Khối lượng giao dịch

Chia sẻ: Nguyen Kieu Trinh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
155
lượt xem
55
download

Khối lượng giao dịch

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Việc phân tích khối lượng giao dịch là một công việc cần thiết vì chức năng cơ bản nhất của phương pháp phân tích khối lượng là nhằm khẳng định các tín hiệu về giá cả.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khối lượng giao dịch

  1. Khối lượng giao dịch § 1. KHÁI NIỆM I. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA -Khối lượng giao dịch (gọi tắt là khối lượng) là một trong những công cụ quan trọng trong PTKT để: •Xác định hướng di chuyển của đường giá •Đánh giá mức độ tham gia của các nhà đầu tư -Việc phân tích khối lượng giao dịch là một công việc cần thiết vì chức năng cơ bản nhất của phương pháp phân tích khối lượng là nhằm khẳng định các tín hiệu về giá cả. Việc dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai không chỉ đơn thuần dựa vào sự biến động giá mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó không thể thiếu được khối lượng giao dịch hàng ngày. -Khi lựa chọn cổ phiếu để đầu tư, khối lượng giao dịch hàng ngày là mục tiêu đầu tiên để xem xét nhu cầu về loại cổ phiếu đó. -Khối lượng giao dịch được tính chung cho toàn thị trường và cũng được tính riêng cho từng loại cổ phiếu. -Trên đồ thị giá (Bài 6): trục tung biểu thị giá, trục hoành – khối lượng. Do đó, giá cả và khối lượng là hai chủ thể liên quan chặt chẽ với nhau. Diễn biến giá cả và khối lượng phải trùng khớp với nhau và sự biến thiên của chúng cho ta một bức tranh đa dạng về TTCK. II. KHỐI LƯỢNG GIAO DỊCH VÀ GIÁ TRỊ GIAO DỊCH -Để đánh giá thị trường, chúng ta thường sử dụng khái niệm “Quy mô giao dịch”. Quy mô giao dịch bao gồm khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch. -Giá trị dao dịch: •là tổng giá trị của cổ phiếu đã được giao dịch thành công •tính toàn bằng cách nhân khối lượng giao dịch với giá giao dịch •quy mô giao dịch được các cơ quan thông tin kinh tế - tài chính - chứng khoán thông báo hàng ngày. Các chuyên gia phân tích kinh tế và thị trường thường quan tâm tới quy mô giao dịch còn khối lượng giao dịch là địa hạt của PTKT. § 2. TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM I. KHỐI LƯỢNG VÀ HÌNH THÁI THỊ TRƯỜNG: -Chúng ta đều biết rằng: “Quan hệ cung cầu xác định giá cả trên thị trường”. Khi cả hai bên mua bán đều có thái độ tích cực với xu hướng thị trường thì khối lượng sẽ tăng khi giá chuyển động theo xu hướng và sẽ giảm khi giá vận động ngược chiều xu hướng. -Có thể tìm hiểu quan hệ cung cầu liên quan tới khối lượng giao dịch theo các hình thái thị trường cụ thể như sau:
  2. • Không ai mua – chẳng ai bán: Thị trường đóng băng, không giao dịch hoặc giao dịch với khối lượng rất nhỏ. • Có người mua – không ai bán (cầu lớn hơn cung): Khối lượng mua vào lớn nhưng lượng bán ra không có hoặc rất nhỏ khiến cho khối lượng giao dịch thành công thấp. • Có người bán – không ai mua (cung lớn hơn cầu): Khối lượng bán ra lớn nhưng không có lượng mua vào hoặc rất nhỏ khiến cho khối lượng giao dịch thành công cũng thấp. • Có người mua, người bán (cung cầu cân bằng): Khối lượng giao dịch thành công rất lớn. Tóm tắt: II. KHỐI LƯỢNG VÀ XU HƯỚNG THỊ TRƯỜNG: • THỊ TRƯỜNG KHÔNG XU HƯỚNG Dú khối lượng giao dịch lớn hay nhỏ cũng rất khó xác định được xu hướng thị trường. khi đó cần theo dõi chặt chẽ mọi biến động của thị trường đồng thời kết hợp với các phương pháp PTKT khác. • THỊ TRƯỜNG CÓ XU HƯỚNG • Khối lượng xác nhận hướng di chuyển của đường giá: •Khi giá cả tăng giảm kèm theo khối lượng lớn: đường giá được xác định •Khi giá tăng giảm với khối lượng nhỏ: đường giá di chuyển quá yếu hoặc chưa rõ ràng • Tầm quan trọng của khối lượng khi phân tích hướng đi của đường giá: Khi khối lượng tăng đột ngột và đủ lâu đồng thời giá cũng tăng – giảm đột ngột thường dẫn tới hai trạng thái trái ngược nhau:
  3. • Nếu giá tăng và khối lượng tăng: Thị trường đang ở trạng thái tăng nhưng sau đó sẽ giảm vì bên mua đã mua đủ trong khi không ai bán. • Nếu giá giảm và khối lượng tăng: Mọi người đều không muốn giữ cổ phiếu, đồng loạt bán ra khiến cho bên bán áp đảo bên mua. • Khối lượng xác nhận tương quan mua bán: -Khi giá cả biến động có xu hướng, có thể căn cứ vào khối lượng phán đoán xem ai làm chủ thị trường: • Nếu giá cả tăng và khối lượng tăng: Bên mua làm chủ thị trường. xu hướng tăng giá tiếp tục • Nếu giá cả giảm và khối lượng tăng: Bên bán làm chủ thị trường. Xu hướng giảm giá tiếp tục. -Mặt khác, có thể căn cứ vào khối lượng để phát hiện bên chi phối thị trường không còn quan tâm tới xu hướng giá cả: • Nếu giá cả tăng và khối lượng giảm: Người mua không còn quan tâm tới thị trường khiến cho xu hướng tăng đã tới lúc suy giảm • Nếu giá cả giảm và khối lượng giảm: Người bán không còn quan tâm tới thị trường và xu hướng xuống giá sẽ sớm chấm dứt. • Tóm tắt:
  4. III. KHỐI LƯỢNG VÀ GIÁ CẢ • GIÁ ỔN ĐỊNH: • Khi giá cả ổn định với khối lượng lớn: •Bên chi phối thị trường mất dần khả năng chi phối. •Người mua bắt đầu mua tại điểm kết thúc xu hướng xuống •Người bán bắt đầu bán mạnh tại điểm kết thúc giá lên Những động thái trên khiến cho thị trường sẽ đảo chiều. • Khi giá cả ổn định với khối lượng nhỏ: •Cả hai bên mua bán đều không tích cực giao dịch •Xu hướng thị trường sẽ tiếp diễn • GIÁ BIẾN ĐỘNG: • Giá cả không bao giờ tăng giảm một cách tính cờ: •Giá tăng khi có một lượng mua lớn, thường thấy: -Khối lượng tăng và giá tăng theo: các tổ chức lớn đang tích cực mua vào. -Khối lượng tăng và giá giảm: các tổ chức bán ra. •Nếu khối lượng rất nhỏ: chứng tỏ người bán đông hơn người mua. Vì vậy khối lượng giao dịch khi giá lên thường lớn hơn lượng giao dịch khi giá xuống. • Khi khối lượng tăng và giá cũng tăng: Hiện tượng này không báo hiệu thị trường sẽ đảo chiều • Khi khối lượng thấp kèm theo giá tăng nhẹ:
  5. Thị trường thường đảo ngược xu hướng khiến giá giảm. • Khi giá cả tăng với khối lượng nhỏ: -Hàng hóa khan hiếm -Khi có đủ điều kiện bán, bên bán sẽ bán ra và bên mua cũng sẽ mua vào khiến cho lượng giao dịch lớn -Tới khi bên mua ngừng mua (vì giá đã khá cao) làm cho lượng giao dịch thành công không thể tăng đột biến. • Khi giá cả giảm với khối lượng nhỏ: -Hàng hóa bị rẻ rúng -Khi đủ điều kiện mua, người mua bắt đầu mua vào nên lượng giao dịch cao khiến cho tốc độ giảm giá chậm lại hoặc giá sẽ tăng. -Tới khi bên bán ngừng bán (sợ bản thân bị hớ) làm cho lượng cung giảm khiến cho lượng giao dịch thành công cũng không thể tăng đột biến được. • Khi khối lượng và giá cả tăng giảm đột ngột: •Nếu khối lượng tăng đột ngột: Phải tìm hiểu kỹ thị trường mạnh hay yếu •Nếu giá cả đột ngột tăng mạnh Khi giá cả đột ngột tăng mạnh kèm theo khối lượng lớn hơn rất nhiều so với mức trung bình thì giá thường tiếp tục biến động theo hướng đó. Sau một thời gian tăng sẽ có một ngày khối lượng đạt tới đỉnh điểm. Sau đó, giá sẽ đổi chiều, đi xuống vì khối lượng không còn đủ lớn để giá tiếp tục theo hướng cũ. • Tóm tắt:
  6. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHỐI LƯỢNG 1. Khối lượng giao dịch của chính công ty phát hành: Hiện tượng mua lại cổ phiếu của chính các công ty phát hành (khoảng 10%) có ảnh hưởng tích cực. -Giảm số lượng cổ phiếu đang lưu hành nên lợi tức tăng -Giá cổ phiếu sẽ tăng 2. Công ty phát hành thêm cổ phiếu: Thường có ảnh hưởng tiêu cực: -Cổ phiếu bị “pha loãng” -Giá cổ phiếu sẽ giảm (theo một tỷ lệ nhất định phụ thuộc vào số lượng phát hành thêm) 3. Hiện tượng mua bán trong nội bộ công ty: - Mua: hứa hẹn tiềm năng phát triển trong tương lai - Bán: chúng ta nên xem xét và tìm hiểu thêm về sức mạnh của cổ phiếu tất nhiên chưa phải là tín hiệu để bán ra.
  7. Chúng ta chỉ cần nắm những đặc điểm đại cương như trên là đủ vì nếu giải thích rõ ràng thì buộc phải trình bày một cách đầy đủ ngọn ngành vì những nội dung trên còn có nhiều điều khá phức tạp thậm chí mâu thuẫn với nhau. Nhưng làm như vậy e rằng chúng ta đã lấn sân sang nhà anh bạn hàng xóm – “Phân tích cơ bản”. § 3. PHÂN TÍCH KHỐI LƯỢNG NGUYÊN LÍ: -Các phương pháp phân tích khối lượng đều dựa vào sự biến đổi khối lượng giao dịch cụ thể trên thị trường. -Dựa theo xu hướng đồ thị, phương pháp phân tích khối lượng căn cứ vào hai yếu tố cơ bản: • Sự xuất hiện phân kỳ âm và phân kỳ dương (Bài 6: “Hội tụ và phân kỳ”) • Tốc độ thay đổi đột biến về khối lượng giao dịch trên thị trường. Cụ thể: -Khi xuất hiện phân kỳ dương: dự đoán xu hướng tăng -Khi xuất hiện phân kỳ âm: dự đoán xu hướng giảm -Khi khối lượng thay đổi đột biến: dự đoán xu hướng thị trường sẽ thay đổi Vì vậy, thường dùng đồ thị giá và các chỉ số để phát hiện các hiện tượng trên. SỬ DỤNG ĐỒ THỊ GIÁ Khi phân tích Bài 6: “Đồ thị giá”, chúng ta đã hiểu những khái niệm cơ bản nhất của đồ thị giá: -Đồ thị giá cho ta một cái nhìn tổng thể về sự thay đổi: giá cả và khối lượng trong một khoảng thời gian nhất định. -Đồ thị giá là sự minh hoạ bằng hình ảnh về giá cả - khối lượng trong quá khứ và sự biến động của chúng là những manh mối về xu thế thị trường trong tương lai Những dự đoán qua đồ thị giá: -Khối lượng giao dịch tăng thường diễn ra trước khi giá tăng -Giá tăng đột ngột thường tuân theo quy luật đồng thời tạo ra các mô hình đặc biệt trên đồ thị giá. -Những mô hình trên thường xuất hiện khi thị trường có điều chỉnh. Chúng được tạo ra ngay trước khi cổ phiếu phá vỡ những mức giá cũ để bắt đầu tạo ra những mức giá mới cao hơn nhiều. Tóm lại: -Khi cổ phiếu phá vỡ mức giá cũ, khối lượng sẽ tăng (tối thiểu 50%) trên khối lượng giao dịch trung bình. -Khối lượng ngày hôm trước tăng và giá tăng: tín hiệu tốt -Khối lượng ngày hôm trước tăng và giá giảm: tín hiệu xấu -Nếu cả hai, khối lượng và giá cả đều giảm: không có hiện tượng bán tháo. SỬ DỤNG CHỈ SỐ:
  8. Thường dùng các chỉ số cân bằng khối lượng (OBV) và chỉ số lưu lượng tiền (MFI) để phân tích một cách cụ thể • Chỉ số cân bằng khối lượng (OBV) Chỉ số cân bằng khối lượng là sự kết hợp giữa khối lượng giao dịch và giá cả. nó có tác dụng đo lường sự di chuyển của đường giá: mạnh, yếu hay chưa rõ rang. • Chỉ số lưu lượng tiền (MFI) Chỉ số lưu lượng tiền là sự kết hợp giữa khối lượng giao dịch và giá cả. Nó là cơ sở để phát hiện thị trường đang trong giai đoạn tích luỹ hoặc phân phối (Bài 8) đồng thời nó là những tín hiệu để xác nhận xu hướng giá và tín hiệu thị trường đảo chiều Phần 2: “Phân tích các chỉ số” sẽ giới thiệu đầy đủ và kỹ càng hơn về các chỉ số kể trên Chu Xuân Lượng
Đồng bộ tài khoản