Kiến thức chăn nuôi

Chia sẻ: Phan Huy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:16

3
932
lượt xem
298
download

Kiến thức chăn nuôi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ở cuối năm 2006 và đầu năm 2007, thông tin cúm gia cầm lây lan rộng trên thế giới. Các lĩnh vực kinh doanh gia cầm cũng có nguy cơ chịu ảnh hưởng về giá cả. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện chương trình tiêm phòng cúm gia cầm quốc gia cho toàn bộ đàn gia cầm và thuỷ cầm. Đối với các công ty lớn có hệ thống chăm sóc và vệ sinh tốt, cũng bắt buộc phải tiêm phòng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kiến thức chăn nuôi

  1. Lưu hành nội bộ Năm II Soá 1 Naêm 2007 Năm Soá 1 Naêm 2007 Chuùc möøng naêm môùi 2007 GÀ VUI CƯỜI: Chăm sóc gà đẻ trong mùa nóng NGHE HEO NÓI: Lợi ích và yêu cầu kỹ thuật khi sử dụng vắc xin PHÒNG NGHIÊN CỨU: Ảnh hưởng chất lượng nước trong chăn nuôi Lựa chọn vắc xin để phòng bệnh FMD
  2. 2 Chaên Nuoâi Thư ngỏ Thân chào các nhà chăn nuôi, cảm ơn các bạn đã hợp tác và đồng hành cùng chúng tôi trong suốt thời gian qua. Mặc dù trong năm vừa qua, giá heo trên thị trường có sự khủng hoảng trong một thời gian dài, dẫn đến những Ông Sooksunt Jiumjaiswanglerg TGĐ Cty TNHH Chăn nuôi hạn chế về cải thiện kỹ thuật, quản lý trại và C.P. Việt Nam giá thương mại. Trong năm nay, chúng tôi đặc biệt giới thiệu những nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật được viết trong bản tin Kiến thức chăn nuôi, phát hành 6 kỳ mỗi năm đến người chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật và khách hàng của công ty C.P Việt Nam. Đặc biệt, sẽ rất có ích cho những khách hàng luôn muốn cho hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực Muïc Lục chăn nuôi được cải thiện và phát triển. Mỗi bản tin sẽ gồm 3 chủ đề chính: chủ đề thứ nhất có tên "gà vui cười", sẽ trình bày những tiêu chuẩn kỹ thuật quản lý, phòng và phát hiện bệnh trên gia cầm. Chủ đề Tin töùc thò tröôøng 3 tiếp theo là "nghe heo nói", gồm nhiều bài viết liên quan đến biểu Gaøvui cöôøi 4 tượng của năm. Trong phần này chúng tôi sẽ cố gắng truyền đạt mối tương quan giữa "cảm xúc" của người chăn nuôi và đàn heo của mình, Nghe heo noùi 6 giúp tăng năng suất trong chăn nuôi và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Phoøng nghieân cöùu 10 Những điều khúc mắc và khó hiểu về bệnh trong trại sẽ được giải đáp ở chủ đề cuối là "phòng nghiên cứu". Chúng tôi giúp tìm ra nguyên Söùc khoûe coäng ñoàng 12 nhân chính của những vấn đề ở trại chăn nuôi nhằm đưa ra những dịch vụ kỹ thuật để giải quyết vấn đề, điều này sẽ giúp giải tỏa những lo lắng và thắc mắc của người chăn nuôi. Với tất cả sự cố gắng, chúng tôi mong rằng quý vị sẽ hài lòng khi đọc bản tin này, chúng tôi hy vọng sẽ có cơ hội phát triển các dịch vụ kỹ thuật để cùng quý vị thành công. Chúc quý vị một năm mới An khang - Thịnh vượng. Kieán thöùc Chaên Nuoâi Năm I Soá 1 Năm 2007 Coá vaán : Mr. Sooksunt Jiumjaiswanglerg Cùng với sự hợp tác của C.ty Mr. Jirawit Rachatanan Mr. Suwes Wangrungarun Mr. Chamnan Wangakkarangkul Bieân taäp noäi dung : Dr.Anan Lertwilai. Bieân taäp: BS. Ngoâ Nhöït Toaøn BS. Nguyeãn Ñöùc Nho BS. Nguyeãn Phuù Loäc BS. Ñaëng Thuïy Khaùnh KS. Phuøng Thò Kim Lieân Thieát keá ñoà hoïa : BS. Ngoâ Nhöït Toaøn Dr. Sujin Sukchai OCTA MEMORIAL
  3. Chaên Nuoâi 3 Mr. Sooksunt Jiumjaiswanglerg Những dự đoán về tình hình giá heo, gà thịt và trứng của năm 2007 Từ cuối năm 2005 đến đầu năm 2006, dịch Ở cuối năm 2006 và đầu năm 2007, thông tin cúm gia cầm chưa được ổn định, các công ty cúm gia cầm lây lan rộng trên thế giới. Các lĩnh chăn nuôi đã giảm số lượng đầu gà nên giá gà vực kinh doanh gia cầm cũng có nguy cơ chịu thịt và trứng gà tăng cao trong năm 2006, giá ảnh hưởng về giá cả. Bộ nông nghiệp và phát gà thịt là 22.000 đồng/kg, trứng là 1.500 triển nông thôn thực hiện chương trình tiêm đồng/quả. Trong năm 2006 giá heo xuống thấp phòng cúm gia cầm quốc gia cho toàn bộ đàn gia tới khoảng 12.000 đồng/kg, trong khi đó giá cầm và thuỷ cầm. Đối với các công ty lớn có hệ thành chăn nuôi là 17.000 đồng/kg, như vậy thống chăm sóc và vệ sinh tốt, cũng bắt buộc người chăn nuôi sẽ lỗ khoảng 5000 đồng/kg. phải tiêm phòng. Giá heo thịt giảm thấp vì 2 lí do sau: Giá heo đang tăng dần do người chăn nuôi đã Dịch lở mồm long móng: Người chăn nuôi thực hiện tốt chương trình phòng ngừa LMLM, và phòng bệnh bằng vắc xin với chi phí khoảng nhà nước đã mạnh tay trong việc kiểm tra và theo 120 đồng/kg, lúc này người chăn nuôi sẽ bán dõi việc sử dụng chất kích thích trong chăn nuôi. được 19000 đồng/kg. Nhưng khi dịch xảy ra thì Do đó giá heo trong năm nay sẽ tốt hơn năm giá heo sẽ giảm xuống còn 12000 đồng/kg cho trước. nên người chăn nuôi sẽ lỗ khoảng 7000 Trong năm nay, Việt Nam đã gia nhập tổ chức đồng/kg. Các cơ quan thú y đã khuyến cáo WTO, điều này sẽ tốt cho những nước đang phát phải chích vắc xin LMLM nhưng một số người triển, việc xuất và nhập khẩu phải tuân thủ hàng chăn nuôi đã không tiêm phòng do đó khi bị rào thuế quan của mỗi nước quy định. Tất cả bệnh thì người tiêu dùng sẽ sợ không dám ăn những sản phẩm thịt đông lạnh từ nhiều nước thịt heo và người chăn nuôi cũng bán chạy với trong tổ chức sẽ nhập khẩu vào nước ta. Việc giá thấp làm giá heo thịt giảm xuống. này sẽ ảnh hưởng một phần tới tình hình chăn Một số ít người chăn nuôi vì không nhận nuôi trong nước. Do nước ta sản xuất đủ sản thức đầy đủ về ảnh hưởng của hóa chất độc phẩm thịt cung cấp cho nhu cầu trong nước, và hại đến sức khỏe con người nên đã sử dụng chất lượng thịt cũng đảm bảo an toàn qua kiểm các chất kích thích cấm trong chăn nuôi. Chất tra của Cục thú y và Bộ y tế. Các sản phẩm thịt kích thích này sẽ làm cho heo tạo nạc nhiều và động lạnh có thời gian vận chuyển lâu (khoảng giảm mỡ. Qua phương tiện thông tin người dân 40 ngày) sẽ không tươi bằng sản phẩm thịt trong đã hiểu được tác hại của chất kích thích này nước. Như vậy, người tiêu dùng sẽ có thể lựa nên tỏ ra lo ngại khi sử dụng thịt heo. Do đó chọn theo chất lượng và sở thích. giá heo cũng bị ảnh hưởng. Trứng gà năm 2007 sẽ không cao hơn năm Từ 2 lý do đó nên người chăn nuôi heo cần trước, giá trứng khoảng 800 - 900 đồng/quả. Do phải chủ động trong việc tiêm phòng bệnh giá cả ở năm 2006 cao nên người chăn nuôi tăng LMLM và không được sử dụng thuốc kích thích đàn khoảng 30%. Điều này sẽ có lợi cho người cấm. Khi đó người tiêu dùng sẽ yên tâm sử tiêu dùng vì được ăn thực phẩm giá thấp. dụng sản phẩm thịt heo.
  4. 4 Chaên Nuoâi Gà vui cười • 35-38ºC: gà tiếp tục giảm ăn. Khi đó, gà không đủ năng lượng vận động để lấy thức ăn, tỷ lệ đẻ Chăm sóc gà đẻ trong giảm rõ rệt. Gà ít vận động, hay nằm một chỗ và uống nhiều nước. mùa nóng • Trên 38ºC: gà không còn năng lượng, ít vận động và tỷ lệ chết cao. Nguyễn Phú Lộc Trong chăn nuôi gà đẻ trứng, chăm sóc - quản lý là vấn đề quan trọng để đạt được lợi nhuận tối đa. Ngoài các nguyên nhân thường thấy là do bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm thì còn một số vấn đề mà người chăn nuôi ít chú ý. Đó chính là vấn đề chăm sóc-quản lý và phòng bệnh cho gà đẻ theo mùa, đặc biệt là trong mùa nóng sắp tới. Yếu tố quan trọng mà chúng tôi muốn đề cập đến chính là stress nhiệt trong mùa nóng. Thông thường, chúng ta đều nghĩ rằng gà mắc các triệu chứng dưới đây là do bệnh: • Giảm ăn Bảng 1.% Tỷ lệ đẻ các trại so với tiêu chuẩn • Giảm tỷ lệ đẻ • Giảm trọng lượng cơ thể và trọng lượng trứng Đối với hệ thống chuồng lạnh, do nhiệt độ và • Tăng tỷ lệ chết tiểu khí hậu trong chuồng nuôi được ổn định. Vì • Tăng tỷ lệ trứng kỳ hình, mỏng vỏ thế, mặc dù nhiệt độ bên ngoài môi trường tăng Nhưng các triệu chứng trên chính là triệu cao cũng không làm ảnh hưởng đến sản lượng chứng điển hình thường thấy trên gà khi bị tress trứng nhiều. Khi gà bị stress nhiệt, ở chuồng hở nhiệt. Vì vậy, qua bài viết này chúng tôi mong bị thiệt hại đáng kể. Thực tế, sản lượng trứng muốn góp phần giúp người chăn nuôi hiểu và giữa chuồng lạnh và chuồng hở chênh lệch nhau chăm sóc tốt hơn. khoảng 7% - 10%. 1. Stress nhiệt Là khi môi trường thay đổi hoặc giao mùa, nhiệt độ môi trường tăng cao gây bất lợi cho sự tăng trưởng và sức sản xuất của gà. 2. Các yếu tố gây stress nhiệt a. Nhiệt độ • 13-18ºC: gà bị lạnh và ít vận động. Một phần năng lượng dành cho sản xuất trứng phải dành cho sưởi ấm. Vì thế, sản lượng trứng bị giảm. • 18-24ºC: đây chính là nhiệt độ lý tưởng cho gà đẻ sản xuất tốt. • 24-30ºC: gà có hiện tượng giảm ăn và giảm tỷ Bảng 2. So sánh lượng thức ăn 2 hệ thống chuồng lệ đẻ. Nếu gà được ăn thức ăn chất lượng tốt thì ít bị ảnh hưởng đến tỷ lệ đẻ. Ở hệ thống chuồng lạnh, nhiệt độ trong • 30-32ºC: gà ăn giảm. Vì giảm ăn nên tăng trọng chuồng nuôi ổn định trong khoảng 24 - 28ºC. giảm, sản lượng trứng và trọng lượng trứng Các triệu chứng stress nhiệt như: giảm ăn, giảm cũng giảm. Bắt đầu xuất hiện vỏ trứng xấu trọng lượng cơ thể và trọng lượng trứng, tăng tỷ •32-35ºC: giảm ăn mạnh, trọng lượng giảm . Gà lệ chết hầu như ít bị tác động. Thực tế thì tỷ lệ ít vận động do không đủ năng lượng và có triệu chết ở chuồng lạnh đều bằng với tiêu chuẩn chứng thở mạnh và nhanh (rướn thẳng cổ, há thực tế và thấp hơn so với chuồng hở trong mỏ để thở). khoảng 5% - 7%.
  5. Chaên Nuoâi 5 b. Ẩm độ (%RH) Thông thường, nhiệt độ môi trường và ẩm độ luôn đi đôi với nhau. Trong chăn nuôi gà đẻ, việc tạo điều kiện và môi trường tối ưu nhất cho gà là góp phần làm tăng năng suất và lợi nhuận. Nếu %RH nhỏ hơn 50% thì gà phát triển bình thường Nếu %RH lớn hơn 70% thì gà bắt đầu yếu dần Các nghiên cứu cho thấy: Nếu t(ºC) + %RH < 132 là tốt Nếu t(ºC) + %RH = 142 gà có dấu hiệu bị stress Nếu t(ºC) + %RH > 162 gây chết gà Hình 2. Hệ thống bên trong chuồng lạnh trại gà đẻ 3. Nguyên nhân gây stress nhiệt Nhiệt độ môi trường tăng cao Nhiệt độ tăng do gà sản xuất nhiệt lượng sau khi ăn Theo một số nghiên cứu cho thấy, khi gà ăn thức ăn có chứa hàm lượng protein cao thì sản sinh ra khoảng 30% nhiệt lượng do trao đổi chất Khi gà hấp thu tinh bột, ngũ cốc (carbohydrate) sẽ sản xuất 10-15% nhiệt lượng và khi hấp thu chất béo sẽ sản xuất khoảng 5-10% nhiệt lượng. Vì thế, trong mùa nóng, người chăn nuôi cần Giaáy giaøn laïnh Heä thoáng quaït phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng cho gà. 5. Chăm sóc gà đẻ mùa nóng 4. Các phương pháp giảm stress nhiệt Không thả gà con hậu bị có trọng lượng thấp. Nuôi nhốt gà với mật độ hợp lý nhằm làm tăng Do trọng lượng thấp nên gà yếu, ăn ít, trọng độ thông thoáng khí giúp thoát nhiệt nhanh. Khi lượng gà ở 17 tuần thấp. Vì thế, gà đẻ trọng nuôi nhốt gà với mật độ cao, gà sản sinh nhiệt lượng nhỏ, tỷ lệ đẻ thấp và trứng nhỏ. lượng cao hơn so với không khí xung quanh, Năng lượng cám phải đạt hơn 2900 kcal/kg. cộng với nhiệt độ môi trường cao và độ thông Nên chú ý xem kỹ thành phần đạm và chất béo. thoáng kém sẽ gây stress nhiệt. Đối với mùa nóng, nên lựa chọn cám có thành Làm giảm stress nhiệt bằng việc giảm nhiệt độ phần chất béo cao hơn chất đạm. xung quanh khu vực nuôi. Ví dụ: làm chuồng Chọn cám có thành phần protein thô nhỏ hơn sàn, trồng cây ... 17%. Cần bổ sung thêm một số axit amin cần Làm mát nhờ hệ thống quạt và phun hơi nước thiết cho gà. Ví dụ : lysine, methionine,... tự điều chỉnh nhiệt độ môi trường tối ưu cho gà Bổ sung hàm lượng vitamin và khoáng thêm trong cám. Ví dụ: lượng can xi phải cao hơn 3,5gram và phốt pho lớn hơn 400miligram Nếu vỏ trứng có hiện tượng mỏng vỏ, xù xì,... thì phải tăng lượng carbonate và bicarbonate Bổ sung vitamin C khoảng 150 gram / 1.000 lít nước uống trong những ngày nắng nóng. Không cho ăn cám vào thời gian nóng nhất trong ngày (khoảng thời gian 11,30 – 14 giờ) và nên để trống máng ăn Làm mát nước uống cho gà và tạo nhiệt độ chuồng nuôi tối ưu cho gà. Ví dụ: cho đá lạnh vào nước, không để bồn chứa nước ngoài nắng, sử dụng quạt, phun sương hoặc xây dựng hệ Hình 1. Hệ thống bên ngoài chuồng lạnh trại gà đẻ thống chuồng lạnh,...
  6. 6 Chaên Nuoâi Nghe Heo Noùi Bs.Toaøn & Bs.Nho Hiện tượng viêm nướu, viêm rốn hậu quả và khắc phục Trong việc phòng bệnh cho heo, người chăn nuôi chưa thực sự chú ý tới hiện tượng viêm Bình thường Viêm nướu do nướu và viêm rốn trên heo con. Đây là nguyên bấm răng sai nhân trực tiếp tác động đến sức khỏe, khả năng phát triển của heo con và cũng là một yếu tố tiềm ẩn gây bệnh khi heo con giảm sức đề kháng. Khi heo bị viêm nướu, viêm rốn sẽ là nơi lưu giữ lâu dài nhiều loại vi khuẩn như Streptococcus spp., Staphylococcus spp. Những vi khuẩn này xâm nhập vào máu và gây ra những bệnh khác như viêm khớp, viêm não, viêm phổi. Heo bị viêm nướu và viêm rốn chủ yếu là do ảnh hưởng của kỹ thuật bấm răng và cắt rốn không tốt hoặc Rốn bình thường Rốn bị viêm không sạch sẽ khi mới đẻ. Do đó, để giảm thiểu 2 vấn đề này, yêu cầu người chăn nuôi phải thực hiện đúng kỹ thuật bấm răng, cắt rốn cho heo con. Kỹ thuật bấm răng: Heo con khi sinh ra có những chiếc răng nanh sắc nhọn sẽ gây ra những tổn thương cho vú heo mẹ và những heo con khác trong đàn. Những tổn thương này làm cho heo nái khó chịu khi cho bú và những heo con khác bị bệnh viêm da tiết dịch (Greasy pig disease). Do đó, việc bấm răng cho heo con sau khi sinh là việc làm Kỹ thuật cắt rốn: cần thiết và quan trọng trong chăn nuôi công nghiệp hiện nay. Heo con sau khi sinh nên được Việc chảy máu dai dẳng từ dây rốn ở heo con sơ cắt răng sau ít nhất 6 giờ và phải được bú đầy sinh có trong đàn nái đẻ chiếm tỷ lệ cao. Điều đủ sữa đầu để hạn chế khả năng gây viêm này sẽ dẫn đến heo con mất máu nhiều, giảm nướu. Khi heo con được bú sữa đầu sớm và đầy sức khỏe, giảm khả năng phát triển và làm tăng đủ sẽ hấp thu được một lượng kháng thể từ heo nguy cơ nhiễm bệnh của heo con. Dây rốn nên mẹ, những kháng thể này kháng lại những mầm được buộc lại hoặc kẹp ngay sau khi heo con bệnh mà heo mẹ đã gặp và chống lại được. Hơn sinh ra để hạn chế máu chảy càng sớm càng tốt. nữa, khi bấm răng là thời điểm các mầm bệnh dễ Ngoài ra, thực hiện kỹ thuật cắt rốn đúng để tấn công nhất nên heo con rất cần sức đề kháng tránh hiện tượng viêm rốn trên heo con. Khi heo nhận từ sữa đầu. con bị viêm rốn sẽ là nơi lưu trú mầm bệnh trong Dụng cụ bấm răng phải sắc và sạch sẽ, yêu cầu cơ thể heo, làm giảm sức đề kháng của heo và phải sát trùng kỹ trước khi sử dụng. Khi bấm phát triển bệnh một cách đột ngột và gây chết răng phải chắc chắn cắt hết phần sắc nhọn của (thường phổ biến là Streptococcus spp.). răng nanh và tránh cắt vào nướu răng sẽ gây tổn thương cho nướu.
  7. Chaên Nuoâi 7 Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Khi tiến hành đỡ đẻ heo, những dụng cụ để cắt rốn (như dây sợi, dây nilon, dao mổ, kéo cắt...) phải được ngâm trong nước sát trùng trước đó 15 phút. Vị trí kẹp hoặc buộc dây rốn phải cách da bụng khoảng 0.6 – 1cm và cắt ở phía sau vị trí kẹp hoặc buộc đó. Dùng cồn Iod 10% để sát trùng vị trí cắt (không nên dùng cồn Iod 10% để nhúng rốn vào nhiều lần). Lợi ích và yêu cầu kỹ thuật khi chích vắc xin Vắc xin là một phần quan trọng trong chương cơ gây bệnh. Trong chăn nuôi, cần có sự so trình phòng và kiểm soát bệnh đối với các trại sánh giữa thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra với chi chăn nuôi theo hướng công nghiệp. Vắc xin sẽ phí sử dụng vắc xin để phòng bệnh cho trại. kích thích hệ thống miễn dịch tương tự như sự Thông thường phải trả 5000 – 15000 đồng/1 liều lây nhiễm tự nhiên. Vắc xin không thể phòng vắc xin nhưng sẽ tốt hơn nhiều nếu bị mất ngừa hoàn toàn với sự lây nhiễm tự nhiên nhưng 500.000 – 1.500.000 đồng khi một con heo chết. sẽ giảm bớt sự nghiêm trọng và hạn chế sự xuất Do đó, chi phí của vắc xin giống như phí “bảo hiện thường xuyên của bệnh. Đáp ứng miễn dịch hiểm” cho đàn heo. tạo bởi một loại vắc xin sẽ kéo dài đủ để bảo hộ Sau khi chích vắc xin từ 10 – 21 ngày heo mới có cho heo, mặc dù trong thời gian đó chúng vẫn bị đáp ứng miễn dịch. Nếu mầm bệnh xâm nhập những mầm bệnh tự nhiên xâm nhập. Vắc xin trước thời gian này heo vẫn bị bệnh. Do đó, để không được mong chờ để loại trừ tất cả các vấn giảm nguy cơ nhiễm bệnh cần thực hiện chương đề của các bệnh. Khi chích một loại vắc xin thì trình vắc xin theo khuyến cáo của nhà sản xuất. nó chỉ có tác dụng phòng ngừa cho một bệnh Thời gian bảo hộ của vắc xin phụ thuộc vào độ hoặc một số bệnh mà vắc xin đó chỉ định. Việc tuổi của heo, loại vắc xin… lựa chọn vắc xin phải phù hợp với từng loại gia Cách tốt nhất để giữ sức khoẻ cho đàn heo là súc, theo lứa tuổi và những bệnh đang có nguy phải nâng cao khả năng đề kháng với bệnh.
  8. 8 Chaên Nuoâi Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Việc này được thực hiện bằng vắc xin, dinh dưỡng tốt, kiểm soát kí sinh trùng, giảm tối thiểu những stress bằng việc chăm sóc tốt và chuồng nuôi tốt. Cũng sẽ có ích để giảm thấp mức gây nhiễm bằng việc cách ly những động vật mới mua hoặc những động vật đã mang về trại trong thời gian ít nhất 3 tuần. Nếu gia súc bị bệnh sau khi làm vắc xin, xu hướng tự nhiên là đổ lỗi cho vắc xin, nhưng những yếu tố khác cũng phải được đánh giá để tìm ra nguyên nhân của sự thiếu sót. Cũng có nhiều yếu tố về quản lý liên quan như phương pháp chích bắp thịt và chích dưới da, mật độ nuôi, dinh dưỡng, tiểu khí hậu chuồng tuy nhiên ở trên heo thường chỉ sử dụng nuôi, mức độ stress, nước uống, mật độ vi trùng phương pháp chích bắp thịt. trong môi trường khi chích vắc xin sẽ có những Vị trí chích bắp thịt thường được sử dụng là vị trí ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của vắc xin. bắp cổ. Những vị trí chích khác như bắp đùi, bả Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác là hàm vai cũng có thể được sử dụng nhưng những vị lượng kháng thể có trước đó, bao gồm kháng thể trí chích đó rất dễ gây tổn thương cho dây thần nhận từ sữa đầu của heo mẹ hoặc kháng thể tạo kinh chi phối các chân. Nên có thể dẫn tới đi cà ra ở lần làm vắc xin trước, cũng ảnh hưởng rất nhắc hoặc liệt. Do đó, phải chọn những vị trí nhiều đến hiệu quả của vắc xin đó. Do đó, thời chích sạch sẽ để tránh gây áp xe sau khi chích. điểm chích vắc xin cần xác định cho phù hợp để Vị trí chích bắp cổ là thích hợp nhất vì heo vắc xin đạt hiệu quả cao. thường không gây bẩn lên đó và vị trí này ít gây Sự bảo hộ tạo ra bởi vắc xin cũng có thể không những tổn thương khác. đạt nếu vắc xin không chứa đúng những chủng Chất lượng vắc xin cũng sẽ ảnh hưởng đến các hoặc serotypes của vi trùng theo yêu cầu để kích đáp ứng miễn dịch khi chích vắc xin. Vắc xin cần thích miễn dịch bảo hộ cho heo. Mặc dù vắc xin phải được bảo quản ở nhiệt độ từ 2 – 8ºC. Chất được tiến hành đúng và hệ thống miễn dịch đáp lượng vắc xin sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi ứng tốt, heo có thể vẫn bị mắc bệnh. nhiệt độ đặc biệt là các vắc xin sống nhược độc. Kỹ thuật chích đúng cũng là vấn đề quan trọng Vắc xin cần phải luôn giữ ở nhiệt độ ổn định kể khi sử dụng vắc xin. Để đạt hiệu quả vắc xin phải cả trong quá trình vận chuyển và cả trong khi tiến hành chích đúng. Sử dụng cỡ kim đúng đối chích, ngoại trừ đối với các vắc xin chết thì trước với từng độ tuổi của heo và phương pháp chích khi chích cần phải nâng nhiệt độ bằng nhiệt độ phù hợp. Khi sử dụng cỡ kim lớn (đường kính môi trường. Khi chích vắc xin người chăn nuôi lớn và dài), phải cố định heo chắc chắn và đảm nên kiểm tra kỹ chất lượng vắc xin về các chỉ bảo để tránh gãy kim. Những kim chích có đốc tiêu như vẩn đục, đông vón hoặc chuyển màu kim bằng nhựa sẽ dễ gãy hơn nếu heo không khác với màu bình thường của vắc xin. Khi có được cố định khi chích. Hiện nay, việc chích vắc nghi ngờ về chất lượng vắc xin cần hỏi lại bác sĩ xin trên gia súc có thể được chỉ định sử dụng thú y quản lý hoặc cố vấn cho trại.
  9. Chaên Nuoâi 9 Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Nghe Heo Noùùi No Lựa chọn và sử dụng vắc xin để phòng bệnh Lở Mồm Long Móng Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) luôn là một bệnh quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Bệnh LMLM là một trở ngại lớn nhất trong buôn bán, xuất khẩu gia súc và sản phẩm gia súc. Đây là một bệnh quan trọng bởi khả năng lây nhiễm cao, lây lan nhanh trong đàn và giữa các đàn gia súc với nhau. Vi rút truyền đi được rất xa theo gió, nước do đó việc kiểm soát bệnh trở nên khó khăn và tốn kém. Vi rút gây bệnh phổ biến trên trâu, bò, dê cừu và heo đồng thời chúng cũng truyền lây giữa các loài này với nhau. Khả năng truyền lây này gây nguy cơ lây nhiễm cao của bệnh ở các trại chăn nuôi heo từ trâu, bò, dê, cừu bị bệnh. Khi trâu bò, dê, Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm thú y cừu nhiễm bệnh sau đó khỏi bệnh nhưng vẫn vùng Tp.HCM năm 2004 cho thấy: Vi rút gây mang và thải vi rút này đến khi hết đời. bệnh LMLM ở nước ta đối với trâu, bò gồm 2 Bệnh LMLM do vi rút gây ra nên không có serotype O và A còn trên heo chủ yếu do kháng sinh để điều trị, khi gia súc bị bệnh cần serotype O gây ra. Cũng theo nguồn tài liệu từ được tiêu hủy. Biện pháp phòng và kiểm soát World Reference Laboratory, UK thì các bệnh tốt nhất là áp dụng chương trình vắc xin serotype của vi rút LMLM đang gây bệnh ở chích ngừa cho đàn heo trong trại. Tuy nhiên, nước ta tương đồng với các serotype của vi rút đáp ứng miễn dịch đối với vắc xin trên heo tồn trong vắc xin là; tại khá ngắn chỉ khoảng 6 tháng và chủng vi rút Serotype O : O Manisa trong vắc xin chỉ có một số chủng nhất định. Do vi rút LMLM có 7 serotype chính là A, O, C, Serotype Asia 1: Asia 1 Shamid Asia 1, SAT 1-3 và trong mỗi serotype lại có rất Serotype A : A Malaysia 97 nhiều subtype khác nhau. Những serotype này không gây đáp ứng miễn dịch chéo lẫn nhau. Saudi Arabia 23/86 Đây là một yếu tố quan trọng cần quan tâm A22 Irq trong công tác phòng bệnh bằng vắc xin để Như vậy, trong chương trình phòng bệnh bằng xác định các chủng vi rút trong vắc xin tương vắc xin đối với bệnh LMLM người chăn nuôi nên đồng với vi rút cường độc tự nhiên trong vùng. chích vắc xin có chứa các serotype vi rút tương đồng như trên. Chương trình vắc xin cần thực hiện theo chương trình sau: Trên heo nái 12 tuần sau khi phối giống, vắc xin (2 hoặc 3 type). Trên heo thịt 7 tuần tuổi, vắc xin mũi 1 (1 type O). 11 tuần tuổi, vắc xin mũi 2 (1 type O). Trên heo nọc Định kỳ 3 lần/năm, vắc xin (2 hoặc 3 type).
  10. 10 Chaên Nuoâi Phoøng nghieân cöùu Story by Chary angle CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG CHĂN NUÔI HEO Nước có vai trò quan trọng đối với sức khỏe Tỷ lệ nhiễm E.coli và Salmonella trong nước năm 2006 cũng như hiệu quả sản xuất trên gia súc, gia 60% 55% cầm. Nước liên quan đến mọi quá trình trao đổi 50% chất, điều hòa nhiệt độ cơ thể, giúp tiêu hóa thức 40% 44% 44% %Pos(E.coli) %Pos(Sal) ăn và loại bỏ chất cặn bã ra khỏi cơ thể. Vì thế 30% 30% 30% chất lượng nước tốt và an toàn khi sử dụng trong 26% 28% chăn nuôi là vấn đề quan trọng. 20% 20% 15% 18% 15% Nhiều năm trở lại đây, nguồn nước nhiễm vi 10% 11% khuẩn như E. coli, Salmonella spp, Clostridium 0% Tháng và Pseudomonas spp trở thành vấn đề nghiêm T.1 T.2 T.3 T.4 T.5 T.6 T.7 T.8 T.9 T.1 T.1 T.1 0 1 2 trọng ở nhiều trại chăn nuôi. Nếu người chăn nuôi bỏ qua vấn đề này, không kiểm tra cũng Tỷ lệ nhiễm E. coli và Salmonella spp trong nước năm 2005 như xử lý nước trước khi sử dụng cho đàn heo sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng. 100% 100% %Pos(E.coli) Nếu nguồn nước nhiễm vi khuẩn E. coli: 80% %Pos(Sal) - Heo nái đẻ sẽ bị tắc sữa hay không có sữa. 67% Heo con của những con nái này sẽ bị tiêu chảy. 60% 50% 45% 44% - Đối với nái nuôi con: gây nhiễm trùng huyết và 40% 33% 31% sẩy thai 23% 20% - Đối với heo con cai sữa: nhiễm E. coli sẽ bị tiêu Tháng 0% 0% 0% 0% chảy 0% T.1 T.2 T.3 T.4 T.5 T.6 T.7 T.8 T.9 T.10 T.11 T.12 Nguồn nước có Salmonella spp hay Clostridium spp có thể là nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo sau cai sữa và heo con. Pseudomonas spp gây Nguyên nhân nhiễm khuẩn: viêm vú, viêm tử cung trên heo nái Nhiễm từ phân của người và gia súc, gia cầm Vì vậy, nếu có bất cứ sự nghi ngờ nào về chất Do hệ thống cống rãnh và hố chứa chất thải lượng nước cần phải lấy mẫu nước kiểm tra. thiết kế chưa tốt, xây dựng không đúng cách Năm 2005, tổng số mẫu kiểm tra là 88 mẫu có 29 hoặc xây quá gần giếng nước dẫn đến các vi mẫu nhiễm E. coli chiếm 32.90% và 2 mẫu khuẩn gây bệnh khuếch tán vào nguồn nước nhiễm Salmonella spp chiếm 2.23%. gây nhiễm. Năm 2006, kiểm tra 383 mẫu nước từ nhiều nơi Xây dựng giếng nước kém chất lượng: nước cũ gửi về phòng thí nghiệm trong đó có 103 mẫu và giếng cạn. Giữ gìn bảo quản giếng không tốt. dương tính với E. coli chiếm 26.89%, 15 mẫu Hệ thống thoát nước bề mặt không phù hợp dẫn dương tính với Salmonella spp chiếm 3.9% trên đến nước thải nhiễm vào giếng. tổng số mẫu kiểm tra. Từ biểu đồ có thể thấy tỷ Hồ chứa nước uống cho heo không bảo đảm vệ lệ nhiễm E. coli trong mẫu nước cao hơn so với sinh. Salmonella spp và có xu hướng nhiễm cao từ Cách xử lý nước bị nhiễm khuẩn. tháng 2 đến tháng 9 trong năm. Sử dụng Chlorine hoặc các chất sát trùng Qua 2 năm kiểm tra mẫu nước từ các nơi gửi về khác cộng với việc vệ sinh sạch sẽ dụng cụ chúng tôi nhận thấy rằng tỷ lệ nhiễm khuẩn đựng nước uống là một phương pháp hiệu quả thường tập trung vào những tháng mùa mưa. Do để xử lý nước bị nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, liều đó, chất lượng nước sử dụng trong chăn nuôi lượng chất sát trùng cho vào để xử lý phải phù chưa được an toàn, cần phải kiểm tra và xử lý hợp với mức cho phép, nên kiểm tra lại trước thường xuyên. khi cho heo uống và hóa chất sử dụng phải nằm trong danh mục cho phép sử dụng tại Việt Nam.
  11. Chaên Nuoâi 11 Story by Chary angle Tại các trại chăn nuôi của Công ty TNHH chăn nước sẽ theo hệ thống ống dẫn đến nơi sử nuôi CP Việt Nam, vấn đề về chất lượng nước dụng. luôn được quan tâm. Trước khi sử dụng, nước Đối với nước có mức độ nhiễm khuẩn quá cao được dẫn qua một hệ thống bơm Chlorine với thì không nên sử dụng chất sát trùng để xử lý vì nồng độ khoảng 3-5ppm. Đây là một hể thống không hiệu quả. Phương pháp hợp lý là loại bỏ xử lý nước rất hiệu quả, nước từ giếng qua hệ các nguồn gây nhiễm, nếu vẫn không thể thực thống bơm Chlorine, khi qua hệ thống này nước hiện được thì tốt nhất là xây dựng một giếng mới được xử lý với nồng độ Chlorine định sẵn, đúng tốt hơn. tiêu chuẩn về liều lượng. Sau khi đã được xử lý Hệ thống hoà Chlorine vào Dung dịch Máy pha Bồn chứa nước sạch cho nước Chlorine thuốc heo uống More animal health solutions to come Mobile phone : 090-9023887 Email : tussin.mahamongkol@alpharma.com
  12. 12 Chaên Nuoâi Söùc khoûe coäng ñoàng Ảnh hưởng của tồn dư Clenbuterol trong sản phẩm động vật đến sức khỏe người tiêu thụ Dr. Anan Lertwilai Gần đây, trong chăn nuôi heo cũng như gia cầm ở Việt nam có những thông tin về việc phát hiện chất Clenbuterol trong thịt và thức ăn chăn nuôi. Vậy clenbuterol là chất gì, có ảnh hưởng ra sao đối với sức khỏe chúng ta ? Clenbuterol là một chất thuộc nhóm Beta-agonist có tác dụng làm dãn phế quản. Đây là một dược phẩm được điều chế để Không có Beta-agonist Có Beta-agonist điều trị bệnh hen suyễn trên người, các trường hợp viêm phổi dị ứng trên ngựa và Trong một trường hợp ngộ độc trên người do ăn viêm đường hô hấp trên bò. Vào giữa thập kỷ phải gan bê có tồn dư Clenbuterol (nồng độ 1980, người ta khám phá rằng khi dùng liều cao 500ppb) tại Tây Ban Nha vào năm 1997, bác sỹ các chất Beta agonist theo đường miệng, thuốc Bilbao Gary và các cộng sự thuộc bệnh viện có thể tạo ra một sự gia tăng nhanh chóng và rõ Mostoles, Madrid, đã ghi nhận sau khi ăn phải rệt sự tăng khối cơ đồng thời làm giảm khối gan bê bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng lượng mỡ. Do đó gần như các công ty lớn có như run cơ, tim đập nhanh, khó thở, hồi hộp, sản phẩm chăn nuôi gia súc gia cầm đều tự choáng váng, căng thẳng thần kinh, buồn nôn nghiên cứu điều chế sản xuất các chế phẩm và đôi khi ngứa. Thời gian xuất hiện triệu chứng thuộc nhóm Beta-agonist mà phổ biến và nổi tùy bệnh nhân, từ 30 phút đến 2 giờ. Sau 72 giờ tiếng nhất là Clenbuterol. thì đa số các bệnh nhân không còn các triệu Các nhà chăn nuôi phát hiện tác dụng kỳ diệu chứng trên. Một số bệnh nhân còn các triệu này của Clenbuterol cũng như các chất thuộc chứng nhẹ như nhức đầu, đau cơ, mệt mỏi và nhóm Beta-agonist nên đã bổ sung vào thức ăn kém ăn. Theo báo cáo của một bác sỹ thuộc gia súc nhằm tạo ra những con thú có quày thịt Trung Tâm Phân Tích Độc Chất Thú Y Lyons ở nạc hơn, tăng trọng nhanh hơn hầu thu lợi miền nam nước Pháp, những người ăn phải nhuận cao. Tuy nhiên trong những năm cuối thực phẩm có chứa Clenbuterol thường xuất của thập kỷ 1980 và thập kỷ 1990, người ta hiện các triệu chứng ngộ độc trong thời gian từ phát hiện ra sự tồn dư Clenbuterol trong thịt và 30 đến 360 phút, trung bình khoảng 101 phút. phủ tạng, đặc biệt là gan, của những thú được Thời gian xuất hiện triệu chứng không phụ thuộc nuôi bằng thực phẩm có chứa Clenbuterol đã vào tuổi tác và giới tính. ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu thụ, đôi khi Chính vì những hậu quả không mong muốn trên, có thể gây ngộ độc cấp tính. Đã có nhiều báo hiện nay Mỹ, Canada và các nước thuộc Liên cáo về các trường hợp ngộ độc trên người sau Minh Âu châu cấm sử dụng Clenbuterol và các khi tiêu thụ gan kể cả thịt nhiễm các chất tồn dư chất thuộc nhóm Beta – agonist. Ở Việt nam, Bộ như Clenbuterol và một vài chất khác thuộc Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đã ra nhóm Beta-agonist tại các nước châu Âu và quyết định số 54/2002/QĐ-BNN, ngày 20 tháng châu Á. Dù vậy, chất này vẫn còn được sử dụng 06 năm 2002, cấm sử dụng Clenbuterol trong một cách bất hợp pháp trên thị trường chăn nuôi. sản phẩm chăn nuôi.
  13. Chaên Nuoâi 13 Do đó để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm phải được đặt lên hàng đầu. Phải đảm bảo cung cấp cho người dân những sản phẩm không những không bị vấy nhiễm vi sinh vật mà còn không tồn dư những chất có hại cho sức khỏe con người theo cách trường diễn, bao gồm kháng sinh và Thịt heo an toàn những chất kích thích tăng trưởng trong đó có Clenbuterol. Để có được sản phẩm an toàn, không phải chỉ Ngoài ra cũng cần tăng cường công tác kiểm tra có những biện pháp quản lý ở khâu chuyên chở, các nguyên liệu dùng chế biến thức ăn cũng giết mổ, chế biến mà cần có biện pháp quản lý như thành phẩm tại các cơ sở chế biến thức ăn từ khâu chăn nuôi. Việc phát hiện, phân tích các trước khi xuất bán đến người chăn nuôi. Đứng chất tồn dư này đòi hỏi phải có máy móc, về phương diện người tiêu thụ, chúng ta cũng phương tiện chính xác, mức tốn kém cao nên không nên lo lắng quá mức vì ngoài những triệu trước mắt cần tuyên truyền cho các nhà chăn chứng gây ngộ độc trên thì cho đến nay, chưa nuôi biết rõ các quy định cấm của Việt Nam về có tài liệu nào công bố về việc Clenbuterol có các chất này để không vi phạm. Các cơ quan thể gây ung thư cho người. Ngoài ra, một số chức năng cần có biện pháp triệt để hơn đối với nghiên cứu cho thấy nếu thịt có tồn dư các trường hợp chủ nuôi cố tình lạm dụng Clenbuterol được chế biến ở nhiệt độ cao như Clenbuterol và các chất Beta-agonist để nuôi chiên trong dầu trong 5 phút thì có thể làm chất “heo nạc và mau xuất chuồng”. tồn dư này bị phân giải (Rose và cs, 1995). Tác dụng nhanh, mau hồi phục Sự lựa chọn đáng tin cậy trong điều trị các bệnh Bệnh đường hô hấp (do Mycoplasma) Viêm dính màng phổi (do APP) Bệnh hồng lỵ (SD) Viêm hồi tràng (Ileitis) Viên kết tràng (Colitis) Viêm khớp (do Mycoplasma) Email : weera.thongaya@novartis.com Điện thoại : 09-1380-7583, 09-1891-4327
  14. 14 Chaên Nuoâi Những hoạt động của coâng ty Buổi gặp gỡ với các nhà cung cấp nguyên Buổ gặ gỡ cá nhà cấ Lễ trao tiền từ thiện cho Trung tâm nuôi ễ tiề từ thiệ liệu của ban lãnh đạo công ty C.P. liệ củ đạ dưỡng trẻ em mồ côi tàn tật tỉnh Đồng dưỡ trẻ mồ tà tậ tỉ Đồ Các nhà cung cấp đã cam kết chịu trách nhiệm nếu nhà cấ kế chị trá nhiệ nế Nai nguyên liệu nhiễm hoá chất bị cấm liệ nhiễ hoá chấ bị Ngày 27 - 01 - 2007, Ban lãnh đạo công ty C.P. gặp các nhà báo để trao đổi về Ngà 27 2007, Ban đạ gặ cá nhà để đổ về sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm chất lượng tốt để tạo ra sản phẩm thịt an xuấ thứ sú cầ chấ lượ tố để sả phẩ thị toàn tại khách sạn Caravelle - Tp. Hồ Chí Minh toà tạ khá sạ Hồ Chí
  15. • An toàn. • Đã được chứng minh. • Lợi nhuận. Cho vật nuôi và Với cơ chế 3 Ở tất cả các giai môi trường xung quanh. tác động. đoạn sản xuất SURMAX giúp cải thiện tốc độ tăng trưởngtrên heo và hiệu quả chăn nuôi nhờ vào cơ chế 3 tác động (hay còn gọi là cơ chế tác động 3 mặt). 1. Tăng cường tích trữ Glucose: Bằng cách làm giảm mức độ cạnh tranh hấp thu chất dinh dưỡng Carbohydrates của vi khuẩn trong đường ruột, đặc biệt ở ruột non. Nhờ đó heo hấp thu được nhiều dưỡng chất hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn cải thiện tốt hơn. 2. Giảm sản xuất acit Lactic trong ruột non: Do đó làm giảm mức độ nhu động (co bóp) của ruột. Thức ăn được lưu lại trong ruột non dạ dày lâu hơn, giúp tiêu hóa thức ăn tốt hơn và cơ thể hấp thu dưỡng ruột chất từ thức ăn được nhiều hơn. 3. Tăng sản sinh các axit béo bay hơi: các axit béo bay hơi được Surmax cải thiện hiệu quả thức ăn sản sinh thông qua quá trình vi khuẩn lên men các thành phần còn ngay trong đường ruột, bằng cách làm tăng sự biến dưỡng của vi lại trong thức ăn sau khi đã tiêu hóa như: Cellulose. Nhờ quá trình khuẩn và duy trì sự ổn định của hệ vi này mà hiệu quả sử dụng thức ăn được tăng lên. Các axit béo bay sinh vật đường ruột. hơi này cung cấp thêm 12% năng lượng duy trì cần thiết cho cơ thể heo. Nhờ đó mà cơ thể heo hấp thu được nhiều năng lượng hơn từ thức ăn. Giai đoạn nuôi Liều lượng SURMAX pha trộn Giai đoạn heo con: 20 – 40 ppm (200 – 400g Surmax/ tấn TĂ) Giai đoạn heo choai: 20 ppm (200g Surmax/tấn TĂ) Giai đoạn heo thịt: 10 ppm (100g Surmax/tấm TĂ) BAÏN GIAÛI QUYEÁT VAÁN ÑEÀ HOÂ HAÁP PHÖÙC HÔÏP TREÂN ÑAØN HEO CUÛA MÌNH NHÖ THEÁ NAØO? SCHERING PLOUGH (HOA KYØ) HAÕY YEÂN TAÂM VÔÙI GIAÛI PHAÙP HOAØN HAÛO CUÛA Keát hôïp 3 chöông trình CHÖÔNG TRÌNH ÑÒNH KYØ TROÄN KHAÙNG SINH: SAÛN PHAÅM KHAÙNG SINH THEÁ HEÄ MÔÙI NUFLOR PREMIX CHÖÔNG TRÌNH VEÄ SINH SAÙT TRUØNG CHUOÀNG TRAÏI: THUOÁC SAÙT TRUØNG OMNICIDE Chương trình vắc xin MYCOPLASMA: vắc xin M+PAC Điện thoại : 08-235-885-7 Email : hoa.dinh.nguyen@spcorp.com
Đồng bộ tài khoản