Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 l

Chia sẻ: buimanhcuong

Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 là cụm từ được giới báo chí sử dụng để chỉ tình trạng bất ổn định tài chính như đói tín dụng và thu hồi nợ, mất giá tiền tệ, sụt giá chứng khoán diễn ra đồng thời nhiều nơi trên thế giới từ tháng 8 năm 2008. Cuộc khủng hoảng này là sự phát triển và lan tỏa của cuộc Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và nó tiếp tục diễn ra cho đến tháng 1 năm 2009....

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 l

Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 là cụm từ được giới báo chí sử dụng để chỉ tình trạng
bất ổn định tài chính như đói tín dụng và thu hồi nợ, mất giá tiền tệ, sụt giá chứng khoán diễn ra đồng
thời nhiều nơi trên thế giới từ tháng 8 năm 2008. Cuộc khủng hoảng này là sự phát triển và lan tỏa của
cuộc Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và nó tiếp tục diễn ra cho đến tháng 1 năm 2009. Cuộc
khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra suy thoái kinh tế ở
nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại ở hầu hết các nước khác.

Mục lục
[ẩn]

1 Ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Hoa Kỳ

2 Tác động đến thị trường chứng khoán các châu

lục
3 Các nỗ lực cứu vãn của các chính phủ

4 Chú thích

5 Xem thêm

6 Đọc thêm

o 6.1 Tiếng Việt
o 6.2 Tiếng Anh

7 Liên kết ngoài



[sửa] Ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Hoa Kỳ
Sau khi ước tính có đến 1.200 tỷ USD biến mất khỏi phố Wall do thị trường sụt giảm[1], các dữ liệu u
ám về kinh tế Hoa Kỳ được công bố sau đó đã đẩy giới đầu tư vào một đợt hoảng loạn mới, khiến chỉ
số Dow Jones có ngày sụt giảm lớn thứ hai trong lịch sử và cuốn phăng thêm 1.000 tỷ USD khỏi phố
Wall[2].

[sửa] Tác động đến thị trường chứng khoán các châu lục
Tại các thị trưòng chứng khoán châu Á, trong số các chỉ số quan trọng, chỉ số Nikkei 225 của Nhật,
Hang Seng của thị trường Hong Kong, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ và Singapore đều sụt giảm
mạnh, trồi sụt liên tục do tác động từ Hoa Kỳ.

Các thị trường châu Âu cũng không thoát khỏi xu hướng đi xuống. Chỉ số FTSE 100 tại Anh, DAX của
Đức, CAC-40 của Pháp... đều diễn biến tương tự.

[sửa] Các nỗ lực cứu vãn của các chính phủ
Mặc dù một kế hoạch chi 700 tỷ USD có tên Bailout được thông qua, các thị trường vẫn không phục
hồi nhanh chóng và nhiều ngân hàng tiếp tục lâm vào nguy cơ phá sản. Người ta nhận định đây là tình
trạng suy thoái kinh tế kéo dài và sẽ ảnh hưởng tới toàn cầu. Jacky Choi, giám đốc quản lý quỹ Value
Partners nói: “Người ta mất tinh thần rất nhanh. Người dân mất lòng tin từng ngày”[3].

Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 là cụm từ được giới báo chí sử dụng để chỉ tình trạng
bất ổn định tài chính như đói tín dụng và thu hồi nợ, mất giá tiền tệ, sụt giá chứng khoán diễn ra đồng
thời nhiều nơi trên thế giới từ tháng 8 năm 2008. Cuộc khủng hoảng này là sự phát triển và lan tỏa của
cuộc Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ năm 2007 và nó tiếp tục diễn ra cho đến tháng 1 năm 2009. Cuộc
khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế các nước, gây ra suy thoái kinh tế ở
nhiều nơi và tăng trưởng kinh tế chậm lại ở hầu hết các nước khác.

Mục lục
[ẩn]

1 Ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Hoa Kỳ

2 Tác động đến thị trường chứng khoán các châu

lục
3 Các nỗ lực cứu vãn của các chính phủ

4 Chú thích

5 Xem thêm

6 Đọc thêm

o 6.1 Tiếng Việt
o 6.2 Tiếng Anh

7 Liên kết ngoài



[sửa] Ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Hoa Kỳ
Sau khi ước tính có đến 1.200 tỷ USD biến mất khỏi phố Wall do thị trường sụt giảm[1], các dữ liệu u
ám về kinh tế Hoa Kỳ được công bố sau đó đã đẩy giới đầu tư vào một đợt hoảng loạn mới, khiến chỉ
số Dow Jones có ngày sụt giảm lớn thứ hai trong lịch sử và cuốn phăng thêm 1.000 tỷ USD khỏi phố
Wall[2].

[sửa] Tác động đến thị trường chứng khoán các châu lục
Tại các thị trưòng chứng khoán châu Á, trong số các chỉ số quan trọng, chỉ số Nikkei 225 của Nhật,
Hang Seng của thị trường Hong Kong, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ và Singapore đều sụt giảm
mạnh, trồi sụt liên tục do tác động từ Hoa Kỳ.

Các thị trường châu Âu cũng không thoát khỏi xu hướng đi xuống. Chỉ số FTSE 100 tại Anh, DAX của
Đức, CAC-40 của Pháp... đều diễn biến tương tự.

[sửa] Các nỗ lực cứu vãn của các chính phủ
Mặc dù một kế hoạch chi 700 tỷ USD có tên Bailout được thông qua, các thị trường vẫn không phục
hồi nhanh chóng và nhiều ngân hàng tiếp tục lâm vào nguy cơ phá sản. Người ta nhận định đây là tình
trạng suy thoái kinh tế kéo dài và sẽ ảnh hưởng tới toàn cầu. Jacky Choi, giám đốc quản lý quỹ Value
Partners nói: “Người ta mất tinh thần rất nhanh. Người dân mất lòng tin từng ngày”[3].




Nưoc mau đo la nuoc bi suy thoai kt, mau hồng là những nước chịu ảnh hưởng


Thứ Tư, 31/12/2008 - 10:29 AM


Năm 2008 - năm của những cuộc khủng hoảng
(Dân trí) - Nếu năm 2007 được gọi là năm của những bất ổn, thì năm nay sẽ có tên năm của
những cuộc khủng hoảng. Khủng hoảng từ nguồn lương thực đến nhiên liệu, từ tài chính đến
chính trị, từ môi trường đến an ninh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của nhân loại.
Khủng hoảng giá lương thực

Đầu năm 2008, thế giới bàng hoàng trước cơn bão có tên là giá lương thực, dù đã
được dự báo. Đã có có ít nhất 37 nước trên thế giới phải đối mặt với tình trạng
khủng hoảng lương thực. Đến những ngày tháng Tư, giá gạo - lương thực chính
của hơn nửa dân số trên toàn thế giới, đột ngột tăng từ 550 USD/tấn lên 760
USD/tấn rồi 1.000 USD/tấn đã khiến hàng triệu người ở châu Mỹ, châu Phi và cả
ở châu Á - “vựa lúa của thế giới” lâm vào cảnh thiếu đói.




Nguồn gạo giảm mạnh, dân số không ngừng tăng 


Chính phủ các nước hầu như không thể tiếp tục trợ giá lương thực. Trung Quốc
phải mở kho dự trữ gạo để kiểm soát giá. Những trận xô xát ở Ai Cập khiến hai
người chết, cuộc bạo loạn ở Buốckina Phaxô và Camơrun đều có nguyên nhân là
thiếu lương thực... Nguồn gạo dự trữ của thế giới trong vụ mùa này hiện đã giảm
xuống còn 70 triệu tấn - mức thấp nhất trong vòng 25 năm qua và chưa bằng một
nửa lượng gạo dự trữ năm 2000. Thời tiết bất ổn là một trong những yếu tố gây
nên tình trạng này. Ngoài ra còn có sự biến động mạnh của kinh tế toàn cầu, bao
gồm giá dầu tăng cao, dự trữ lương thực giảm và nhu cầu tiêu thụ ngày càng gia
tăng ở các nước như Trung Quốc và Ấn Độ.

Khủng hoảng an toàn thực phẩm

Tháng 9 năm ngoái, Chính phủ Trung Quốc cho điều tra xem có phải hai công ty
ở một thành phố ven biển của nước này xuất khẩu thuốc đánh răng chứa chất
độc có nguy cơ gây chết người hay không, thì đến đúng tháng 9 năm nay, Tập
đoàn Tam Lộc ở nước này thừa nhận rằng sữa bột của họ có chứa độc tố
melamine – nguyên nhân dẫn đến cái chết của ít nhất 6 em nhỏ và làm gần
300.000 em khác bị ảnh hưởng, châm ngòi cho cuộc tranh cãi và điều tra có quy
mô toàn cầu về vấn đề an toàn thực phẩm.




Các kệ bán các sản phẩm từ sữa trên hầu khắp thế giới bị xới tung. Một loạt các
nước phát động chiến dịch kiểm tra chất độc hại từ mọi sản phẩm thực phẩm.
Sau đó, khoảng 15 ngàn chó lai chồn, được nuôi để lấy lông chết vì suy thận sau
khi được cho ăn đồ ăn có chất melamine. Melamine lại được phát hiện có trong
cả thức ăn gia súc, trứng gà và đến cuối năm, người tiêu dùng bắt đầu tẩy chay
hoa quả…

Khủng hoảng nhiên liệu
Giá dầu thô thế giới những ngày cuối năm 2008 ngày càng giảm sâu và đến ngày
3/12 đã tụt xuống dưới 45 USD/thùng - mức thấp nhất kể từ tháng 2/05, tức là
gần 4 năm qua. Ít ai ngờ chỉ trước đó vài tháng, mà đỉnh điểm là tháng 7, giá một
thùng dầu thô gấp 3,5 lần như vậy, tác động khủng khiếp đến sinh hoạt, tiêu
dùng và thói quen đi lại của hàng tỷ người dân từ châu Á, châu Âu cho đến tận
châu Phi, châu Mỹ Latinh.




Thế giới bội thực dầu mỏ ­ tin chưa chắc đã tốt 


Giá dầu thô đã giảm khoảng 70% do tình trạng suy giảm kinh tế đang lan rộng
tác động tới nhu cầu năng lượng toàn cầu. Theo nhà phân tích Phil Flynn thuộc
Công ty Alaron Trading, giá dầu đang phải vật lộn để trụ vững trước sức ép tăng
trưởng chậm chạp của kinh tế toàn cầu, ảnh hưởng đến nhu cầu năng lượng.
Theo dự báo hàng tháng mới nhất của Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng Toàn
cầu (CGES), có trụ sở tại London, năm 2008 là lần đầu tiên trong 25 năm qua
nhu cầu dầu mỏ toàn cầu bị giảm sút.

Khủng hoảng tài chính

Từ đầu năm đến hết tháng 5, khắp thế giới dường như chỉ tồn tại hai từ “lạm
phát”. Lạm phát tại những quốc gia thuộc khu vực sử dụng đồng Euro đạt mức
cao kỷ lục trong lịch sử. Tại châu Á, lạm phát đã lên tới 7,5% - gần bằng mức cao
nhất trong 9 năm qua và cao gấp hơn 2 lần so với mức 3,6% của một năm trước,
mà nguyên nhân chính là giá năng lượng và giá lương thực tăng cao.




Khủng hoảng tài chính khiến đồng USD ngày càng mất giá  


Càng về cuối năm, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt nguồn từ việc “vỡ nợ” tín
dụng bất động sản càng chứng tỏ sức tàn phá ghê gớm của với hệ thống tài
chính thế giới. Nước Mỹ chiếm tới 25% GDP của toàn cầu và một tỷ lệ lớn hơn
trong các giao dịch tài chính quốc tế, nên tác động của cuộc khủng hoảng ở Mỹ
không chỉ ở trong nước Mỹ mà còn vượt cả ra ngoài biên giới Mỹ, tác động tới
nhiều nền kinh tế khác trên thế giới. Chính Mỹ rồi lần luợt đến Singapore, Nhật
Bản, rồi đến các nước dùng đồng euro cùng tuyên bố suy thoái. Một loạt các
nước phải tung ra những gói hỗ trợ kinh tế nhiều tỷ USD mà đỉnh điểm là hồi
tháng 10, Cục dự trữ Liên bang Mỹ, Ngân hàng Trung ương Châu Âu và 4 ngân
hàng trung ương các nước khác đã đồng loạt cắt giảm lãi suất, nhằm giảm ảnh
hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ cuộc Đại suy
thoái năm 1929-1933.

Khủng hoảng chính trị
Nếu như đánh dấu khủng hoảng chính trị bằng một điểm đỏ trên bản đồ, thì bản
đồ chính trị của thế giới năm 2008 đồng màu với sàn chứng khoán Mỹ đang phải
nếm trải nhiều thất vọng nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Từ đầu năm là cuộc khủng hoảng chính trị tại Italia, khiến chính phủ phải tuyên
bố giải tán quốc hội với chỉ 23 tháng tồn tại. Tiếp đến là liên tiếp các cuộc khủng
hoảng chính trị ở Gruzia, Libăng, Zimbabwe, Mông Cổ, Ukraine, Nam Phi…, khiến
tình hình thế giới, vốn đang phải vật lộn với cơn bão khủng hoảng tài chính từ
Mỹ, vô hình chung cũng bị tác động không nhỏ.




Người biểu tình chiếm giữ và làm tê liệt sân bay quốc tế Bangkok trong 8 ngày 


Diễn biến căng thẳng và dai dẳng nhất là cuộc khủng hoảng trên chính trường
Thái Lan. Cuộc chiến chưa ngã ngũ này bắt đầu từ cuối năm 2005, khi lực lượng
đối lập phát động làn sóng biểu tình chống Chính phủ của cựu Thủ tướng
Thaksin Shinawatra, và lên đến đỉnh điểm khi quân đội hậu thuẫn phe đối lập đã
tiến hành cuộc đảo chính quân sự lật đổ ông Thaksin tháng 9/2006. Đến năm
nay, Lực lượng đối lập Liên minh Nhân dân vì Dân chủ (PAD) đã tìm mọi cách
buộc Thủ tướng Samak Sundaravej rồi đến Thủ tướng Somchai từ chức với
những cáo buộc vi phạm luật chống tham nhũng và gian lận trong bầu cử.

Khủng hoảng an ninh

Trong khi Trung Đông vẫn giữ nguyên danh hiệu “lò thuốc súng”, Iraq và
Afganistan “đã quá quen” với những vụ đánh bom liều chết đẫm máu, thì điểm đỏ
nhất trong bảng màu khủng hoảng an ninh năm nay dường như nằm ở Pakistan
và Ấn Độ.




Khủng bố tấn công khách sạn Taj Mahal nổi tiếng của Ấn Độ ngày 26/11
 
Liên tiếp trong năm nay, Ấn Độ trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công khủng
bố tàn bạo, mà khủng khiếp nhất là vụ ngày 13/5 ở Jaipur và vụ ngày 26/11 ở
Mumbai. Một loạt vụ nổ bom đã phá huỷ các ngôi chợ đông đúc ở thành phố du
lịch Jaipur, thủ phủ bang Rajasthan, Tây Bắc Ấn Độ, đã cướp đi sinh mạng của ít
nhất 80 người, trong khi các vụ tấn công đồng loạt ở thành phố tài chính Mumbai
làm gần 200 người thiệt mạng khiến cả thế giới phẫn nộ và ý thức về mức độ tàn
bạo của chủ nghĩa khủng bố.

Cùng năm nay, hồi cuối tháng 9, tại Pakistan đã xảy ra một vụ đánh bom khủng
bố đẫm máu nhằm vào khách sạn năm sao Marriott khiến khoảng hơn 300 người
chết và bị thương. Cuộc xung đột giữa Nga và Gruzia xung quanh vấn đề Nam
Ossetia hồi trung tuần tháng 8 cũng là một nhân tố nữa góp phần làm nghiêm
trọng thêm cuộc khủng hoảng an ninh thế giới.

Khủng hoảng môi trường

Cho đến nay, người ta chỉ nghe và nói nhiều đến hiện tượng tị nạn chính trị, tị
nạn tôn giáo hay tị nạn kinh tế. Nhưng ngày nay, còn thêm một loại tị nạn mới và
được coi như một hiện tượng thời đại “Người tị nạn khí hậu”.
Đất đai sẽ cằn cỗi hơn, hoặc sẽ lụt lội hơn 


Đây là một thuật ngữ mới, nhưng đằng sau thuật ngữ này là hiện tượng không có
gì mới. Đó là hàng nghìn người bỗng trở thành kẻ vô gia cư sau những trận động
đất ngày 12/5 ở Tứ Xuyên (Trung Quốc). Đó cũng là những bộ tộc du mục buộc
phải di chuyển về các ốc đảo phía Nam vì vùng phía Nam sa mạc Sahara quá
khô cằn, những ngư dân ở hồ Sát (diện tích mặt nước của hồ trữ nước ngọt lớn
thứ tư Châu Phi này đã giảm đi 90% chỉ trong vòng 40 năm). Đó là những người
dân phải rời bỏ những đảo thấp nằm ở Thái Bình Dương do bị biển xâm thực hay
nước biển dâng lên nhấn chìm cả hòn đảo. Sông băng Byrd ở Đông Nam Cực
đang trôi ra biển với tốc độ nhanh kỷ lục trong 50 năm qua, hay những dòng nước
biển dâng lên theo chu kỳ ở những con phố, từ Lào đến Thuỵ Sĩ.

Chưa bao giờ con người ý thức về tầm quan trọng của môi trường như thế,
nhưng cũng chưa năm nào, những vấn đề về môi trường lại ảnh hưởng đến con
người như thế. Sự thay đổi nhiệt độ trên toàn cầu trong các thế kỷ tới có thể sẽ
làm tuyệt chủng nhiều loài động, thực vật. Các chuyên gia nghiên cứu sự thay đổi
khí hậu của Liên Hiệp Quốc đưa ra lời cảnh báo: 1/3 các giống sinh vật trên trái
đất có nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ trái đất tăng 2 độ bách phân.


Khủng hoảng kinh tế Hoa Kỳ và Chu kỳ kinh tế!
MONDAY, 26. MAY 2008, 09:56:55

               , HOA KỲ,              ,  
TRIẾT HỌC THẾ GIỚI KINH T    
 Ế


Do yêu cầu của sakura nên làm 1 entry về chủ đề này.
Do kiến thức về kinh tế có hạn nên chắc sẽ ko còn nhiều vấn đề không đầy đủ và ... có thể không đúng. Mong 
mọi người góp ý, bổ sung.

Dr.Slump

Trước tiên phải đặt câu hỏi: Hoa KỲ đã thực sự lâm vào khủng hoảng chưa? Và nếu rồi thì nó sẽ kéo dài bao lâu? 
Nhiều dấu hiệu cho thấy kinh tế Mỹ đã đi vào suy thoái. Theo nguyên tắc thông thường, được gọi là suy thoái khi 
GDP giảm liên tục 2 quí. Tuy nhiên cơ quan có thẩm quyền xác định là NBER (Phòng Nghiên cứu Kinh tế là một tổ
chứ vô vị lợi phi chính phủ) cũng có thể du di như cho rằng khủng hoảng đã xảy ra năm 2001 dù GDP chỉ giảm 1 
quí, và khi tuyên bố thì nền kinh tế đã ra khỏi suy thoái. Cuối tuần qua, công ty tài chính Bear and Sterns coi như
phá sản, giá có lúc lên tới 6 tỷ đã được JP Morgan cứu vớt, mua với giá 270 triệu và với bảo đảm của FED về việc 
trả nợ. Rõ ràng khi nhà nước Mỹ ra tay cứu như thế này thì tình hình tài chính rất trầm trọng. Giá các chứng khoán 
đã giảm trên một ngàn tỷ và hiện nay đang có 900 ngàn các căn hộ phá sản vì mất khả năng chi trả, bằng 10% số
nhà cửa ở Mỹ. Không những thế con số này đang tăng. Hoạt động sản xuất cũng rõ ràng đang bị ảnh hưởng. 
Theo một cuộc điều tra lấy ý kiến giám đốc tài chính 475 công ty (13/3/08) của báo tài chính Wall Street Journal, 
hơn một nửa đã tin rằng kinh tế Mỹ đã suy thoái vào lúc này và sẽ tiếp tục cho đến hết năm 2009, với lý do là 
công ty của họ có khó khăn trong việc mượn tiền và do đó họ chỉ có ý định tăng chi đầu tư khoảng 3,3% năm nay, 
tức là chỉ đủ thay thế tài sản cố định thải hồi. Một cuộc điều tra khác, cũng của tờ báo trên, với 51 nhà kinh tế
chuyên làm dự báo, 70% cho rằng kinh tế Mỹ đã đang suy thoái. Đây là những phán đoán chủ quan của chuyên 
gia. Về chứng cớ khách quan từ các cơ quan thống kê Mỹ, GDP quí 4 năm 2007 đã giảm mức tăng đáng kể, chỉ
tăng 0,6%, so với mức tăng 4,9% quí 3. Giá tiêu dùng tăng vào tháng giêng là 0,4% (so với cùng tháng năm 2007 là 
4,3%) nhưng giá sản xuất tăng 1% như thế khả năng giá tiêu dùng sẽ tăng mạnh hơn vào những tháng tới, dù 
rằng giá tiêu dùng không tăng vào tháng hai. Số việc làm ngoài khu vực nông nghiệp không tăng vào tháng 1 và 
giảm 63.000 vào tháng 2. Doanh thu bán lẻ cũng giảm 0,6% vào tháng 2. Thiếu thanh khoản (liquidity) ở Mỹ Nói 
chung, nền kinh tế Mỹ đang thiếu thanh khoản. Theo báo chí, hiện nay Mỹ có khoảng 6.000 tỷ cho vay địa ốc, 
trong đó 2.000 tỷ là dưới chuẩn. Khoảng 700 tỷ dưới chuẩn hiện là do hệ thống ngân hàng Mỹ nắm giữ trong tổng 
tích sản là 11 ngàn tỷ, phần còn lại là các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và nước ngoài nắm giữ. 
Riêng ngân hàng Mỹ nếu các khoản cho vay dưới chuẩn mất hết (tức là giá trị hiện bằng zero) thì vốn tự có cũng 
sẽ gần bằng zero. Coi bảng dưới ta thấy thí dụ nếu chứng khoán dưới chuẩn mất giá, chỉ còn bằng zero chẳng 
hạn (thực ra hiện nay gần như không bán được), thì vốn tự có ở bên trái cũng giảm một giá trị tương tự vì tổng tích 
sản luôn luôn bằng tồn tiêu sản + vốn tự có. Bảng cân đối tài sản ngân hàng Mỹ vào cuối tháng 12 năm 2007 

Tích sản (asssets) Tiêu sản (liabilities)

Cho vay 6,8 Tiêu sản  10,7

Chứng khoán 4,8 Vốn tự có (equity) 0,9

0,7
Trong đó dưới chuẩn

Tổng tích sản 11.6 Tổng tiêu sản 11,6
Vốn tự có của ngân hàng theo luật phải bằng ít nhất 6% tổng tiêu sản (liability) tức là cũng khoảng 600 tỷ. Như
vậy thì ngân hàng phải nâng vốn tự có để đáp ứng được việc rút tiền của khách hàng. Chính vì thế hiện nay ngân 
hàng phải giảm mức cho vay, thu hồi các khoản vay ngắn hoặc trung hạn đã đến kỳ phải trả. Nền kinh tế do đó 
thiếu thanh khoản. Làm sao để giải quyết? Phải chăng nhà nước sẽ phải cứu, hoặc là ngân hàng sẽ phải tăng số
cổ phiếu, bán ra thị trường, nhằm gây thêm vốn. Những cổ phiếu hiện tại tất sẽ giảm giá, lợi nhuận cổ phiếu trong 
tương lai giảm và do đó giá giảm. Đây là điều ngân hàng phải trả cho hành động phiêu lưu của mình. Tất nhiên họ
muốn chính phủ cứu hơn là tự bán ra thêm cổ phiếu. FED đang cố tạo niềm tin để từ đó nâng giá các trái phiếu 
dưới chuẩn, nhưng cho đến nay chưa thành công. Đây là tình trạng khủnh hoảng bảng cân đối tài sản ở Nhật, 
thậm chí vốn tự có của doanh nghiệp nói chung âm vì giá trị tài sản (đặc biệt là địa ốc) giảm mạnh. Lãi suất do đó 
là zero cũng không thúc đẩy nổi doanh nghiệp tăng vay mượn để sản xuất, họ phải giảm vay mượn để gây dựng 
lại vốn tự có. Khủng hoảng ở Nhật kéo dài hơn 10 năm mới tạm được giải quyết. (Độc giả muốn biết thêm xin đọc 
cùng tác giả: http://www.tapchithoidai.org/200401_VQViet_book.htm).  Ở Mỹ hiện nay, không phải chỉ hệ thống 
ngân hàng thiếu thanh khoản, mà các công ty tài chính đầu tư phiêu lưu với độ rủi ro cao (được gọi là hedge 
funds) cũng thiếu thanh khoản để trả cho những người đầu tư muốn bán phần chứng khoán của mình để rút vốn, 
nhưng điều này khó thực hiện vì không biết giá chúng là bao nhiêu, bởi vì các loại dưới chuẩn hiện nay gần như
không có người mua. Các công ty này hiện nay có tổng tích sản bằng ½ tổng tích sản hệ thống ngân hàng và 
nhiều công ty lớn đã phá sản và đang trong giai đoạn phá sản. Mới nhất là Bear and Sterns, Quỹ đầu tư Carlyle. 
Khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ ở mức độ hiện nay là điều chưa từng xảy ra ở Mỹ. Các hành động giảm liên 
tục lãi suất để người vay mượn có thể trả nợ chưa làm thị trường khá hơn. Ngay cả FED cho ngân hàng vay bằng 
200 tỷ US bằng trái phiếu (nhằm tránh đẩy mạnh lạm phát) thị trường vẫn chưa chịu tin. Điều chính là hệ thống 
ngân hàng thiếu thanh khoản mà FED không thể tăng tín dụng quá đáng vì sẽ đẩy mạnh lạm phát, hiện đã đang ở
mức trên 4% (đối với Mỹ là cao). Vốn nước ngoài cũng có dấu hiệu tháo chạy và đồng đô la mất giá mạnh 
thêm Sự kiện khủng hoảng kinh tế Mỹ có nguồn gốc từ tiêu nhiều hơn có, kéo dài từ ít nhất từ 1990 đến nay. Vì 
tiêu nhiều, nhập ngày càng cao hơn xuất, thiếu hụt đã lên tới gần 6% GDP (800 tỷ một năm) và để tiếp tục chi 
tiêu, Mỹ cần thu hút nguồn tài chính nước ngoài. Chính sách FED cũng đã phạm sai lầm trước đây là giữ lãi suất 
quá lâu sau khi giảm để cứu cuộc khủng hoảng trên thị trường chứng khoán, gây ra do sự tụt giá mạnh của chứng 
khoán công nghệ thông tin (được thổi phồng quá đáng). Chính sách lãi suất thấp cùng với tình trạng mở rộng các 
phương tiện tài chính quá tự do mà không có kiểm soát đã đẩy giá nhà đất lên tận trời và việc phải đến đã đến: nó 
phải trở về giá trị thực của nó. Nhu cầu thu hút tiền nước ngoài để tiêu đã từ từ làm mất giá trị đồng đô la, và do 
đó khi khủng hoảng xảy ra, các đồng ngoại tệ khác bỏ chạy, đồng đô lại càng mất giá. Thanh khoản lại càng thiếu 
hụt. Đó là tình trạng hiện nay. Sự kiện đổ tiền vào Mỹ đã chuyển chiều khá rõ vào quí 3 năm 2007, là thời gian có 
thông tin mới nhất từ Cục Phân tích Kinh tế Mỹ (cơ quan trách nhiệm biên soạn Tài khoản Quốc gia, nhưng độc 
lập với Cục Thống kê). Trước đây nước ngoài mua nợ, không phải là trái phiếu Bộ tài chính, đã là (243 tỷ), thì bây 
giờ họ bán tống đi (44 tỷ). Cổ phiếu cũng vậy, họ bán cổ phiếu Mỹ thay vì mua vào. Do khó khăn, đầu tư tài chính 
của Mỹ ra nước ngoài cũng giảm: lượng mua chứng khoán nước ngoài giảm từ 40,4 tỷ xuống 35,7 tỷ; mua trái 
phiếu giảm 82,2 tỷ xuống 78,8 tỷ. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ giảm từ 78 tỷ xuống 56,3 tỷ. So sánh 
thông tin quí 3 với quí 2 năm 2007 cho thấy cảnh tượng khó khăn của kinh tế Mỹ và thế giới; nói chung, tài sản (tài 
chính và phi tài chính) do đầu tư của Mỹ ra nước ngoài chỉ tăng 156 tỷ so với quí trước đó là 465 tỷ. Ngược lại tài 
sản nước ngoài đầu tư vào Mỹ chỉ tăng 249 tỷ so với 619 tỷ vào quí 2. Điều này cho thấy trao đổi về tài chính qua 
lại giữa Mỹ và thế giới đều giảm mạnh. Tuy nhiên đầu tư tài chính của nước ngoài vào Mỹ giảm mạnh hơn. Ảnh 
hưởng trên kinh tế Nhật và châu Âu Vốn tháo chạy khỏi Mỹ, lượng cầu đồng Mỹ giảm, vì vậy đồng đô la giảm 
giá. Điều này có lợi cho Mỹ vì hàng hóa Mỹ sẽ rẻ đi so với hàng hóa Nhật và châu Âu, giúp kinh tế Mỹ điều chỉnh 
lại thị trường, giảm nhập khẩu và tăng xuất khẩu. Nhưng điều này lại gây khó khăn cho Nhật, châu Âu và các 
nước khác. Kinh tế Nhật có vẻ đang thoát khỏi tình trạng trì trệ kéo dài hơn 10 năm. Ba năm qua, kinh tế Nhật 
phục hồi, GDP tăng hơn 2,0% một năm. Tuy vậy, hơn một nửa tốc độ tăng là do xuất khẩu. Chỉ trong vòng năm 
qua, đồng Yen lên giá khoảng 15% so với đồng Mỹ (chỉ hai tháng đầu năm 2008 đã lên giá 8%), và Yen cũng lên 
giá khoảng 7% so với đồng Euro. Chỉ số chứng khoán từ đầu năm đến nay giảm 19%. Điều này cho thấy Nhật sẽ
có khó khăn tăng xuất khẩu và do đó tốc độ tăng GDP sẽ bị ảnh hưởng trong thời gian sắp tới. Lãi suất ở Nhật 
hiện chỉ có 0,5%, có giảm thêm cũng không có tác dụng, cho nên việc sử dụng chính sách tiền tệ có thể nói gần 
như đã bị triệt tiêu. Đồng đô la xuống giá khoảng 20% so với đồng Euro cũng trong vòng năm qua. Hàng Mỹ do đó 
rẻ đi và hàng châu Âu đắt lên, cũng đang ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu vào Mỹ và tốc độ tăng GDP sẽ bị
ảnh hưởng. Nói chung mọi dấu hiệu cho thấy vốn tiếp tục bị rút khỏi Mỹ và do đó đồng đô la Mỹ tiếp tục mất giá. 
Hầu hết các nước sẽ có tốc độ tăng GDP giảm trong năm tới. Và Việt Nam Vấn đề khó khăn kinh tế Việt Nam ở
một mức nhất định khá giống Mỹ: tiêu nhiều hơn có (ngân sách thiếu hụt lớn, có thể là 6%), xuất ngày càng thấp 
hơn nhập (thiếu hụt lớn tới 10% GDP), giá địa ốc lên tới trời. Đáng lẽ thiếu thanh khoản như Mỹ, nhưng do đầu tư
tài chính nước ngoài đổ vào nên làm lạm phát tăng mạnh, đồng tiền thay vì mất giá như ở Mỹ lại lên giá, càng làm 
cho thiếu hụt cán cân thanh toán lớn hơn và các mất cân đối phình to thêm. Việc tăng giá đồng tiền Việt là điều 
khó tránh, nó giúp giảm áp lực lạm phát nhưng nó không thể là công cụ thị trường đưa nền kinh tế đến chỗ tự cân 
đối như ở Mỹ. Bởi vì các mất cân đối lớn về ngân sách và xuất nhập khẩu là do bàn tay nhà nước tạo ra, nằm 
ngoài sự điều động của thị trường. Thu hút dòng vốn nước ngoài vào có tác dụng như đổ thêm dầu vào lửa khi cơ
chế không có khả năng xử lý. Có lẽ một cơ hội nữa lại bị bỏ lỡ chăng? Và điều này không phải do chính sách thù 
nghịch của nước ngoài gây ra. Vậy khủng hoảng kinh tế là gì? Khủng hoảng kinh tế, là sự suy giảm các hoạt động 
kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế. Một định nghĩa khác với cách hiểu ngày nay là 
trong học thuyết Kinh tế chính trị của Mác­Lênin. Từ ngữ chỉ này khoảng thời gian biến chuyển rất nhanh sang giai 
đoạn suy thoái kinh tế. Bài viết này chủ yếu về khái niệm Khủng hoảng kinh tế của Karl Marx vốn vẫn được dùng 
thịnh hành trong Kinh tế chính trị Marx. Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp 
tạm thời. Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời 
nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới. Nhiều nhà quan sát sự áp dụng của học thuyết Marx cho rằng tự
bản thân Karl Marx không đưa ra kết luận cuối cùng về bản chất của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản. 
Thực vậy, những nghiên cứu của ông gợi ý nhiều lý luận khác nhau mà tất cả chúng đều gây tranh cãi. Một đặc 
điểm chủ yếu của những lý luận này là khủng hoảng không phải ngẫu nhiên và không tự nhiên mà nó bắt nguồn 
từ bản chất của chủ nghĩa tư bản với vai trò là một hình thái xã hội. Marx viết, “cản trở của nền sản xuất tư bản 
chính là tư bản”. Những lý luận này bao gồm: * Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận. Tích tụ tư bản gắn liền xu 
hướng chung của mức độ tập trung tư bản. Điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư
bản và có thể đưa đến khủng hoảng. * Tiêu thụ dưới mức. Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai 
cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền 
kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và 
tổng cầu không tương xứng với tổng cung. * Sức ép lợi nhuận từ lao động. Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê 
mướn tăng lên và làm tăng tiền lương. Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến 
một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế. Về mặt lý luận, ít nhất những quan điểm trên không mâu thuẫn 
với nhau và có thể đóng vai trò là những nội dung trong một học thuyết tổng hợp về khủng hoảng kinh tế. Đúng 
vậy, hình thái kinh tế nào cũng trải qua một thứ gọi là chu kỳ kinh tế. Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, 
là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). 
Cũng có quan điểm coi pha phục hồi là thứ yếu nên chu kỳ kinh doanh chỉ gồm hai pha chính là suy thoái và hưng 
thịnh (hay mở rộng) Các pha của chu kỳ kinh tế
Các pha của chu 
kỳ kinh tế * Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định rằng, khi tốc độ
tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới gọi là suy thoái. * Phục hồi là pha trong đó 
GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế. * 
Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh 
(hay còn gọi là pha bùng nổ). Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng 
thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế. Thông thường, người ta chỉ nhận ra hai điểm đáy và 
đỉnh của chu kỳ kinh tế khi nền kinh tế đã sang pha tiếp sau điểm ngoặt với dấu hiệu là tốc độ tăng trưởng GDP 
thực tế đổi chiều giữa mức âm và mức dương. Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu 
của suy thoái vì nó tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội. Một số đặc điểm thường gặp của suy thoái là: * 
Tiêu dùng giảm mạnh, hàng tồn kho của các loại hàng hóa lâu bền trong các doanh nghiệp tăng lên ngoài dự kiến. 
Việc này dẫn đến nhà sản xuất cắt giảm sản lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng giảm và 
kết quả là GDP thực tế giảm sút. * Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm 
xuống tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. * Khi sản lượng giảm thì lạm phát 
sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng 
cũng tăng không nhanh trong giai đoạn kinh tế suy thoái. * Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh và giá 
chứng khoán thường giảm theo khi các nhà đầu tư cảm nhận được pha đi xuống của chu kỳ kinh doanh. Cầu về
vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống trong thời kỳ suy thoái. Còn khi nền kinh tế hưng thịnh thì các dấu 
hiẹu trên biến thiên theo chiều ngược lại. Trước đây, một chu kỳ kinh doanh thường được cho là có bốn pha lần 
lượt là suy thoái, khủng hoảng, phục hồi và hưng thịnh. Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện đại, khủng hoảng theo 
nghĩa kinh tế tiêu điều, thất nghiệp tràn lan, các nhà máy đóng cửa hàng loạt, v.v… không xảy ra nữa. Vì thế, toàn 
bộ giai đoạn GDP giảm đi, tức là giai đoạn nền kinh tế thu hẹp lại, được gọi duy nhất là suy thoái. Ở Việt Nam cho 
đến đầu thập niên 1990, trong một số sách về kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa, khi nói về chu kỳ kinh tế thường 
gọi tên bốn pha này là khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Nay không còn thấy cách gọi này nữa. 
Ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật. Không có hai chu 
kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hay phương pháp nào dự báo chính xác thời gian, 
thời điểm của các chu kỳ kinh tế. Chính vì vậy chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vực 
công cộng lẫn khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn. Khi có suy thoái, sản lượng giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp tăng 
cao, các thị trường từ hàng hóa dịch vụ cho đến thị trường vốn...thu hẹp dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh 
tế, xã hội. Nguyên nhân và biện pháp đối phó với chu kỳ kinh tế Chu kỳ kinh tế khiến cho kế hoạch kinh 
doanh của khu vực tư nhân và kế hoạch kinh tế của nhà nước gặp khó khăn. Việc làm và lạm phát cũng thường 
biến động theo chu kỳ kinh tế. Đặc biệt là trong những pha suy thoái, nền kinh tế và xã hội phải gánh chịu những 
tổn thất, chi phí khổng lồ. Vì thế, chống chu kỳ là nhiệm vụ được nhà nước đặt ra. Tuy nhiên, vì cách lý giải 
nguyên nhân gây ra chu kỳ giữa các trường phái kinh tế học vĩ mô không giống nhau, nên biện pháp chống chu kỳ 
mà họ đề xuất cũng khác nhau. * Chủ nghĩa Keynes cho rằng chu kỳ kinh tế hình thành do thị trường không hoàn 
hảo, khiến cho tổng cầu biến động mà thành. Do đó, biện pháp chống chu kỳ là sử dụng chính sách quản lý tổng 
cầu. Khi nền kinh tế thu hẹp, thì sử dụng các chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nới lỏng. Khi nền kinh tế
khuếch trương thì lại chuyển hướng các chính sách đó sang thắt chặt. Hình 1 minh họa một sự suy thoái do tổng 
cầu giảm: tổng cầu dịch chuyển từ AD sang AD' khiến cho sản lượng giảm từ Q xuống Q' và giá cả giảm từ P đến 
P' (lạm phát giảm). * Các trường phái theo chủ nghĩa kinh tế tự do mới thì cho rằng sở dĩ có chu kỳ là do sự can 
thiệp của chính phủ hoặc do những cú sốc cung ngoài dự tính. Vì thế, để không xảy ra chu kỳ hoặc để nền kinh tế
nhanh chóng điều chỉnh sau các cú sốc cung, chính phủ không nên can thiệp gì cả. Hình 2 minh họa một trường 
hợp suy thoái do tổng cung giảm: vì lý do nào đó (ví dụ giá đầu vào tăng đột biến) tổng cung giảm từ AS xuống 
AS' khiến cho sản lượng giảm từ Q xuống Q' nhưng giá cả lại tăng từ P lên P' (lạm phát tăng). Một số lý thuyết 
chính lý giải nguyên nhân của chu kỳ kinh tế là: * Lý thuyết tiền tệ: cho rằng chu kỳ kinh tế là do sự mở rộng hay 
thắt chặt của chính sách tiền tệ và tín dụng. Đại diện tiêu biểu của lý thuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel 
kinh tế năm 1976, người đứng đầu trường phái Chicago Milton Friedman. Lý thuyết này tỏ ra phù hợp với cuộc suy 
thoái của kinh tế Mỹ 1981­1982 khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất danh nghĩa tới 18% để chống lạm phát. * 
Mô hình gia tốc ­ số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, mô hình này cho rằng các biến động ngoại sinh được lan 
truyền theo cơ chế số nhân kết hợp với sự gia tốc trong đầu tư tạo ra những dao động có tính chu kỳ của GDP. * 
Lý thuyết chính trị: đại diện là các nhà kinh tế học William Nordhaus, Michał Kalecki,... Lý thuyết này quy cho các 
chính trị gia là nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh tế vì họ hướng các chính sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắng 
cử. * Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng: với những đại diện như Robert Lucas, Jr., Robert Barro, Thomas 
Sargent...phát biểu rằng những nhận thức sai lầm về sự vận động của giá cả, tiền lương đã khiến cho cung về lao 
động quá nhiều hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản lượng và việc làm. Một trong những phiên bản của lý 
thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong suy thoái là do mức lương thực tế của công nhân cao hơn mức cân bằng 
của thị trường lao động. * Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực hay tiêu 
cực về năng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trong nền kinh tế và gây ra những dao động có tính 
chu kỳ. Những người ủng hộ lý thuyết này là nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 2004 Edward Prescott, Charles 
Prosser,... Tuy vậy, cho dù mỗi lý thuyết trên đây đều có tính hiện thực, không có lý thuyết nào tỏ ra đúng đắn ở
mọi lúc, mọi nơi. Ngày nay, quan sát các chu kỳ kinh tế ở các nền kinh tế công nghiệp phát triển, người ta phát 
hiện ra hiện tượng pha suy thoái càng ngày càng ngắn về thời gian và nhẹ về mức độ thu hẹp của GDP thực tế. 
Một trong những nguyên nhân quan trọng là chính phủ các nước này đã hiểu biết và vận dụng tốt hơn những hiểu 
biết về kinh tế vĩ mô. Bằng cách kết hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, nhà nước có thể ngăn 
chặn một cuộc suy thoái biến thành khủng hoảng. Chu kỳ kinh doanh khốc liệt tàn phá chủ nghĩa tư bản trong 
những thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản đã được chế ngự.[2] 
Kinh tế
suy thoái do giảm tổng cung Dự báo chu kỳ kinh tế Các chuyên gia kinh tế đã tìm cách xây dựng và phát triển 
công cụ dự báo những thay đổi trong nền kinh tế. Những mô hình đơn giản nhất dựa trên số liệu dễ thu thập như
sản lượng một số tư liệu sản xuất quan trọng (thép,...), khối lượng hàng hóa vận chuyển... rồi công thức hóa số
liệu thống kê để đưa ra chỉ số có tính chất dự báo. Dần dần, với sự phát triển của công nghệ thông tin, người ta 
đã xây dựng những mô hình kinh tế lượng phức tạp với hàng chục nghìn biến số cùng những hệ phương trình 
phức tạp để dự báo. Đi tiên phong trong sự phát triển công cụ dự báo là những nhà kinh tế học Jan Tinbergen (giải 
Nobel năm 1969), Lawrence Klein (giải Nobel năm 1980). Nhờ đó, dự báo biến động kinh tế vĩ mô đã có độ tin cậy 
lớn hơn mặc dù nó chưa đạt độ chính xác cao khi có những thay đổi về những chính sách lớn. Các loại chu kỳ 
kinh tế khác Ngoài chu kỳ kinh tế như vừa trình bày, kinh tế học còn nói đến chu kỳ Juglar, chu kỳ Kuznets, chu 
kỳ Kondratiev, và chu kỳ Kitchen. Tuy nhiên, ngày nay người ta hầu như không dùng các chu kỳ này để mô tả xu 
thế biến động kinh tế nữa do chúng không còn phù hợp với điều kiện hiện đại. Kinh tế chính trị Marx­Lenin cho 
rằng một chu kỳ kinh tế của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa gồm bốn pha là: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và 
hưng thịnh. Theo dự đoán của tỷ phú Warren Buffett, khủng của Mỹ sẽ còn kéo dài. Cho đến nay, các chuyên gia 
vẫn còn tranh cãi liệu nền kinh tế Mỹ đã suy thoái hay chưa. Tuy nhiên, với kinh nghiệm lâu năm trên thương 
trường, mới đây người giàu nhất thế giới Warren Buffett khẳng định Mỹ đã rơi vào suy thoái, và cuộc khủng hoảng 
sẽ kéo dài lâu hơn dự đoán. Trả lời phỏng vấn tạp chí Der Spiegel (Đức), tỉ phú Buffett khẳng định tình trạng "suy 
thoái" ở đây có thể không theo định nghĩa của các nhà kinh tế (hai quí liên tiếp trong năm tăng trưởng âm). "Tuy 
nhiên, người dân Mỹ đã và đang cảm nhận được ảnh hưởng của sự suy thoái. Nó sẽ kéo dài lâu hơn và trầm 
trọng hơn nhiều người nghĩ”. Ông Buffett cho rằng vấn đề là các tổ chức tài chính Mỹ đã đưa ra những công cụ tài 
chính mà họ không thể kiểm soát được. Theo ông, các thị trường tài chính cần phải được quản lý chặt chẽ hơn 
nữa. Cuộc khủng hoảng tín dụng và nhà đất khiến nền kinh tế Mỹ lao đao, tiêu dùng sụt giảm mạnh trong những 
tháng qua. Theo báo New York Times, Mỹ cũng đang phải đối mặt với nguy cơ lạm phát ngày càng lớn. Cuối tuần 
qua, giá dầu lần đầu tiên vượt mức 135 USD/thùng. Chỉ số giá sản xuất (PPI ­ chỉ số giá bán sỉ) tăng với tốc độ
cao nhất trong vòng hai thập niên qua. Các nhà kinh tế dự báo tình trạng lạm phát sẽ còn tiếp tục gia tăng tại Mỹ
trong 12 tháng tới. Mới đây, Quĩ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đưa ra dự báo nhận định kinh tế Mỹ sẽ rơi vào suy 
thoái nhẹ, và chỉ tăng trưởng với tốc độ rất thấp: 0,5% trong năm 2008 và 0,6% trong năm 2009. Mới đây, Cục Dự
trữ liên bang (FED) cũng dự đoán GPD của Mỹ năm 2008 chỉ đạt mức tăng 0,3­1,2%, thấp hơn rất nhiều so với 
con số dự báo 1,3­2,8% trước đó. Tài liệu tham khảo: [1] Vũ Quan Việt ­ Khủng hoảng kinh tế Mỹ lan mạnh trên 
toàn thế giới. http://www.diendan.org/the­gioi/khung­hoang­kinh­te­my/  [2] Wikipedia ­ Khủng hoảng kinh tế
http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_kinh_t%E1%BA%BF  [3] Wikipedia ­ Chu kỳ 
kinh tế http://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_k%E1%BB%B3_kinh_t%E1%BA%BF  [4] Tuoitre.com.vn 
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=259606&ChannelID=2  
Hoa Kỳ đang phải đối diện với khủng hỏang kinh tế nghiêm trọng nhất từ sau Thế
chiến thứ hai
Thanh Hà
Bài đăng ngày 11/11/2008 Cập nhật lần cuối ngày 12/11/2008 08:36 TU




Nền kinh tế tại siêu cường số một thế giới sa sút đến mức tổng thống tân cử Barack Obama phải xem việc mang
lại thịnh vượng cho nước Mỹ là ưu tiên hàng đầu trong nhiệm kỳ bốn năm sắp tới. Phân tích của giáo sư Trần
Hữu Dũng, đại học Dayton, Hoa Kỳ
In bài
Gửi bài
Bình luận bài



Chưa khi nào mà dự phóng tăng trưởng tại cả ba đầu tàu kinh tế thế giới là Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản lại đen tối như
trong giai đoạn này. Tình hình ở Mỹ xấu đến nỗi tất cả các nhà nghiên cứu đều coi đây là một cuộc khủng hoảng nghiêm
trọng nhất trong hơn 50 năm qua.

Ông Barack Obama sẽ chỉ chính thức lên lãnh đạo nước Mỹ vào ngày 20 tháng giêng năm tới, nhưng 3 ngày sau khi đắc
cử, tổng thống vừa được bầu lên của Hoa Kỳ đã tuyên bố : giải quyết khủng hoảng kinh tế, tái lập tăng trưởng và thịnh
vượng cho nước Mỹ sẽ là ưu tiên hàng đầu trong nhiệm kỳ tổng thống 4 năm sắp tới. Tổng thống tương lai của Hoa Kỳ có
thể làm những gì để vực dậy nền kinh tế số một của thế giới ?

Chấn hưng kinh tế : ưu tiên hàng đầu.

Trong suốt thời kỳ vận động tranh cử, ứng cử viên đảng Dân chủ đưa ra kế hoạch chấn hưng kinh tế bao gồm những biện
pháp như gia tăng ngân sách cho các tiểu bang đang gập khó khăn tài chính, tăng trợ cấp cho thành phần thất nghiệp,
giảm thuế cho các hộ gia đình có thu nhập dưới 150 ngàn đô la một năm, giảm thuế đánh vào các doanh nhiệp nhằm
khuyến khích đầu tư và tuyển dụng nhân công.

Trong cuộc họp báo đầu tiên tại Chicago ngày 07/11/2008 Barack Obama nhấn mạnh đến việc thông qua một kế hoạch
kích thích kinh tế nhằm tạo thêm công việc làm, tạo thêm sức mua cho các hộ gia đình trung lưu, làm tất cả để bảo vệ các
doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ ở Mỹ không bị lôi vào vòng xoáy của khủng hoảng, trợ giúp cho nền công nghiệp, như ngành
công nghệ xe hơi đang bị lao đao.
Trọng tâm thứ ba được tổng thống tân cử nhắc đến là việc giúp nạn nhân của cuộc khủng hoảng tín dụng địa ốc nhiều rủi
ro giữ được nhà thay vì phải bán đổ bán tháo bất động sản để trả nợ ngân hàng. Cuối cùng, chính sách của ông Obama
còn nhấn mạnh đến nhiều dự án đầu tư công cộng, đặc biệt là trong các lĩnh vực hạ tầng cơ sở, môi trường, y tế hay giáo
dục.

Tất cả các đầu máy kinh tế cua Hoa Kỳ đều đang gặp trở ngại.

Cũng phải nói là ông Obama chuẩn bị lên cầm quyền trong một giai đoạn cực kỳ khó khăn : các dự báo tăng trưởng của
các chế quốc tế như quỹ tiền tệ FMI hay ngân hàng thế giới, của các viện nghiên cứu hàng đầu ở Mỹ không chút lạc
quan, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, khủng hoảng tín dụng địa ốc nhiều rủi ro kéo dài, chỉ số tin tưởng của người dân Mỹ
xuống đến mức thấp kỷ lục theo như nhận xét của thông tín viên Pierre Yves Dugas của đài RFI từ Washington :

« Kể từ ngày các nhà kinh tế bắt đầu đo lường chỉ số tin tưởng của người dân, yếu tố quyết định cho việc mua sắm,
chưa bao giờ tinh thần của người Mỹ lại rơi xuống thấp đến như trong hai tháng 9 và 10 vừa qua. Lần đầu tiên kể từ năm
2001, sức tiêu thụ ở Mỹ sụt giảm. Tệ hơn nữa, đây là đà suy giảm mạnh nhất tính từ những năm 1980 đến nay. Trong
tháng 10, tập đoàn General Motors bán ra chưa đầy 200 chiếc xe hơi, mức tệ nhất kể từ năm 1975.

Hồi đầu tháng 9 hai ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ, McCain và Obama còn ngang ngửa với nhau. Nhưng với sự kiện thị
trường chứng khoán Wall Street sụp đổ - lại cũng một sự kiện lịch sử chưa từng xảy ra từ năm 1931- khủng hoảng địa ốc
kéo dài, tín dụng ngày thêm khan hiếm … đã trở thành những yếu tố quyết định dẫn đến thắng lợi của ông Obama. Hiện
nay có rất nhiều chuyên gia cho rằng nước Mỹ đang bước vào giai đoạn suy thoái kinh tế trầm trọng nhất từ sau Đệ Nhị
Thế Chiến ».

Việc làm khan hiếm trên thị trường lao động.

Tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ trong tháng 10 đột nhiên tăng vọt, đặt mức kỷ lục 6.5%. Từ 14 năm nay chưa khi nào ở Mỹ có
đến hơn 10 triệu người không có việc làm. Nền kinh tế hàng đầu thế giới đã giải tán đến 240 ngàn công việc làm nội trong
tháng 10. Theo thống kê của bộ lao động Mỹ, từ đầu năm đến nay, hàng tháng, các công ty cũng như các văn phòng hành
chính sa thải thay vì tuyển dụng nhân viên.

Trong 10 tháng đầu năm nước Mỹ đã đánh mất 1,2 triệu công ăn việc làm. Đặc biệt, trong ba tháng trở lại đây, số người bị
mất việc tăng rất nhanh. Nhìn đến từng lĩnh vực, chỉ có ngành giáo dục, công nghệ hầm mỏ, y tế và một vài cơ quan hành
chính thu nhận thêm nhân viên. Dịch vụ vốn thu hút đến 85% nguồn lao động ở Hoa Kỳ bị tác động mạnh hơn cả : hơn
100 ngần chỗ làm bị giải tán trong tháng 10, chủ yếu là nhân viên phục vụ tại các cửa hàng mua bán lẻ do mức tiêu thụ
của Mỹ sụt giảm đáng kể. Ngoài ra các ngành tài chính, ngân hàng cũng đã sa thải hàng loạt.

Chưa có dấu hiệu phục hồi.

Đáng lo ngại hơn cả là các giới chức kinh tế ở Washington tiếp tục dự phóng số người thất nghiệp ở Hoa Kỳ tiếp tục gia
tăng trong những tháng tới, ít nhất là cho đến hết quý một đầu 2009. Viện nghiên cứu High Frequency Economics không
loại trừ khả năng tỷ lên thất nghiệp ở Mỹ tăng đến 7% hay 9% vào đầu năm tới. Về phần quỹ tiền tệ quốc tế FMI dự báo
tổng sản phẩm nội địa Hoa Kỳ vào năm tới có thể bị co cụm lại với tỉ lệ trừ 0.7%.

Chính trong bối cảnh kém thuận lợi này, tổng thống tân cử Obama chia chính sách kinh tế của ông ra làm hai giai đoạn. Ở
giai đoạn một, ông chủ trương phải đưa ra những biện pháp để gọi là "chữa cháy" bước kế tiếp mới là điều chỉnh sâu rộng
để hệ thống an sinh xã hội, chính sách bảo hiểm y tế hay năng lượng …

Biện pháp "chữa cháy".

Trình bày với báo giới hôm thứ sáu vừa qua, tổng thống thứ 44 tương lai của Hoa Kỳ cho biết ưu tiên trước mắt của ông là
bằng mọi giá tạo lại niềm tin trên thị trường lao động. Để thực hiện điều này ông Obama dựa trên ba hướng : một là mở
rộng hệ thống trợ cấp thất nghiệp đến nhiều thành phần, hai là đưa ra các biện pháp nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp vì
đây là động cơ tạo ra công ăn việc làm cho người dân và hướng thứ ba là tạo điều kiện cho các chính quyền địa phương
mạnh dạn đầu tư, tuyển dụng thêm nhân viên …
Chính mục tiêu duy trì công việc làm, giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp là động cơ khiến tổng thống tân cử Hoa Kỳ đặc biệt quan
tâm đến ngành công nghệ xe hơi, vốn được coi là "cột sống" của mạng lưới công nghiệp Mỹ. Hiện nay bốn triệu rưỡi
người lao động ở Hoa Kỳ, tương đương với 2.9 % người đang đi làm phục vụ trong ngành sản xuất xe hơi.

Trong khi đó General Motors, tập đoàn công nghệ xe hơi lớn nhất của Mỹ cho biết có nguy có thiếu hụt tiền mặt kể từ
những tháng đầu năm 2009 và đã phải từ bỏ kế hoạch mua lại một Chrysler. Về phần hãng xe Ford tiếp tục làm ăn thua lỗ
trong quý ba, buộc phải sa thải đến 10% nhân viên ở Mỹ. Số xe bán ra trên thị trường trong tháng 10 giảm 32% so với
cùng thời kỳ năm ngoái, tức là rơi xuống mưc thấp nhất kể từ chiến tranh vùng Vịnh năm 1991.

Nhìn đến một đầu máy kinh tế khác của Hoa Kỳ là khu vực dịch vụ, thống kê mới nhất cho thấy hoạt động trong lĩnh vực
này đang bị giảm mạnh. Toản cảnh u ám như trên, theo giới phân tích bắt nguồn từ nỗi hoang mang của người tiêu dùng
sau khi thị trường tài chính lớn nhất thế giới Wall Street sụp đổ hồi đầu tháng 9, từ tình trạng tín dụng ngày càng trở nên
khan hiếm … Chính vì vậy một trong những trọng trách đầu tiên của tổng thống tân cử Obama là làm thế nào để tái tạo
niềm tin nơi người tiêu dùng và giới đầu tư.

Giai đọan kế tiếp.

Ngoài các biện pháp gọi là chữa cháy như trên, tổng thống tương lai của Hoa Kỳ cũng phải quan tâm đến vấn đề cân
bằng trong ngân sách của chính quyền Liên bang, theo như nhận xét của kinh tế gia Jacques Mistral thuộc viện nghiên
cứu quan hệ quốc tế Pháp IFRI :

"Chính sách kinh tế của Barack Obama trước hết sẽ mang tính thực tiễn. Tổng thống tân cử của Hoa Kỳ ý thức được mức
độ nghiêm trọng của vấn đề và ông cũng dư biết là phương tiện tài chính thì có hạn. Tuy nhiên điều mà tại Washington
mọi người cùng ngầm chấp nhận đó là trong giai đoạn khó khăn, thì chính phủ phải có trách nhiệm tìm ra những giải pháp,
đưa nền kinh tế Mỹ đi lên. Trong bối cảnh trên, chắc chắn ông Obama sẽ tìm cách dung hòa một bên là những mục tiêu
ngắn hạn : gia tăng ngân sách chi tiêu nhà nước để thổi thêm sinh lực vào nền kinh tế, và bên kia là giới hạn thâm thủng
ngân sách của chính quyền liên bang. Đây là việc mà Bill Clinton đã từng làm ở những năm 1990".

Trả lời phỏng vấn tạp chí kinh tế Capital chuyên gia tài chính thuộc cơ quan quản lý đầu tư Newton Investment
Management, Simon Laing tin rằng rút tỉa được những bài học từ hai nhiệm kỳ Bush, ở giai đoạn hai chính quyền của ông
Barack Obama sẽ chú trọng vào việc lành mạnh hóa hệ thống tài chính Hoa Kỳ, giới hạn thâm thủng ngân sách của chính
phủ liên bang.

Có nhiều khả năng trong hai năm sắp tới nước Mỹ sẽ thoát khỏi khủng hoảng, khi đó chính sách kinh tế của nhiệm kỳ 4
năm Obama mới thực sự hình thành. Có lẽ phải đợi đến khi đó ong Obama mới bất đầu xét đến các vấn đề như cải tổ hệ
thống bảo hiềm y tế, rà soát lại các biện pháp an sinh xã hội.

Thứ 7, 07/03/2009, 09:48
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những điều rút ra cho Việt Nam
"Tình hình kinh tế không thể tồi tệ vĩnh viễn, không sớm thì mu ộn nó s ẽ phải ph ục h ồi". Ý ki ến
của TS. Lê Hồng Giang, TS. Trần Vinh Dự và TS. Vũ Thành T ự Anh v ề v ấn đ ề này.



TS. Lê Hồng Giang - Quản lý danh mục đầu tư ngoại tệ cho Công ty Tactical Global Management ở Úc

Bao giờ đến đáy?

Việc GDP các nước hiện đang giảm không phải là điều đáng ngạc nhiên. Trong các nền kinh tế phát
triển, hệ thống tài chính là huyết mạch của nền kinh tế nên khi gặp khủng hoảng nó sẽ làm tất cả các
hoạt động kinh tế khác đình trệ.

Một ví dụ cụ thể là khi các ngân hàng giảm mạnh việc mở tín dụng thư (L/C) cho các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu trong quí 4-2008, ngay lập tức làm định trệ các lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng
xuất nhập khẩu, cho dù cầu của các mặt hàng này vẫn còn.

Bên cạnh đó, khi hệ thống tài chính khủng hoảng kéo theo giá cổ phiếu và giá bất động sản suy giảm
sẽ làm người dân mất một khoản tài sản lớn, dẫn đến tổng cầu của toàn nền kinh tế giảm.

Cho nên câu hỏi quan trọng nhất ở thời điểm này là liệu các hoạt động kinh tế đã giảm đến đáy chưa?
Nếu chưa thì tình trạng suy thoái này còn kéo dài đến khi nào và sẽ còn sụt giảm đến đâu? Đây là vấn
đề gây nhiều tranh cãi giữa các nhà kinh tế.

Phe lạc quan cho rằng kinh tế thế giới sẽ sụt giảm đến đáy trong nửa đầu năm 2009 và sẽ bắt đầu
phục hồi trong nửa sau năm nay, cùng lắm đến năm 2010 sẽ thoát khỏi suy thoái. Nhóm này tin vào sự
phục hồi nhanh vì cho rằng hệ thống tài chính đã qua khỏi cơn nguy cấp và bắt đầu có dấu hiệu phục
hồi.
Dấu hiệu quan trọng nhất là chênh lệch tín dụng (credit spreads) đã giảm xuống dưới ngưỡng tháng 9-
2008. Nhà đầu tư đã bắt đầu chấp nhận rủi ro, ví dụ các hoạt động tận dụng chênh lệch tỷ giá và lãi
suất (carry trade) đã xuất hiện trở lại.

Trong tháng 1-2009 số liệu bán lẻ ở nhiều nước đã có dấu hiệu tăng trưởng và lượng hàng tồn đã vượt
qua đỉnh và sẽ giảm trong quí 2-2009. Giá năng lượng và nguyên vật liệu thô (commodity) tuy giảm
nhiều nhưng đã bắt đầu ổn định.

Chỉ số vận tải biển quốc tế BDI đã bắt đầu phục hồi trong hai tháng đầu năm. Điều này cho thấy
những chính sách giải cứu và kích thích kinh tế của các nước đưa ra từ cuối năm 2008 đã phát huy hiệu
quả.

Ngược lại, nhóm những người bi quan cho rằng thế giới sẽ rơi vào một cuộc suy thoái kéo dài, một
tình hình như Nhật Bản thập kỷ 1990, nếu không phải là một cuộc đại suy thoái lần thứ hai giống như
giai đoạn 1929-1933. Nhóm này cho rằng những chính sách giải cứu và kích thích kinh tế đã và đang
được đưa ra quá chậm và quá yếu nên sẽ không có tác dụng.

Các nền kinh tế lớn sẽ rơi vào tình trạng vòng xoáy nợ - giảm phát, điều mà Irving Fisher đã chỉ ra là
nguyên nhân của cuộc đại khủng hoảng 1929-1933, tức là giá tài sản sụt giảm buộc các nhà đầu tư và
cả các doanh nghiệp phải bán tháo bớt tài sản để trả nợ, điều này lại tiếp tục đẩy giá tài sản xuống
thấp nữa.

Một khi các chính phủ nhận thấy chính sách kích cầu của mình không hiệu quả họ sẽ đưa ra các chính
sách “lợi mình hại người” (beggar-thy-neighbor) như bảo hộ mậu dịch hay đua nhau phá giá đồng nội
tệ. Điều này sẽ tiếp tục làm tình hình kinh tế xấu đi và ngăn cản các nỗ lực phối hợp quốc tế giải cứu
kinh tế.

Để trả lời cho câu hỏi kinh tế thế giới sẽ đi về đâu, tôi xin trích dẫn một lời phát biểu mới đây của
Dennis Lockhart, Giám đốc Fed Atlanta: tình hình kinh tế không thể tồi tệ vĩnh viễn, không sớm thì
muộn nó sẽ phải phục hồi.

Chu kỳ kinh doanh luôn luôn có đỉnh và đáy. Hiện tại chúng ta chưa biết đã xuống đến đáy chưa nhưng
chắc chắn chúng ta sẽ còn đạt được những đỉnh khác cao hơn những gì chúng ta đã đạt được trong quá
khứ.

Một điều gần như chắc chắn là trào lưu tân laissez-faire (học thuyết cho rằng nhà n ước không nên can
thiệp vào kinh tế) khởi đầu từ kỷ nguyên Thatcher-Reagan sẽ chấm dứt.

Ngay cả Alan Greenspan, người đã rất tích cực ủng hộ cho các chính sách gỡ bỏ các quy định
(deregulation) trong thập kỷ 1990, đã phải thừa nhận tái lập hệ thống các quy tắc trong hệ thống tài
chính là điều nên làm và cần làm.

Tự do hóa thương mại vẫn sẽ được hầu hết các nhà kinh tế ủng hộ, nhưng dòng chảy vốn sẽ bị siết
chặt hơn để giảm bớt các bất cân đối quốc tế. Vấn đề phối hợp quốc tế trong các chính sách kinh tế
sẽ được xem trọng hơn, do đó vai trò của các tổ chức quốc tế như IMF, OECD, G7/G20 sẽ nổi bật
hơn.
Đã có đề nghị khôi phục lại vị thế của đồng SDR của IMF để tránh các cuộc khủng hoảng tiền tệ
trong tương lai.

Đối với các nước đang phát triển, chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu sẽ phải được điều hòa
lại với các mục tiêu kinh tế - xã hội trong nước. Các vấn đề môi trường và khai thác tài nguyên sẽ càng
ngày càng được quan tâm hơn, ngay cả ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

TS. Trần Vinh Dự - Chuyên gia tư vấn cho tập đoàn ERS Group, Hoa Kỳ.

Tập trung giải quyết các điểm yếu

Đúng là chu kỳ kinh doanh có đỉnh và đáy, về dài hạn mọi chuyện rồi sẽ quay lại bình thường. Tuy
nhiên, có thể hàng trăm triệu người trên thế giới sẽ không bao giờ có cơ hội hưởng lợi từ sự thịnh
vượng trở lại của nền kinh tế thế giới trong dài hạn.

Về việc làm thế nào để thoát khỏi khủng hoảng, tôi cho rằng cách tiếp cận hiện nay của chính quyền
Obama (Mỹ) là hợp lý. Nói ngắn gọn thì nó có ba nhánh: (1) ngăn chặn đà suy giảm của giá nhà đất, (2)
chữa bệnh cho hệ thống ngân hàng, (3) kích cầu. Nếu giá nhà đất ngưng giảm thì bản cân đối tài sản
của các ngân hàng cũng không tồi tệ thêm.

Tuy nhiên, chỉ riêng việc chặn đà suy giảm của giá nhà thì không đủ vì nhiều ngân hàng hiện nay đã
lâm vào tình trạng zombie banks - tức là các ngân hàng có giá trị ròng (net value) nhỏ hơn không.

Để chữa bệnh cho hệ thống ngân hàng thì chỉ có hai cách là hoặc quốc hữu hóa hoặc tặng không tiền
cho họ. Cách thứ hai đã được cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson vạch ra từ năm ngoái và đã
chứng tỏ thất bại.

Cách đầu hiện nay vẫn chưa được chính quyền Obama chính thức công nhận nhưng có lẽ họ sẽ không
thể không quốc hữu hóa một số ngân hàng lớn. Nếu đúng như vậy thì có thể nói chính quyền Obama
khá quyết đoán và có lý do để hy vọng cuộc khủng hoảng sẽ kết thúc sớm chứ không đi theo mô hình
“một thập kỷ bị đánh mất” như ở Nhật Bản.

Trong tình trạng tiêu dùng tư nhân bị thu hẹp thì việc kích cầu của chính phủ là hợp lý. Có nhiều người
cho rằng kế hoạch này quá chậm. Tuy nhiên, tôi cho rằng làm được như vậy là rất nhanh. Khó lòng có
thể hy vọng việc thông qua một dự luật chi tiêu cả ngàn tỉ đô la Mỹ diễn ra nhanh hơn được.

Theo tôi, có ít lý do để cho rằng khủng hoảng sẽ kéo dài tới năm 2010 và xa hơn, trừ khi chính quyền
Obama phạm phải các sai lầm nghiêm trọng trong việc thực hiện các kế hoạch mà họ vừa vạch
ra.Riêng đối với vấn đề các “mô hình” tăng trưởng.

Gần đây có một số thảo luận và nhiều người đồng ý rằng:

(1) Kiểu tăng trưởng dựa vào mở rộng liên tục tín dụng cho tiêu dùng ở Mỹ trong khoảng 5-6 năm
trước khủng hoảng sẽ không còn đất dung thân. Nước Mỹ đang tằn tiện hơn và phần còn lại của thế
giới cũng sẽ như vậy.
(2) Tăng trưởng dựa vào sự mở rộng liên tục của quy mô sản xuất và đánh cược vào thị trường xuất
khẩu sẽ phải được cân đối lại. Bài học này sẽ áp dụng cho cả Trung Quốc, Việt Nam và các nước
hướng vào xuất khẩu khác.

(3) Tăng trưởng dựa vào đầu tư nước ngoài sẽ khó còn có cơ hội được áp dụng ở Việt Nam vì ít ra là
trong tương lai gần, Việt Nam sẽ khó có thể tiếp cận được với nguồn tín dụng rẻ và dễ như trong thời
gian vừa rồi.

Chúng ta đang ở trong một thời đại hỗn loạn. Của cải chúng ta tích lũy được đang bị mất giá trị với
một tốc độ chóng mặt. Con đường ra khỏi mớ bòng bong này còn chưa thực sự rõ ràng. Việt Nam là
một nước nhỏ với tiềm lực kinh tế yếu. Năng lực phản ứng của chúng ta cũng rất bị giới hạn.

Trong điều kiện đó, ngoài các giải pháp cấp thời (như chính sách kích cầu, chính sách tỷ giá, chính sách
lãi suất...), điều quan trọng là tập trung giải quyết dứt điểm các điểm yếu của nền kinh tế vốn đã bộc
lộ từ lâu nhưng chưa được quan tâm thích đáng:

(1) Trong khoảng hơn một năm qua, Việt Nam thực sự đã trải qua hai cuộc khủng hoảng, một do
chúng ta tự gây ra hồi đầu năm 2008 và một do ảnh hưởng của khủng hoảng toàn cầu từ hồi cuối
2008. Không nên trộn lẫn hai cuộc khủng hoảng này để mơ hồ rằng tình trạng kinh tế Việt Nam hiện
nay là do tác động xấu từ bên ngoài.

Cuộc khủng hoảng tài chính, nhà đất, chứng khoán, cùng các vấn đề liên quan đến cán cân xuất nhập
khẩu và tỷ giá cần phải được mổ xẻ và tìm bằng được lời giải để ngăn chặn các trường hợp tương tự
trong tương lai.

(2) Nguồn lực quốc gia hạn hẹp của chúng ta đang bị phung phí quá mức bởi các tập đoàn kinh tế nhà
nước độc quyền. Cá nhân tôi chưa có điều kiện tìm hiểu hết thực trạng của các tập đoàn này, tuy
nhiên từ những gì chúng tôi đã được thấy thì có thể nói vấn đề đang rất cấp bách.

Để nối lại được mạch tăng trưởng thì Việt Nam nhất định phải triệt để cải tổ các tập đoàn độc quyền
trong các ngành công nghiệp xương sống của đất nước.

(3) Người nghèo cần phải được bảo vệ và hỗ trợ trong khủng hoảng. Chính phủ chưa làm được gì
đáng kể để giảm bớt các khó khăn của người nghèo. Họ là bộ phận dễ bị lãng quên và không được đại
diện một cách thích đáng nhưng lại là một trong những tài nguyên có giá trị nhất cho phát triển kinh tế
của Việt Nam hiện nay.

(4) Bộ máy nhà nước cần phải có sự cải tổ mạnh mẽ. Thực tế năng lực quản lý kinh tế không phải
hàng đầu của Chính phủ trong thời gian qua đã được dư luận mổ xẻ và giới nghiên cứu phân tích
nhiều.

Trong một nền kinh tế hội nhập toàn cầu như hiện nay, việc thiếu vắng các tinh hoa có quyền ra
quyết định trong bộ máy quản lý và điều hành kinh tế của Nhà nước có lẽ là một trong những điểm
yếu nhất của nền kinh tế Việt Nam nói chung.
Đối với các nước đang phát triển, chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu sẽ phải được điều hòa
lại với các mục tiêu kinh tế - xã hội trong nước. Các vấn đề môi trường và khai thác tài nguyên sẽ càng
ngày càng được quan tâm hơn, ngay cả ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

TS. Vũ Thành Tự Anh - Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright và là nhà
nghiên cứu của Chương trình châu Á, trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy.

Thay đổi mô hình kinh tế và mô hình tăng trưởng

Được là người phát biểu sau cùng, tôi sẽ tránh nhắc lại những ý kiến của TS. Lê Hồng Giang và TS.
Trần Vinh Dự để thảo luận, tất nhiên là chưa thể đầy đủ, về một số thay đổi cần thiết trong mô hình
kinh tế và mô hình tăng trưởng của Việt Nam rút ra được từ bất ổn vĩ mô bên trong và khủng hoảng
kinh tế toàn cầu.

Về mô hình kinh tế, thực ra không cần đợi đến khi khủng hoảng kinh tế của nước Mỹ và toàn cầu
bùng phát người ta mới nói đến sự cáo chung của học thuyết và mô hình laissez-faire thuần túy, với
nghĩa “bàn tay hữu hình” của nhà nước hoàn toàn không cần thiết vì mọi sự đã có “bàn tay vô hình” của
thị trường lo liệu.

Trên thực tế, phiên bản mới của học thuyết laissez-faire cho rằng sự tự do của thị trường cần được tôn
trọng tối đa, còn sự can thiệp của nhà nước (thông qua thuế và điều tiết chẳng hạn) cần bị hạn chế ở
mức tối thiểu.

Điều mới từ cuộc khủng hoảng hiện nay là nó buộc các nước phải xem xét lại mối quan hệ giữa nhà
nước và thị trường - một vấn đề chắc chắn sẽ gây tranh cãi lớn giữa các nhà lý luận, chính trị, làm
chính sách và công chúng trên khắp thế giới.

Một câu hỏi quan trọng đối với những quốc gia như Việt Nam là mình có thể học được gì từ cuộc
khủng hoảng của những nền kinh tế đi trước? Có vẻ như một bài học hiển nhiên là nhà nước cần phải
can thiệp nhiều hơn vào nền kinh tế.

Tuy nhiên, do xuất phát điểm của các quốc gia có thể rất khác nhau nên “đơn thuốc” cũng không thể
rập khuôn. Nếu như việc tăng cường vai trò điều tiết của một nhà nước trong nhiều năm thực hiện
chính sách giải quy (deregulation) như nước Mỹ có thể là hợp lý thì chính sách này chưa chắc đã thích
hợp, nếu không nói là có thể phản tác dụng, đối với những quốc gia mà vai trò của nhà nước vừa thừa,
vừa thiếu như ở Trung Quốc hay Việt Nam.

Hơn nữa, ngay cả khi nhà nước có đủ lý do để can thiệp vào thị trường thì phương thức can thiệp như
thế nào cũng phải được cân nhắc. Một biện pháp can thiệp gây tranh cãi của chính quyền Obama là
việc quốc hữu hóa một số ngân hàng.

Mục đích của chính sách “vạn bất đắc dĩ” này là nhằm ngăn chặn hiệu ứng tiêu cực do sự sụp đổ của
các ngân hàng này gây ra cho toàn nền kinh tế Mỹ. Đồng thời, nó đi đôi với một cam kết mạnh mẽ của
chính quyền Obama rằng các ngân hàng này sẽ được trả lại cho khu vực tư nhân khi thị trường hồi
phục.
Hơn thế, chính quyền Obama hy vọng rằng với việc mua cổ phiếu của các ngân hàng gặp khó khăn
với giá rẻ để sau này bán lại với giá cao hơn, ngân sách quốc gia không những không bị mất đi mà còn
được bổ sung một khoản đáng kể.

Một biện pháp can thiệp mà Việt Nam đang định sử dụng là yêu cầu các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN) chia sẻ gánh nặng với chính phủ bằng cách đảm nhiệm thêm một số trách nhiệm xã hội.

Kinh nghiệm của thời kỳ bao cấp ở nhiều nước XHCN cũng như trường hợp thất bại gần đây của
Fannie Mae và Freddie Mac ở Mỹ cho thấy việc thực hiện chính sách xã hội thông qua các DNNN có
nguy cơ thất bại cao.

Nguyên nhân là vì một mặt, nó tạo ra sự nhập nhằng giữa chức năng kinh doanh và trách nhiệm xã hội
của các DNNN, mặt khác nó dễ dẫn đến sự lạm dụng quyền lực của DNNN nhân danh trách nhiệm xã
hội.

Quay lại với trường hợp của Việt Nam, bài học rút ra từ khủng hoảng không phải là sự can thiệp của
nhà nước cần nhiều hơn mà là phải hiệu quả hơn và phù hợp hơn với năng lực vốn có của nhà nước.

Không phải là dừng chương trình cổ phần hóa mà trái lại, cần tiếp tục cổ phần hóa để cải thiện hiệu
quả cho nền kinh tế; không phải là yêu cầu các DNNN phải thực hiện thêm một số trách nhiệm xã hội
mà trái lại, phải tách bạch chức năng kinh doanh khỏi chức năng xã hội.

Không phải là nới lỏng điều tiết đối với DNNN độc quyền mà trái lại, cần điều tiết hiệu quả hơn,
đồng thời tăng cường tính cạnh tranh của môi trường kinh doanh.

Trên phương diện cuối cùng này, đề án tái cơ cấu ngành điện của Bộ Công Thương là một chính sách
hết sức đúng hướng và cần được nhân rộng trong nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế.

Tình trạng bất ổn vĩ mô bên trong và khủng hoảng kinh tế bên ngoài cũng đòi hỏi Việt Nam phải xem
xét lại mô hình tăng trưởng của mình.

Thứ nhất, thực tế đã chứng minh rằng mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào việc thúc đẩy đầu tư của
Việt Nam trong nhiều năm qua tuy có thể đem lại tăng trưởng tương đối cao trong ngắn hạn, nhưng
đồng thời cũng có thể đẩy nền kinh tế ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng dài hạn và bền vững.

Có thể ví nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 như một cỗ xe không chắc chắn nhưng bị thúc phải
chạy với một tốc độ quá cao nên sự xô lệch, thậm chí rạn nứt là điều không thể tránh khỏi.

Thứ hai, mô hình tăng trưởng phụ thuộc quá nhiều vào nhu cầu bên ngoài mặc dù có thể thích hợp
trong điều kiện bình thường nhưng lại khiến nền kinh tế trở nên rất dễ bị tổn thương khi kinh tế thế
giới khủng hoảng. Trong bối cảnh ấy, nói chung nền kinh tế trong nước chỉ có thể gượng dậy khi kinh
tế thế giới phục hồi theo kiểu “nước nổi, bèo nổi”.

Cũng cần phải nói thêm là không chỉ đúng với xuất khẩu, sự phụ thuộc quá nhiều vào “nhân tố nước
ngoài” - từ đầu tư trực tiếp, đến đầu tư gián tiếp, đến những mối quan hệ “chiến lược” trong phát
triển - đều dẫn tới tình trạng dễ bị tổn thương do thiếu khả năng kiểm soát những nhân tố nước ngoài
này.

Thứ ba, mô hình tăng trưởng dựa vào các DNNN quy mô lớn, có vị thế độc quyền trên thị trường trong
nước không những tỏ ra thiếu sức chống đỡ đối với khủng hoảng đến từ bên ngoài, mà trong một
chừng mực nào đó, còn là nguyên nhân gây ra sự yếu kém bên trong của nền kinh tế.

Nếu không có một lượng tín dụng lớn nhưng kém hiệu quả đổ ào ạt vào các DNNN, nếu các DNNN
không đầu tư tràn lan ra các lĩnh vực có tính đầu cơ cao như chứng khoán và bất động sản, nếu như
hoạt động của các DNNN hiệu quả hơn nhờ kỷ luật của Nhà nước (thông qua việc điều tiết) và kỷ
luật của thị trường (thông qua sự cạnh tranh) thì nền kinh tế của Việt Nam đã được chuẩn bị tốt hơn
để đương đầu với khủng hoảng từ bên ngoài.

Thứ tư, mô hình tăng trưởng không chú trọng đúng mức tới tính hiệu quả của việc sử dụng năng
lượng và sự bền vững trong khai thác tài nguyên thiên nhiên tuy vẫn có thể tiếp tục thành công trong
một thời gian nhưng trong dài hạn chắc chắn sẽ phải trả giá rất đắt.

Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản