Khoa học và nghiên cứu khoa học

Chia sẻ: Nguyen My Trang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:40

1
410
lượt xem
138
download

Khoa học và nghiên cứu khoa học

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Động lực để xã hội tiến bộ không ngừng là tri thức và sự phát triển của nó. Sự hiểu biết thế giới và xã hội loài người ngày càng sâu sắc là do chính con người tạo ra.Kho tàng tri thức ấy là khoa học.Sự tạo ra ngày càng nhiều tri thức là do sự nghiên cứu khoa học,nó đã không ngừng nhân kho tàng tri thức của con người lên gấp bội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khoa học và nghiên cứu khoa học

  1. Khoa học và nghiên cứu khoa học
  2. Mục Lục MỞ ÐẦU ................................ ................................ ................................ .......................... 3 Chương 1: KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC........................................... 4 1. KHOA HỌC: ............................................................................................................... 5 1.3.1. Các dấu hiệu về hình thức của sự phát triển: ....................................................... 6 1.3.2. Các dấu hiệu về bản chất của sự phát triển:........................................................... 6 1.3.3. Nguyên nhân của sự phát triển: ................................ ................................ ............. 6 II. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: .................................................................................... 9 2 ) Sắp xếp dữ liệu: ................................ .......................................................................... 10 3) Xử lí dữ liệu: ................................ ................................ ................................ ............... 10 4 ) Khái quát hóa toàn bộ công trình, rút ra kết luận chung cho đề tài nghiên cứu: .......... 10 1) Có trình đ ộ chuyên môn: ................................ ................................ ............................. 10 2) Có phương pháp làm việc khoa học: ............................................................................ 11 3) Có các đức tính của một nhà khoa học chân chính: ...................................................... 11 III. CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: ................................................... 11 a ) Nghiên cứu SGK: ........................................................................................................ 12 b ) Nghiên cứu chất siêu dẫn: ........................................................................................... 12 Chương II: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC .......... 13 I. NHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG:...................................................................................... 14 1) Quan điểm hệ thống - cấu trúc: ................................ ................................ .................... 17 2) Quan điểm lịch sử - logic: ........................................................................................... 17 3 ) Quan điểm thực tiễn: ................................................................................................... 18 II. PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT: ................................................................................ 18 3) Chuẩn bị cho người đi quan sát: .................................................................................. 19 4) Tiến hành quan sát: ..................................................................................................... 20 5) Xử lí: .......................................................................................................................... 20 BÀI TẬP ................................ ................................ ................................ ........................ 21 III. PHƯƠNG PHÁP ÐIỀU TRA GIÁO DỤC: ........................................................... 22 3.1.1. Mục đích của phương pháp: ............................................................................. 22 3.1.2. Hai đặc điểm chính của phương pháp:................................................................... 22 3.1.3. Hai loại điều tra: .................................................................................................... 22 3.1.4. Các hình thức điều tra trong giáo dục: .................................................................... 23 BÀI TẬP ................................ ................................ ................................ ........................ 29 IV. PHƯƠNG PHÁP TỔNG KẾT KINH NGHIỆM: .................................................. 29 Phần 3: CÁC HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀYMỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ................................ ................................ ........................ 31 I. KHÁI QUÁT CÁC HÌNH THỨC NCKH: ............................................................... 31 II. TÓM TẮT KHOA HỌC (TTKH): .......................................................................... 32 III. TỔNG LUẬN KHOA HỌC ( LKH): ......................................................................... 33 IV. BÀI BÁO KHOA HỌC (BBKH): ................................ ................................ ........... 33 BÀI TẬP ......................................................................................................................... 36 V. BÁO CÁO KHOA HỌC (BCKH): ............................................................................. 36
  3. Chương 1 : KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KHOA HỌC I. 1. Khái niệm 2. Ý nghĩa của khái niệm 3. Quá trình phát triển của khái niệm 4. Động lực phát triển của khái niệm 5. Vai trò của sự kiện trong tư duy và lí luận NGHIÊN CỨU KHOA HỌC II. 1. Khái niệm 2. Những công việc chủ yếu của nghiên cứu khoa học 3. Những yêu cầu đối với người nghiên cứu khoa học CÁC LỈNH VỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC III. 1. Nghiên cứu cơ bản 2. Nghiên cứu ứng dụng 3. Nghiên cứu triển khai 4. Nghiên cứu dự báo MỞ ÐẦU Ðộng lực để xã hội tiến bộ không ngừng là tri thức và sự phát triển của nó. Sự hiểu biết thế giới và xã hội loài người ngày càng sâu sắc là do chính con người tạo ra. Kho tàng tri thức ấy là khoa học. Sự tạo ra ngày càng nhiều tri thức là do sự nghiên cứu khoa học, nó đ ã không ngừng nhân kho tàng tri thức của con ng ười lên gấp bội. Ngày nay số lượng ngư ời nắm vững tri thức và biết nhân nó lên hàng ngày đông đảo hơn bao giờ hết. Nếu nói rằng lực lượng những người làm khoa học, mà cụ thể là những ng ười làm công tác nghiên cứu khoa học (NCKH) hầu hết là có trình đ ộ đại học trở lên là không sai. Ở nước ta, số người này cũng không nhỏ. Chỉ nói từ sau giải phóng Miền Nam (1975), số ngư ời