia đình Việt Nam, áp lực công việc và<br /> tài chính ngày càng lớn, đặc biệt trong tình trạng<br /> kinh tế khó khăn như hiện nay.<br /> Bệnh phổ biến ở nhóm đối tượng lao động<br /> chân tay hơn nhóm đối tượng lao động trí óc.<br /> Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả<br /> Võ Quang Minh (2007)(10) và Nguyễn Thị Thu<br /> Thủy (2012)(7).<br /> <br /> trung bình (1/10 – 3/10) chiếm tỷ lệ cao nhất<br /> 39,6% và nhóm ĐNT < 4m chiếm tỷ lệ thấp nhất<br /> 8,9%. Phạm Minh Khoa (2010)(8), các tỷ lệ này lần<br /> lượt là 40,5% và 14,3%. Võ Quang Minh (2000)(9),<br /> 70,65% mắt có thị lực từ 1/10 – 5/10, Trần Văn<br /> Tây(5) nhóm mắt giảm thị lực 1/10 – 5/10 chiếm tỷ<br /> lệ 56,76%.<br /> Đa số mắt đều có giảm thị lực (89,8%).<br /> Mức độ giảm thị lực tập trung nhiều ở nhóm<br /> giảm trung bình (thị lực 1/10 – 3/10). Trần Văn<br /> Tây (2006)(5) tỷ lệ giảm thị lực là 86,49%. Theo<br /> tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy (2012)(4) tỷ lệ<br /> giảm thị lực là 97%.<br /> <br /> Triệu chứng cơ năng<br /> <br /> Đa số mắt trong mẫu mắc bệnh lần đầu<br /> 78,4%. Số lần tái phát thấp nhất là 1 lần, cao nhất<br /> là 5 lần. Theo tác giả Kitzmann AS (2008)(4), tỷ lệ<br /> tái phát là 31%, trong đó thấp nhất là 1 lần và cao<br /> nhất là 4 lần. Theo tác giả Phạm Minh Khoa<br /> (2010)(8), Anna Elias (2011)(1) tỷ lệ tái phát lần lượt<br /> là 22,6% và 19,4%. Nguyễn Thị Thu Thủy<br /> (2012)(7), tỷ lệ này là 19,8%, trong đó thấp nhất là<br /> <br /> Biểu đồ 1: Thị lực của nhóm nghiên cứu.<br /> Am điểm gặp ở 53,4% thấp hơn kết quả<br /> <br /> 1 lần tái phát, cao nhất là 3 lần.<br /> Thời gian mắc bệnh ≤ 3 tháng 90,9%. Thời<br /> gian trung bình từ lúc mắc bệnh đến khi tham<br /> gia nghiên cứu là 23 ± 23,2 ngày. Đến khám sớm<br /> nhất là 3 ngày và trễ nhất là 105 ngày. Theo tác<br /> giả Fujimoto H. (2008)(2) với thời gian trung bình<br /> mắc bệnh là 16 ngày, đến khám sớm nhất là 1<br /> ngày, muộn nhất là 86 ngày.<br /> <br /> Tình trạng thị lực của nhóm nghiên cứu:<br /> Bảng 1: Thị lực<br /> Đặc điểm<br /> Tần số (N) Tỷ lệ (%) P<br /> thị lực trung bình (LogMAR)<br /> 0,523 ± 0,425<br /> Thị lực cao<br /> 16<br /> 18,2<br /> 0,00<br /> Giảm thị lực nhẹ<br /> 31<br /> 35,2<br /> Giảm thị lực trung bình<br /> 35<br /> 39,8<br /> Mù<br /> 6<br /> 6,8<br /> Tổng<br /> 88<br /> 100<br /> <br /> nghin cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy(7)<br /> là 76,2%. Biến dạng hình ít gặp 22,7% thấp hơn<br /> Nguyễn Thị Thu Thủy(7) là 41,6%. Tỷ lệ mắt có<br /> triệu chứng rối loạn sắc giác là 18,2%, thấp<br /> hơn kết quả của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy<br /> (2012)(7) là 44,6%. Tuy nhiên, đây là các triệu<br /> chứng chủ quan nên phụ thuộc nhiều vào<br /> bệnh nhân.<br /> Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bong<br /> thanh dịch võng mạc là 69,3%, đây là tổn thương<br /> thường gặp trên đáy mắt, xuất tiết fibrin đáy mắt<br /> là 12,5%, tỷ lệ bong thanh dịch võng mạc kết hợp<br /> xuất tiết fibrin là 18,2%. Có sự chênh lệch với các<br /> tác giả khác, có thể do sự phân nhóm nghiên cứu<br /> và thời gian đến khám khác nhau.<br /> <br /> (p: phép kiểm Chi – bình phương)<br /> <br /> 88<br /> <br /> Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng – Răng Hàm Mặt<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> Các hình thái thay đổi biểu mô sắc tố<br /> (BMST) trên SD-OCT:<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Trong đó 61% là bong biểu mô sắc tố, 35% có bất<br /> thường biểu mô sắc tố.<br /> <br /> Bảng 2: Các hình thái thay đổi biểu mô sắc tố<br /> (BMST) trên SD-OCT<br /> Đặc điểm<br /> Tần số (N) Tỷ lệ %<br /> P<br /> Không có tổn thương<br /> 15<br /> 17 p = 0,003<br /> Bất thường BMST<br /> 40<br /> 45,5<br /> Bong BMST<br /> 33<br /> 37,5<br /> Tổng<br /> 88<br /> 100<br /> <br /> Trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận có<br /> 83% mắt có những thay đổi hình thái BMST.<br /> Theo tác giả Yasuhiko Hirami (2007)(11) tỷ lệ mắt<br /> có thay đổi biểu mô sắc tố là 90%. Theo tác giả<br /> Fujimoto H. (2008)(2) tỷ lệ này là 96%. Theo tác<br /> giả Hyung Chan Kim (2012)(3) tỷ lệ tổn thương<br /> biểu mô sắc tố là 91,3%. Như vậy kết quả của<br /> chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả này. Nhìn<br /> chung các tỷ lệ này đều rất cao cho thấy sự thay<br /> đổi biểu mô sắc tố có vai trò quan trọng trong cơ<br /> chế sinh bệnh học của bệnh hắc võng mạc trung<br /> tâm thanh dịch.<br /> <br /> Hình 2: Hình ảnh bong BMST đơn ổ (dấu mũi tên) ở<br /> vùng bong thanh dịch của mắt HVMTTTD trong<br /> mẫu nghiên cứu.<br /> Trong nghiên cứu của chúng tôi, với 73 mắt<br /> có thay đổi biểu mô sắc tố, tổn thương ở vùng<br /> hoàng điểm chiếm tỷ lệ 56,2% và ngoài hoàng<br /> điểm là 43,8%. Theo tác giả Nair (2011)(6) có 35%<br /> bong biểu mô sắc tố ở vùng hoàng điểm.<br /> Kiểm định sự liên quan giữa vị trí,các hình<br /> thái thay đổi biểu mô sắc tố và các yếu tố dịch tể<br /> của bệnh nhân (giới tính, tuổi, nghề nghiệp)<br /> cũng như các đặc điểm chung về bệnh hắc võng<br /> mạc trung tâm thanh dịch (thời gian mắc bệnh,<br /> số lần tái phát) nhận thấy không có sự liên quan<br /> có ý nghĩa thống kê.<br /> <br /> Liên quan giữa tổn thương BMST trên SDOCT và thị lực:<br /> Bảng 3: Liên quan giữa tổn thương BMST trên SDOCT và thị lực<br /> Hình 1: Hình ảnh bất thường BMST (dấu mũi tên) ở<br /> vùng bong thanh dịch ở vùng hoàng điểm của mắt<br /> HVMTTTD trong mẫu nghiên cứu.<br /> Xét riêng 73 mắt có thay đổi biểu mô sắc tố,<br /> có 40 mắt (54,8%) bất thường biểu mô sắc tố,<br /> bong đơn ổ 25 mắt (34,2%), bong đa ổ với các ổ<br /> <br /> Đặc điểm<br /> Không tổn<br /> Tổn thương p Hệ số<br /> BMST<br /> Phi<br /> Thị lực thương BMST N<br /> (%)<br /> N (%)<br /> Thị lực cao<br /> 9 (60)<br /> 38 (52,1) P=0,5 0,06<br /> 74<br /> Thị lực thấp<br /> 6 (40)<br /> 35 (47,9)<br /> Tổng<br /> 15 (100)<br /> 73 (100)<br /> <br /> Không nhận thấy sự liên quan giữa thị lực và<br /> các thay đổi biểu mô sắc tố trên SD-OCT.<br /> <br /> liên tục là 5,5%. Theo tác giả Hisataka Fujimoto<br /> <br /> Phân lọc nhóm mắt có tổn thương biểu mô<br /> sắc tố (73 mắt) chúng tôi cũng không tìm thấy sự<br /> liên quan này.<br /> <br /> (2008)(2) 96% mắt có sự thay đổi biểu mô sắc tố.<br /> <br /> Với 33 mắt có tổn thương bong biểu mô sắc<br /> <br /> bong liên tục 5,5%, bong đa ổ với ổ bong không<br /> <br /> Mắt<br /> <br /> 89<br /> <br /> Nghiên cứu Y học<br /> <br /> Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014<br /> <br /> tố trên hình ảnh SD-OCT, chúng tôi dùng hệ số<br /> tương quan Pearson nhằm tìm hiểu sự liên quan<br /> với thị lực. Kết quả cho thấy dù bong đơn hay đa<br /> ổ cũng không ảnh hưởng đến sự suy giảm thị<br /> lực của bệnh nhân vào thời điểm khảo sát.<br /> Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên<br /> cứu trước đây. Theo tác giả Nair (2011)(6), hình<br /> thái bong biểu mô sắc tố, sự bất thường biểu mô<br /> sắc tố và sự suy giảm thị lực của bệnh nhân hắc<br /> võng mạc trung tâm thanh dịch không có liên<br /> quan có ý nghĩa thống kê.<br /> Không có sự liên quan có ý nghĩa thống kê<br /> giữa sự suy giảm thị lực của bệnh nhân và vị trí<br /> tổn thương biểu mô sắc tố, p >0,05. Sau khi tách<br /> nhóm tổn thương biểu mô sắc tố vùng hoàng<br /> điểm để kiểm định thì sự tương quan này cũng<br /> không có, hoặc rất yếu. Theo tác giả Phạm Minh<br /> Khoa (2010)(8) độ dày võng mạc trung tâm tương<br /> quan thuận với thị lực.<br /> <br /> Thay đổi bất thường biểu mô sắc tố chiếm tỷ<br /> lệ cao nhất, 46,5%. Thấp nhất là bong biểu mô<br /> sắc tố ≥ 2 ổ, 9,1%. Tổn thương biểu mô sắc tố gặp<br /> nhiều ở vùng hoàng điểm, 56,2%. Không có sự<br /> liên quan giữa hình thái tổn thương biểu mô sắc<br /> tố trên SD-OCT, vị trí tổn thương biểu mô sắc tố<br /> và tình trạng thị lực của bệnh nhân. Cần có thêm<br /> các nghiên cứu khác nhằm đánh giá mức độ ảnh<br /> hưởng của tổn thương biểu mô sắc tố lên thời<br /> gian hồi phục thị lực, khả năng cải thiện thị lực<br /> sau điều trị.<br /> <br /> 4.<br /> <br /> 5.<br /> <br /> 6.<br /> <br /> 7.<br /> <br /> 8.<br /> <br /> 10.<br /> <br /> 11.<br /> <br /> recurrence”. Jp – journals: 10020 – 1017.<br /> Fujimoto H, Fumigomi, Wakabayashi T, et al. (2008).<br /> “Morphologic<br /> changes<br /> in<br /> acute<br /> central<br /> serous<br /> chorioretinopathy evaluated by Fourier-Domain optical<br /> coherence tomography”. Opthalmology; 115: 1494 – 1500.<br /> Kim HC, Won BC, Hyewon C (2012). “Morphologic changes<br /> in acute central serous chorioretinopathy using spectral<br /> domain optical coherence tomography”. Korean J<br /> Opthalmology: 347 – 354.<br /> Kitzmann AS (2008). “The Incidence Of Central Serous<br /> Chorioretinopathy in Olmsted Country, Minnesota, 1980 –<br /> 2002”. Ophthalmology; 115: 169 – 173.<br /> Lê Minh Tuấn, Trần Văn Tây (2006). “Ứng dụng chụp OCT<br /> trong chẩn đoán bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch”. Y<br /> học TP HCM; 10(1): 191 – 193.<br /> Nair RU, Manoi S, Nair KGR (2011). “The relevance of<br /> spectral domain OCT in central serous chorioratinopathy”.<br /> 69th AIOC proceedings, Ahmedabad.<br /> Nguyễn Thị Thu Thủy (2012). “Khảo sát mối tương quan giữa<br /> chụp mạch huỳnh quang và chụp cắt lớp quang học trong<br /> bệnh lý hắc võng mạc trung tâm thanh dịch cấp”. Luận văn<br /> thạc sĩ y học, ngành Nhãn Khoa, trường ĐH Y Dược TP<br /> HCM.<br /> Phạm Minh Khoa (2010). “Khảo sát mối tương quan giữa bề<br /> dày võng mạc trung tâm trên OCT với thị lực trong bệnh hắc<br /> võng mạc trung tâm thanh dịch”. Y học Tp. Hồ Chí Minh;<br /> 15(1):69 – 73.<br /> Võ Quang Minh (2000).”Nghiên cứu ứng dụng chụp mạch<br /> huỳnh quang võng mạc để chẩn đoán xác định bệnh hắc võng<br /> mạc trung tâm thanh dịch”. Luận văn thạc sĩ y học, ngành<br /> Nhãn Khoa, trường ĐH Y Dược TP HCM.<br /> Võ Quang Minh (2007).”Đánh giá hiệu quả của laser quang<br /> đông trong điều trị bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh<br /> dịch”. Luận văn tiến sĩ, ngành Nhãn Khoa, trường ĐH Y Hà<br /> Nội.<br /> Yasuhiko H, Akitaka T, Manabu S, Norimoto G, Hiroshi T,<br /> Atsushi O, Michiko M, Nagahisa Y (2007). “Alterations of<br /> retinal<br /> pigment<br /> epithelium<br /> in<br /> central<br /> serous<br /> chorioretinopathy”. Clin and Exp Ophthalmology; 35: 225 – 230.<br /> <br /> Ngày nhận bài báo: 14/11/2013<br /> Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/11/2013<br /> Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> <br /> 90<br /> <br /> 3.<br /> <br /> 9.<br /> <br /> KẾT LUẬN<br /> <br /> 1.<br /> <br /> 2.<br /> <br /> Elias A, Mahesh G et al. (2011). “A 10-year study of central<br /> serous chorioretinopathy: recurrence rate and factors affecting<br /> <br /> Chuyên Đề Mắt – Tai Mũi Họng – Răng Hàm Mặt<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản