Kiểm toán viên đối với vấn đề Going concern theo ISA

Chia sẻ: Truong Thi Khanh Van | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:46

0
94
lượt xem
37
download

Kiểm toán viên đối với vấn đề Going concern theo ISA

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một doanh nghiệp thông thường được coi là hoạt động liên tục trong một tương lai gần mà không có ý định hay không bắt buộc phải giải thể, ngừng hoạt động hoặc phá sản.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kiểm toán viên đối với vấn đề Going concern theo ISA

  1. Kiểm toán viên đối với vấn đề Going concern theo ISA Đã đọc: 12546 lượt. Phạm Văn Cung - ACCA 1. Thế nào là Going concern (GC) Một doanh nghiệp thông thường được coi là hoạt động liên tục trong một tương lai gần (foreseeable future) mà không có ý định hay không bắt buộc phải giải thể, ngừng hoạt động hoặc phá sản. 2. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế điều chỉnh- chuẩn mực 570 quy định các vấn đề sau: a. Trách nhiệm của kiểm toán viên b. Lập kế hoạch như thế nào để đánh giá GC c. Đánh giá GC như thế nào d. Báo cáo như thế nào 3. Trước hết, hãy xem vai trò của Ban giám đốc công ty được kiểm toán a. BGĐ công ty chịu trách nhiệm đánh giá GC của công ty (theo yêu cầu của IAS 1) b. Ban Giám đốc cần đánh giá các vấn đề sau: i. Mức độ chắc chắn của các thông tin ii. Đánh giá dựa trên các thông tin đó. c. Các yếu tố cho thấy có thể có nghi ngờ đối với tính GC của DN i. Công nợ ròng, công nợ ngắn hạn ròng (nghĩa là tài sản nhỏ hơn công nợ) ii. Các khoản vay tới hạn trả mà không có khả năng trả cũng như không được gia hạn iii. Dựa quá nhiều vào các khoản vay ngắn hạn iv. Có dấu hiệu cho thấy sự hỗ trợ về tài chính của các chủ nợ sẽ chấm dứt v. Lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh là âm vi. Các chỉ số tài chính ở tình trạng xấu
  2. vii. Lỗ hoạt động hoặc có tình trạng mất giá của các tài sản viii. Chậm trả hoặc ngừng trả cổ tức ix. Không có khả năng thanh toán cho các chủ nợ khi tới hạn x. Phương thức thanh toán hàng mua chuyển từ phương án được mua chịu sang thanh toán bằng tiền mặt khi hàng được giao (COD- cash on delivery) xi. Không có khả năng huy động được nguồn tài chính mới tài trợ cho các sản phẩm mới hoặc các nghiên cứu phát triển xii. Mất mát vị trí lãnh đạo chủ chốt mà không có người thay thế xiii. Mất thị trường trọng điểm, giấy phép, khách hàng trọng điểm, kênh phân phối trọng điểm xiv. Gặp khó khăn trong việc huy động nguồn lao động xv. Thiếu nguồn cung xiv. Không tuân thủ các quy định của pháp luật xvii. Là bên bị của các vụ kiện có khả năng thua kiện xviii. Thay đổi chính sách của chính phủ xix. Các nguyên nhân khác (ví dụ như cúm gà) d. Các yếu tố loại trừ: Các yếu tố trên có thể được giảm thiểu (loại trừ) bởi các yếu tố khác: ví dụ bán tài sản để trả nợ khi đến hạn, tìm được một nhà cung cấp khác thay thế cho nhà cung cấp đã bị mất, tìm đuợc thị trường mới thay cho thị trường trọng điểm 4. Trách nhiệm của Kiểm toán viên Kiểm toán viên cần xem xét: - Tính hợp lý về các giả định GC - Liệu có tồn tại những nghi ngờ mang tính trọng yếu về vấn đề GC cần phải được trình bày trên báo cáo tài chính hay không. Kiểm toán viên cũng cần xem xét: -Quá trình đánh giá GC của BGĐ - Các giá định mà BGĐ sử dụng - Các kế hoạc trong tương lai Các thủ tục kế toán bổ sung: - Phân tích dự đoán lưu chuyển tiền tệ, kế hoạch lợi nhuận và các dự đoán khác - Phân tích và thảo luận với BGĐ báo cáo tài chính tháng/ quý gần đây nhát - Rà soát lại các điều khoản của các khoản vay và trái phiếu công ty - Đọc các biên bản họp HĐQT
  3. - Tìm hiểu thông tin từ các luật sư của công ty - Tìm hiểu và xác nhận các thông tin về sự tồn tại, tính hợp pháp, tính khả thi của các kế hoạch nhằm đảm bảo lợi nhuận cao trong tương lai - Có thể lấy thư cam kết hõ trợ (support letter) từ công ty mẹ- trong trường hợp này phải đánh giá khả năng tài chính của công ty mẹ - Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày Báo cáo tài chính Báo cáo của kiểm toán viên i. Nếu không có nghi ngờ mang tính trọng yếu về GC ==> ý kiến chấp nhận toàn phần không sửa đổi (unqualified, unmodified) ii. Nếu có nghi ngờ mang tính trọng yếu, kiểm toán viên phải xem xét tới các yếu tố loại trừ: với hai khả năng sau: a. Nếu có đủ các yếu tổ loại trừ thích hợp, kiểm toán viên phải xem xét xem các yếu tố loại trừ đó có được trình bày đầy đủ trên các báo cáo tài chính hay không: - nếu có, ý kiến chấp nhận toàn phần có sửa đổi theo đó ý kiến kiểm toán sẽ bao gồm một đoạn nhấn mạnh giải thích về GC (unqualified, modified) - nếu không được trình bày đầy đủ, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến loại trừ, nêu lý do là GC không được trình bày dâyd đủ trong báo cáo tài chính b. Nếu không có các yếu tố loại trừ thích hợp, kiểm toán viên phải xem xét xem các baó cáo tài chính được soạn lập trên cở sở nào: - nếu sử dụng cơ sở GC ==> Kiểm toán viên đưa ra ý kiến trái ngược (adverse) - nếu sử dụng cơ sở khác ==> Kiểm toán viên đánh giá tình phù hợp của cơ sở đó và có thể đưa ra ý kiền chấp nhận toàn phần nhưng được sửa đổi, ý kiến kiểm toán thêm một đoạn nhấn mạnh trình bày về cơ sở soạn lập không phải là GC (Theo Webketoan) Báo cáo tài chính, phơi bày hay che dấu (Phần đầu) Đã đọc: 28438 lượt. Hoàn toàn lặng im khi nghe bồi thẩm đoàn đọc cáo trạng, Bernard Ebbers, cựu giám đốc điều hành tập đoàn viễn thông World Com, Mỹ đã bị buộc tội gian lận và cung cấp các số liệu không
  4. chính xác tại các báo cáo tài chính liên quan đến khoản tiền 11 tỷ USD trong vụ phá sản của một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất nước Mỹ. Với các tội danh trên, Ebbers có thể phải chịu hình phạt lên đến 85 năm tù giam. Lúc đó, phản ứng duy nhất của mọi người trong phiên toà là từ phía vợ Ebbers, bà ngồi khóc lặng lẽ với sự an ủi của cô con gái. Ebbers và gia đình đã rời khỏi toà mà không có bình luận gì. Với họ những sai phạm tài chính đã quá rõ ràng. Từ trước đến nay, báo cáo tài chính là công cụ được sử dụng để công bố những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy mà, nhiều công ty đã sử dụng chính công cụ này để “che dấu” những thua lỗ trong kinh doanh, lừa dối các nhà đầu tư. Điều này đã dẫn đến “một nghịch lý đáng buồn đối với báo cáo tài chính, một công cụ vốn được xem là cái gậy của các cơ quan quản lý nhằm duy trì tính minh bạch trong các hoạt động kinh doanh”, như lời John Patosa, cựu giám đốc Uỷ ban chứng khoán và hối đoái Mỹ (SEC) đã từng nhận xét, “đó là càng che dấu tài chính bao nhiêu thì lại càng dễ phơi bày những lỗi lầm bấy nhiêu”. Bernie Ebbers, một cựu huấn luyện viên bóng rổ, đã góp công lớn trong việc đưa Worldcom từ một công ty nhỏ tại vùng Mississippi hẻo lánh trở thành một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất trên thế giới trong vòng chưa đầy 15 năm. Ông chỉ là một trong 6 cựu thành viên ban lãnh đạo của Worldcom bị truy tố sau những bê bối tài chính dẫn đến sự sụp đổ Worldcom, một thời là biểu tượng của ngành viễn thông Mỹ. Đã có thời điểm, giá trị của Worldcom trên thị trường chứng khoán vượt qua con số 100 tỷ USD. Điều đáng ngạc nhiên là mặc dù được đánh giá như một trong những thành viên năng động và nhạy bén nhất của Worldcom trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh vào thập kỷ 90 nhưng tại toà án Ebber luôn nói là mình không biết gì về các chi tiết tài chính của tập đoàn. Và khi công việc kinh doanh sa sút, Worldcom đã che dấu khó khăn với các cổ đông bằng những gian lận kế toán trong báo cáo tài chính lên đến trên hàng chục tỷ USD. Suốt thời gian xét xử, Ebbers luôn bác bỏ các tội danh do tòa đưa ra và tự bào chữa rằng chỉ ông nắm được rất ít tin tức về tình hình tài chính của Worldcom, những sai phạm trong báo cáo tài chính chủ yếu thuộc về cựu giám đốc tài chính Worldcom, Scott Sullivan. Trước khi quyết định rằng Ebber có phạm tội hay không, bồi thẩm đoàn đã cân nhắc rất kỹ lời khai của Ebber và Scott Sullivan, người luôn cho rằng những gian lận của mình là làm theo lệnh của Ebbers. Việc Worlcom sụp đổ đã kéo theo phản ứng dây chuyền khiến giá cổ phiếu của nhiều hãng viễn thông khác cũng tụt dốc thê thảm và chính phủ Mỹ đã phải cải cách lại toàn bộ các quy định hiện hành về kế toán. Trong khi những gian lận tại Enron liên quan tới các thủ thuật kế toán tinh vi thì tại Worlcom các gian lận diễn ra rất đơn giản. Worlcom khi đó đã tăng giả mạo các chỉ số kế toán hiện hành và bỏ đi các số liệu về vốn theo thời gian mà nhẽ ra phải công bố công khai. Về bản chất, Worlcom đã chuyển dịch một loạt các con số từ cột này sang cột khác trong báo cáo tài chính. Những gian lận tài chính của Worldcom được đưa ra ánh sáng chưa đầy một năm sau việc Enron phá sản do những scandal tài chính hàng chục tỷ USD. Vụ việc của Worldcom và Enron được đánh giá là hai vụ phá sản lớn nhất trong lịch sự nước Mỹ. Theo ước tính thì Worldcom bị phá sản đã khiến các cổ đông của hãng chịu thiệt hại khoảng 180 tỷ USD và trên 20000 nhân viên bị mất việc làm. Sau khi chính thức tuyên bố phá sản, Worldcom đã đổi tên thành MCI. Điều đáng quan tâm là không chỉ có hai đại gia Enron và Worldcom trực tiếp tham gia vào những gian lận trong báo cáo tài chính mà lúc đó còn có rất nhiều “thế lực ngầm” khác trợ giúp. Và ngân hàng CIBC (Canadian Imperial Bank of Commerce) là một trong những thế lực ngầm như vậy. Mới đây, tập đoàn ngân hàng này đã chấp nhận bỏ ra 80 triệu USD để dàn xếp các khoản chi phí của hãng liên quan đến việc sụp đổ của Enron. SEC cho biết sẽ kiện ba thành viên đang và nguyên là nhân viên điều hành cao cấp của CIBC. Hai trong số ba nhân viên trên đã giải quyết vụ kiện và đảm bảo sẽ bồi thường 600.000 USD. SEC đã khởi tố CIBC và ba nhà điều hành của tập đoàn này về tội “đã giúp Enron lừa dối các nhà đầu tư thông một dãy các giao dịch trong báo cáo tài chính với cấu trúc phức tạp trong một vài năm trước khi Enron phá sản”. Bản án được tuyên đã khiến rất nhiều công tố viên thở phào nhẹ nhọm bởi gần 2 năm nay việc xét xử các thành viên của Worlcom luôn được xem là khó khăn nhất trong lịch sử ngành toà án Mỹ. Và việc tuyên bố Ebber phạm tội sẽ làm nền tảng cho việc xét xử ba thành viên khác của của Worlcom trong thời gian tới với nhiều chứng cứ và đánh giá phức tạp hơn nhiều. Nhiều chuyên gia kinh tế Mỹ nhận
  5. định rằng việc xét xử “thẳng tay” các thành viên ban lãnh đạo Worldcom là một trong những thành công lớn nhất của ngành tòa án Mỹ trong cuộc chiến chống tham nhũng và gian lận tài chính. Theo Stephen Culter, giám đốc Ban hoà giải của SEC thì “ngày nay, các hành động che dấu thua lỗ trong báo cáo tài chính của các công ty Mỹ bị phanh phui đã chứng tỏ rằng chẳng có một sự thiết lập tài chính nào hay bất kể một nhà điều hành nào có thể che dấu các giao dịch tài chính mang đầy tính chất phức tạp và gian lận của các ông chủ giàu có”. Có thể nói rằng, báo cáo tài chính của mỗi công ty sẽ chứng minh rằng công ty đang hoạt động bình thường và cung cấp những thông tin cần thiết cho các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, các chủ nợ,… về tình hình tài chính của công ty. Vì vậy, tính trung thực trong báo cáo tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tiếc thay, hiện nay tính trung thực trong các báo cáo tài chính không còn được trung thực! Câu hỏi đặt ra là, vì sao xảy ra tình trạng ấy và cần làm gì để khắc phục? Báo cáo tài chính, phơi bày hay che dấu (Tiếp theo và hết) Đã đọc: 5405 lượt. Có thể khẳng định rằng phần lớn các báo cáo tài chính của các công ty trên thế giới hiện này còn chứa đựng những thông tin thiếu trung thực nhằm những mục đích khác nhau. Với một số tập đoàn lớn, sự thiếu trung thực phổ biến nhất là biến lỗ thành lãi, hay còn gọi là tạo ra tình trạng “lãi giả, lỗ thật”. Thực chất của vấn đề này là tránh cổ phiếu tụt giá làm nản lòng các nhà đầu tư. Vì vậy, trong khi thực chất con số thua lỗ ngày một tăng thì nhiều công ty để che dấu sự thật đã khuyếch trương thanh thế để vay vốn được ngân hàng, nâng giá cổ phiếu,… Khi đó “những diễn viên ảo thuật” cần có một báo cáo tài chính đẹp, tức là phải phản ánh tình trạng tài chính của công ty một cách lành mạnh, có lãi, thậm chí lãi năm sau phải cao hơn năm trước. Thế là bộ máy kế toán phải ra sức “vận dụng sáng tạo” để đưa ra kết quả theo ý muốn của những ông chủ. Trong năm 2003, người dân châu Âu đã hồi hộp theo dõi vụ “Enron châu Âu”, Royal Ahold, tập đoàn bách hoá Hà Lan có lịch sử 116 năm đã tuyên bố khai vượt lợi nhuận của chi nhánh dịch vụ thực phẩm Mỹ ít nhật là 500 triệu USD và đã phát ra những vụ giao dịch phi pháp tại Argentina Năm đó, giá cổ phiếu của Ahold đã giảm 2/3 khiến hàng triệu người đầu tư vào cổ phiếu Blue-chip của Ahold lo lắng. Giám đốc điều hành Cees Van der Hoeven và trợ lý đã từ chức. Albert Heijin, người cháu nội 76 của người sáng lập Ahold đã xuất hiện trên truyền hình Hà Lan để trấn an người dân rằng, hệ thống siêu thị trong nước của Ahold, nhà phân phối thực phẩm lớn thứ ba trên thế giới, vẫn rất an toàn. Trên khắp châu Âu, các tờ báo đang gọi Royal Ahold là “Enron của châu Âu”. Ahold có rất nhiều điểm chung với các công ty Mỹ đã đi lạc lối trong thời kỳ “phát triển bong bóng” vào cuối những năm 90. Giống như Tyco và Worldcom, Ahold đã đạt được những thành công liên tiếp, thu mua hàng loạt các chuỗi các cửa hàng và thiết lập nên một chuỗi các siêu thị với doanh thu lên tới 1,9 tỷ USD/năm. Van der Hoeven được ca ngợi là chơi tốt trong cuộc sáp nhập và thanh lý. Nhưng sau đó, Ahold bắt đầu phải đấu tranh vật lộn trong thị trường có nhiều biến động và phải vay mượn rất nhiều để tiếp tục trò chơi. Đó là bối cảnh cho sự thua lỗ 500 triệu USD. Giống như tất cả các nhà phân phối khác, Ahold được hưởng một khoản chiết khấu từ các nhà cung cấp nếu đạt được một mức doanh số nhất định, như chi nhánh tại Mỹ đã tính cả những khoản chiết khấu đó vào thu nhập của mình trước khi đạt được ngưỡng doanh thu đó, khiến lợi nhuận thu được vượt trội lên. Các quan chức Mỹ đang
  6. điều tra ra đã có ba bộ hồ sơ được trình lên đại diện các cổ đông. Các nhà giám sát chứng khoán Hà Lan đã theo dõi mức giá giao dịch nội bộ dựa trên một khối lượng lớn cổ phiếu được giao dịch trước khi Ahlod công bố rộng rãi về vụ “xì căng đan” của mình. Một điểm giống Eron nữa là Ahold đã gặp phải những rắc rối ngay chính tại “trong ruột mình”. Trong bản báo báo cáo tài chính hàng năm, năm 2001, Ahold đã che giấu sự thật rằng khoản lợi nhuận 1 tỷ USD theo Luật kiểm toán Hà Lan của mình đáng lẽ chỉ đáng 109 triệu USD theo Luật kiểm toán Mỹ vì Hà Lan có những cơ chế rất thoáng cho các công ty khi tính giá thu mua. Ngoài ra, có một nghịch lý khác đó là nhiều công ty nhỏ cũng cố ý “biến tướng” báo cáo tài chính theo chiều hướng ngược lại, tức là “biến lãi thành lỗ”. Lý do chính là để tránh thuế. Bán hàng không phát hành hoá đơn làm giảm doanh thu, giảm thuế phải nộp, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Tại Mỹ và châu Âu, các cơ quản lý than phiền về các báo cáo tài chính gian dối nhưng nhiều khi chính họ cũng tự cần xem lại những biện pháp quản lý và pháp luật đã tạo ra “sức ép” và những thuận lợi cho tình trạng thiếu trung thực trong báo cáo tài chính của các công ty. Thuế cao tại Mỹ là một động cơ đẩy các công ty vào hành vi trốn thuế nếu muốn phát triển và nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường. Bên cạnh đó, công tác quản lý tài chính của các cơ quan chức năng Mỹ đã bị buông lỏng trong thời gian khá dài. Các quy định pháp luật về kế toán khá lạc hậu từ hàng chục năm nay. Chỉ sau khi xảy ra hai vụ scandal động trời của Enron và Worldcom thì một số quy định về tài chính mới được ban hành nhưng vẫn còn khiên cưỡng, đôi khi khập khiễng đến mức không thế chấp nhận được”, H.Barringer, giám đốc Công ty Luật Willikie Farr&Gallagher cho biết. Câu hỏi đặt ra là làm gì để Mỹ và châu Âu không còn chứng kiến những Enron, Worldcom hay Ahold tương tự trong tương lai? Đây là câu hỏi không dễ trả lời song cũng có những căn cứ hy vọng nếu: Thứ nhất, các cơ quan chức năng xem xem xét lại các quy định về kế toán và tài chính, sớm ban hành những quy định mới và thi hành mộ cách nhất quán. Thứ hai, cải tổ công tác kiểm toán đối với tập đoàn, công ty trên toàn nước Mỹ và châu Âu. Chất lượng các cuộc kiểm toán cũng cần được coi trọng. Thứ ba, giảm thuế để các công ty có cơ hội nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường vốn đã vô cùng khốc liệt. Người Mỹ và châu Âu hy vọng những năm tới vấn đề trên sẽ được giải quyết để họ không còn phải nơm nớp lo sợ một lúc đó những cổ phiếu mình đang cầm trong tay sẽ trở thành “tờ giấy vụn” chỉ trong vòng một đêm chỉ vì những gian lận trong báo cáo tài chính bị phanh phui. (Theo www.bwportal.com) Bản chất hơn hình thức Đã đọc: 13003 lượt. Trong khoa học kế toán có một nguyên tắc "Bản chất hơn hình thức", dịch theo nguyên bản tiếng Anh "Substance over form". Như vậy nguyên tắc này được hiểu như thế nào? và nó thể hiện trong các Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam như thế nào?
  7. Trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 01 - Chuẩn mực Chung - mục Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán có yêu cầu về tính Trung thực. Tính Trung thực, theo VAS, có nghĩa là "Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh." Đoạn 12 - VAS 21 - Trình bày Báo cáo tài chính nêu ra yêu cầu về cung cấp thông tin của Báo cáo tài chính là thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng Báo cáo tài chính và Báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin đáng tin cậy. Trong đó, Báo cáo tài chính chỉ cung cấp thông tin đáng tin cậy khi: - Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; - Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơn thuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng; - Trình bày khách quan, không thiên vị; - Tuân thủ nguyên tắc thận trọng; - Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu. Như vậy, nguyên tắc "Bản chất hơn hình thức" được lồng vào trong nội dung của các Chuẩn mực kế toán Việt Nam. Một số trường hợp thể hiện nguyên tắc "Bản chất hơn hình thức" trong kế toán Tài sản cố định: 1. Tài sản thuê tài chính Theo VAS 06 - Thuê tài sản: "Thuê tài sản được phân loại là thuê tài chính nếu nội dung hợp đồng thuê tài sản thể hiện việc chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền quyền sở hữu tài sản." Về mặt hình thức, các tài sản thuê tài chính này doanh nghiệp được sử dụng theo hợp đồng thuê. Vậy lý do tại sao các tài sản thuê này lại được hạch toán như là một khoản tài sản của Doanh nghiệp trên Bảng cân đối kế toán? trong khi nó là tài sản đi thuê. Nhưng về mặt bản chất, một tài sản được chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền quyền sở hữu tài sản thì có nghĩa là tài sản đó thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Và tài sản này phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Như vậy, tài sản thuê tài chính thoả mãn định nghĩa Tài sản theo VAS 01 - Chuẩn mực chung. 2. Hoạt động bán, tái thuê Tài sản Lấy ví dụ về trường hợp Công ty kiểm toán ABC thực hiện hoạt động bán toà nhà trụ sở của mình cho một công ty cho thuê tài chính và thực hiện thuê lại theo một hợp đồng thuê tài chính. Giả định, giá trị toà nhà bán và thuê lại của Công ty cao hơn giá trị còn lại trên sổ kế toán tại thời điểm giao dịch. Lúc này tạo ra phần thu nhập do hoạt động bán. Tuy nhiên, phần thu nhập này được ghi nhận hoãn lại trên Bảng cân đối kế toán (tài khoản 3387) thay vì ghi nhận vào Báo cáo Kết quả kinh doanh trong kỳ. Vì sao? Về mặt hình thức, đây là hoạt động bán tài sản, có sự chuyển giao quyền sở hữu và phát sinh khoản thu nhập. Và tài sản thuê lại tài chính là tài sản đi thuê. Lúc này phát sinh 02 giao dịch được hạch toán là giao dịch bán và giao dịch thuê. Các giao dịch này hoàn toàn tách biệt. Nhưng xét về bản chất, Công ty kiểm toán ABC vẫn hoạt động bình thường tại trụ sở của mình mà không bị ảnh hưởng gì của hoạt động bán và thuê. Tất cả các hoạt động bán và thuê chỉ là
  8. các hoạt động được thực hiện thông qua các giao dịch qua lại bằng nhiều hình thức như fax, mail, văn bản,.. các hoạt động này không tác động đến hoạt động của trụ sở của công ty ABC. Thực tế cho thấy, chi phí khấu hao mà ABC được khấu trừ vào thu nhập trong tương lai chỉ bằng giá trị còn lại của Toà nhà trụ sở. Trong khi đó hoạt động bán và thuê lại làm phát sinh chi phí bằng giá trị thuê lại (lớn hơn giá trị còn lại) và một khoản thu nhập (chênh lệch giữa giá bán và thuê lại với giá trị còn lại). Do đó, để đảm bảo nguyên tắc "Bản chất hơn hình thức", trong trường hợp này kế toán phải hoãn lại khoản thu nhập qua hoạt động bán và thuê lại, khoản thu nhập này sẽ được phân bổ dần giảm chi phí thuê lại Trụ sở tương ứng với thời gian thuê lại. Việc hạch toán như vậy đảm bảo chi phí được khấu trừ vào thu nhập trong tương lai của ABC đúng bằng giá trị còn lại của Trụ sở. Chi tiết hạch toán kế toán đối với hoạt động bán và thuê lại tài sản là thuê tài chính được trình bày tại Thông tư 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003. Bản quyền: www.kiemtoan.com.vn giữ bản quyền bài viết này. Khi sử dụng hoặc trích dẫn từng phần của bài viết này cần phải ghi đầy đủ các thông tin như sau: Phan Long, CPA. (2006).Bản chất hơn hình thức. Bản quyền www.kiemtoan.com.vn Mối quan hệ giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính, kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết Đã đọc: 34839 lượt. Quan điểm của nhiều chuyên gia kế toán cho rằng, kế toán trong nền kinh tế thị trường được phân chia thành bốn bộ phận: lý thuyết hạch toán kế toán, kế toán tài chính, kế toán quản trị và kiểm toán. Trong đó, kế toán quản trị và kế toán tài chính được coi là bộ phận hữu cơ của kế toán doanh nghiệp. Kế toán quản trị và kế toán tài chính là gì?. Hai loại kế toán này có mối quan hệ với nhau như thế nào?. Kế toán tài chính có phải là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị có phải là kế toán chi tiết hay không?. Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về kế toán tài chính và kế toán quản trị, để cùng các bạn và những người quan tâm về khoa học kế toán hiểu rõ bản chất và mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán tôi xin trao đổi vài nét về vấn đề này. 1. Định nghĩa kế toán quản trị và kế toán tài chính Kế toán được định nghĩa là một hệ thống thông tin đo lường, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó kế toán quản trị đưa ra tất cả các thông tin kinh tế đã được đo lường xử lý và cung cấp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác kế toán
  9. quản trị giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp cân nhắc và quyết định lựa chọn một trong những phương án có hiệu quả kinh tế cao nhất: phải sản xuất những sản phẩm nào, sản xuất bằng cách nào, bán các sản phẩm đó bằng cách nào, theo giá nào, làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát triển khả năng sản xuất. Các quyết định này gồm hai loại: Quyết định mang tính chất ngắn hạn: Các quyết định này giúp doanh nghiệp giải quyết các bài toán kinh tế trong thời kỳ ngắn hạn. Ví dụ: - Trong trường hợp nào doanh nghiệp có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn giá ở điểm hoà vốn? - Trong trường hợp nào doanh nghiệp nên tự chế hay đi mua một vài bộ phận của sản phẩm? - Trong trường hợp nào doanh nghiệp nên bán ra bán thành phẩm thay vì tiếp tục hoàn thiện thành sản phẩm cuối cùng? Quyết định mang tính dài hạn: Các quyết định này giúp doanh nghiệp giải quyết các bàii toán kinh tế hoạch định chiến lược đầu tư dài hạn như: Trong trường hợp nào doanh nghiệp quyết định thay thế mua sắm thêm các máy móc thiết bị hay thực hiện phát triển thêm lĩnh vực kinh doanh. Còn kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác là phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài. Sản phẩm của kế toán tài chính là các báo cáo tài chính. Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnh đạo doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như: Các nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê. 2. Để hiễu rõ được mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính ta cần phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 2.1. Sự giống nhau * Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế toán, đều nhằm vào việc phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đều quan tâm đến doanh thu, chi phí và sự vận động của tài sản, tiền vốn. * Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin. Các số liệu của kế toán tài chính và kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng từ gốc. Một bên phản ánh thông tin tổng quát, một bên phản ánh thông tin chi tiết. * Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của Nhà quản lý. 2.2. Sự khác nhau * Mục đích: - Kế toán quản trị có mục đích: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. - Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính. * Đối tượng phục vụ: - Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị, ban giám đốc) - Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)
  10. * Đặc điểm của thông tin: - Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và tính linh hoạt của số liệu, thông tin được tổng hợp phân tích theo nhiều góc độ khác nhau. Thông tin ít chú trọng đến sự chính xác mà mang tính chất phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo vì vậy thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng các kế hoạch kinh doanh, thông tin được theo dõi dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật. Ví dụ: Kế toán vật tư ngoài việc theo dõi giá trị của vật tư còn phải theo dõi số lượng vật tư. - Kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ đòi hỏi có tính khách quan và có thể kiểm tra được. Thông tin chỉ được theo dõi dưới hình thái giá trị. * Nguyên tắc cung cấp thông tin: - Kế toán quản trị không có tính bắt buộc, các nhà quản lý được toàn quyền quyết định và điều chỉnh phù hợp với nhu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp. - Kế toán tài chính phải tôn trọng các nguyên tắc kế toán được thừa nhận và được sử dụng phổ biến, nói cách khác kế toán tài chính phải đảm bảo tính thống nhất theo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán nhất định để mọi người có cách hiểu giống nhau về thông tin kế toán đặc biệt là báo cáo tài chính và kế toán tài chính phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là những yêu cầu quản lý tài chính và các yêu cầu của xã hội thông qua việc công bố những số liệu mang tính bắt buộc. * Phạm vi của thông tin: - Phạm vi thông tin của kế toán quản trị liên quan đến việc quản lý trên từng bộ phận (phân xưởng, phòng ban) cho đến từng cá nhân có liên quan. - Phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tài chính trên quy mô toàn doanh nghiệp. * Kỳ báo cáo: - Kế toán quản trị có kỳ lập báo cáo nhiều hơn: Quý, năm, tháng, tuần, ngày. - Kế toán tài chính có kỳ lập báo cáo là: Quý, năm * Quan hệ với các môn khoa học khác: Kế toán tài chính ít có mối quan hệ với các môn khoa học khác. Do thông tin kế toán quản trị được cung cấp để phục vụ cho chức năng quản lý, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán tài chính thì kế toán quản trị còn phải kết hợp và sử dụng nội dung của nhiều môn khoa học khác như: Kinh tế học, thống kê kinh tế, tổ chức quản lý doanh nghiệp, quản trị đầu tư để tổng hợp phân tích và xử lý thông tin. * Tính bắt buộc theo luật định: - Kế toán quản trị không có tính bắt buộc. - Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định. Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định có nghĩa là sổ sách báo cáo của kế toán tài chính ở mọi doanh nghiệp đều phải bắt buộc thống nhất, nếu không đúng hoặc không hạch toán đúng chế độ thì báo cáo đó sẽ không được chấp nhận (tham khảo thêm về luật kế toán vừa ban hành). 3. Có phải kế toán tài chính là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị là kế toán chi tiết không?
  11. Để hiểu rõ và tránh nhầm lẫn về các "thuật ngữ" trên ta cần phân tích mối quan hệ giữa kế toán tài chính với kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết. Kế toán tài chính và kế toán tổng hợp: Kế toán tổng hợp là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằn trình bày các số liệu báo cáo mang tính tổng hợp về tình hình tài sản, doanh thu chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán vào một thời điểm nhất định. Nói cách khác kế toán tổng hợp chỉ liên quan đến tài khoản của sổ cái tổng hợp và báo cáo tài chính. Kế toán tài chính và kế toán chi tiết: Kế toán chi tiết là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm chứng minh các số liệu ghi trong tài khoản tổng hợp là đúng trong quá trình ghi chép và lập báo cáo kế toán, đây cũng là công việc phải làm trước khi khoá sổ kế toán để quyết toán. Thuật ngữ thông thường gọi là đối chiếu giữa tổng hợp và chi tiết. Ví dụ: Như việc thực hiện đối chiếu giữa tài khoản phải thu với sổ công nợ chi tiết của từng khách hàng, đối chiếu tài khoản phải trả với sổ chi tiết công nợ của từng nhà cung cấp hay việc đối chiếu tài khoản nguyên vật liệu với sổ chi tiết vật tư, đối chiếu tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang với thẻ chi tiết tính giá thành sản phẩm. Tóm lại trong kế toán tài chính bao giờ cũng có kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, vì vậy kế toán tài chính không phải là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị không phải là kế toán chi tiết. Kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt động-đâu là lựa chọn ưu tiên ? Đã đọc: 9981 lượt. Có 3 phương pháp tiếp cận tài chính đối với Kiểm toán nhà nước, đó là: Kiểm toán tuân thủ, Kiểm toán xác nhận ( Báo cáo tài chính) và Kiểm toán hoạt động ( hay Kiểm toán hiệu quả đồng tiền). 1. Các phương pháp tiếp cận khác nhau đối với Kiểm toán nhà nước Kiểm toán tuân thủ là hình thức kiểm toán chủ yếu tập trung vào các giao dịch tài chính của một tổ chức nhằm đảm bảo các giao dịch này được ghi chép đúng, công quĩ được sử dụng và hạch toán một cách đúng đắn và các nghĩa vụ về mặt nghĩa vụ pháp lý được đáp ứng. Các biện pháp kiểm tra được thực hiện để đảm bảo được rằng luật pháp và các qui định có lien quan được tuân thủ. Báo cáo kiểm toán tuân thủ thường là các báo cáo dài trong đó nêu lên chi tiết các điểm yếu và bất thường được phát hiện trong quá trình kiểm toán Phương pháp tiếp cận cơ bản là kiểm toán tuân thủ pháp luật-nhằm đưa ra những xác nhận rằng mỗi giao dịch và từng khoản thanh toán là hợp lệ và tuân thủ với ngân sách. Kiểm toán tuân thủ pháp luật dựa trên việc kiểm tra tất cả các giao dịch tài chính. Việc kiểm tra này có thể được tiến hành trước khi thực hiện thanh toán ( tiền kiểm) hoặc có thể diễn ra sau khi thanh toán( hậu kiểm). Kiểm toán tuân thủ pháp luật đôi khi được mở rộng để bao gồm cả việc xem xét tính đúng đắn. Kiểm toán xác nhận ( Báo cáo tài chính ) là một loại kiểm toán tuân thủ đang trở thành quan trọng hơn
  12. trong những năm gần đây. Là loại kiểm toán bao gồm công việc kiểm toán và việc trình bày ý kiến kiểm toán về các báo cáo tài chính của một tổ chức. Ý kiến kiểm tra thường ngắn gọn và theo một mẫu chuẩn. Kiểm toán xác nhận thường được thực hiện trên cơ sở hệ thống chọn mẫu. Điều này có nghĩa là chỉ có một mẫu nhỏ các giao dịch được kiểm tra hoặc soát xét . Hơn nữa, hệ thống kiểm soát nội bộ của bản than tổ chức và kết quả công việc của kiểm toán nội bộ( nếu có) cũng có thể cung cấp một mức độ tin cậy và đảm bảo nhất định. Kiểm toán hoạt động hay kiểm toán giá tri tiền tệ được một số cơ quan Kiểm toán nhà nước phát triển nhắm bổ sung cho các phương pháp kiểm toán khác. Hình thức kiểm toán này thường được gắn liền với sự nhấn mạnh tính hiệu quả trong các lĩnh vực công trong thời gian gần đây. Nó có thể được giới thiệu như là một phần của quá trình cải cách có tên gọi là Quản trị khu vực Công mới ( bao gồm tư nhân hoá, các thị trường và các cơ quan nội bộ). Kiểm toán hoạt động bao gồm nguyên lý 3 E: Economy – tính kinh tế, Efficiency- tính hiệu lực và Effectiveness –tính hiệu quả. Tính kinh tế có thể được định nghĩa là đạt được mục tiêu một cách rẻ hơn hay tiêu tốn ít hơn. Tính hiệu lực là thực hiện đúng công việc hoặc chi tiêu một cách tốt nhất. Mục đích là nhằm tăng sản lượng đầu ra trong khi vẫn duy trì hoặc giảm các yếu tố đầu vào. Tính hiệu quả là thực hiện đúng công việc hoặc chi tiêu một cách khôn ngoan nhất. Thường được đo lường bằng cách so sánh kết quả đạt được với kế hoạch. Kiểm toán hoạt động có thê bao gồm các phương pháp tiếp cận khác, đang được áp dụng tại một số quốc gia bao gồm: Kiểm toán kết quả, kiểm toán các chỉ số phi tài chính ( đang được xem xét tại Anh Quốc, hiện tại các hệ thong tin đang được đánh giá); đánh giá các giả định lập ngân sách( đang được áp dụng một số nội dung tại Anh Quốc và Đức), thường được thoả thuận thực hiện hang năm. Về vấn đề này, tuyên bố Lima của INTOSAI đã đề cập như sau: Việc cần có loại kiểm toán tuân thủ pháp luật thong thường đối với các vấn đề tài chính là điều không phải tranh cãi; tuy nhiên loại kiểm toán này có thể được bổ sung bằng loại kiểm toán hoạt động. 2. Kiểm toán tài chính, nội dung cốt lõi của Kiểm toán Nhà nước Tại hầu hết các quốc gia, các loại hình kiểm toán chủ yếu thường là kiểm toán tuân thủ và kiểm toán tài chính. Cơ quan Kiểm toán Quốc gia ( Anh quốc) và Cơ quan Kiểm toán chính phủ ( Hoa kỳ) thường sử dụng ba phần tư thời gian và nguồn lực mà họ có cho những loại hình kiểm toán này. Quy trình kiểm toán công cần phải đưa ra đảm bảo đối với cử tri rằng Chính phủ không tiêu quá tổng số tiền như đã cam kết trong ngân sách, số tiền đó được tiêu cho hang hoá và dịch vụ do Quốc hội quyết định. Qui trình kiểm toán cũng đưa ra đảm bảo rằng các cơ quan công quyền hoạt động một cách đúng đắn và tuân thủ pháp luật. Nếu chi tiêu của Chính phủ không hợp lệ thì các phương tiện thong tin đại chúng sẽ là phương tiện chủ yếu thong tin các báo cáo kiểm toán có quan điểm trái ngược cho cử tri và các nhóm có quan tâm khác. Do vậy mục tiêu chính của kiểm toán nhà nước là phải trả lời cho những câu hỏi sau: Báo cáo tài chính ( Báo cáo quyết toán) của chính phủ có được soạn lập, kiểm toán và phát hành trong vòng 9 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính hay không? Có các hành động đáp ứng các chất vấn và kiến nghị của Kiểm toán nhà nước hay không? Hệ thống kiểm soát nội bộ có giảm thiểu được các sai sót và gian lận hay không? 3. Các vấn đề đối với kiểm toán hoạt động Trong khu vực công kiềm soát chi phí phải đi đôi với chất lượng của dịch vụ. Vì thế tồn tại một áp lực nhất định đối với tất cả các ý tưởng về hiệu quả đồng vốn. Điều đáng kể nhất là áp lực giữa khủng hoảng tài chính dẫn tới các câu hỏi về tính kinh tế, tính hiệu suất, kiểm soát chi phí, do đó dẫn tới các áp lực về tăng cường chất lượng dịch vụ hay tính hiệu quả. Kiểm toán viên được mong đợi hoặc chịu sức ép để thực hiện loại hình kiểm toán này. Tuy nhiên, cần có các kỹ năng khác nhau và kết quả là rất nhiều kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hiệu quả đồng vốn bị kẹt giữa một bên là sự hạn chế về năng lực và một bên là yêu cầu cần phải thực hiện công việc có hiệu quả tốt hơn. Hơn nữa, tồn tại một rủi ro là bản than kiểm toán hoạt động sẽ không mang lại hiệu quả đồng vốn. Loại kiểm toán này phức tạp hơn, khó hơn, tốn kém hơn so với kiểm toán tài chính thong thường. Tại
  13. Anh Quốc, một cuộc kiểm toán hiệu quả đồng vốn quy mô trung bình sẽ làm cơ quan Kiểm toán Quốc gia tốn một phần tư triệu bảng Anh. 4. Áp dụng loại hình kiểm toán hoạt động-cần một phương pháp hợp lý Kết quả có thể là một ý tưởng tốt nếu chuyển đổi sang việc áp dụng kiểm toán một cách từ từ. Điều này để đảm bảo năng lực của nhân viên được dần dần nâng cao và để thực hiện công việc một cách thành công. Một cách tiếp cận là đào tạo một nhóm nhỏ các nhân viên có trình độ những người sẽ thu được kinh nghiệm và chuyên môn khi thực hiện cách tiếp cận này. Ý tưởng là để đảm bảo rằng mỗi một dự án kiểm toán hoạt động này sẽ thành công. Để bắt đầu, có lẽ chỉ cần thực hiện một vài dự án kiểm toán hoạt động mỗi năm và những cuộc kiểm toán này được dự đoán là dễ thực hiện và dễ thành công. Một cách tiếp cận như vậy có thể bao gồm: - Khuyến khích kiểm toán viên xác định các nội dung lien quan đến kiểm toán hoạt động hoặc hiệu quả của đồng vốn như là một nội dung của cuộc kiểm toán tài chính. - Thực hiện các khảo sát thị trường để giảm thiểu khả năng các hoá đơn bị tăng khống và việc mua sắm được thực hiện một cách hiệu quả. - So sánh giữa các tổ chức tương tự ví dụ như các trường học hoặc bệnh viện Các nội dung trên sẽ đảm bảo rằng cơ quan kiểm toán sẽ bồi dưỡng được các kỹ năng cần thiết và các kiểm toán viên có năng lực thực hiện loại công việc này có thể được phát hiện và được đào tạo chuyên sâu. 5. Kết luận - Kiểm toán tài chính luôn đóng vai trò quan trọng - Kiểm toán hoạt động có thể cải thiên ảnh hưởng của kiểm toán - Kiểm toán hoạt động phải chứng minh được hiệu quả của đồng vốn - Việc bắt đầu áp dụng kiểm toán hoạt động một cách thận trọng sẽ mang lại thành công. - Kiểm toán tài chính sẽ có thể vẫn là cách thức tốt nhất để cải thiện vai trò của kiểm toán hoạt động trong khu vực công. - Không nhất thiết phải sao chép cách thức mà các cơ quan kiểm toán quốc gia khác đang thực hiện, nhưng có thể sử dụng kinh nghiệm của các cơ quan này để tìm ra cách mà mỗi nước có thể tăng cường trong công tác quản lý, và đặc biệt là công tác quản lý tài chính của các tổ chức được kiểm toán. IAS 37 - Phân biệt giữa Phải trả nhà cung cấp và Chi phí trích trước. Đã đọc: 8847 lượt.
  14. Tại đoạn 11 - Chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS) số 37 có định nghĩa thế nào là khoản Phải trả nhà cung cấp. Tương ứng khái niệm này được trình bày trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 18 - Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng. Phải trả nhà cung cấp và Chi phí trích trước Phải trả nhà cung cấp được định nghĩa là khoản công nợ phải trả cho việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ đã thực hiện và đã được bên bán cung cấp hoá đơn hoặc bên mua đồng ý chính thức bằng nhiều hình thức khác nhau. Trong trường hợp bên bán chưa cung cấp hoá đơn hoặc bên mua chưa có sự đồng ý chính thức thì khoản này được phân loại như là một khoản Công nợ trích trước hay Chi phí trích trước. Điều đó có nghĩa rằng tất cả các khoản phải trả cho việc mua hàng hoá và dịch vụ nếu đã được phát hành hoá đơn hoặc chấp nhận thanh toán chính thức qua nhiều hình thức (ví dụ như thông qua Đơn đặt hàng) thì cần được phân loại như là Phải trả nhà cung cấp mà không tính đến đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của chính Doanh nghiệp, bất kể doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hay cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, một khả năng khác được đặt ra là liệu việc phân loại giữa Phải trả nhà cung cấp và Chi phí (công nợ) trích trước có ảnh hưởng bởi đặc điểm hoạt động kinh doanh của bản thân doanh nghiệp. Ví dụ, khoản chi phí quảng cáo và xúc tiến thương mại sẽ được phân loại là Phải trả nhà cung cấp đối với các doanh nghiệp sản xuất nếu thoả mãn một trong hai điều kiện là có hoá đơn phát hành hoặc chấp nhận thanh toán chính thức. Nhưng đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, khoản chi phí trên nên được ước tính dựa trên kết quả kinh doanh thực tế ví dụ như doanh thu, khối lượng hàng bán, số lần truy cập vào website (đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ quảng cáo trên mạng),… cho dù nhà cung cấp đã phát hành hoá đơn hay chưa. Kiểm toán đối với Phải trả nhà cung cấp và Chi phí trích trước Hai khoản mục này, thông thường, khác nhau ở sự chấp thuận giữa 2 bên về số nợ thực tế. Một khoản công nợ được phân loại là Phải trả nhà cung cấp có nghĩa là sẽ được xác nhận bởi cả bên bán và bên mua. Ngược lại, Chi phí trích trước thông thường phát sinh trong nội tại doanh nghiệp - bên mua, chưa có sự đồng ý chính thức từ phía bên bán. Do đó, các kiểm toán viên, thông thường, chỉ gửi thư xác nhận đối với các khoản hoặc đối với các đối tượng được theo dõi trên khoản mục Phải trả nhà cung cấp. Khi đó, thư xác nhận công nợ mới đạt hiệu quả cao. Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số! (Phần đầu) Đã đọc: 10737 lượt.
  15. Kiểm toán viên cần phải hiểu và tuân thủ Chuẩn mực Kiểm toán số 99 (SAS99) - Xem xét gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chuẩn mực này chủ yếu tập trung vào các thủ tục phát hiện gian lận. Nhưng trong quá trình phát hiện gian lận, Chuẩn mực này cũng quy định việc phát hiện gian lận của kiểm toán viên luôn tồn tại những hạn chế. Bài viết này tập trung vào một số vấn đề chuyên môn có tính thông lệ khi kiểm toán viên phát hiện các sai sót trọng yếu liên quan đến gian lận. CHUẨN MỰC NGHỀ NGHIỆP SAS 99 phân loại các sai sót liên quan đến gian lận thành hai loại: một là các gian lận liên quan đến báo cáo tài chính, hai là các gian lận liên quan đến việc biển thủ tài sản. Nhân tố chính để phân biệt giữa gian lận và sai sót là sự cố tình hay vô ý. SAS 99 chỉ ra rằng “rất khó khăn để xác định những hành động cố ý” và “một cuộc kiểm toán được thiết lập không phải để phát hiện những hành động cố ý" và “gian lận một phạm trù rộng lớn, kiểm toán viên không thể quyết định chính xác khi nào gian lận xảy ra”. Vì vậy khả năng xét đoán là yếu tố then chốt trong việc phát hiện các gian lận tiềm ẩn và các Chuẩn Mực Kiểm toán chung được thừa nhận GAAS (Generally Accepted Auditing Standards) đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong việc phát hiện gian lận. Trong các sự kiện có thể dẫn tới gian lận tiềm ẩn, kiểm toán viên phải quyết định ảnh hưởng của chúng có trọng yếu hay không. Điều này liên quan đến việc mở rộng thủ tục kiểm toán cũng như cân nhắc những nhân tố khác trong qui trình kiểm toán có thể bị ảnh hưởng. "Nếu kiểm toán viên tin rằng sai sót có thể hoặc chắc chắn là do gian lận, nhưng ảnh hưởng của chúng không trọng yếu, kiểm toán viên cần đánh giá lại những nhân tố ảnh hưởng, đặc biệt là những nhân tố về vị trí, chức vụ của các cá nhân có liên quan trong doanh nghiệp”. SAS 99 khẳng định rằng kiểm toán viên có thể xét đoán và phân tích ảnh hưởng lên toàn bộ cuộc kiểm toán. Cụ thể: • Kiểm toán viên có thể quyết định gian lận có tách biệt với các khu vực và ảnh hưởng trọng yếu lên bảng báo cáo kết quả kinh doanh hay không? • Nếu ảnh hưởng trọng yếu, kiểm toán viên có thể quyết định gian lận là riêng lẻ và có thể bị kiểm soát đáng kể trong hệ thống các nghiệp vụ, khoản mục hay không? • Nếu không ảnh hưởng trọng yếu lên các khu vực riêng biệt, hãy xem vấn đề này có lien quan đến hệ thống quản lý hay không? Kiểm toán viên phải cân nhắc xem gian lận có bộc lộ là ảnh hưởng lên toàn bộ và có cần mức độ chính trực của người quản trị hay không? Nếu kiểm toán viên quyết định những sai sót xảy ra do gian lận và là trọng yếu hoặc kiểm toán viên không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của gian lận đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên có thể xem xét các hướng dẫn sau: • Phải thu thập thêm bằng chứng • Xem xét những ảnh hưởng của chúng lên những khu vực kiểm toán khác. • Thảo luận vấn đề này, bao gồm cả những gì thu được trong việc điều tra bổ sung với cấp quản lý. • Xem xét việc tham khảo ý kiến khách hàng trong việc phát hiện gian lận. • Xem xét rút khỏi cuộc kiểm toán nếu kết quả cuộc kiểm toán chỉ ra rằng có tồn tại những sai sót trọng yếu liên quan đến gian lận, và cần trao đổi rõ lý do rút khỏi cuộc kiểm toán với khách hàng. • Xem xét việc tham khảo ý kiến tư vấn của các chuyên gia luật. Cuối cùng, chuẩn mực kiểm toán yêu cầu kiểm toán viên phải thu thập những bảo đảm hợp lý rằng Báo cáo tài chính không chứa đựng những sai sót trọng yếu, cho dù những sai sót đó là do gian lận hay vô ý tạo nên. Tuy nhiên,SAS 99 thừa nhận rằng, "do bản chất vốn có của một cuộc kiểm toán và tính chất của các gian lận, không thể đảm bảo chắc chắn rằng gian lận luôn luôn được phát hiện". Trong thực tế, một chuyên gia phát hiện gian lận nhiều kinh nghiệm cũng không thể đảm bảo chắc chắn phát hiện được
  16. toàn bộ các gian lận khi chúng đã bị che dấu một cách cố ý. Những sự kiện gần đây, bộ luật mới, hướng dẫn nghề nghiệp mới đã tăng kỳ vọng của khách hàng đối với kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận. Kết quả là, sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên, khi đương đầu với những gian lận tiềm ẩn, mang tính chất quyết định trong việc phát hiện gian lận. Chuẩn mực nhấn mạnh ngay cả những cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch nhằm tuân thủ GAAS cũng có thể không phát hiện hết các sai sót trọng yếu. Vì vậy kiểm toán viên phải xác định được những mong muốn của khách hàng qua quá trình giao tiếp. Người quản lý cao cấp của khách hàng cũng phải hiểu được bản chất và giới hạn của cuộc kiểm toán và trách nhiệm nào của kiểm toán đối với báo cáo tài chính và gian lận tiềm ẩn. Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số (tiếp theo và hết) Tài liệu tham khảo: - Francis C. Brulenski, CPA, and Ricardo J. Zayas, CPA, CFE, CVA.(2004). Fraud Detection is not Just by the Numbers. [Internet]. Accountingweb. Link: [http://www.accountingweb.com/cgi-bin/item.cgi? id=99821&d=815&h=817&f=816&dateformat=%B%20%e,%20%Y] Bản quyền: www.kiemtoan.com.vn giữ bản quyền bài viết này. Khi sử dụng hoặc trích dẫn từng phần của bài viết này cần phải ghi đầy đủ các thông tin như sau: Thutrangcat. Bản dịch. (2006).Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số! (Phần đầu). Bản quyền www.kiemtoan.com.vn Link: [http://kiemtoan.com.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=239] Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số (tiếp theo và hết) Đã đọc: 7234 lượt. Ví dụ về gian lận Từ lý thuyết đến thực tiễn, dưới đây là hai ví dụ điển hình về gian lận Báo cáo tài chính: Khi đang kiểm tra việc cắt giảm doanh số bán hàng ở một khách hàng, trong số các nghiệp vụ đã được chọn lựa, kiểm toán viên đã bắt gặp một nghiệp vụ liên quan đến doanh số từ một khách hàng mà dựa vào việc đánh giá tình hình kinh doanh ở các phần hành kiểm toán khác, kiểm toán viên nhận ra khách hàng này là một người mua chính. Nghiệp vụ này xảy ra không thường xuyên, và được đánh giá là trọng yếu. Những tài liệu có liên quan đến nghiệp vụ này được thu thập. Những tài liệu này bao gồm những bằng chứng liên quan đến việc chi trả của các khoản phải thu sau ngày kết thúc Báo cáo tài chính năm. Tuy nhiên tài liệu liên quan đến việc giao hàng bẳng đường thuỷ đã không được cung cấp. Quá trình phân tích đã chỉ ra rằng không hề có việc ghi chép quá trình vận chuyển. Mặc dù có bằng chứng của việc chi trả, nhưng không hề có bằng chứng chứng minh rằng hàng hóa đã được giao.
  17. Quảng cáo Diễn đàn kiểm toán là nơi gặp gỡ của tất cả những ai đã và đang hoạt động trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán. Các bạn có thể truy cập vào diễn đàn kiểm toán qua đường linh sau: www.kiemtoan.com.vn/ diendan -@- Việc phân tích thêm nữa được mở rộng, hoá đơn của công ty được kiểm toán viên yêu cầu. Kiểm toán viên chứng minh được vài hoá đơn “dịch vụ đặc biệt” đã được giao cho khách hàng khi công ty được chi trả. Những hoá đơn này ít chi tiết hơn hẳn những hoá đơn khác trong tập hồ sơ và không được được làm sáng tỏ hơn qua các đơn đặt hàng hay là các giấy tờ phải thu. Tổng số hoá đơn đặc biệt này đã chứng minh được rằng nghiệp vụ bán hàng đó hoàn toàn đáng nghi vấn. Việc phát hiện này được trao đổi với Giám đốc tài chính, người sẽ đưa ra lời giải thích thiếu chính xác. Sau khi tiếp xúc với ban quản trị, kiểm toán viên gặp lại Giám đốc tài chính và báo rằng việc điều tra đang được xem xét. Giám đốc tài chính đã thông đồng với Giám đốc điều hành xây dựng kế hoạch để tăng doanh số nhằm đạt được mục tiêu doanh thu. Khi muốn hợp thức hoá, Giám đốc tài chính đã chọn một khách hàng chính, để thực hiện kế hoạch này. Vị giám đốc tài chính sẽ từng kỳ trực tiếp hướng dẫn khách hàng ghi hoá đơn và trả trong vòng 30 ngày. Sau đó, Giám đốc tài chính này sẽ phối hợp và “tạo ra” doanh số ảo đến công ty của người mua với số tiền tương đương. Trong vòng 30 ngày chi trả doanh số ảo này, khách hàng sẽ trì hoãn việc chi trả. Vào cuối kỳ kế toán, kế hoạch này đã khiến khoản bán hàng không trung thực này được ghi nhận vào doanh thu. Điều này cho phép họ đạt được mục tiêu doanh số. Biển thủ tài sản:Trong khi đang tiến hành các thủ tục kiểm tra vật chất hàng tồn kho, các kiểm toán viên đã phát hiện ra một sự mâu thuẫn trọng yếu hay là cụ thể hơn là sự thiếu hụt giữa việc ghi chép liên tục với việc kiểm đếm để xác định tính hiện hữu của hàng tồn kho. Chủ nhiệm kiểm toán đã đưa vấn đề này cho Giám đốc kiểm toán và được yêu cầu tiến hành điều tra thêm. Việc phát hiện này chỉ ra rằng vấn đề này cần phải phân tích thêm. Các kiểm toán viên xem xét kỹ lưỡng giấy tờ lien quan đến hang tồn kho thời gian trước đó ,đặc biệt chú ý các khoản thiếu hụt tương tự với cùng một hàng tồn kho. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, khoản thiếu hụt này được cho là vụn vặt, và chẳng có cuộc điều tra nào được tiến hành. Và khoản này đã được ghi vào tài khoản hao hụt Kiểm toán viên sau đó yêu cầu kiểm tra khoản phải trả, việc mua hàng, và việc ghi các khoản phải thu. Kế toán công nợ phải trả đã cung cấp một bảng báo cáo về các khoản phải trả của từng người bán riêng lẻ và các tài liệu liên quan. Kiểm toán viên không được cung cấp các tài liệu liên quan đến khoản phải trả được giữ bởi thủ kho. Kiểm toán viên đã trực tiếp yêu cầu người thủ kho cung cấp các tài liệu đó. Chúng được hứa sẽ đưa vào tuần tới. Sau 2 tuần nhắc nhở liên tục, không một tài liệu liên quan đến các khoản phải trả và hàng hoá đã nhận nào được cung cấp và vị thủ kho được báo là phải nằm viện. Tiến hành làm việc với những tài liệu sẵn có, kiểm toán viên xem xét lại các tài liệu liên quan đến việc bán hàng thông qua hoá đơn. Họ điều tra được rằng, tên và địa chỉ người trả mâu thuẫn với hoá đơn mà việc chi trả được uỷ quyền cho người thủ kho. Sau đó kiểm toán viên đã yêu cầu được cung cấp những hoá đơn liên quan đến việc huỷ bỏ các Séc thanh toán cho người bán hàng. Kiểm toán viên đã phát hiện ra rằng, một số các hoá đơn được đánh dấu ở mặt sau và được ký hiệu đặc biệt. Trong khi các hóa đơn khác có những chú thích khác chỉ ra rằng chúng đã được thông qua ở bộ phận kiểm đếm tiền mặt. Kiểm toán viên quyết định rằng, vị thủ kho của công ty đã thực hiện việc mua bán ảo bằng cách làm hoá đơn bán hàng giả mạo. Khoản phải trả sau đó đã được trả đến địa chỉ mà chỉ có người thủ kho có thể nắm được. Và vị thủ kho này cũng tự ý không qua bộ phận kiểm đếm tiền. Phân tích vấn đề
  18. Thông qua các ví dụ đã đưa ra, các thủ tục và xét đoán của các kiểm toán viên trong mỗi tình hình và hoàn cảnh cụ thể có thể được tham khảo. Tuy nhiên bởi vì bản chất vốn có của gian lận, không thể có Checklist chuẩn để kiểm toán viên dựa vào đó thực hiện. Sau khi đọc xong hai tình huống gian lận, chúng ta có thể thấy rằng việc kiểm toán viên không điểu tra ra được gian lận là một việc hoàn toàn có thể xảy ra. Ở ví dụ đầu tiên, mối liên hệ gì giữa khách hàng và tên của người bán không bao giờ được phát hiện ra. Ở ví dụ 2, điều gì sẽ xảy ra nếu Chủ nhiệm kiểm toán không đưa vấn đề này cho Giám đốc kiểm toán mà tự ý chấp thuận lời giải thích sau khi trực tiếp phỏng vấn thủ kho. Kiểm toán viên phải dựa vào kỹ năng và kinh nghiệm cũng như quá trình rèn luyện khả năng xét đoán để quyết định các bước nào nên tiến hành khi đối mặt với những gian lận tiềm ẩn. Như đã được chú ý trước đó, quá trình kiểm toán cho dù được thực hiện đúng đắn và thích hợp, hoàn toàn có thể không điều tra được những gian lận trọng yếu. Bản chất của các kế hoạch “sau lưng”không dễ dàng được phát hiện qua các thủ tục kiểm toán thong thường. Kết quả là những kế hoạch như thế được phát hiện thong qua những tình huống ngoài dự kiến của cuộc kiểm toán. Xem xét các ví dụ, và nghĩ xem như thế nào để có thể lập kế hoạch kiểm toán, thiết kế các thủ tục và thực hiện kiểm toán. Đánh giá các phương pháp kiểm toán có thể điều tra việc tham ô và gian lận đến mức nào và những phân tích để mở rộng thủ tục kiểm toán. Tiến hành mở rộng thủ tục kiểm toán và điều tra các gian lận tiềm ẩn vừa được phát hiện trong bao lâu? Kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm cho việc phát hiện lúc ban đầu của gian lận trong yếu và chịu trách nhiệm mở rộng thủ tục kiểm toán mà các thủ tục mở rộng này có những quyết định đàng kể ảnh hưởng lên Báo cáo tài chính. Khi kiểm toán viên bắt đầu mở rộng điều tra hoặc các thủ tục pháp lý, có nhiều vấn đề nghề nghiệp cần phải được xem xét. Kiểm toán viên sẽ xác định ranh giới giữa thủ tục kiểm tra báo cáo tài chính và thủ tục phục vụ mục đích tư vấn cho khách hàng ở đâu? Kiểm toán viên có kinh nghiệm cần thiết để đưa ra ý kiến Báo cáo tài chính hay không? Kiểm toán viên có độc lập trong khi đưa ra ý kiến thuộc về cảm tính hay không? Hướng dẩn của GAAS cũng mơ hồ và bị giới hạn trong vấn đề này. Phần kết: Rõ ràng, kiểm toán viên được yêu cầu kiểm tra các trường hợp của gian lận tiềm tàng để đánh giá ảnh hưởng lên Báo cáo tài chính cũng như ảnh hưởng lên toàn bộ cuộc kịểm toán. Sự xét đoán được rèn luyện trong khi làm quyết định dựa vào thủ tục kiểm toán ban đầu và mở rộng, được yêu cầu cân nhắc một cách cẩn thận. Nhiều vấn đề có thể phát sinh mà không được đề cập trong GAAS. Ví dụ: • Ở thời điểm nào thủ tục kiểm toán mở rộng trở thành việc điều tra pháp lý riêng biệt bao gồm những thủ tục không thường xuyên xảy ra trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính. GAAS - bao gồm cả những yêu cầu liên quan đến việc đào tạo về mặt kỹ thuật và tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên - vì vậy phải xem xét GAAS có đề cập đến những kỹ năng tương tự yêu cầu đối với kiểm toán báo cáo tài chính để thực hiện việc điều tra pháp lý hay không? • Nếu không cần thiết phải mởi rộng các thủ tục kiểm toán nhằm đưa ra ý kiến kiểm toán viên, kiểm toán viên kết luận họ thực hiện các thủ tục một cách thành thạo, tiếp theo kiểm toán viên có thể hoàn thành công việc và vẫn giữ được tính độc lập. Tuy nhiên, kiểm toán viên phải hiểu rằng, có họ có thể mất tính độc lập nếu họ đồng ý đóng vai trò là nhân chứng có chuyên môn hay là luật sư cho khách hàng. • Nếu kiểm toán viên điều tra thủ tục pháp lý tách biệt, họ cần phải xem xét có cần thiết phải bổ sung các rủi ro kiểm toán hay không? Trước khi thực hiện việc điều tra pháp lý vượt qua yêu cầu của SAS 99, kiểm toán viên nên xem xét tất cả các vấn đề có thể xảy ra, các chuẩn mực nghề nghiệp liên quan và những rủi ro kiểm toán tiềm ẩn có thể phát sinh cũng như khả năng nghề nghiệp của mình. Các kiểm toán viên biết rõ rằng họ hoạt động trong một môi trường rủi ro cao, dễ xảy ra các tranh chấp pháp lý, đặc biệt là với SAS 99 and Sarbanes-Oxley. Khi những rủi ro tiềm ẩn được phát hiện và các kiểm toán viên mở rộng thủ tục kiểm toán đúng đắn phù hợp với tiêu chuẩn GAAS để đánh giá được ảnh hưởng lên Báo cáo tài chính, Kiểm toán viên nên thảo luận những phát hiện của mình với cấp quản lý phù hợp. Kiểm toán viên nên cân nhắc việc đề nghị khách hàng giữ lại những bằng chứng có tính pháp lý cao để thực hiện các cuộc điều tra độc lập khác liên quan đến gian lận (nếu có) nếu kiểm toán viên quyết định rằng hoặc là họ không có khả năng thực hiện điều tra hoặc có điều gì đó ảnh
  19. hưởng đến khả năng xét đoán của họ, hoặc tính độc lập của kiểm toán viên có thể bị ảnh hưởng vì các thủ tục tiến hành bổ sung này. Tài liệu tham khảo: - Francis C. Brulenski, CPA, and Ricardo J. Zayas, CPA, CFE, CVA.(2004). Fraud Detection is not Just by the Numbers. [Internet]. Accountingweb. Link: [http://www.accountingweb.com/cgi-bin/item.cgi? id=99821&d=815&h=817&f=816&dateformat=%B%20%e,%20%Y] Bản quyền: www.kiemtoan.com.vn giữ bản quyền bài viết này. Khi sử dụng hoặc trích dẫn từng phần của bài viết này cần phải ghi đầy đủ các thông tin như sau: Thutrangcat. Bản dịch. (2006).Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số (tiếp theo và hết). Bản quyền www.kiemtoan.com.vn Link: [http://kiemtoan.com.vn/modules.php?name=News&file=article&sid=246 BẠN CÓ BIẾT TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA BẠN Ở ĐÂU??? ( phần đầu) Đã đọc: 5842 lượt. Không biết các bạn đã từng nghe giai điệu khởi đầu của một chương trình phát thanh truyền hình rằng: “Bạn có biết con bạn ở đâu” được phát vào mỗi tối hay không? Có vẻ như câu hỏi này cũng nên được đặt ra vào mỗi buổi sáng cho các vị Giám đốc tài chính và Giám đốc điều hành của bất kỳ công ty nào trước khi họ bắt đầu công việc của mình, cho dù họ đang ở đâu đi chăng nữa. Để nói rõ hơn lĩnh vực mà tôi đang muốn đề cập đến. Tôi đang nói về những khoản mục hữu hình, cái mà được vốn hóa trong bảng cân đối tài khoản mà chúng ta trích khấu hao mỗi tháng và giảm được một số thuế thu nhập đáng kể trong mỗi năm. Những khoản mục này bạn có thể sờ, cảm thấy và trông thấy mà không bị lẫn lộn với những tài khoản khác. Chúng bao gồm rất nhiều kích cỡ, từ nhỏ nhất đến lớn nhất. Chúng cũng là một bộ phận của những thứ lớn hơn nhiều như các thiết bị ở trong cái radio, hay là cái điện thoại. Vấn đề ở đây không phải chúng là gì mà là chúng được đặt ở đâu. Trong chúng ta, chắc hẳn khi đọc đến đây, có người sẽ nghĩ rằng đây không phải là vấn đề kế toán, cũng không phải là trách nhiệm của người kế toán giữ sổ cái. Bạn hãy hình dung rằng, nếu bạn đặt tài sản cố định trong sổ cái và khấu hao chúng thì bạn cần phải biết chúng gồm những gì và nằm ở đâu, nếu không một hay nhiều tài sản này sẽ ảnh hưởng bao trùm lên sự vắng mặt của những tài sản khác. Ý tôi muốn nói là nếu nhiều tài sản được theo dõi trong cùng một tên gọi thì nó có thể biến mất mà không kiểm soát được. Cách đây một vài năm, tôi đã tham dự một khoá học về giám sát sự gian lận và xem xét các tình huống về gian lận trong sử dụng tài sản cố định. Theo trọng tâm của khoá học này, việc sử dụng nào của tài sản cố định trong kinh doanh, chứ không phải là những gì liên quan đến việc mua tài sản, đều có thể xảy ra gian lận.
  20. Bây giờ, tôi sẽ chỉ ra rằng, gian lận xảy ra phụ thuộc vào chính sách của công ty nơi mà tài sản cũng chính là một phần. Điều này tuỳ thuộc vào chính sách công ty bạn có cho phép phương tiện vận tải được sử dụng bởi những người công nhân và được phép chở đến chỗ ở của họ không. Phạm vi xảy ra rủi ro gian lận là việc sử dụng phương tiện ngoài chính sách của công ty (làm ngoài giờ, sử dụng cho kỳ nghỉ cá nhân, hoặc cho phép người khác sử dụng ...) Trường hợp sau đây là một ví dụ điển hình. Công ty mà tôi đang làm việc có chính sách thoáng đến nỗi xe của công ty có thể được lái đến chỗ ở của người lái xe nếu người lái xe phải dậy sớm trong buổi sáng để đến văn phòng trình diện. Người ta phát hiện ra rằng người lái xe này đã sử dụng chiếc xe này cho mục đích kiếm lời cho cá nhân và con cho phép người con trai đang ở lứa tuổi thiếu niên của mình lái chiếc xe này. Điều này chỉ được đưa ra ánh sáng khi cậu con trai dính đến một vụ tai nạn. Vụ tai nạn này đã phá huỷ toàn bộ chiếc xe và công ty bảo hiểm để ý đến việc ai đã lái chiếc xe này. Dường như người lái xe đi làm việc riêng cùng với cậu con trai của mình. Và sau đó đã bảo cậu ta trở lại sau 3 giờ để đón ông ta. Và, khi không thấy cậu ta trở lại, người lái xe đã phải đi bằng phương tiện khác để trở về nhà của mình. Và khi trở về nhà, cậu con trai đã thong báo cho ông ta rằng chiếc xe đã bị lấy cắp. Tôi chỉ kịp báo cáo với ban quản lý rằng chúng ta yêu cầu bản tường trình của cảnh sát về chiếc xe bị mất trộm này thì hãng bảo hiểm thông báo cho tôi về vụ tai nạn này. Đó là chiếc xe hang SAAB trị giá 43.000 USD bao gồm các tài sản khác ở trong xe, không kể đến dữ liệu trên máy tính. Hãng bảo hiểm muốn biết chính sách của công ty có cho phép gia đình của nhân viên lái chiếc xe của công ty không? Thật là khó khăn khi giải thích với cổ đông nguyên nhân vì sao chiếc xe SAAB chỉ được giám sát thông qua 2 chiếc máy tính, radio, và thiết bị liên lạc mà không hề có chính sách bồi thường nào từ công ty bảo hiểm? Giám đốc không quan tâm và cả Giám đốc tài chính cũng không quan tâm??? Đây là thực sự là một trường hợp gian lận. Công ty có đưa ra bất kỳ hành động nào chống lại người lái xe dựa vào sự xác nhận ấy không? Tất nhiên là có, người lái xe đã bị sa thải nhưng người lái xe cũng chẳng phải trả bất kỳ khoản nào mà cậu con trai của ông ta đã phá huỷ. Liệu có chính sách nào chỉ ra ai là người thực sự lái chiếc xe của công ty không? Không hẳn là có. Và có chính sách nào chỉ ra rằng điều gì sẽ xảy ra nếu chính sách này bị phá vỡ không? Không hề. Vì vậy liệu có sự trừng phạt nào thích hợp với vụ việc vừa rồi không. Cũng có nhiều ý kiến tranh luận, nhưng mà chúng vượt qua giới hạn của bài viết này. Trường hợp trên là ví vụ của sự việc không biết tài sản cố định của công ty bạn ở đâu. Mỗi tuần, các công nhân phải đưa bảng tổng kết tính toán khoảng cách mà xe đã đi được từ nhà của họ đến công ty. Liệu người giám sát hay quản lý có nhìn chặng đường mà chiếc xe đã đi được ít nhất là 15 phút không hay họ sẽ chú ý cái khác. Họ sẽ điều tra ra vì sao có sự khác biệt. Kiểm kê tài sản là nhiệm vụ hàng tháng, nếu không thì cũng ít nhất một năm một lần để đảm bảo bảng cân đối kế toán phản ánh chính xác số tài sản thực tế. Lần cuối cùng bạn kiểm đếm tài sản là khi nào? Ý của tôi muốn đề cập là bạn sẽ trông thấy điều gì nếu chỉ ngồi ở bàn làm việc. Chúng là tài sản cố định thực sự hay chỉ được ghi nhận là tài sản hữu hình trên sổ kế toán Báo cáo lưu chuyển tiền tệ SCF (Statement of Cash Flows) Đã đọc: 21297 lượt.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản