Khi giới công ty chiếm quyền kiểm soát trường đại học

Chia sẻ: Kha Tu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
50
lượt xem
8
download

Khi giới công ty chiếm quyền kiểm soát trường đại học

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngày nay, bằng những thoả thuận ngầm khi tài trợ, nhiều công ty trên thế giới đã giành được một chỗ đứng mới trong các trường đại học. Điều này khiến nhiều người lo lắng rằng chức năng cơ bản của trường đại học trong xã hội đang lâm nguy. Duy nhất trong các định chế xã hội, sứ mệnh của trường đại học là nghiên cứu không giới hạn và việc truyền bá kiến thức công khai. Trường đại học phục vụ lợi ích rộng rãi của công chúng bằng cách trân trọng sự phân tích có cơ sở, sự...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khi giới công ty chiếm quyền kiểm soát trường đại học

  1. Khi giới công ty chiếm quyền kiểm soát trường đại học Ngày nay, bằng những thoả thuận ngầm khi tài trợ, nhiều công ty trên thế giới đã giành được một chỗ đứng mới trong các trường đại học. Điều này khiến nhiều người lo lắng rằng chức năng cơ bản của trường đại học trong xã hội đang lâm nguy. Duy nhất trong các định chế xã hội, sứ mệnh của trường đại học là nghiên cứu không giới hạn và việc truyền bá kiến thức công khai. Trường đại học phục vụ lợi ích rộng
  2. rãi của công chúng bằng cách trân trọng sự phân tích có cơ sở, sự tìm hiểu có phê phán và những tiêu chuẩn không khoan nhượng có tính chính trực về trí tuệ. Trong thời gian gần đây, việc các công ty thao túng trường đại học đã gây ra nhiều lo âu hơn cả. Thiếu kinh phí do bị cắt xén nguồn tại trợ của Nhà nước, các trường đại học ngày càng phải quay sang tìm kiếm sự giúp đỡ của khu vực tư nhân và thường phải xem xét những đề nghị tài trợ của các công ty, trước kia vốn bị coi như một điều đáng phê phán. Ngay chính quan niệm về tinh thần bác ái giờ cũng đã thay đổi. Đã qua rồi thời kỳ những sự biếu tặng tài chính cho các trường đại học được diễn ra vô tư không kèm theo điều kiện. Ngày nay, người ta luôn chờ đợi phải có một cái gì đền đáp lại. *) Xu hướng thứ nhất: quyền tự trị bị đe dọa Rất nhiều cuộc thảo luận đã tập trung vào những hợp đồng mang tính chất thuần tuý thương mại như việc trang hoàng các trường đại học bằng biểu tượng và bảng quảng cáo của các công ty, hay việc để cho các nhà tiếp thị sản phẩm như các công ty nước giải khát được độc quyền tại các khu ký túc xá. Tuy những thoả thuận như vậy gây lo lắng một cách chính đáng và sinh viên đã từng phản đối nhưng nguy cơ lớn hơn lại nằm ở những mối quan hệ đang đe doạ quyền tự trị của trường đại học và quyền tự do của giới học thuật. Chẳng hạn, những sự biếu tặng của các công ty cho các trường đại học thường được thực hiện một cách tuyệt đối bí mật, các chi tiết thoả thuận không được tiết lộ cho Hội đồng quản trị và không được loan báo rộng rãi cho cộng đồng đại học. Trường lớn nhất và được tài trợ nhiều nhất ở Canada, đại học Toronto chẳng hạn, đã ký những hợp đồng bí mật với Quỹ Joseph Rotman Foundation (15 triệu USD cho khoa nghiên cứu quản lý), với công ty Peter Munk thuộc tập đoàn Barrick Gold and Horsham (6,4 triệu USD cho trung tâm nghiên cứu quốc tế) và với
  3. Nortel (8 triệu USD cho các hoạt đông công nghệ thông tin). Những hợp đồng trên khiến cho các công ty tài trợ có được một ảnh hưởng chưa từng có từ trước tới này đối với việc chỉ đạo cả về mặt học thuật cũng như đối với các chương trình giảng dạy của trường đại học Toronto. *) Xu hướng thứ hai: các mối quan hệ bị thị trường hóa Hợp đồng của trường đại học Torronto với Quỹ Rotman ngay từ đầu đã yêu cầu các thành viên của khoa quản lý “phải tuyệt đối ủng hộ và cam kết tôn trọng những nguyên tắc và kế hoạch kinh doanh của Rotman”. Khoản quà tặng của Munk thì buộc trung tâm nghiên cứu quốc tế bảo đảm rằng dự án họ lựa chọn phải nằm trong những ưu tiên cao nhất của trường đại học thì nhà trường mới mong được phân bổ các khoản tài trợ khác, kể cả những nguồn cung cấp cho chính nội bộ nhà trường. Tại Mỹ, hồi đầu những năm 1990, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã gây tai tiếng lớn khi cho phép các công ty chỉ cần trả một khoản lệ phí từ 10.000 đến 50.000 USD là có thể được đặc quyền tiếp cận với các khoa của Viện cũng như các báo cáo nghiên cứu. Viện này còn quảng cáo rằng họ sẵn sàng để cho ngành công nghiệp sử dụng những kiến thức và nguồn lực của tất cả các khoa, bộ môn và phòng thí nghiệm của Viện. Xu thế trên diễn ra dần dần từng bước một, nhưng sự bất ổn ngày càng gia tăng về mối quan hệ quá mật thiết giữa các công ty với các nhà nghiên cứu của trường đại học. Nhiều trường hợp nổi cộm đã gây tranh luận sôi nổi. Tại Anh, chủ bút báo Y học Anh đã từ bỏ chức vị giáo sư đại học Nottingham sau khi quyết định nhận trên 5 triệu USD của công ty thuốc lá British American Tobacco để đến làm việc cho một trung tâm quốc tế thuộc công ty này. Tại Mỹ và Canada, trường hợp của tiến sĩ Nancy Olivieri và tiến sĩ David Kern được coi như sự minh hoạ đáng phẫn nộ về mối đe dọa
  4. của các công ty đối với quyền tự do và tính chính trực của các trường đại học. Trong thời gian làm tư vấn cho một công ty sản xuất sợi ni lông, Kern, chủ nhiệm khoa bệnh nghề nghiệp tại bệnh viện Memorial thuộc đại học Brown đã phát hiện một thứ bệnh phổi mới rất nghiêm trọng trong các nhân viên thuộc công ty. Bất chấp sự chỉ đạo của trường đại học và của công ty cũng như việc họ đưa ông ra toà, Kern đã cho công bố những điều ông phát hiện được. Chức vị của ông tại trường đại học liền bị tước bỏ. Cùng năm đó, các trung tâm kiểm soát bệnh tật Mỹ đã chính thức công nhận một căn bệnh mới, đó là bệnh phổi ở công nhân sản xuất sợi ni lông. Sự kiện ban quản trị đại học không đứng về phía khoa của họ trong những trường hợp kể trên báo hiệu một sự thay đổi sâu sắc đang diễn ra trong cộng đồng học viện. Các ban quản trị đại học, do công ty chi phối, ngày càng thích lựa chọn các nhà quản lý “chóp bu” trong số những người ủng hộ mô hình điều hành của công ty. Và các trường đại học ngày càng hoạt động theo những nền văn hoá hướng vào thị trường, trong đó giá trị xã hội được đánh giá theo khả năng ngắn hạn là có phù hợp với thị trường hay không, người ta có đủ tiền dành cho khoa tin học và quản trị kinh doanh chứ không dành cho bộ môn triết học, lịch sử, vật lý lý thuyết hay nghệ thuật. *) Những hy vọng mới Nguy cơ là ở chỗ các trường đại học có thể nhanh chóng vấp phải những giới hạn của chính cuộc chơi của họ. Chúng ta biết rằng tài trợ của nhà nước bị cắt giảm mạnh khiến các trường đại học dễ dàng bị các công ty dụ dỗ. Nhưng chưa có bằng chứng nào chỉ rõ rằng quà tặng của các công ty tư nhân có thể bắt đầu thay thế những khoản cắt xén trong tài trợ của nhà nước. Riêng tại Canada các trường đại học tính ra sẽ phải cần tới trên 2 tỷ USD mới khôi phục lại được mức tài trợ cách đây 10 năm.
  5. Bằng chứng về việc các công ty không hề lấp được khoản trống này là ở chỗ nhiều nước đã phải tăng đột ngột học phí khiến nhiều sinh viên không sao theo học nổi. Trong những năm gần đây, sinh viên và các khoa đã đấu tranh phản đối việc kinh doanh thương mại tại các ký túc xá. Tại Canada cách đây 2 năm, dư luận đã được báo động khi một nhóm chuyên viên công bố một kiến nghị cho rằng thương mại hoá phải trở thành nhiệm vụ thứ tư của trường đại học, đứng sau việc nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ cộng đồng. Để chống lại xu thế bổ nhiệm và đề bạt gắn chặt với việc tham gia các hoạt động thương mại, hiệp hội các giảng viên đại học Canada đã thảo một bức thư gửi Thủ tướng, trong đó có chữ ký của 1.500 giáo sư nổi tiếng được thu thập chỉ trong vòng ba ngày. Bức thư phản ảnh nỗi lo lắng trước tình hình quyền lợi của công ty đang chi phối chương trình nghiên cứu khoa học. Nếu không được quyền tự do và tự trị, các trường đại học không thể nào hoàn thành các nghĩa vụ công cộng. Giới giảng viên và sinh viên đại học không còn sự lựa chọn nào khác là phải bảo vệ quyền được thực hiện những sự phân tích có phê phán, công bố những điều khám phá được để công chúng có thể quyết định và khuyến khích sinh viên chất vấn mọi quan điểm truyền thống vẫn được mọi người chấp nhận. Tương lai của các trường đại học phụ thuộc vào những sáng kiến này.
Đồng bộ tài khoản