tốt nghiệp Ðại học mỗi năm có đến vài chục vạn người. Sự đóng góp của họ trong lĩnh vực phát triển khoa học công nghệ ng ày một gia tăng theo đ à cấp số. Tuy nhiên, không phải ai có trình độ đại học đều có thể NCKH đ ược. Ngoài trình độ chuyên môn, người làm công tác NCKH còn cần rất nhiều yếu tố khác, như: lòng đam mê khoa học, đam mê nghề nghiệp, sống chết vì nghề nghiệp, có khả năng tư duy đ ộc lập và đặc biệt là phải biết phương pháp NCKH. Thật vậy, một người có trình độ (thậm chí có thể trên Ðại học), có lòng nhiệt tình nhưng có thể không biết làm sao đ ể có một đề tài nghiên cứu, bắt đầu sự nghiên cứu từ đ âu, sản phẩm sẽ là cái gì, khi bắt tay vào nghiên cứu thì không biết làm cái gì trước, cái g ì sau, khi đ ã phát hiện ra cái mới (ví dụ như vậy) thì không biết trình bày nó như thế nào cho mọi người hiểu v.v... Kết quả là: tốn công, tốn sức, tốn thời gian, tốn tiền bạc mà nói hoài, viết hoài người ta vẫn không hiểu công việc và kết quả của mình. Nhiều năm trước, do nhiều lí do mà môn học PPNCKH không được đặt nặng ở trường Ðại học. Có trường dạy PPNCKH cho sinh viên, trường thì chỉ giới thiệu mang tính
  4. chất ngoại khóa, có trường không hề dạy cho sinh viên môn học này. Không ít ngư ời đ ã nghĩ rằng môn khoa học này chỉ dành riêng cho những người ra trường làm công tác nghiên cứu ở các cơ quan nghiên cứu. Khi vào vị trí công tác, họ sẽ quen dần, học hỏi dần và sẽ làm được. Thế nhưng, như trên đã nói, nhiều người đã nghiên cứu tốt nhưng rồi không biết trình bày thế nào cho mọi người hiểu. Phải qua một thời gian dài họ mới hiểu đ ược rằng NCKH không phải chỉ có sản phẩm. Không ít những bài viết, của những tác giả có bằng cấp hẳn hoi mà trong đó ta vẫn t ìm thấy nhiều thiếu sót về logic học hoặc những lỗi tối thiểu của việc thể hiện một công trình khoa học. Trong đào tạo, một nghiên cứu sinh, một sinh viên Cao học hoặc sinh viên Ðại học trước khi tốt nghiệp phải một luận án ho ặc luận văn. Không nói đến quá trình nghiên cứu, chỉ đề cập đến các bản luận văn ấy cũng thấy đ ược rất nhiều thiếu sót sơ đẳng của tác giả, như: không biết giới hạn đề tài, không biết đặt tên đ ề tài cho chính xác với nội dung, không biết trích dẫn, định ng hĩa sai, không biết sắp xếp tài liệu tham khảo, thiếu mở đầu, thiếu kết luận... Cái thiếu sót lớn nhất của đa số tác giả là bài viết lan man, không làm cho người đọc tập trung vào nội dung chính (cái mà mình muốn đem đến cho người đọc). Vì những lí do trên mà hiện nay có không ít tài liệu với nhan đề Phương pháp nghiên cứu khoa học. Tùy vào từng đối tượng, tùy vào mỗi ngành, nghề mà các tác giả đi vào những nội dung có độ nông sâu khác nhau. Qua thực tế giảng dạy cho một số khóa học Cao học và sinh viên Sư phạm, chúng tôi cũng xác định được đối tượng của mình cũng như những nhu cầu tối thiểu của họ trong lĩnh vực NCKH. Với thời lượng hạn hẹp cho phép đối với học trình này, chúng tôi lựa chọn những nội dung cơ bản nhất cho bài giảng của mình. Bài giảng sẽ hỗ trợ cho người học những công đoạn nghiên cứu khi đ ã có đề tài và đặc biệt là công đo ạn trình bày kết quả nghiên cứu của mình. Bài giảng PPNCKH này được chia làm 4 phần: Phần 1: Khoa học và nghiên cứu khoa học (3 tiết). Phần 2: Các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục (7 tiết). Phần 3: Các hình thức nghiên cứu khoa học (6 tiết). Phần 4: Logic học và nghiên cứu khoa học (4 tiết). Ðối với sinh viên, chương trình sẽ được nối tiếp theo 10 tiết học về Thư viện, phần này sẽ do Thư viện đảm trách. Ðối với các đối tượng khác (Cao học và NCS), bài giảng này sẽ được bố sung thêm nội dung, chủ yếu là trình bày luận văn phù hợp với đối tượng và chuyên môn từng ng ành, và luyện tập PPNC. Vì vậy họ có thể lấy bài giảng này làm tài liệu tham khảo chính đ ược. Chương 1: KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Từ khóa: - Khoa học
  5. - NCKH - Sự kiện - Sáng tạo - Lĩnh vực nghiên cứu khoa học Tóm tắt nội dung: Phần này sẽ giới thiệu tóm tắt các khái niệm cơ bản về khoa học và nghiên cứu khoa học để ngư ời học có cái nh ìn tổng quan về những công việc và yêu cầu đối với một ngư ời làm công tác nghiên cứu khoa học. Trong khái niệm về khoa học, ý nghĩa và quá trình phát triển của nó sẽ được đề cập đến để đoạn sau nói đến công việc của nhà nghiên cứu, trong đó chú trọng đánh giá mối quan hệ giữa sự kiện và tư duy cũng như những điều kiện để có tư duy sáng tạo. Yêu cầu sinh viên: - Nắm một cách khái quát công việc và yêu cầu đối với người làm công tác NCKH. - Xác định được tầm quan trọng của sự kiện trong mối quan hệ giữa chúng với tư duy lí luận, của những điều kiện cho tư duy sáng tạo. 1. KHOA HỌC: TOP 1. Khái niệm: Khoa học (KH) là hệ thống những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về những qui luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy, hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Trong định nghĩa này cần chú ý đến các ý sau: - Hệ thống tri thức về tự nhiên, kĩ thuật, công nghệ, xã hội, tư duy. - Hệ thống tri thức về qui luật khách quan. - Hình thành qua lịch sử, phát triển từ thực tiễn đó là các logic khoa học chuyên ngành, ngay cả khoa học chính trị, quân sự. Nếu hiểu KH là một lĩnh vực (không chỉ là tri thức) hoạt động nghiên cứu nhằm mục đ ích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy thì nó bao gồm: Nhà KH, cơ quan, trang thiết bị KH, các phương pháp nghiên cứu v.v....[9]. TOP 2. Ý nghĩa của KH:
  6. Người ta vẫn nói rằng KH là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, làm cho con ngư ời ngày càng văn minh hơn, nhân ái hơn, sống tốt hơn và vững tin hơn vào chính bản thân mình trong cuộc sống. Cụ thể những nội dung đó là: - Con người hiểu được tự nhiên, nắm được các qui luật biến đổi, chuyển hóa của vật chất, chinh phục tự nhiên theo qui luật của nó. - Con người nắm đ ược các qui luật vận động của chính xã hội mình đang sống và vận dụng chúng để thúc đẩy xã hội ấy phát triển nhanh chóng hơn. - Con người ngày càng có ý thức, càng thận trọng hơn trong việc nhận thức KH: không vội vã, không ngộ nhận, không chủ quan, tiến vững chắc đến chân lí của tự nhiên. - Khoa học chân chính chống lại những quan điểm sai trái (mê tín d ị đoan, phân biệt chủng tộc...). - Khoa học làm giảm nhẹ lao động của con người, cải thiện chất lượng cuộc sống. Vấn đề 1-1: Tìm ví dụ cụ thể chứng minh cho các ý nghĩa đ ã đ ưa ra ở trên. TOP 3. Quá trình phát triển của KH: 1 .3.1. Các dấu hiệu về hình thức của sự phát triển: - Từ không biết đến biết. - Từ đ ơn giản đến phức tạp. - Từ hình thức đến bản chất. - Từ rời rạc đến hệ thống. - Từ ít đến nhiều. - Từ chậm đến nhanh. 1 .3.2. Các dấu hiệu về bản chất của sự phát triển: - Sự đấu tranh (con người với thiên nhiên, con người với con ngư ời). - Sự riêng biệt và thống nhất (sự phân chia và sự nối liền các ngành khoa học). - Sự tăng tốc. 1 .3.3. Nguyên nhân của sự phát triển: - Nhu cầu của con người (ghi chép, truyền đạt, lao động).
  7. - Nhu cầu của chính khoa học. - Phát hiện sự kiện (do nghiên cứu, do giao lưu, viễn chinh). - Sự xuất hiện của ngôn ngữ. TOP 4. Ðộng lực phát triển của KH: 1 / Thực tiễn con người và tự nhiên: - Lao động sản xuất để phát triển cuộc sống. - Tìm hiểu tự nhiên đ ể cùng sống với tự nhiên. 2 / Thực tiễn xã hội và sự phát triển của lịch sử: - Các quan hệ trong xã hội. - Phương thức sản xuất thay đổi. 3 / Thực tiễn quan hệ giữa con người và con người: - Giáo dục. - Tâm lí. - Y t ế. - Chiến tranh. 4/ Thực tiễn sự phát triển của khoa học: - Sự kích thích của khoa học đối với các nhà khoa học. (đôi khi khoa học đi trước nhu cầu của thực tiễn). - Sự kế thừa của các nhà khoa học. - Sự đấu tranh giữa các quan điểm. Kết luận: Thực tiễn là nguồn gốc và là chân lí của khoa học. TOP 5. Vai trò của sự kiện trong tư duy và lí luận:
  8. ( Sự kiện, đó là những g ì xảy ra trong tự nhiên, xã hội do quá trình vận động và phát triển của tư duy mà con người quan sát đ ược hoặc trực tiếp (bằng các giác quan) hoặc gián tiếp (bằng phương tiện hỗ trợ). Ðặc điểm của sự kiện là: - Mới lạ (về thời gian, không gian hoặc bản chất). - Hiện thực (quan sát đ ược). - Tuân theo qui luật nhân quả rất rõ rệt. - Phức tạp. ( Lí luận, đó là sản phẩm của tư duy của con người (thể hiện qua các hệ thống tín hiệu) nó phản ánh, sắp xếp lại sự kiện có trật tự , móc nối các sự kiện có liên quan lại với nhau đ ể t ìm ra qui luật của tự nhiên, xã hội. Ví dụ: Sự phát triển của xã hội lo ài người, phản xạ có điều kiện, không điều kiện, các định luật vật lí, hóa học, sinh học, các định lí toán học.... ( Sự kiện và lí luận đ ược gắn liền nhau bởi quá trình ho ạt động tư duy tích cực của co n ngư ời. Quá trình ấy có thể là: - Làm lộ rõ sự kiện chính (do phân tích) để tìm ra cái bản chất của nó. Ví dụ: phân lo ại động thực vật, các kết quả quan sát trên bầu trời và hệ thống Nhật tâm của Copernic, chiến tranh phi nghĩa và chiến tranh chính nghĩa. - Làm đơn giản hóa sự kiện (trừu tượng hóa, mô hình hóa). Các thí nghiệm nhà trường, các loại bản đồ, các mô hình, mẫu vật, các đặc trưng cho một hình thái xã hội.... - Ðưa ra những kết luận cần thiết hoặc tìm thấy những qui luật mới (tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa v.v...). Bản thân sự kiện chỉ là một mớ nguyên liệu, chưa phải là khoa học. Nhờ có tư duy tích cực dựa vào các qui luật triết học (tư duy lí luận) mà con người tìm ra những mối liên hệ tất yếu của các sự kiện. Ðó là các kết luận khái quát: các qui luật, các tính chất, các hình thái.... Nếu nó là quả (theo nguyên lí nhân quả) thì người ta sẽ tìm ra cái nhân. Ngược lại, từ sự kiện đang được nghiên cứu, người ta có thể nhìn thấy trước những quả tiếp theo. Hệ thống lí luận ấy là sản phẩm của tư duy của con người, là khoa học. Tuy nhiên, KH cũng nghiên cứu những sự kiện ngẫu nhiên vì ngẫu nhiên cũng là một trong những hình thức hoặc yếu tố của sự biểu hiện cái có qui luật. Kết luận: Sự kiện không có tư duy lí luận thì sẽ không có khoa học, hoặc xem nhẹ tư duy lí luận thì sẽ làm con người mất khả năng đi sâu vào bản chất của tự nhiên và xã hội. Ngược lại, coi thường hoặc không cần sự kiện thì tư duy lí luận sẽ trở thành duy ý chí.
  9. II. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: TOP 1. Khái niệm: Kho tàng tri thức của loài ngư ời ngày một nhiều là do các thế hệ con người nối tiếp nhau làm nên, trong đó, chủ yếu là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Vậy, nghiên cứu khoa học là gì ? Nghiên cứu là một công việc mang tính chất tìm tòi, xem xét cặn kẽ một vấn đề nào đó đ ể nhận thức nó hoặc để giảng giải cho người khác rõ. Ví dụ: nghiên cứu một bài toán, nghiên cứu một câu nói để hiểu nó, nghiên cứu bảng giờ tàu để tìm chuyến đi thích hợp cho mình. Nghiên cứu có hai dấu hiệu: Con người làm việc (tìm kiếm) tự lực (cá nhân hoặc nhóm) - Tìm ra cái mới cho chủ thể, cho mọi người. - Học tập ở nhà trường là quá trình thu lượm tri thức mà loài người đã có. Tuy những vấn đề học tập luôn là mới mẻ với bản thân người học song việc tự học tìm tòi, xem xét là rất ít. Học sinh cần sự chỉ bảo của người thầy. Trong quá trình học tập, học sinh có thể nghiên cứu những vấn đề nho nhỏ có tính chất tập sự làm việc tự lực. Cũng chính vì vậy mà ngày nay, trong công cuộc cải tiến PPDH, người ta hay nhắc đến cụm từ dạy học khám phá. Ngoài ý nghĩa về việc phát triển tư duy cho học sinh một cách tích cực, còn có ý nghĩa khác, người thầy phải tập cho học sinh có tác phong nghiên cứu ngay từ lúc ngồi trên ghế nhà trường, trong từng bài giảng. Bậc học càng cao, sự tự lực càng nhiều. Ở bậc đại học, sinh viên có thể tự làm những vấn đề lớn hơn, những nhiệm vụ học tập mà thầy giáo cho. Cũng có thể gọi là nghiên cứu. Con ngư ời làm việc, tạo ra sản phẩm (vật chất và tinh thần) cho xã hội. Những sản phẩm ấy là kết quả của một chương trình đ ã đ ược định trước. Ví dụ: người công nhân sản xuất ra hàng hóa, người nhạc công tập những bài nhạc của nhạc sĩ, nhà kinh tế đi nghiên cứu một thị trường.... Nếu những sản phẩm ấy do một người, một nhóm người tạo nên là mới mẻ thì đ ó là kết quả của công việc mang tính chất nghiên cứu. Ví dụ: một mẫu cho sản phẩm mới, một phong cách biểu diễn mới của nhạc công, một kết luận mới về nhu cầu của thị trường.... Nếu đối tượng của công việc là một vấn đề khoa học thì công việc ấy gọi là nghiên cứu khoa học. Nếu con người làm việc, tìm kiếm, tuy xét một vấn đề nào đó một cách có phương pháp thì cũng có thể gọi là nghiên cứu khoa học. Vậy, nghiên cứu khoa học (NCKH) là việc t ìm kiếm, xem xét, điều tra (kể cả làm thí nghiệm) để từ những dữ kiện có được (số liệu, tài liệu, kiến thức đ ã có ...) đạt đến một kết quả mới hơn, cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn NCKH tốt phải có kiến thức và cái chính là phải rèn luyện làm việc một cách tự lực, một cách có phương pháp từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường.
  10. TOP 2. Những công việc chủ yếu của nghiên cứu khoa học: 1) Thu thập dữ liệu: Sau khi xác đ ịnh cho mình một đề tài nghiên cứu thì việc trước tiên là phải t ìm thấy những sự kiện có liên quan đến đề tài. Bằng các phương pháp: điều tra, quan sát, đo đ ạc, làm thí nghiệm để có những tài liệu, số liệu cần thiết cho công việc phục vụ cho một mục đích nào đó tiếp theo. Những việc làm ấy đ ược gọi là thu thập dữ liệu. Dữ liệu là sự k iện đ ược thu gọn lại trong các hình ảnh, con số, văn bản... vì vậy nếu việc thu thập dữ liệu không tốt (không thật, không chính xác, không đa dạng...) thì những kết quả của NCKH sẽ không trung thực, sai lệch với thực tiễn và tất nhiên sẽ không trở thành khoa học. 2 ) Sắp xếp dữ liệu: Qua những hoạt động nghiên cứu ban đầu, ta thu đ ược rất nhiều dữ liệu. Cần sắp xếp chúng lại theo hệ thống, thứ, loại, thậm chí có thể sàng lọc bớt những dữ liệu không cần thiết hoặc quyết định bổ sung thêm dữ liệu mới để công việc cuối cùng được đơn giản hơn. 3) Xử lí dữ liệu: Ðây là công việc quan trọng nhất, giá trị nhất của NCKH. Một lần nữa, nhà nghiên cứu phải phân tích các dữ liệu để có thể đoán nhận, khái quát hóa thành kết luận. Nếu dữ liệu là những con số, cần xử lí bằng thống kê, rút ra kết quả từ các đại lượng tính đ ược. Tư duy khoa học bắt từ đây. 4 ) Khái quát hóa toàn bộ công trình, rút ra kết luận chung cho đề tài nghiên cứu: (Việc trình bày đ ề tài NCKH sẽ là công việc cuối cùng và sẽ được trình bày ở phần 3). TOP 3. Những yêu cầu đối với người NCKH: Ai là người có thể NCKH ? Ðó là những người: 1) Có trình đ ộ chuyên môn: Không thể nói rằng NCKH là công việc của những người có học thức song những người chưa đủ trình đ ộ học vấn tối thiểu thì không thể NCKH đ ược. Nếu vì lí do nào đó mà những người nay cần NCKH thì chắc chắn họ phải đọc thêm, học hỏi thêm về chuyên môn. Nếu không thì những g ì họ t ìm thấy (là mới, là đúng) thì cũng chỉ dừng lại ở k inh nghiệm. Những kinh nghiệm quí báu ấy cần đ ược kiểm tra, xác định phạm vi ứng dụng... của người có chuyên môn. Ðôi khi người NCKH không những cần kiến thức của lĩnh vực mình mà còn cần kiến thức trong những lĩnh vực gần gũi hoặc có liên quan. Ngoài ra, người làm công tác NCKH cần có kĩ năng sử dụng máy móc, thiết bị kĩ thuật để công việc được tiến triển nhanh hơn, kết quả chính xác hơn.
  11. 2) Có phương pháp làm việc khoa học: Ðó là: - Khả năng và phương pháp tư duy. - Khả năng phát hiện vấn đề và nhìn nhận vấn để bắt đầu nghiên cứu. - Khả năng thu và xử lí, số liệu: thu số liệu bằng phương tiện gì, cách thu số liệu, cách phân tích, lọc lựa số liệu.... - Khả năng vạch kế hoạch làm việc thật khoa học, tiết kiệm thời gia n và kinh tế. - Khả năng trình bày vấn đề khoa học: có kĩ thuật, rõ, dễ hiểu. 3) Có các đức tính của một nhà khoa học chân chính: - Say mê khoa học. - Nhạy bén với sự kiện xảy ra. - Cẩn thận khi làm việc. - Kiên trì nghiên cứu. - Trung thực với kết quả. III. CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: TOP 1. Nghiên cứu cơ bản: Nghiên cứu cơ bản là những hoạt động nghiên cứu tìm ra những qui luật chung những hướng đi lớn (nghiên cứu nguồn gốc của sự sống, nghiên cứu hệ thống giáo dục quốc dân, nghiên cứu mô hình kinh tế, nghiên cứu vật lí, hóa học...) tìm ra loại nguyên liệu mới, t ìm ra những công cụ toán học mới v.v... kết quả của nghiên cứu cơ bản còn nằm trong phòng thí nghiệm, trong tài liệu viết, trong tủ kính (hàng mẫu). Nghiên cứu cơ bản luôn đi trước các loại hình nghiên cứu khác. TOP 2. Nghiên cứu ứng dụng: Ðây là công việc của lực lượng đông đảo nhất của các nhà khoa học với xu hướng là đưa các kết quả của nghiên cứu cơ bản vào phục vụ cho xã hội loài ngư ời. Không có họ, mọi nghiên cứu khoa học đều vô nghĩa. Tuy nhiên các kết quả ứng dụng cũng vẫn còn trong phòng thí nghiệm, nó còn một khoảng cách khá xa để đến với xã hội bởi vì tính kinh tế, tính thuận tiện, tính địa phương cũng như khả năng sản xuất hàng loạt đã chưa cho phép.
  12. TOP 3. Nghiên cứu triển khai: Ðây mới là ý nghĩa chính của khoa học. Khoa học đã đ ến với từng người trong xã hội (cuốn sách giáo khoa, tủ lạnh, máy tính, bộ quần áo...). Khi triển khai, ngư ời ta chia làm hai giai đoạn: - Triển khai thí điểm (hoặc trình diễn) - Triển khai đại trà. Ví dụ: a ) Nghiên cứu SGK: - Nhà lí luận dạy học nghiên cứu quá tr ình dạy học, các nguyên tắc dạy học... (NCCB). - Các nhà lí lu ận dạy học bộ môn vận dụng vào việc t ìm kiếm một cấu trúc sách g iáo khoa với nội dung phù hợp cho lứa tuổi, cho thời đại ... (NC ứng dụng). - Các nhà lí luận dạy học, giáo viên... triển khai bộ SGK ở một số trường, một số khu vực. Họ tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh... để có bộ SGK cho toàn quốc (NC triển khai). b ) Nghiên cứu chất siêu dẫn: - Nhà vật lí t ìm ra chất siêu dẫn (NCCB). - Các nhà vật lí và kĩ thuật cố gắng đ ưa chất siêu dẫn vào thực tế kĩ thuật và đ ời sống. Trước tiên, cần tạo ra mẫu siêu dẫn trong PTN phù hợp với thực tiễn (nâng nhiệt độ chất siêu dẫn lên). Tuy nhiên, hiện nay các kết quả nghiên cứu ứng dụng vẫn còn nằm trong PTN và đang được các nhà khoa học cải tiến thêm đ ể có thể đ ưa vào sản xuất và sử dụng đại trà. - NC triển khai: chưa ! TOP 4. Nghiên cứu dự báo: Càng ngày càng xuất hiện nhiều những nhà khoa học nghiên cứu, phán đoán những vấn đề trong tương lai thuộc nhiều lĩnh vực: xã hội, môi trường, dân số, kiến trúc... Những nghiên cứu của họ đều xuất phát từ những sự kiện hiện tại, sự tiến triển có logic, có hệ thống trong lịch sử, những tính toán và suy luận khoa học, Những công trình của họ có ý nghĩa rất quan trọng cho xã hội lo ài người, giúp cho con người có cái nhìn rộng hơn, xa hơn, đ ịnh hướng cho sự phát triển của xã hội, của ngành mình... cũng như tránh khỏi những hiểm họa có thể có do chính con người gây ra. Những công tr ình nghiên cứu dự báo cũng rất có ý nghĩa đối với sự nghiệp giáo dục, không chỉ riêng ở một quốc gia nào. Bởi trong sự phát triển chung của xã hội cũng như sự đòi hỏi của chính xã hội đối với giáo dục,
  13. hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu dự báo về nội dung, hình thức tổ chức giáo dục, phương tiện và phương pháp giáo dục trong tương lai. Chương II: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG I. 1. Khoa học giáo dục 2. Các hư ớng nghiên cứu của khoa học giáo dục 3. Đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục 4. Các quan điểm cơ bản về phương pháp luận NCKHGD PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT II. 1. Khái niệm 2. Chức năng của PPQSSP 3. Các công việc của PPQSSP 4. Hai kiểu quan sát 5. Đặc điểm của phương pháp quan sát 6. Những điểm cần chú ý PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA GIÁO DỤC III. 1. Khái niệm 2. Các bư ớc đi của phương pháp điều tra giáo dục PHƯƠNG PHÁP TỔNG KẾT KINH NGHIỆM(PPTKKN) IV. 1. Mục đích của PPTKKN 2. Các bư ớc tiến hành 3. Chú ý 4. Các ví dụ về PPTKKN PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM(PPTNSP) V. 1. Khái niệm 2. Đặc điểm của PPTNSP 3. Tổ chức TNSP XỬ LÝ THÔNG TIN BẰNG THỐNG KÊ VÀ BIỂU ĐỒ VI. 1. Mã hoá số liệu 2. Phương pháp thống kê (PPTK) đ ể xử lý thông tin 3. Việc dùng đồ thị, biểu đồ cho kết quả Chương II: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC Từ khóa: - Khoa học giáo dục - Ðề tài nghiên cứu khoa học giáo dục - Quan sát sư phạm
  14. - Ðiều tra giáo dục - Tổng kết kinh nghiệm - Thực nghiệm sư phạm Tóm tắt nội dung: Ph ần này sẽ tập trung vào một số phương pháp nghiên cứu khoa học sư phạm định tính. Thật ra, các phương pháp này không dành riêng cho ngành sư phạm mà có th ể được dùng cho tất cả các ngành khoa học xã hội. Nếu vận dụng chúng, xét các ví dụ với nội dung xã hội nói chung thì đó là các phương pháp nghiên cứu định tính các ngành khoa học xã hội. Các ph ương pháp đư ợc giới thiệu ở đây sẽ là: phương pháp quan sát, phương pháp đ iều tra (hay thăm dò), phương pháp tổng kết kinh nghiệm và phương pháp thực nghiệm sư phạm. Gọi là các phương pháp nghiên cứu định tính bởi vì chúng dựa vào các thông tin thu thập được để suy luận, rút ra những kết luận là cơ sở cho những đề tài tiếp theo hoặc những kết luận trên bình diện hẹp của vấn đề nghiên cứu. Tuy nhiên điều đó không có ngh ĩa là không nói đến toán học. Các thông tin bằng số hoặc được mã hóa bằng số, đặc b iệt là các thông tin của phương pháp thực nghiệm sẽ phải đư ợc biểu diễn bằng các đại lượng thống kê đơn giản, bằng đồ thị, biểu bảng... Vì vậy, ở cuối phần này sẽ được trình bày sơ lược vài vấn đề toán học thống kê đơn giản. Việc tính toán thống kê ở những đề tài với qui mô lớn và phức tạp sẽ đ ược giới thiệu ở các giáo trình toán học thống kê, thống kê xã hội học (ph ương pháp nghiên cứu khoa học định lượng). Yêu cầu đối với sinh viên: Sinh viên cần nắm các yêu cầu của các phương pháp nghiên cứu, luyện tập nhiều đ ể có những kĩ năng tối thiểu cho các hoạt động nghiên cứu khoa học được đề cập tới trong bà i giảng. I. NHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG: TOP 1. Khoa học giáo dục: Phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục cũng như việc tổ chức dạy học đ ã có cách đây hàng ngàn năm. Song những công việc đó, trong một thời gian dài, chỉ dừng lại ở tài năng và kinh nghiệm cá nhân, không thành một vấn đề khoa học cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Không rõ Nhà trường được xuất hiện trên thế giới từ lúc nào song có lẽ khi đó mới bắt đầu các nhà sư phạm nghiên cứu về công việc của nhà trường. Lí do là: - Nhà trường phải đáp ứng yêu cầu của giai cấp thống trị là tạo ra mẫu người phù hợp nhất phục vụ cho giai cấp ấy. - Nhà trường phải luôn phát triển bởi sự phát triển của xã hội (về tư tưởng), bởi sự phát triển của khoa học (về nội dung dạy học), bởi sự phát triển của kĩ thuật (về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học).
  15. - Nhà trường nói chung, các thầy giáo nói riêng luôn muốn chứng tỏ rằng mình có khả năng đào t ạo tốt nhất. Nhiều tư tưởng về giáo dục (ở đây chỉ nói thuần túy về việc dạy người) đã được đề cập từ cổ chí kim, từ Tây sang Ðông xuất phát từ kinh nghiệm cũng như từ những triết lí về con người. Bắt đầu từ thế kỉ thứ XI, việc nghiên cứu giáo dục mới thật sự trở thành một ngành khoa học, được đánh giá từ thời điểm các nhà giáo dục biết đưa khoa học tâm lí vào quá trình dạy học. Dạy học và phát triển con người là hai mặt của việc đ ào tạo con người, gắn bó mật thiết với nhau. Con người, nếu muốn trở thành con người cần phải có học vấn (Comenxki). Ngược lại, dạy học mà không chú ý đến sự phát triển của con người thì khó đ ạt hiệu quả cao. Hơn một thế kỉ nay, khoa học sư phạm đã khẳng định đ ược mình là một ngành khoa học có nét đặc thù riêng, không những nó tận dụng được mọi thành tựu của các ngành khoa học xã hội, tự nhiên và k ĩ thuật mà nó còn là nơi nghiên cứu để tạo ra những lớp ngư ời trở lại làm việc thúc đẩy các ng ành khoa học ấy phát triển cho tới ngày hôm nay. TOP 2. Các hướng nghiên cứu của khoa học giáo dục: Nhà trường trên thế giới phát triển rất nhanh cho nên việc nghiên cứu KHGD không bó gọn trong môi trường trường học nữa mà tự nó cũng thấy đ ược, quá trình giáo dục, quá trình dạy họ c phải nằm trong một hệ thống giáo dục thống nhất của một quốc gia, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của những người quản lí giáo dục. Hay nói khác đi, những vấn đề vĩ mô của giáo dục phải được nghiên cứu cặn kẽ mang tính chiến lư ợc giáo dục quốc gia. Vì vậy có 4 hướng nghiên cứu KHGD hiện nay: Hướng 1: Nghiên cứu hệ thống giáo dục quốc dân. Trong sự phát triển của xã hội cũng như sự tăng lên theo cấp số nhân về tri thức, hệ thống trường, lớp cũng phải thay đổi theo. Nhu cầu của xã hội về số lượng người đ ào tạo, sự phát triển tâm sinh lí của học sinh... cũng làm cho các nhà KHGD suy nghĩ, tìm tòi các loại h ình trường, các dạng đạo tạo, số năm đ ào tạo v.v... Ðó là các đ ề tài của hướng nghiên cứu 1. Hướng 2: Nghiên cứu quá trình giáo dục. Quá trình giáo dục (QTGD) hiểu theo nghĩa hẹp: các hoạt động của giáo viên chủ nhiệm cũng như việc tổ chức phong trào thi đua của lớp, trường. Hoặc có thể hiểu theo nghĩa rộng: Các mối liên kết giữa nhà trường, gia đ ình và xã hội trong việc xây dựng toàn diện một nhà trường (kể cả trong dạy học) song không đi sâu vào phương pháp dạy học. Ðối với người giáo viên, việc nghiên cứu giáo dục học sinh cá biệt (kém, giỏi) và tổ chức phong trào của lớp chủ nhiệm là hai mảng đề tài thường gặp và cần thiết nhất. Cơ sở cho các công trình nghiên cứu này là tâm lí học, các nguyên lí giáo dục, các quan niệm vềì con người trong xã hội. Hướng 3: Nghiên cứu quá trình dạy học.
  16. Hướng đề tài này có nội dung rất phong phú. Quá trình dạy học là quá trình chính yếu của mọi nhà trường. Các nội dung nghiên cứu sẽ là: Nghiên cứu nội dung dạy học. - Nghiên cứu các phương pháp dạy học. - Nghiên cứu sử dụng, cải tiến, chế tạo dụng cụ dạy học. - Nghiên cứu đ ào tạo học sinh giỏi cũng như nâng kết quả học tập của học sinh - kém. Nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học. - ... Hướng 4: Nghiên cứu quản lí giáo dục. Hướng đề tài này cũng bao gồm các công việc nghiên cứu mang tầm vĩ mô. Quản lí giáo dục không tốt sẽ không đem đến kết quả theo ý muốn đối với bất cứ nền giáo dục nào. Nội dung nghiên cứu không những nhằm vào các trường học mà còn vượt ra ngoài chúng, nghĩa là nhằm vào các cơ quan quản lí giáo dục cũng như cán bộ quản lí giáo dục các cấp. Theo sự phân chia trên, các nhà nghiên cứu giáo dục dễ dàng đ ịnh cho công việc nghiên cứu cũng như trao đổi thông tin với nhau. Tuy nhiên, mọi sự phân chia trong khoa học, đặc biệt là khoa học giáo dục đều mang tính tương đ ối, dù cho cơ sở để phân chia là g iống nhau. Có nghĩa là, có những đề tài liên kết hai hoặc nhiều hướng nghiên cứu với nhau, đặc biệt là các chương trình nghiên cứu có tầm cỡ quốc gia. Ví dụ: Khi nghiên cứu t ìm hệ thống giáo dục phù hợp cho một quốc gia thì không thể tách rời việc nghiên cứu về cơ sở vật chất ở các trường học, nội dung sách giáo khoa cũng như không thể không nói đến đội ngũ quản lí giáo dục.... TOP 3. Ðề tài nghiên cứu khoa học giáo dục: Thực chất của một đề tài NCKHGD là một câu hỏi và tiếp theo là những giải đáp. Câu hỏi xuất phát từ những mâu thuẫn nhận thức, hành đ ộng nảy sinh từ lí luận hay thực tiễn QTGD mà trước đây chưa ai trả lời được. Cần chú ý: - Câu hỏi: không phải là một câu hỏi thông thường để người ta trả lời vài ba câu là xong mà là một tình huống, một vấn đề đòi hỏi có thời gian nghiên cứu, quan sát, t ìm hiểu... và cuối cùng là một loạt những kết luận được rút ra.
  17. - Cũng có thể câu hỏi đó đã đ ược giải quyết ở nơi khác, trong điều kiện khác nhưng tại địa phương lại nảy sinh những mâu thuẫn mới cần giải quyết tiếp cho phù hợp điều kiện thực tiễn. - Nhiệm vụ của đề t ài là: giải đáp những điều chưa rõ, đem lại cái hoàn thiện hơn, có thể phát hiện qui luật hoặc những kết luận mang tính phổ biến, có thể phát hiện cái mới hoặc cách làm nào đó hợp qui luật hơn. Tóm lại, một đề tài NCKHGD chỉ được chấp nhận khi nó hướng đúng vào giá trị lí luận, thực tiễn nhất định và có ý nghĩa đối với giáo dục. TOP 4. Các quan điểm cơ bản về phương pháp luận NCKHGD: Một đề tài nghiên cứu KHGD muốn được chặt chẽ, mang tính thuyết phục thì cần phải tuân thủ các mối quan hệ cũng như những qui định sau (gọi là các quan điểm): 1) Quan điểm hệ thống - cấu trúc: Một vấn đề nảy sinh trong bất cứ lĩnh vực nào, thời điểm nào đ ều đ ược qui định bởi hoàn cảnh, sự vật, sự việc xung quanh. Hay nói khác đi, bản chất sự vật là không riêng lẻ mà nó là bộ phận của toàn thể, ta vẫn gọi là một chỉnh thể chứa đựng vấn đề ấy. Ðiều đó cho thấy không thể kéo riêng sự việc, vấn đề ra để nghiên cứu mà là phải nghiên cứu nó trong một mạng lư ới với các mối liên hệ ràng buộc. Ta gọi đó là hệ thống của vấn đề nghiên cứu. Khi phân tích sâu hơn, các mối liên hệ, sự phụ trên dưới (loại, hạng), mối liên hệ hàng ngang, sự phụ thuộc bản chất, không bản chất... người ta sẽ thấy một cấu trúc rõ ràng của cái gọi là mạng lư ới, đã đ ược nói ở trên. Vậy là: Hệ thống các vấn đề có liên quan luôn mang tính cấu trúc và ngược lại, cấu trúc các sự vật là nhằm thống nhất chúng trong một hệ thống tồn tại khách quan. Quan đ iểm này nhằm chỉ đạo người nghiên cứu một sự nhất quán trong tư duy cũng như tôn trọng sự tồn tại khách quan của vấn đề nghiên cứu. Mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hệ thống và cấu trúc còn cần đ ược thể hiện ở cách trình bày vấn đề sau khi đã được giải quyết (bài viết). Kĩ năng này sẽ được nhắc đến ở phần 3 của bài giảng này. 2) Quan điểm lịch sử - logic: Ở đ ây muốn nói đến sự tồn tại tất yếu của mọi sự vật, sự việc trong diễn biến của thời gian. Ðó chính là lịch sử sự hình thành và phát triển của vấn đề. Những thể hiện hiện tại của vấn đề đều mang đậm dấu ấn của thời gian và môi trường (xã hội, tự nhiên). Lịch sử là phức tạp, là muôn màu muôn vẻ và nhiều ngẫu nhiên song vẫn bị chi phối bởi cái tất nhiên. Cái tất nhiên ấy chính là logic khách quan c ủa sự vật, sự việc. Không chú ý đến tính lịch sử, tức là không tôn trọng sự hình thành và phát triển tất yếu của sự việc trong một quá trình, tức là không tôn trọng qui luật khách quan của tự nhiên và xã hội (xem thêm các qui luật của logic học - phần 4).
  18. Cho nên, lịch sử chính là logic. Như Anghen đ ã viết: Phương pháp logic chẳng qua là phương pháp lịch sử, chỉ có khác là nó đã thoát khỏi những hình thức lịch sử và những ngẫu nhiên pha trộn. Lịch sử bắt đầu từ đâu, quá trình tư duy cũng bắt đầu từ đó.. 3 ) Quan điểm thực tiễn: Nguyên lí giáo dục cơ bản của Ðảng ta là: lí thuyết gắn liền với thực tế. Ðiều này có thể diễn dịch ra rằng, mọi vấn đề nghiên cứu phải xuất phát từ thực tiễn và quan trọng hơn nữa, chúng phải phục vụ cho thực tiễn. Vì vậy giá trị của một công trình NCKHGD đ ược thể hiện ở sự kết hợp hài hòa giữa lí luận chung với kinh nghiệm của thế giới và thực tiễn địa phương. Vấn đề 1-2: Giả sử có một học sinh cá biệt kém trong lớp chủ nhiệm. Ðể giáo dục, đưa em học sinh đó vào quĩ đạo hoạt động của lớp, cần chú ý thể hiện các quan điểm trên vào công việc nghiên cứu của bạn như thế nào? II. PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT: Từ KHÓA: QUAN SÁT - THÔNG TIN - PHIếU QUAN SÁT - ÐốI TƯợNG QUAN SÁT - CHủ THể QUAN SÁT Quan sátchụp hình - Quan sát tổng hợp TOP 1. Khái niệm: Phương pháp quan sát (PPQS) được dùng cho mọi lĩnh vực nghiên cứu của KHXH, kể cả một số lĩnh vực của khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật. - KHXH: Quan sát các động tác lao động của người công nhân, quan sát không khí học tập, quan sát các nút giao thông, quan sát tiếp thị... - Khọc học tự nhiên: quan sát sự phát triển của một loại cây, quan sát diễn biến và kết quả thí nghiệm.... - Khoa học kĩ thuật: quan sát kết quả xử lí ở các ruộng lúa, vừa quả, quan sát vận hành máy móc.... Trong khoa học sư phạm, PPQS tỏ ra có hiệu quả rõ rệt bởi vì những ý đồ sư phạm, hiệu quả sư phạm được biểu hiện rất rõ nét trong nhà trường. Hơn nữa, việc tổ chức quan sát không gặp nhiều khó khăn, mỗi trường học, bản thân đ ã là một môi trường sẵn có cho ngư ời làm công tác giáo dục đến làm việc.
  19. Vậy: QSSP là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dục trên cơ sở tri g iác trực tiếp các hoạt động sư phạm cho ta những t ài liệu sống về thực tiễn giáo dục để có thể khái quát nên những qui luật nhằm chỉ đạo tổ chức quá trình giáo dục được tốt hơn. Phương tiện để quan sát chủ yếu là tri giác trực tiếp. Nếu có khả năng có thể dùng các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ để tài liệu quan sát được xem xét kĩ hơn (máy chụp hình, quay phim, thu âm...). TOP 2. Chức năng của PPQSSP: - Thu nhận thông tin, phát hiện vấn đề từ trong thực tiễn QTGD. - Kiểm chứng các lí thuyết về giáo dục loại kết quả của phương pháp TNSP. - Mở đầu cho một PPNCKHSP khác. TOP 3. Các công việc của PPQSSP: 1) Xác đ ịnh rõ mục đích quan sát: Việc xác định mục đích rõ ràng sẽ làm cho người lập phiếu quan sát cũng như ngư ời đi quan sát tập trung hơn vào các nội dung quan sát. Nghĩa là cần trả lời câu hỏi: Quan sát để làm gì ? Ví dụ: Cùng một công việc là quan sát sự học tập của một lớp học sinh. Nếu với mục đích là quan sát sự chú ý của học sinh trong lớp học thì các quan sát sẽ tập trung chủ yếu vào học sinh. Nhưng, nếu với mục đích là quan sát phương pháp dạy của thầy sao cho thu hút sự chú ý của học sinh thì các dữ liệu quan sát chủ yếu là ở ngư ời thầy, các dữ liệu của học sinh (ánh mắt, nét mặt...) là đ ể chứng minh cho việc ghi chép hoạt động của thầy nhằm thu hút sự chú ý của học sinh. 2) Xác đ ịnh nội dung quan sát và phương pháp quan sát: Câu trả lời tiếp câu hỏi: quan sát cái gì, quan sát như thế nào và bằng cái g ì. Nếu mục đích quan sát rõ ràng thì nội dung quan sát sẽ dễ dàng được ấn định. Nội dung quan sát thể hiện qua việc lựa chọn đối t ượng quan sát (mẫu quan sát), số lượng mẫu, định thời điểm quan sát và độ dài thời gian quan sát. Căn cứ vào qui mô của đề tài và độ phức tạp của mẫu mà quyết định phương pháp, phương tiện quan sát. 3) Chuẩn bị cho người đi quan sát: a. Lập phiếu quan sát: Ðể việc quan sát đ ược chủ động và thống nhất giữa các lần quan sát hoặc g iữa những cộng tác viên quan sát, chủ đề tài phải thiết kế bảng yêu cầu các nội dung cụ
  20. thể khi đi quan sát. Bảng này gọi là phiếu quan sát. Phiếu quan sát đ ược cấu trúc thành 3 phần: - Phần thủ tục: Ðối tượng, địa chỉ, ngày giờ quan sát, người quan sát. - Phần nội dung: Ðây là phần quan trọng nhất của phương pháp, nó quyết định sự thành công của đề t ài nghiên cứu. Có thể gọi đây là phần yêu cầu ghi chép, thu hình cụ thể khi đi làm việc. Vì vậy các yêu cầu phải thật cụ thể, sao cho người đi quan sát có thể đo, đ ếm, ghi được bằng số bằng chữ có hoặc không (không mang tính chất nhận định cá nhân). Ví dụ: + Có bao nhiêu người qua lại...? + Bao nhiêu học sinh phát biểu ý kiến ? + Thầy có thực hiện bước mở bài không ? v.v... Tránh những câu hỏi không đếm đ ược, ví dụ: + Học sinh có chú ý nghe giảng không ? + Thầy giảng có nhiệt tình không ? - Phần bổ sung bằng câu hỏi phỏng vấn: Phần này do chủ đề tài quyết định để có thể xác minh, làm rõ hơn một số thông tin có thể chưa được rõ khi quan sát. Ví dụ: Khi quan sát một giờ giảng, để biết được học sinh có ghi chép đầy đủ ý của thầy trên bảng hay không, có thể hỏi thêm: Em có nhìn rõ chữ trên bảng không? Em nghe thầy giảng có rõ không (về lời nói, ngữ điệu). Mọi câu hỏi phải được ghi trước và yêu cầu người quan sát chỉ hỏi theo các câu ấy. b. Kiểm tra phương tiện quan sát: c. Tập huấn cộng tác viên: Phương pháp và nội dung. 4) Tiến hành quan sát: Khi tập huấn xong, người quan sát chỉ cần làm theo mọi yêu cầu trong phiếu quan sát. Cần chú ý ghi nhận đầy đủ và trung thực. 5) Xử lí: Tập hợp các phiếu quan sát, sắp xếp số liệu, phân tích để đi đến một nhận định khoa học. TOP 4. Hai kiểu quan sát: a. Quan sát kiểu chụp hình:

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản