Kịch - Vũ Như Tô

Chia sẻ: Nababy Trang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:16

0
489
lượt xem
82
download

Kịch - Vũ Như Tô

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cách đây vừa tròn sáu mươi năm, đúng vào dịp kỷ niệm Tết Độc lập lần thứ hai (tháng 9/1946), vở kịch "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng được xuất bản. Với tất cả sự khiêm tốn của mình, tác giả đã không kìm được mình ghi trong nhật ký: "Vũ Như Tô đã xuất bản. Khá bằng lòng. Kịch vĩ đại”. Nhưng đồng thời ông cũng chua thêm một lời bình, như ông vẫn thường có cách nhìn khắt khe về các tác phẩm của mình: “Chỉ tiếc rằng nó cổ”......

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kịch - Vũ Như Tô

  1. 'Vũ Như Tô' ­ một chặng đường trường (phần 1) Nguyễn Huy Thắng Cách đây vừa tròn sáu mươi năm, đúng vào dịp kỷ niệm Tết Độc lập lần thứ hai (tháng 9/1946),  vở kịch "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng được xuất bản. Với tất cả sự khiêm tốn của mình, tác  giả đã không kìm được mình ghi trong nhật ký: "Vũ Như Tô đã xuất bản. Khá bằng lòng. Kịch vĩ  đại”.  Nhưng đồng thời ông cũng chua thêm một lời bình, như ông vẫn thường có cách nhìn khắt khe về  các tác phẩm của mình: “Chỉ tiếc rằng nó cổ”...  Cái mà Nguyễn Huy Tưởng gọi là “khá bằng lòng” ấy, cũng có thể dùng để nói về một vở kịch  khác của ông ra trong cùng năm. Đó là kịch Bắc Sơn mà đến nay cũng vừa tròn sáu mươi năm  tuổi. Xin được dừng lại đôi chút để nói thêm về tác phẩm này. Với hai đêm diễn đầu tiên vào đầu  tháng 4/1946 trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội, vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng đã thu  được thành công vang dội. Các báo đương thời nhất trí đánh giá: “Bắc Sơn xứng đáng là vở kịch  cách mạng thành công nhất từ trước tới nay”, “Bắc Sơn là một vở kịch cách mạng mà không có  tính cách tuyên truyền”, “Bắc Sơn mở ra một nền kịch mới”... Dễ hiểu là thành công này của  Nguyễn Huy Tưởng ­ mà cũng là thành quả chung của nền văn nghệ mới ­ cần được nhanh  chóng phát huy. Như một hiệu ứng lan truyền, khắp nơi người ta diễn kịch dựng kịch Bắc Sơn, từ  Văn Giang đến Nam Định, từ Vinh đến Hội An... Đặc biệt, tháng 7/1946, nghĩa là chỉ ba tháng  sau ngày công diễn, Bắc Sơn được Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản. Đó là một ấn phẩm có thể  nói là đáng mơ ước với bất cứ tác giả nào: ngoài phần kịch bản của tác giả, ấn phẩm còn kèm  theo lời nói đầu của Nguyễn Đình Thi, phụ bản màu của Trần Đình Thọ, bản nhạc Bắc Sơn của  Văn Cao (được dùng làm nhạc nền cho vở diễn), ấn phẩm cũng trích đăng hơn chục trang các bài  báo phê bình kịch Bắc Sơn mà âm hưởng chung là khẳng định giá trị tư tưởng và nghệ thuật của  tác phẩm. Tất cả được in trên một thứ giấy trơn nhẵn, bìa dày, khổ sách cao toát lên vẻ sang  trọng, trang nhã. Ngoài các bản thường, còn có một số bản được đánh số kèm theo chữ ký tác  giả... Trở lại với kịch Vũ Như Tô, cũng là một ấn phẩm khá đẹp, ít nhất là so với lúc bấy giờ. Cuốn sách  được in trên giấy lụa, bìa dày, khổ rộng ngang trông khá là bề thế. Ngoài các bản thường, còn có  thêm một số bản in bằng giấy vêlanh mịn màu kem, cũng được đánh số kèm chữ ký tác giả. Tuy  nhiên, điều đáng lưu ý hơn cả ở ấn phẩm này, theo chúng tôi lại là một chi tiết không thuộc về  hình thức, mà là ở cách đề tên tác giả ở ngoài bìa. Song song với ba chữ Nguyễn Huy Tưởng, là  một hàng chữ kèm theo: Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam. Chúng ta nên hiểu về điều này như thế nào? Khác với Bắc Sơn, Vũ Như Tô không phải do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản. Vở kịch  lịch sử này của Nguyễn Huy Tưởng được xuất bản trong Tủ sách kịch Hoa Lư, một tủ sách  chuyên xuất bản các tác phẩm kịch của các tác giả thuộc mọi khuynh hướng. Ta có thể thấy được  điều này qua mấy tên sách sắp ra trong cùng tủ sách, được quảng cáo ở bìa 4 cuốn kịch Vũ Như  Tô: đó là các vở Thái Nguyên của Hoàng Việt Sinh, Lam Sơn họp mặt, kịch thơ của Nguyễn Xuân  Trâm, Nước lụt, kịch của nhà văn Trung Quốc Điền Hán, do Thế Lữ dịch. Bên trong, ở trang cuối  sách khép lại vở kịch có đề hàng chữ: “Tác giả giữ bản quyền”. Nghĩa là, tác giả có toàn quyền  quyết định để tên mình như thế nào theo ý muốn, và việc ghi danh mình song song với Hội Văn  hóa cứu quốc rõ ràng là ý nguyện của Nguyễn Huy Tưởng. Vậy tại sao Nguyễn Huy Tưởng lại quyết định như thế?
  2. Phải chăng ông làm thế vì lợi ích cá nhân mình? Phải chăng ông muốn mượn danh nghĩa Hội  Văn hóa cứu quốc, cơ quan của đoàn thể để khẳng định vị thế chính trị của mình? Hay phải  chăng ông muốn mượn tiếng Hội hòng làm tăng uy tín cho tác phẩm của mình? Theo chúng tôi  cả ba giả định trên đều không phải. Những ai từng biết Nguyễn Huy Tưởng đều rõ một điều rằng,  ông là người rất coi trọng tư cách nhà văn của mình, một người như ông chắc chắn không bao giờ  mượn bất cứ danh nghĩa gì, ngoài văn học, để khẳng định chân giá trị của mình. Vả lại, ở vào thời  điểm lúc bấy giờ, danh nghĩa Hội Văn hóa cứu quốc chưa hẳn đã là hay, là thuyết phục đối với  một bộ phận không nhỏ văn nghệ sĩ có xu hướng chỉ coi trọng các sáng tác tự do. Thậm chí  “dòng” văn chương của đoàn thể còn bị coi là một thứ văn chương mặt trận. Nhật ký của ông có  đoạn tự nói về kịch Bắc Sơn như sau: “Có tiếng, nhưng có vẻ như là nhờ mặt trận” (17/7/1946).  Còn đây là lời của nhà báo Phạm Ngọc Khuê mà ông ghi lại với đầy chua chát: “Phạm Ngọc  Khuê nói một thằng bị giam muốn cho nó chết chỉ [việc] cho đọc báo mặt trận” (24/5/1946). Vậy thì Nguyễn Huy Tưởng để tên mình đi liền với Hội Văn hóa cứu quốc để làm gì? Câu trả lời duy nhất chỉ có thể là: Với Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Như Tô và Văn hóa cứu quốc là  một, theo kiểu không có cái này thì cũng không có cái kia. Hay nói cụ thể hơn, quá trình ông viết  Vũ Như Tô cũng chính là quá trình ông tham gia hoạt động Văn hóa cứu quốc, chịu ảnh hưởng  trực tiếp của cách mạng khi viết đi viết lại tác phẩm này.  Đây cũng chính là điều chúng tôi muốn được bàn thêm nhằm góp phần lý giải và cắt nghĩa những  thành công mà vở kịch đạt được thông qua cả một chặng đường trường mà tác giả của nó trải qua  khi đến với văn chương và cách mạng. 1. Trước Sống mãi với Thủ đô, Vũ Như Tô là tác phẩm dày công nhất của Nguyễn Huy Tưởng Cho tới nay, nhiều bài viết về Nguyễn Huy Tưởng nói chung và kịch Vũ Như Tô nói riêng vẫn ghi  niên đại ra đời của tác phẩm này là năm 1941. Điều này thực ra đã tồn tại ngay khi tác giả còn  sống. Thậm chí trong danh mục tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng in kèm trang bìa nhiều cuốn  sách của ông lúc sinh thời, cũng đã đề như vậy. Nhưng, như nhật ký của ông cho thấy, mãi đến  tháng 5/1942, Nguyễn Huy Tưởng mới quyết định viết Vũ Như Tô, do một lần làm bài thơ về Lê  Lợi không thành. Khó có thể Nguyễn Huy Tưởng nhớ sai năm viết tác phẩm đầy tâm huyết này  của mình. Theo hình dung của chúng tôi, có thể nhầm lẫn này bắt nguồn từ một lỗi in sai ở một  trong những thư mục tác phẩm hoặc niên biểu ban đầu về ông rồi cứ thế được “tái bản”, và đến  lượt mình Nguyễn Huy Tưởng cũng không muốn đính chính lại làm gì, do thói quen không muốn  quan trọng hóa những gì thuộc về cá nhân mình. Tuy nhiên, ngay cả khi đề đúng năm 1942 thì  vấn đề thời gian ra đời của tác phẩm Vũ Như Tô cũng chưa phải đã được giải quyết một cách  khoa học và thỏa đáng.  Lần lại dòng thời gian mà may thay, gần như được xuyên suốt trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng,  chưa đầy hai mươi ngày sau khi ông nói là “nhất định viết kịch Vũ Như Tô”, vở kịch được hoàn  thành. Ngày 8/6/1942, ông ghi trong nhật ký: “Chép xong Vũ Như Tô. Có một cái buồn thấm thía.  Sao ta lại đặt chuyện này?...” Cũng ngày hôm đó, ông viết lời đề tựa nổi tiếng với câu hỏi được trở  đi trở lại: “Vũ Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải?” Hai câu hỏi ­ một ở nhật ký và một ở lời đề tựa ­ tuy có khác nhau về lời lẽ nhưng đều thể hiện sự  băn khoăn của Nguyễn Huy Tưởng về tác phẩm của mình. Đây là một sự băn khoăn rất đáng quý  vì nó sẽ khiến tác giả tiếp tục nghiền ngẫm về vở kịch. Chép lại xong tập bản thảo, ông đưa cho một số bạn đọc góp ý kiến. Lê Vĩnh Tuy, một người hoạt  động xuất bản ở Hải Phòng (sau này là Phó giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng) đã cho ông những 
  3. nhận xét đầu tiên: “Cuốn Vũ Như Tô, tôi có cảm tưởng như nó khá thì phải” (nhật ký ngày  12/6/1942). Việc công bố xem ra cũng khá thuận lợi. Tháng 4/1943, Nguyễn Huy Tưởng giới thiệu  vở kịch với tạp chí Tri Tân, thì chỉ nửa năm sau, Vũ Như Tô của ông bắt đầu được đăng tải. Ngay  khi vở kịch còn chưa đi đến kỳ báo cuối cùng thì đầu năm 1944, Nhà xuất bản Anh Hoa của Thái  Bá Cơ đề nghị ông cho in sách, và như nhật ký của ông cho thấy, vở kịch đã được cấp phép của  kiểm duyệt. Nhưng chính lúc này, sự nghiền ngẫm của ông về vở kịch cũng chín muồi và trở  thành một thôi thúc ám ảnh: hoàn thiện tác phẩm. Nguyễn Huy Tưởng được đặt trước hai lựa  chọn: tận dụng thời cơ cho in ngay để tác phẩm của mình sớm ra đời, hay sửa lại đã và như thế  có thể ông sẽ bị mất đi cơ hội hiếm có. Nguyễn Huy Tưởng đã chọn cái thứ hai ­ vì nghệ thuật.  Đây cũng là lúc Nguyễn Huy Tưởng tìm đến với cách mạng và trực tiếp tham gia các hoạt động  trong nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật. Những nhận thức mới về cách mạng và dân tộc, sứ mạng  và trách nhiệm của nhà văn đối với nền văn hóa nước nhà mà ông tiếp thu được của đoàn thể,  càng thôi thúc ông sửa chữa tác phẩm. Những băn khoăn về vở kịch lúc này được đem ra trao đổi  với nhiều bạn bè, đồng nghiệp mà nhiều người đồng thời cũng là đồng chí của ông. Có thể nhắc  đến ở đây những người đã góp ý cho vở kịch, được Nguyễn Huy Tưởng ghi lại trong nhật ký:  “Đặng Văn Phan nói nếu sửa chữa vài chỗ thì vở kịch có thể rất “vĩ đại” (nhật ký ngày 15/3/1944);  “Như Phong khen Vũ Như Tô, nhưng bảo nên cho Vũ ít envolée nữa” (ý nói cho nhân vật Vũ Như  Tô bay bổng hơn nữa; nhật ký ngày 24/4/1944). Đặc biệt một người bạn là Nguyễn Trọng Hoàn  đã cho ông những ý kiến rất quan trọng: “Phải thêm các nhân vật vào cho linh động: có xô xát, có  chiến đấu. Phải tả rõ những tư tưởng tuy không rõ rệt, nhưng đã phôi thai trong óc quần chúng: vì  đã có thợ ở trong trường hoạt động”... Từ những ý kiến khen chê đó, đặc biệt là gợi ý đầy “tính  Đảng” của Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Huy Tưởng đã tiếp thu, sàng lọc và dành toàn bộ hai  tháng cuối năm 1944 cho việc trước thuật. Vở kịch được phát triển lớn dần, hay mượn lời một  nhân vật của chính vở kịch, “công việc thì cứ nở ra”. Nếu như ban đầu, tác giả đặt mục tiêu là sửa  lại, thì sau đó, ông quyết định: “Làm lại. Hiện đã thấy vở kịch, tuy chưa thành hình, nhưng đã  nhung nhúc những nhân vật và rắc rối” (nhật ký ngày 23/11/1944). Chính trong lúc lao tâm khổ tứ  với tác phẩm này, ông đã gặp phải nhiều mối lo. Đầu tiên là việc mật thám bắt mấy đồng chí  trong nhóm Văn hóa cứu quốc: Nguyễn Hữu Đang, Như Phong, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài. Tiếp  đến, như ông ghi lại trong nhật ký ngày 14/12/1944: “Mật thám đến hỏi mình về thẻ gia đình. Lo  nghĩ. Mà mình đang viết lại Cửu trùng đài”... Nhưng rồi, vở kịch cũng đã xong. Ngày 20/12/1944,  Nguyễn Huy Tưởng rốt cục đã có thể thở phào nhẹ nhõm: “Sửa xong Cửu trùng đài... một công  đẽo gọt”.  Vậy phải chăng cuộc hành trình của ông với Vũ Như Tô đến đây kết thúc? Có lẽ cho đến lúc này,  ngay bản thân Nguyễn Huy Tưởng cũng không nghi ngờ điều đó. Chép lại xong bản thảo, ông  giao cho nhà Anh Hoa và được hẹn đến tháng sáu năm sau (1945) sẽ in. Nhưng rồi Nhật đảo  chính Pháp và tiếp đến là những ngày tiền khởi nghĩa... Đủ những rối ren khiến cho vở kịch của  ông không thể được in. May thay, cái giá phải trả cho sự lựa chọn “vì nghệ thuật” chỉ là nhất thời.  Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra triển vọng mới cho những tác phẩm tiến bộ, trong đó  có Vũ Như Tô. Ngày 18/6/1946, vở kịch được cấp giấy phép kiểm duyệt (hồi mới giành được chính  quyền vẫn duy trì chế độ kiểm duyệt). Nhưng trước khi đưa in, ông còn sửa lại một lần nữa, tuy  vẫn chưa thực sự hài lòng: “Sửa xong Vũ Như Tô. Cốt hay mà sửa vội vàng” (nhật ký ngày  31/5/1946)(1). Và kết quả là hơn ba tháng sau, vở kịch được in ra, có dạng như hiện nay.(2) Như vậy, tính từ khi được khởi bút cho đến khi định hình, kịch bản Vũ Như Tô đã làm một cuộc 
  4. hành trình kéo dài hơn bốn năm, với ba lần được viết đi viết lại. Nếu tính cả thời gian thai nghén  đề tài và quá trình tác giả tiếp tục nghiền ngẫm không nguôi sau khi sách đã được in ra thì khó có  thể nói ông đã dành thời gian và tâm huyết đến thế nào cho vở kịch. Về phương diện này, hoàn  toàn có thể sánh Vũ Như Tô với Sống mãi với Thủ đô, tác phẩm được coi là dụng công nhất của  Nguyễn Huy Tưởng. Nhà văn Tô Hoài đã dùng hình tượng rất hay khi ví Sống mãi với Thủ đô như  là một Cửu trùng đài mà Nguyễn Huy Tưởng quyết dựng nên cho mình. Nhưng, như trên đã trình  bày, bản thân Vũ Như Tô cũng khác nào một tượng đài như thế đối với Nguyễn Huy Tưởng. Có  thể chỉ là ngẫu nhiên, nhưng đây quả là một sự trùng hợp thú vị: hai tác phẩm ở hai đầu mút của  sự sáng tạo, được coi là hai đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông, đồng thời cũng là hai tác  phẩm dụng công nhất, được huy động tới mức cao nhất tài năng và tâm huyết của tác giả. Điều  này lại một lần nữa minh chứng cho một chân lý, có thể không phải là mới mẻ nhưng chắc chắn  không bao giờ mất đi ý nghĩa, đó là: ngay cả trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, thành công trước  hết là nhờ ở sự khổ công lao động! ***  Nguồn: Tạp chí Văn học số 3 Chú thích: (1) Có lẽ nên hiểu chữ “vội vàng” này của tác giả bằng chữ “gấp gáp” thì sẽ khách quan hơn.  Chúng ta biết rằng vào lúc ấy, Nguyễn Huy Tưởng và các đồng chí của ông đang bận trăm công  nghìn việc. Nào việc Hội Văn hóa cứu quốc, nào việc báo Tiên phong. Riêng Nguyễn Huy Tưởng  còn giữ trọng trách Tổng thư ký ủy ban trung ương vận động Đời sống mới. Ông cũng lại vừa  trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa I tỉnh Bắc Ninh, một trách nhiệm to lớn mà ông phải lo gánh vác  trước nhân dân tỉnh nhà. Về mặt sáng tác là điều quan thiết với ông hơn cả, vở kịch Bắc Sơn vừa  được công diễn cũng đang đòi hỏi tác giả gia công thêm trước khi in thành sách... Tóm lại thời  gian ông dành cho việc sửa Vũ Như Tô có thể là tối thiểu so với mong muốn của ông, nhưng đã là  tối đa so với quỹ thời gian mà ông có được. (2) Thực ra, ngay cả ở lần in này, vở kịch vẫn chưa có một thành phần rất quan trọng là lời Đề tựa  ông viết từ năm 1942. Ông chỉ có thể dán lời Đề tựa đã được đánh máy cẩn thận vào một bản in  đẹp mà ông cho đóng bìa cứng và sửa chữa thêm đôi chỗ để lưu lại. Sau này, khi làm tuyển tập  kịch của ông vào năm 1963, bà quả phụ Nguyễn Huy Tưởng đưa cuốn sách đó cho nhà xuất bản  để dùng làm văn bản chính thức. ‘Vũ Như Tô’ ­ một chặng đường trường (phần cuối) Nguyễn Huy Thắng Sẽ thật bổ ích và lý thú khi biết được quá trình sáng tác và sửa chữa tác phẩm của nhà văn. Gác  sang một bên sự tò mò chính đáng của độc giả, những thông tin đó còn giúp cho việc nghiên cứu  tác giả và tác phẩm thấu đáo hơn rất nhiều. Điều này lại càng đúng với trường hợp Vũ Như Tô,  một tác phẩm mà càng với thời gian càng gây được mối quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình.  2. Giữa hai Vũ Như Tô là một sự thay đổi về chất Sẽ thật bổ ích và lý thú khi biết được quá trình sáng tác và sửa chữa tác phẩm của nhà văn. Gác  sang một bên sự tò mò chính đáng của độc giả, những thông tin đó còn giúp cho việc nghiên cứu  tác giả và tác phẩm thấu đáo hơn rất nhiều. Điều này lại càng đúng với trường hợp Vũ Như Tô,  một tác phẩm mà càng với thời gian càng gây được mối quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình. 
  5. Giờ ta hãy thử xem sự lao tâm khổ tứ của tác giả đã giúp cho tác phẩm của ông vươn tới những  gì. Chúng ta đều biết Vũ Như Tô là câu chuyện về việc xây dựng Cửu trùng đài. Thoạt đầu, nhà kiến  trúc tài ba quyết không chịu đem tài năng phục vụ cho hôn quân bạo chúa. Nhưng rồi nghe theo  cung nữ Đan Thiềm, ông đã chấp thuận mượn tay vua Lê Tương Dực để thực hiện hoài bão sáng  tạo của mình. Công việc thổ mộc vĩ đại chưa từng có khiến cho ngân khố hao hụt, dân chúng lầm  than. Kết cục, chính những người thợ xây dựng Cửu trùng đài đã nổi dậy giết Vũ Như Tô, thiêu  hủy tòa lâu đài mới xây được non nửa. Vũ Như Tô ngay ở lần in đầu tiên trên Tri Tân(3), tuy chỉ gói gọn trong ba hồi kịch nhưng đã có  được trọn vẹn hình hài này. Vở kịch cũng đã đưa ra được một chân dung với những kích cỡ quá  khổ của nhân vật Vũ Như Tô: một bậc kiến trúc sư có “tài trời”, người mang một ước nguyện lớn  lao: “xây một lâu đài nguy nga tráng lệ, cùng với vũ trụ trường tồn”, một vị chỉ huy xây dựng quyết  đoán như ông tướng cầm quân: “”kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu”, và “quyết đánh tan hết những  kẻ thoái chí”, một tổng công trình sư sống chết với công trình của mình: khi quân khởi loạn nổi lên  tìm bắt chàng, Vũ Như Tô khảng khái nói: “Tôi sống với Cửu trùng đài, và chết cũng với Cửu trùng  đài. Tôi không thể xa Cửu trùng đài một bước. Hồn tôi để cả đây, thì tôi chạy đi đâu?”...  Về nhân cách, Vũ Như Tô được khắc họa như một nghệ sĩ đích thực, trước sau nhất quán với  chính mình: “Biết đa mang là khổ nhục nhưng không sao bỏ được. Như bóng theo hình”; là một  người thợ “có hoa tay tuyệt thế” nhưng chàng luôn tâm niệm “phần hồn mới là phần chính”; là một  kẻ sĩ “không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời”, chàng  chịu mượn tay vua Hồng Thuận xây dựng Cửu trùng đài cũng chỉ cốt “dựng một kỳ công muôn  thuở”, và chính vì thế mà chàng luôn ý thức rằng mình vô tội: “Ta có tội gì? Không ta chỉ có một  hoài bão là tô điểm đất nước, đem hết tài chí ra xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ”(4)...  Về mặt kịch tính, bản Tri Tân cũng đã có được các cao trào, hay nói như giáo sư Đỗ Đức Hiểu  trong bài Bi kịch Vũ Như Tô(5), “những cảnh lớn” của kịch bản. Đó là ba lần cặp tài tử giai nhân  Vũ Như Tô ­ Đan Thiềm xuất hiện trên sân khấu ở đầu Hồi thứ nhất, cuối Hồi thứ hai và xuyên  suốt Hồi thứ ba (ở bản Hoa Lư, lần lượt là các hồi thứ nhất, thứ ba và thứ năm): “Mỗi lần Đan  Thiềm cùng Vũ Như Tô xuất hiện trên sân khấu, đánh dấu một biến động lớn của hành động kịch.  Có thể gọi những cảnh ấy là Những Cảnh Lớn của kịch bản”. Tương ứng với những cảnh lớn ấy là  “Cửu trùng đài sắp mọc lên, Cửu trùng đài đang vươn lên trời cao và Cửu trùng đài sụp đổ, và  cũng có nghĩa mối tình tri kỷ nảy sinh, gắn bó thiết tha và chìm vào cõi chết.” (6)  Về cái gọi là “bệnh Đan Thiềm”, một định danh giờ đây thường được các nhà nghiên cứu nói đến  nhiều nhất khi tiếp cận vở kịch, thì với ba hồi của bản Tri Tân cũng đã được phát lộ khá rõ. Bệnh  Đan Thiềm, như nhà phê bình văn học Phạm Vĩnh Cư đã chỉ ra trong bài Bàn thêm về bi kịch Vũ  Như Tô(7), là “bệnh khát khao và quý giá chỉ một cái đẹp siêu đẳng”(8). Mang căn bệnh này là  hai kẻ đồng bệnh Vũ Như Tô ­ Đan Thiềm (dẫu rằng vinh dự mang tên chỉ thuộc riêng nàng cung  nữ). Chúng ta hãy cùng nghe những lời có cánh của họ: “Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến  cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây... Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả. Vua Hồng  Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời” (lời Đan Thiềm  khuyên Vũ Như Tô, Hồi thứ nhất, Cảnh VII); “đài phải xây theo đúng kiểu bản đồ này, không thay  đổi một ly nào... Huống chi xây Cửu trùng đài, vì Hoàng thượng thì ít, mà vì tiện nhân thì nhiều”  (lời Vũ Như Tô nói với Lê Tương Dực, Hồi thứ nhất, Cảnh IX); “Đối với Đan Thiềm, ta chỉ có tình tri  kỷ... Vì có bà mà đường kiến trúc của ta nẩy ra những ngón dị kỳ” (độc thoại của Vũ Như Tô, Hồi 
  6. thứ hai, cảnh VIII); “Sự nghiệp thì mênh mang, sức người có hạn... Tiên sinh nên thận trọng, kẻo  có mệnh hệ nào thì lấy ai xây tiếp Cửu trùng đài?” (Đan Thiềm, với Vũ Như Tô, Hồi thứ hai, Cảnh  VIII)... Thế rồi, khi dân chúng nổi lên đốt phá Cửu trùng đài, thì đó cũng đồng thời là kết cục của  hai tâm hồn cao cả chỉ biết có cái đẹp: “Đài lớn tan tành! xin cùng tiên sinh vĩnh biệt” (lời Đan  Thiềm trối lại cùng Vũ Như Tô lúc nàng bị đem đi hành quyết, Hồi thứ ba, Cảnh VII); “Đời ta  không quý bằng Cửu trùng đài” và “Thôi thế là hết. Dẫn ta mau đến pháp trường” (những lời cuối  cùng của Vũ Như Tô trước khi “Màn hạ nhanh” khép lại vở kịch)... Những đoạn trên đều được trích dẫn từ bản Tri Tân, và, không nghi ngờ gì nữa, tình yêu nghệ  thuật thuần khiết của hai tâm hồn cao đẹp đó chính là lý do khiến tác giả hạ bút viết trong lời Đề  tựa, được soạn ngay sau khi chép xong bản thảo: “Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan  Thiềm”. Lời tâm sự đó dễ làm người đọc tưởng như Nguyễn Huy Tưởng đã yên bề với tác phẩm  của mình? Thế nhưng, cùng ngày hôm đó ông ghi trong nhật ký một nhận xét không thể xem nhẹ  về vở kịch: “Hoàn toàn bịa đặt, nhưng một biểu hiện rất hay” (nhật ký ngày 8/6/1942). Ở đây xin  đặc biệt lưu ý về chữ dùng này của Nguyễn Huy Tưởng. Ông viết “bịa đặt”, chứ không phải là “hư  cấu” hay “tưởng tượng”. Chúng ta biết rằng, trong văn học nhà văn có quyền hư cấu, tưởng tượng  ­ thậm chí điều này còn là cần thiết nữa ­ để cho tác phẩm của mình thêm bay bổng, miễn sao sự  việc diễn ra như thật và nhân vật như bằng xương bằng thịt. Nhưng bịa đặt thì lại là chuyện khác  mất rồi. Bịa đặt là một cái gì đó thuộc về ý chí chủ quan của tác giả, nhằm thuyết phục độc giả tin  vào cái mà tác giả muốn người ta tin theo. Hẳn Nguyễn Huy Tưởng không bao giờ muốn tác  phẩm của mình chỉ là một thứ thuyết giáo đại loại! Như một người cha không thôi đau đáu về đứa con tinh thần của mình, Nguyễn Huy Tưởng nhận  ra rằng, tác phẩm của ông còn chưa đủ thấu đáo, rằng, khi chỉ ra căn bệnh Đan Thiềm, đấy là  ông mới để cho cặp nhân vật của ông nói thay những tư tưởng của mình. Vở kịch của ông còn  chưa có được sự phát triển tự thân, nội tại, nói cách khác, còn chưa đủ chất liệu nghệ thuật để  chứa tải những tư tưởng đó. Thế rồi, như ở trên đã có nói, Nguyễn Huy Tưởng đến với cách mạng.  Cùng với những nhận thức ngày một chín muồi về văn chương nghệ thuật, ông cũng có dịp trao  đổi với bạn bè, đồng chí về vở kịch, và nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu. Hội tụ tất cả  những yếu tố ấy, người nghệ sĩ mẫn cảm, nhà văn cần mẫn Nguyễn Huy Tưởng đã quyết định  viết lại hoàn toàn vở kịch. Nhật ký ngày 5/2/1933, của ông ­ khi ấy Nguyễn Huy Tưởng mới 21 tuổi đầu ­ có câu: “Khi người  ta biết chữa văn của mình bấy giờ người ta mới dám chắc ở cái tài của mình”. Câu nói ấy, giờ đây,  phải chăng đã có thể diễn đạt khác đi như thế này: “Khi người ta đã chắc ở cái tài của mình, người  ta mới có thể chữa văn của mình”. Cẩn trọng mà say sưa, tự tin và cầu thị, nhiệt thành nhưng tỉnh  táo, đó là điều ta có thể hình dung về Nguyễn Huy Tưởng những ngày viết lại tác phẩm này, khi  ông đã ở vào tuổi “tam thập nhi lập”, để tạo nên một Vũ Như Tô thay đổi về chất. Trước hết về  quy mô, bản Hoa Lư là một vở kịch năm hồi bề thế so với bản Tri Tân chỉ có ba hồi với khoảng  phân nửa số trang. Thứ hai là về nhân vật, nếu như bản Tri Tân chỉ có hai nhân vật thợ có tên  (Phạm Ất và Nguyễn Ba) thì bản Hoa Lư có đến năm nhân vật (Hai Quát và bốn ông “phó”); nếu  như bản Tri Tân có nhân vật Hoàng hậu (mà ở bản Hoa Lư được bỏ đi), thì đến lượt mình, bản  Hoa Lư có thêm các nhân vật quan Đông các đại học sĩ Nguyễn Vũ, Thái tử Chiêm Thành và Thị  Nhiên, vợ Vũ Như Tô. Chỉ với hai sự so sánh kể trên đã phần nào thấy được sự khác biệt về căn bản giữa hai văn bản  Vũ Như Tô. Nhưng với một tác phẩm văn học, không phải quy mô hay dung lượng mà trữ lượng tư 
  7. tưởng và nghệ thuật mới là cái đáng kể. Với một vở kịch thì những yếu tố này phải làm sao được  thể hiện qua những lớp lang của vở, với những cao trào và khoảng lặng, với những nhân vật thay  đổi vào ra, nói năng, hành động... trên sân khấu. Có thể hình dung mà không sợ sai rằng, khi  nhìn lại kịch bản của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã nhận thấy ba hồi kịch diễn ra có phần nóng  vội, gấp gáp, giống như ba đợt sóng liên tiếp mà ở đỉnh sóng luôn luôn là cặp tài tử giai nhân Vũ  Như Tô ­ Đan Thiềm. Riêng từng đợt sóng ấy có thể là hùng, là đẹp đấy, nhưng khi lắp vào với  nhau thì rõ ràng là đơn điệu và chưa thể hợp thành một chỉnh thể hài hòa. Thế là, giữa các hồi thứ  nhất và thứ hai, thứ hai và thứ ba ông thêm vào hai hồi nữa mang số chẵn, có âm hưởng dân dã  hơn với tuyến nhân vật nhộn nhạo hơn. Vở kịch giờ đây được kết cấu như một tác phẩm giao  hưởng cổ điển, gồm các chương nhanh chậm đan xen, hòa quyện, với nhiều hợp âm thú vị gây  mỹ cảm.(9) Bên cạnh chức năng thẩm mỹ, hai hồi kịch mới này còn cho phép tác giả có thêm “đất” để đưa  vào hàng loạt nhân vật với các tầm mức quan trọng khác nhau, đặc biệt trong đó phải kể đến  nhân vật Thái tử Chiêm Thành và Thị Nhiên, phải, nhân vật Thị Nhiên vợ Vũ Như Tô mà theo  Phạm Vĩnh Cư, chỉ riêng cái tên không thôi đã là một sáng tạo đáng phục của Nguyễn Huy  Tưởng. Nếu như ở các hồi lẻ I, III, V, nổi lên những hợp âm thống thiết, như tung như hứng của  cặp bè đôi Vũ Như Tô ­ Đan Thiềm, thì ở các hồi chẵn II, IV này, những âm điệu “đồng sàng dị  mộng” không mấy ăn nhập của cặp vợ chồng Vũ Như Tô ­ Thị Nhiên đem đến cho vở kịch một sự  đối âm trong thế cân bằng uyển chuyển(10). Trong đó, màn đối thoại của cặp vợ chồng này ở Hồi  thứ tư, khi Vũ Như Tô say sưa nói về công trình của mình mà không để ý gì đến những lời ca thán  của vợ chàng về nỗi khổ của dân chúng do phải phục dịch Cửu trùng đài, còn được Phạm Vĩnh  Cư coi là một trong những màn hay nhất của vở kịch.  Cũng vẫn nhân vật Thị Nhiên, cùng với nhân vật Thái tử Chiêm thành đã đem đến cho vở kịch  một phẩm chất mà tác phẩm văn học lớn nào cũng có tham vọng đạt tới. Đó là tính đa nghĩa, đa  chiều. Nếu như trước đây, người ta thường chỉ tìm thấy ở Vũ Như Tô những vấn đề “dễ thấy” như  mối quan hệ giữa nghệ sĩ với cường quyền, nghệ sĩ với nhân dân, thì bước vào thời kỳ đổi mới,  nhà phê bình văn học Văn Tâm trong một bài viết có cái tiêu đề khá lạ lẫm, Vũ Như Tô trong cuộc  đời bát nháo(11), đã phát hiện ra một vấn đề lớn khác mà vở kịch đặt ra, đó là mối quan hệ giữa  quyền lợi dân tộc và quyền lợi nhân dân. Theo Văn Tâm, dân tộc và nhân dân là hai khái niệm  không hoàn toàn đồng nhất, mà ở một trường hợp cụ thể như vụ việc xây dựng Cửu trùng đài, tuy  là chuyện có thật trong lịch sử nhưng khi được tái hiện thông qua hư cấu hóa trong vở kịch của  Nguyễn Huy Tưởng, thì quyền lợi dân tộc và quyền lợi nhân dân thực sự đã không đồng hành,  thậm chí còn là ngược chiều. Nhân vật Thị Nhiên, người chỉ cần “quạt thóc, băm bèo, cũng đủ hú  hí mẹ con”(12) vô hình chung đã mang tính biểu tượng cho thực thể nhân dân, trong thế đối  kháng với thực thể đối sánh với nó là nhà cầm quyền, được biểu hiện bởi vua Lê Tương Dực, kẻ  hễ cứ mở miệng ra là đòi chém giết. Cung nữ Đan Thiềm, người luôn khát khao “dân ta nghìn thu  được hãnh diện”, chính là biểu tượng cho thực thể dân tộc trong thế đối kháng với thực thể đối  sánh là dân tộc khác mà Thái tử Chiêm Thành là biểu tượng; nhân vật này, như trong vở kịch đã  chỉ ra, vừa là nạn nhân ­ bị Lê Tương Dực bắt làm con tin, vừa là mối hiểm họa cho nước Đại Việt  khi tìm cách tiếp tay cho vua Lê xây Cửu trùng đài, khiến cho dân cùng nước kiệt. Mặt khác, khi thêm vào các nhân vật nói trên, hình tượng Đan Thiềm không những không bị nhạt  đi, mà căn bệnh của nàng càng trở nên phức tạp, “có vấn đề” hơn. Trên kia chúng tôi đã trích dẫn  một định nghĩa của Phạm Vĩnh Cư về căn bệnh Đan Thiềm: đó là “bệnh khát khao và quý giá chỉ 
  8. một cái đẹp siêu đẳng”. Thực ra đó là chúng tôi mới trích dẫn có nửa vế. Trong bài viết thấu đáo  của mình, sau lời định nghĩa nói trên, nhà nghiên cứu còn đặc biệt lưu ý: “Cái đó (bệnh khát khao  và quý giá chỉ một cái đẹp siêu đẳng) có thể châm chước cho nàng, nhưng nếu họ Vũ chỉ say  đắm Đan Thiềm và quên hẳn Thị Nhiên, thiên tài của chàng sẽ cạn kiệt.”(13) Tất nhiên, nếu xét thêm về mặt sân khấu học, còn có thể bàn thêm về nhiều điều khác nữa như  hành động kịch, đất diễn của nhân vật... mà hai hồi bổ sung này đã đem lại cho vở kịch. Ít nhất  thì chúng cũng giúp cho cả hai nhân vật chính Vũ Như Tô và Đan Thiềm có thêm đất diễn trong  thế tương quan chặt chẽ với các nhân vật được mở rộng ngoài phạm vi cung đình. Tuy nhiên, đây  lại thuộc về một lĩnh vực khác mà chúng tôi xin phép không bàn tới ở đây. 3. Dấu ấn của hai lần sửa chữa trước và sau Cách mạng Sẽ là thú vị nếu biết Nguyễn Huy Tưởng đã đạt được những gì qua mỗi lần sửa chữa tác phẩm  (xin được nhắc lại, lần thứ nhất là vào cuối năm 1944, lần thứ hai là giữa năm 1946). Đây quả là  điều rất khó vì bản thảo của cả hai lần sửa chữa đó đã không còn. Tuy nhiên, dựa vào nhật ký và  bản thân tác phẩm của ông, chúng ta có thể hình dung được phần nào. Khỏi cần phải nói, những thay đổi cơ bản nhất đã được thực hiện ngay trong lần sửa thứ nhất.  Nhật ký của ông còn ghi lại: “Thảo xong plan (đề cương) Cửu trùng đài.” 10/12/1944); “Bắt đầu  viết lại Cửu trùng đài. Hồi thứ hai (thêm). Văn chạy, hai hôm viết được 12 trang.” 11/12/1944);  “Sửa xong Cửu trùng đài. Dài lắm... Nhưng không đến nỗi chết như vở cũ. Linh động hơn nhiều,  và có lý hơn nhiều.” 20/12/1944)... Nghĩa là, về quy mô cũng như về kịch tính, vở kịch đã được  thay đổi về chất. Còn về nhân vật? Xin lại được dẫn ra đoạn nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng mà  chúng tôi đã có nêu ở phần đầu: “Hoàn đã cho ý kiến về việc viết lại Vũ Như Tô. Phải thêm các  nhân vật vào cho linh động: có xô xát, có chiến đấu. Phải tả rõ những tư tưởng tuy không rõ rệt,  nhưng đã phôi thai trong óc quần chúng: vì đã có thợ ở trong trường hoạt động. Cái vô ý thức cần  phải tả cho thực khéo, đừng cho họ nói những lý thuyết của mình.” 21/11/1944). Rất tiếc là đến nay chúng tôi vẫn chưa xác định được người bạn (hay người đồng chí) này của  Nguyễn Huy Tưởng là ai, ngoài việc ông là một “người có chí khí”, “gầy, và cao, nhưng rắn rỏi”,  tên đầy đủ là Nguyễn Trọng Hoàn. Nhưng rõ ràng, đây là người đã chia sẻ với Nguyễn Huy Tưởng  những ý tưởng hết sức quan trọng về việc sửa lại Vũ Như Tô, đặc biệt là về phương diện các nhân  vật thợ và thế giới quan của nhà văn đối với họ. Thực tế là sau đó, tác giả đã đưa vào vở kịch của  mình năm nhân vật thợ mới: Hai Quát, Phó Bảo, Phó Cõi, Phó Toét, Phó Độ. Năm người lúc đầu  cùng hăm hở giúp Vũ Như Tô xây đài, nhưng khi công việc gặp khó khăn (phải nói là khó khăn  ghê gớm), động chạm thiết thân đến mỗi người, thì giữa họ đã xảy ra xung đột gay gắt: Hai Quát,  Phó Bảo chống lại việc tiếp tục xây đài, trong khi Phó Cõi, Phó Độ vẫn còn nặng lòng với Vũ Như  Tô (đặc biệt là Phó Cõi, một người thợ không bao giờ “nhị tâm”), còn lại Phó Toét vô thưởng vô  phạt. “Tương quan lực lượng” không hẳn là “năm mươi năm mươi” những thế cũng là khá cân  bằng. Có thể, trong mong muốn của tác giả, với tất cả thiện cảm (và cả kỳ vọng nữa) của ông đối  với giới thợ thuyền, Nguyễn Huy Tưởng vẫn đặt niềm tin vào sự tỉnh táo của họ, sự ứng xử thỏa  đáng của họ đối với Cửu trùng đài, công trình mà không chỉ Vũ Như Tô mà bản thân tác giả cũng  thiết tha đến thế! Nhưng khi sự biến xảy ra, tiếc thay, “thợ xây Cửu trùng đài quá nửa theo về  quân phản nghịch”, và những người hôm trước còn chung tay xây dựng, thì nay chính những bàn  tay ấy đã thiêu Cửu trùng đài ra tro. Phải chăng đây là một thực tế như lịch sử đã diễn ra, phải  chăng đây là do sự phát triển nội tại của tác phẩm mà tác giả dù có muốn cũng không làm khác 
  9. được, hay đây chính là cái gọi là “tính dự báo của nhà văn” ­ tác giả đã tiên liệu và cảnh báo trước  chúng ta nhiều thập kỷ về mối nguy cơ của việc ứng xử tùy tiện đối với văn hóa, do những bức  xúc nhất thời của một số đông “nông nổi”!... Với các hồi kịch được thêm vào, với những nhân vật được bổ sung, với những ý tưởng được triển  khai vừa nhất quán vừa đa nghĩa đa chiều như trên chúng tôi đã cố gắng phân tích, vở kịch lúc  này hẳn là đã định hình về cơ bản. Như trong nhật ký của tác giả cho biết, ít ngày sau đó ông  giao bản thảo cho nhà Anh Hoa với tâm trạng khá là háo hức. Lần sửa tiếp theo trước khi đưa  Hoa Lư in có lẽ là không nhiều, vì vở kịch đã có cơ sở là “cốt hay” rồi, vấn đề chỉ còn là sửa về  văn phong, câu chữ. Nhưng, như người ta vẫn nói, “văn học là nghệ thuật của ngôn từ”. Sự trau  chuốt ở lần sửa thứ hai này chắc chắn đã có phần đóng góp không nhỏ, đặc biệt là trong việc  nâng cao chất lượng văn học của vở kịch để Vũ Như Tô xứng đáng là một kiệt tác của Nguyễn  Huy Tưởng... Theo hồi ức của nhiều bạn bè, đồng nghiệp với Nguyễn Huy Tưởng cũng như theo các ghi chép  cá nhân của ông, tác giả Vũ Như Tô sau này còn muốn sửa lại nữa tác phẩm của mình. Không  biết ông định sửa ra sao và kết quả của việc sửa chữa đó, nếu có, sẽ như thế nào. Bệnh ác đã  cướp ông đi giữa lúc nhà văn còn đang ôm ấp nhiều dự đồ văn nghệ, trong đó có việc sửa chữa  Vũ Như Tô. Dẫu sao thì vở kịch của ông cũng đã mặc nhiên tồn tại như­thế­ấy trong tâm trí của  nhiều thế hệ bạn đọc sáu thập kỷ qua. Âu đây cũng là số phận lịch sử của tác phẩm. Có thể đã  có lúc Nguyễn Huy Tưởng nghĩ rằng nó cổ. Có thể đã có lúc ông còn tự trách cứ mình sửa tác  phẩm vội vàng. Nhưng như một nghịch lý, càng với thời gian, tác phẩm của ông càng được nhận  chân với những vẻ đẹp mới và càng dễ được tiếp nhận. Có thể lý giải điều này như thế nào đây.  Có phải là do gần đây, do tác động của phim ảnh, nhất là phim Trung Quốc, độc giả đã quen hơn  với những từ ngữ kiểu như “bệ hạ” và “hạ thần”, “ái khanh” và “tiện thiếp”? Có phải do trình độ bạn  đọc nước ta ngày một cao lên? Hay là do hàng loạt những bài nghiên cứu gần đây về Vũ Như Tô,  trong số đó có những bài có thể nói là rất chất lượng, đã góp phần giải mã vở kịch (và cả khẳng  định nữa), giúp cho sự tiếp thụ của bạn đọc? Theo chúng tôi, tất cả những yếu tố đó đều có ở  những mức độ trọng yếu khác nhau. Nhưng trên hết, thành công của trước tác Nguyễn Huy  Tưởng thuộc về chính những nỗ lực cá nhân của ông. Nói một cách cụ thể hơn, Vũ Như Tô ­ đó là  khát vọng vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ không bao giờ là cũ, của nhà văn, nhà cách  mạng trẻ tuổi Nguyễn Huy Tưởng. Phần 1 “Mở cửa nhìn trăng, trăng tái mặt, Khép phòng đốt nến, nến rơi châu…” Mấy ai đã từng say trăng như Hàn Mặc Tử? “Trăng sõng soài trêncành liễu ­ Đợi gió đông về để  lả lơi…” (“Bẽn lẽn”) – Thi sĩ còn nói đến thuyền trăng, sông trăng, sóng trăng… Cả một trời trăng  mộng ảo, huyền diệu. Thơ Hàn Mặc Tử rợn ngợp ánh trăng, thể hiện tâm hồn “say trăng” với tình  yêu tha thiết cuộc đờ, vừa thực vừa mơ. Ông là một trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của phong  trào Thơ mói (1932­1941). Với 28 tuổi đời (1912­1940), ông để lại cho nền thơ ca dân tộc hàng  trăm bài thơ và một số kịch thơ. Thơ của ông như trào ra máu và nước mắt, có khôgn ít hình  tượng kinh dị. Cũng chưa ai viết thơ hay về mùa xuân và thiếu nữ (“Mùa xuân chín”), về Huế đẹp 
  10. và thơ(“Đây thôn Vĩ Giạ”) như Hàn Mặc Tử. “Đây thôn Vĩ Giạ” rút trong tập “Thơ điên” xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ qua đời. Bài thơ  nói rất hay về Huế, về cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, về con người xứ Huế, nhất là các cô gái  duyên dáng, đa tình, đáng yêu – tình yêu thơ mộng say đắm, lung linh trong ánh sáng huyền ảo.  Bài thơ giãi bày một nỗi niềm bâng khuâng, một khao khát về hạnh phúc của thi sĩ đa tình, có  nhiều duyên nợ với cảnh và con người Vĩ Giạ. Câu đầu “dịu ngọt” như một lời chào mời, vừa mừng vui hội, vừa nhẹ nhàng trách móc người  thương biết bao nhớ đợi chờ. Giọng thơ êm dịu, đằm thắm và tình tứ: “Sao anh không về chơi thôn  Vĩ?”. Có mấy xa xôi. Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm. Bao kỷ  niệm sống dậy trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng  mơ: “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặtchwx điền?” Cảnh được nói đến là một sáng bình minh đẹp. Nhìn từ xa, say mê ngắm nhìn những ngọn cau,  tàu cau ngời lên màu nắng mới, “nắng mới lên” rực rỡ. Hàng cau như đón chào người thân thương  sau bao ngày xa cách. Hàng cau cao vút là hình ảnh thân thuộc thôn Vĩ Giạ từ bao đời nay. Quên  sao được màu xanh cây lá nơi đây. Nhà thơ trầm trồ thốt lên khi đứng trước một màu xanh vườn  tược thôn Vĩ Giạ: “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Sương đêm ướt đẫm cây cỏ hoa lá. Màu  xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng, trông “mượt quá” một màu xanh như  ngọc bích. Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hoà, con người cần cù chăm bón mới có “màu xanh như  ngọc” ấy. Thiên nhiên rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống. Cũng nói về màu xanh ngọc bích, trước  đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá…” (“Thơ duyên). Hai chữ  “vườn ai” đã gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác. Câu thứ tư tả thiếu nữ với khóm trúc vườn đầy  đặn, phúc hậu. “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ thần tình đã tô đậm nét đẹp của cô gái Huế  duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, tình tứ đáng yêu. Hàn Mặc Tử hơn một lần nói về trcs và thiếu nữ.  Khóm trúc như toả bóng xanh mát che chở cho một mối tình đẹp đang nảy nơ: “Thầm thì với ai ngôì dưới trúc Nghe ra ý nhị và thơ ngây” (“Mùa xuân chín”) Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng, tả vườn, tả trúc và thiếu nữ với một gam màu nhẹ  thoáng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ. (xanh như ngọc… mặt  chữ điền) Cảnh và người nơi Vĩ Giạ thật hồn hậu, thân thuộc đáng yêu. Vĩ Giạ ­ một làng quê nằm bên bờ Hương Giang, thuộc ngoại ô cố đô Huế. Vĩ Giạ đẹp với những  con đò thơ mộng, những mảnh vườn xanh tươi bốn mùa, sum sê hoa trái. Những ngôi nhà xinh  xắn thấp thoáng ẩn hiện sau hàng cau, khóm trúc, mà ở đây thường dìu dặt câu Nam ai, Nam  bình qua tiếng đàn tranh, đàn thập lục huyền diệu, réo rắt. Thôn Vĩ Giạ đẹp nênthơ. Hàn Mặc Tử  đã dành cho Vĩ Giạ vần thơ đẹp nhất với tất cả lòng tha thiết mến thương. Khổ thơ thứ hai nói về cảnh trời mây, sông nước. Một không gian nghệ thuật thoáng đãng, mơ hồ,  xa xăm. Hai câu 5, 6 là bức tranh tả gió, mây, dòng sông và hoa (hoa bắp). Giọng thơ nhẹ nhàng,  thoáng buồn. Nghệ thuật đối tạo nên bốn phiên cảnh hài hoà, cân xứng và sống động. Gió mây  đôi ngả như mối tình nhà thơ, tưởng gần đấy mà xa vời, cách trở. Dòng Hương Giang êm trôi lờ  lững, trong tâm tưởng thi nhân trở nên “buồn thiu”, nhiều bâng khuâng, man mác. Hoa bắp lay 
  11. nhè nhẹ đung đưa trong gió thoảng. Nhịp điệu khoan thai thơ mộng của miền sông Hương, núi  Ngự được diễn tả rất tinh tế. Các điệp ngữ luyến láy gợi nên nhiều vương vấn mộng mơ: “Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”. Hai câu tiếp theo nhà thơ hỏi “ai” hay hỏi mình khi nhìn thấy hay nhớ tới con đò mộng nằm bến  sông trăng. Sông Hương quê em trở thành sông trăng. Hàn Mặc Tử với tình yêu Vĩ Giạ mà sáng  tạo nên vần thơ đẹp nói về dòng sông Hương với những con đò dưới vầng trăng. Nguyễn Công  Trứ đã từng viết: “Gió trăng chứa một thuyền đầy”. Hàn Mặc Tử cũng góp cho nền thơ Việt Nam  hiện đại một vần thơ trăng độc đáo: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đo Có chở trăng về kịp tối nay?” Tâm hồn nhà thơ xao xuyến khi nhìn sông trăng và con thuyền. Thuyền em hay “thuyền ai” vừa  thân quen, vừa xa lạ. Chất thơ mộng ảo “Đây thôn Vĩ Giạ” là ở những thi liệu ấy. Câu thơ gợi tả  một hồn thơ đang rung động trước vẻ đẹp hữu tình của xứ Huế miền Trung, nói lên một tình yêu kín đáo, dịu dàng,  thơ mộng và thoáng buồn. Khổ thơ thứ ba nói về cô gái xứ Huế và tâm tình thi nhân. Đương thời nhà thơ Nguyễn Bính đã viết  về thiếu nữ sông Hương: “Những nàng thiếu nữ sông Hương – Da thơm là phấn, má hường là  son”…Vĩ Giạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà phủ mờ sương khói. “Sương khói” trong  Đường thi thường gắn liền với tình cố hương. Ở đây sông khói làm nhoà đi, mờ đi áo trắng em,  nên anh nhìn mãi vẫn không ra hình dáng em (nhân ảnh). Người thiếu nữ Huế thoáng hiện, trắng  trong, kín đáo và duyên dáng. Gần mà xa. Thực mà mơ. Câu thơ chập chờn, bâng khuâng. Ta đã  biết Hàn Mặc Tử từng có một mối tình với một thiếu nữ Huế mang tên một loài hoa đẹp. Phải  chăng nhà thơ muốn nói về mối tình này? “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà”. “Mơ khách đường xa, khách đường xa… ai biết… ai có…” các điệp ngữ luyến láy ấy tạo nên nhạc  điệu sâu lắng, dịu buồn, mênh mang. Người đọc thêm cảm thương cho nhà thơ tài hoa, đa tình  mà bạc mệnh, từng say đắm với bao mối tình nhưng suốt cuộc đời phải sống trong cô đơn bệnh  tật. Cũng cần nói đôi lời về chữ “ai” trong bài thơ này. Cả 4 lần chữ “ai” xuất hiện đều mơ hồ ám ảnh:  “vườn ai mướt quá xanh như ngọc?” – “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?” – “Ai biết tình ai có  đậm đà?”. Con người mà nhà thơ nói đến là con người xa vắng, trong hoài niệm bâng khuâng.  Nhà thơ luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chơi với trước một mối tình đơn phương mộng ảo. Một chút  hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhoà và mờ đi cùng sương khói? Hàn Mặc Tử đã để lại cho ta một bài thơ tình thật hay. Cảnh và người, mộng và thực, say đắm và  bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ… bao hình ảnh và cảm xúc đẹp hội tụ trong ba khổ thơ thất  ngôn, câu chữ toàn bích. “Đây thôn Vĩ Giạ” là một bài thơ tình tuyệt tác. Cái màu xanh như ngọc  của vườn ai, con thuyền ai trên sông trăng, và cái màu trắng của áo em như đang dẫn hồn ta đi  về miền sương khói của Vĩ Giạ thôn một thời xa vắng: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
  12. Ai biết tình ai có đậm đà?”  (st) “Ai mua trăng tôi bán trăng cho Trăng nằm yên trên cảnh liễu đợi chờ Ai mua trăng tôi bán trăng cho Chẳng bán tình duyên ước hẹn thề”. Ai đã từng sinh ra và lớn lên trên cõi đời này mà không biết đến “lời rao trăng” nổi tiếng ấy của một nhà thơ cũng rất nổi tiếng trong những năm ba mươi của thế kỉ XIX, vâng đó chính là Hàn Mặc Tử - một tên tuổi mãi mãi in đậm trong tấm lòng đọc giả. Ông là “một hồn thơ mãnh liệt nhưng luôn quằn quại, đau đớn, dường như có một cuộc vật lộn và giằng xé dữ dội giữa linh hồn và xác thịt”. Ông “đã tạo ra cho thơ mình một thế giới nghệ thuật điên loạn, ma quái và xa lạ với cuộc đời thực”. Có lẽ vì vậy mà trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã xếp Hàn Mặc Tử vào nhóm thơ “kì dị” cùng với Chế Lan Viên. Tuy vậy, bên những dòng thơ điên loạn ấy, vẫn có những vần thơ trong trẻo đến lạ thường. “Đây thôn Vĩ Dạ” trích trong tập “Thơ Điên” là một bài thơ như thế. Đây chính là sản phẩm của nguồn thơ lạ lùng kia – là một lời tỏ tình với cuộc đời của một tình yêu tuyệt vọng, yêu đơn phương nhưng ẩn bên dưới mỗi hàng chữ tươi sáng là cả một khối u hoài của tác giả. Bài thơ còn là tình yêu thiên nhiên, yêu con người Vĩ Dạ một cách nồng cháy – nơi chất chứa biết bao kỉ niệm và luôn sống mãi trong hồi tưởng của ông. Chính vì thế đọc bài thơ này ta thấy được một phương diện rất đẹp của tâm hồn nhà thơ. “Đây thôn Vĩ Dạ” – bài thơ tuyệt bút này đã từng gây ra biết bao tranh luận bởi cái hay của nó không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn hay ở nghệ thuật từ âm điệu, câu chữ, hình ảnh đến cả nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được vận dụng một cách thành thạo và khéo léo, nhưng cảnh thì ít mà tình thì nhiều cho nên cả bài thơ là một âm điệu du dương được gảy lên từ tiếng lòng của chính nhà thơ. Có tài liệu cho rằng bài thơ được gợi hứng từ bức ảnh phong cảnh Huế cùng mấy lời thăm hỏi của Hoàng Cúc – người yêu đơn phương mà ông đã thầm yêu trộm nhớ từ ngày xưa – một người con gái dịu dàng thướt tha của thôn Vĩ xứ Huế. Nhưng bức tranh thôn Vĩ mà Hoàng Cúc gửi cho tác giả chỉ là cái cớ trực tiếp để nảy sinh thơ, còn động lực và cội nguồn sâu xa làm nên cảm hứng thì Hàn Mặc Tử đã có sẵn lâu rồi, chỉ chờ đến cơ hội là nó sẽ bộc phát. Đó là vẻ đẹp của một dáng Huế yêu kiều – nơi đã khắc chạm một dấu ấn khó quên của một người con gái và cũng là nơi để lại một mối tình đơn phương trong lòng tác giả: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” Xứ Huế mộng mơ đã từng là nơi khơi nguồn cho bao văn nghệ sĩ, không ít người đã có những sáng tác xúc động về xứ Huế mộng mơ này: “Đã bao lần đến với Huế mộng mơ, tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt” hay là “Trở lại Huế thương bài thơ khắc trong chiếc nón, em cầm trên tay ra đứng bờ sông…”, Huế có trong câu hát, có trong lòng mọi người và nay lại có trong thơ Hàn Mặc Tử. Câu thơ mở đầu bài thơ là một câu hỏi mang nhiều sắc thái: vừa hỏi, vừa nhắc nhở, vừa trách móc, vừa như là một lời giới thiệu và mời gọi mọi người. Câu thơ có bảy chữ nhưng chứa tới sáu thanh bằng đi liền nhau làm cho âm điệu trách móc cứ dịu nhẹ đi, trách đấy mà sao tha thiết và
  13. bâng khuâng thế! Nhưng ai trách, ai hỏi? Không phải của Hoàng Cúc mà của chủ thể trữ tình Hàn Mặc Tử, từ nỗi lòng da diết vối Huế của thi nhân mà vút lên câu hỏi tự vấn khắc khoải này. Thật sự ở thôn Vĩ có cái gì đặc biệt và hấp dẫn mà tác giả đã giục giã mọi người đến đấy? Ba câu thơ tiếp theo sẽ vẽ ra một hình tượng chung – một mảnh vườn thông Vĩ: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Thôn Vĩ hiện lên trong thơ Hàn Mặc Tử thật giản dị mà sao đẹp quá! Bằng tình yêu thiên nhiên của mình, tác giả đã mở ra trước mắt ta một bức tranh thiên nhiên tuyệt tác, đẹp một cách lộng lẫy. Thôn Vĩ nói riêng và Huế nói chung được đặt tả bằng ánh sáng của buổi bình minh và một vườn cây quen thuộc. Đây là ánh nắng mà ta có thể bắt gặp trong bài “Mùa xuân chín” của tác giả: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Nắng trong thơ Hàn Mặc Tử thường lạ, đầy ấn tượng với những “nắng tươi”, “nắng ửng”, còn ở đây là “nắng mới lên”. Điệp từ “nắng” đã tỏa sức nóng cho bức tranh, cho sự sống, nắng ở đây trong và sáng đang trải dài trên những tán cau còn ướt đẫm sương đêm. Hàng cau hiện lên trong một khoảnh khắc đặc biệt, gắn liền với cái “nắng mới lên” trong trẻo, tinh khôi, thật cụ thể và đầy gợi cảm trong buổi sớm mai. Nắng mới cũng còn có ý nghĩa là nắng của mùa xuân, mở đầu cho một năm mới nên bao giờ cũng bừng lên rực rỡ nồng nàn. Đó là những tia nắng đầu tiên chiếu rọi xuống làng quê, chiếu thẳng vào những vườn cây tươi mát, sum sê làm cho những hạt sương đêm đọng lại sáng lên, lấp lánh như những viên ngọc được đính vào chiếc áo choàng nhung xanh mượt: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” Câu thơ sử dụng đại từ phím chỉ “ai” để nói đến con người xứ Huế. Câu thơ có vẻ đẹp thật long lanh, vì có sắc “mướt” chăng? Hay vì được sánh với “ngọc” chăng? Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc lấp lánh đang tỏa vào không gian cái sác xanh của mình. Khung cảnh đơn sơ nhưng vô cùng lộng lẫy, chỉ bằng một vài từ gợi tả “mướt quá” và so sánh “xanh như ngọc” Hàn Mặc Tử đã tạo nên một bức tranh quê rực rỡ, chan hòa sự sống. Qua đó chứng tỏ, nhà thơ là một ngòi bút có tài quan sát tinh tế và trí tượng phong phú. Và cảnh vật ấy như sinh động hẳn lên khi có sự hiện diện của con người, nhưng người ở đây không phải toàn diện từ đầu đến chân mà chỉ là khuôn mặt “chữ điền” kín đáo, dịu dàng và phúc hậu: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” Ở đây có hơi hướng Á Đông cổ điển, mặt chữ “điền” là khuôn mặt đượm nét phúc hậu đoan trang, nếu nói “lá trúc che ngang” thì chỉ có thể nói về một cô gái có vẻ đẹp rất Huế. Cô gái e lệ đứng thấp thoáng sau những lá trúc càng chứng tỏ “vườn ai” và vườn cô gái đứng chỉ là một. Thiên nhiên và con người hài hòa với nhau đã tạo nên cái thần thái, cái hồn của Vĩ Dạ - một Vĩ Dạ vốn thơ mộng. Và đối với tâm tưởng của Hàn Mặc Tử, đó là thôn Vĩ của tình yêu và hoài niệm. Thôn Vĩ nằm cạnh ngay bờ sông Hương êm đềm nên ắt hẳn nhịp sống của con người ở đây cũng sẽ bị chi phối bởi cái êm ả của sông Hương: “Dòng sông Hương vẫn êm ả lững lờ trôi” – nhẹ nhàng mà vô cùng đẹp. Từ cách tả cảnh làng quê ở khổ đầu tác giả đã chuyển sang tả cảnh sông với niềm bâng khuâng, nỗi nhớ mong, sầu muộn hư
  14. ảo trong giấc mộng. Ở khổ thơ thứ hai tâm trạng của tác giả đã chuyển sang một gam khác nên bước vào khổ thơ này chính là bước vào không gian tâm trạng riêng của Hàn Mặc Tử: “Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay” Thực tại phiêu tàn bắt đầu bao trùm cả bài thơ. Nhịp thơ 4/3 cùng với hai hình ảnh đối lập: “gió” và “mây” đã gợi lên nỗi buồn vì mây và gió trôi nổi, lang thang chính vì thế mà nó bay thẳng vào thơ của Hàn Mặc Tử. Cái buồn sẵn có của nó kết hợp với vần thơ của tác giả thì chính nó đã tự làm cho nó buồn hơn bởi: gió đi theo đường của gió, mây theo đường của mây, gió và mây từ nay xa cách nhau, không còn là bạn đồng hành của nhau nữa nên không còn lí do gì để gặp nhau. Mượn hình ảnh mây và gió tác giả muốn nói lên tâm trạng buồn của mình, về sự xa cách của mình và người yêu và cũng có thể sự xa cách đó là vĩnh viễn vì Hàn Mặc Tử bây giờ đã là một phế nhân, đang nằm chờ cái chết. Chúng ta không còn thấy giọng thơ tươi mát, đầy sức sống như ở đoạn trước nữa nhưng lại bắt gặp một tâm hồn đau buồn, u uất: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” Dòng sông Hương hiện lên mới buồn làm sao với những bông hoa bắp màu xám tẻ nhạt. Với biện pháp nhân hóa “dòng nước buồn thiu” đã làm cho hình ảnh dòng nước trở nên u buồn, xa vắng. “Dòng nước buồn” vì tự mang trong lòng một tâm trạng buồn hay nỗi buồn chia phôi của gió – mây đã bỏ buồn vào dòng sông? Câu thơ này dường như còn thể hiện nhịp sống thường ngày của người dân nơi đây: một lối sống êm đếm và buồn tẻ. Hình ảnh “hoa bắp lay” gợi một nỗi buồn hiu hắt – một nỗi buồn bao phủ từ bầu trời đến mặt đất, từ đất, gió, mây đến dòng nước và hoa bắp trên sông. Đằng sau những cảnh vật ấy là tâm trạng của một con người mang nặng một nỗi buồn xa cách, một mối tình vô vọng, tất cả bây giờ chỉ là hư ảo trong mộng tưởng. Trên cái xu thế đang trôi đi, chảy đi, thi sĩ chợt ước ao một thứ có thể ngược dòng “về” với mình, ấy là “trăng”: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? ” Một không gian tràn ngập ánh trăng, một dòng sông trăng, một bến đò trăng, một con thuyền đầy trăng…Không gian “bến sông trăng” nghe sao mà quen thuộc đến thế: “Bến sông trăng ôi nỗi nhớ đã đi qua mong tìm đến, biết khi nào được gặp lại em yêu hỡi. Trong cái lãnh cung của sự chia lìa, vốn không có “niềm trăng và ý nhạc” nên nhà thơ ao ước có trăng về như một niềm khao khát, một tri âm, một vị cứu tinh. Không biết thuyền có chở trăng về kịp cho người trên bến đợi hay không ? – đó là một câu hỏi biểu lộ niềm lo lắng của một số phận không có tương lai. Tác giả hiểu căn bệnh của mình nên ông mặc cảm về thời gian ngắn ngủi của cuộc đời mình. Giờ đây đối với ông, sống là chạy đua với thời gian, ông luôn tranh thủ từng ngày, từng buổi trong cái quỹ thời gian còn quá ít ỏi của mình. Chữ “kịp” nghe thật xót xa, đau đớn, gây nên nỗi xót thương cho người đọc. Bằng câu hỏi tu từ “có chở trăng về kịp tối nay ?” cùng với hình ảnh vừa hư vừa thực ở đoạn cuối thơ vừa như khắc khoải, bồn chồn, vừa như hi vọng chờ đợi một cái gì đó đang rời xa, biết khi nào trở lại. Đây chính là nỗi ước ao tha thiết với một nỗi buồn man mác của Hàn Mặc Tử khi vọng nhớ về
  15. thôn Vĩ Dạ. Tiếp nối mạch thơ trên, khổ thơ thứ ba thể hiện một nỗi niềm canh cánh của thi nhân trong cái mênh mông, bao la của trời đất. Đó là sự hi vọng, chờ đợi, mong mỏi và một niềm khắc khoải khôn nguôi. Mặc dù lời thơ thấm đẫm cái buồn của tâm trạng nhưng tác giả vẫn không quên gợi cho ta về cảnh đẹp của Huế cũng như con người ở đây: “Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà ?” Vườn đẹp, trăng đẹp và bây giờ là đến hình bóng đẹp của người “khách đường xa”. Điệp từ “khách đường xa” kết hợp với nhịp thơ 4/3 thể hiện nỗi niềm trông ngóng đến da diết của tác giả. Đây còn là cách nói về nỗi cách xa nhưng không chỉ có không gian mà còn có sự xa cách về tâm hồn và tình cảm. Có thể “đường xa” là xa về không gian, về thời gian nhưng cũng có thể là “đường đến trái tim xa”, cho nên tất cả chỉ gói gọn trong một chữ “mơ” duy nhất. Hình ảnh “sương khói” cùng với cụm từ “nhìn không ra” gợi lên hình ảnh của cô gái thôn Vĩ ngày xưa chập chờn trong cõi mộng tạo cho nhà thơ một cảm giác bâng khuâng, ngơ ngẩn. Mà tại sao lại “nhìn không ra” ? Có lẽ là do màu áo trắng của cô gái Huế trắng quá hòa lẫn vào làn sương mờ ảo. Thật ra “nhìn không ra” không phải là không nhìn ra, đây chỉ là một cách nói để cực tả sắc trắng – trắng một cách kì lạ, bất ngờ. Và hình như giữa giai nhân áo trắng ấy với thi nhân có một khoảng cách nào đó khiến thi nhân không khỏi không nghi ngờ: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh Ai biết tình ai có đậm đà ?” “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” phác họa một cảnh tượng mờ mờ, ảo ảo lại còn có cả sương và khói khiến cho ta thấy con người này đang ở ranh giới giữa hai thế giới sống và chết, và thế giới nào cũng lờ mờ đáng sợ. Câu thơ diễn tả rất đắt nỗi đau của một con người đang phải đối đầu với “sinh, lão, bệnh, tử”. Tác giả đã cố níu kéo, cố bám víu nhưng không được vì cảnh và đời chỉ toàn là “sương” với “khói”. Điều đặc biệt ở hai câu thơ này là ngoài nói về nỗi đau, tác giả còn miêu tả rất thực về cảnh Huế - kinh thành sương khói. Trong màn sương khói ấy, con người như nhòa đi và có thể tình người cũng nhòa đi nên tác giả rất sợ điều đó. Tác giả không dám khẳng định tình mình với cô gái Huế mà chỉ nói “ai”– điệp từ “ai” dường như xuyên suốt cả bài thơ, khổ thơ nào cũng có sự hiện diện của “ai”, từ “vườn ai”, “thuyền ai” và bây giờ thì “ai biết tình ai có đậm đà”. Câu thơ ngân xa như một tiếng than, nỗi đau của Hàn Mặc Tử như đang trải ra, vào cõi mênh mông vô cùng. Lời thơ dường như nhắc nhở nhưng không bộc lộ tuyệt vọng hay hi vọng mà là toát lên một sự thất vọng. Sự thất vọng của một thi nhân – người chủ của những mối tình “khuấy” mãi không thành khối, của một trái tim khao khát yêu thương mà không bao giờ và mãi mãi không có tình yêu trọn vẹn. Lời thơ như một lời thanh minh khiến cho ta cảm thấy cảm thông và xót xa cho tác giả nhiều hơn. Bài thơ bắt đầu là một câu hỏi tu từ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?” và kết thúc bài thơ cũng là một câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà ?” khiến cho nỗi niềm của tác giả được đẩy thêm tầm vóc. Những câu hỏi tu từ trong bài dường như cứ xoáy lên mỗi lúc một cao hơn ? Cảnh vật thì đẹp nhưng những hình ảnh về mảnh vườn xanh mướt, về bến sông trăng, về con thuyền và cả mối tình của tác giả dường như vô tình làm
  16. nhòe đi để tạo nét mênh mang, phù hợp với tâm trạng của nhà thơ – một con người đang ở giữa hai bờ của sự sống và cái chết. Cảnh thật lung linh, huyền ảo, đầy thơ mộng nhưng lồng vào đấy là tâm trạng của chủ thể trữ tình thì cũng trở nên buồn, buồn nhưng mà có hồn. Thật vậy, âm hưởng của bài thơ chỉ cô đúc trong một chữ “buồn” nhưng không làm cho người ta bi lụy, bởi đằng sau nỗi niềm ấy của thi nhân ta thấy được một tình yêu thiên nhiên mãnh liệt, nồng cháy và một khát vọng về cuộc sống ấm tình hơn. Những chi tiết, những thủ pháp nghệ thuật, cách cấu tứ đã được Hàn Mặc Tử chuyên chở bằng chính tình cảm của mình. Đọc cả bài thơ, ta không thấy có cái gì gượng ép, ngược lại ta như đang cùng sống với nhà thơ trong cái thế giới huyền ảo của ông. Bài thơ là sự kết hợp, giao hòa giữa tình và cảnh bộc lộ những nét đẹp, những nét trong sáng gắn với quê hương Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh đẹp về cảnh và người của một miền quê đất nước qua tâm hồn thơ mộng, giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của một nhà thơ đa tình đa cảm. Bằng thủ pháp nghệ thuật liên tưởng cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ, tác giả Hàn Mặc Tử đã phác họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và ẩn trong đấy là nỗi lòng của chính nhà thơ: nỗi đau đớn trước sự cô đơn, buồn chán trần thế, đau cho số phận ngắn ngủi của mình. Dầu vậy nhưng ông vẫn sống hết mình trong sự đau đớn của tinh thần và thể xác. Điều đó chứng tỏ ông không buông thả mình trong dòng sông số phận mà luôn cố gắng vượt lên nó để khi xa lìa cõi đời sẽ không còn gì phải hối tiếc. Trải qua bao năm tháng, cái tình của Hàn Mặc Tử vẫn còn tươi nguyên, nóng hổi và day dứt trong lòng người đọc. “Tình yêu trong ước mơ của con người đau đớn ấy có sức bay bổng kì lạ” nhưng nó cũng giản dị, trong sáng và tươi đẹp như làng quê Vĩ Dạ. Đây là một nghệ sĩ tài hoa, một trái tim suốt cuộc đời luôn thổn thức tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã biến những nỗi đau thương, bất hạnh của đời mình thành những đóa hoa thơ, mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là “Đây thôn Vĩ Dạ”.
Đồng bộ tài khoản