Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều - Nguyễn Du-nỗi thương mình

Chia sẻ: hoami1707

Vị trí văn bản: câu 1229 – 1248 * Bố cục: - P1: đầu - “…xót xa”: giới thiệu tình cảnh trớ trêu của Thuý Kiều (TK). - P2: tiếp - “…xuân là gì”: tâm trạng, nỗi niềm của TK.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Kiến thức lớp 10 Truyện Kiều - Nguyễn Du-nỗi thương mình

Kiến thức lớp 10


Truyện Kiều - Nguyễn Du-phần 9



NỖI THƯƠNG MÌNH

I. Tiểu dẫn



Vị trí văn bản: câu 1229 – 1248



* Bố cục:

- P1: đầu -> “…xót xa”: giới thiệu tình cảnh trớ trêu của Thuý Kiều

(TK).

- P2: tiếp -> “…xuân là gì”: tâm trạng, nỗi niềm của TK.



II. Văn bản
1. Phần 1(câu 1 -> 4)



- Hình ảnh ước lệ:



+ Ba hình ảnh bướm lả ong lơi, lá gió cành chim, đưa Tống Ngọc-

tìm Tràng Khanh(chú thích - SGK)



+ Tác dụng: tả thực tình cảnh của TK và khung cảnh chung của

lầu xanh tuy vậy vẫn đảm bảo sự tôn trọng TK. Việc dùng điển

tích làm ý thơ tả thực mà vẫn trang trọng, tránh đi cụ thể, chi tiết

vào hiện thực xấu xa của lầu xanh.



- Biện pháp đối:



+ Tiểu đối trong cụm từ:



“Bướm lả ong lơi”, “lá gió cành chim”: một cụm từ được biến hoá

từ thành ngữ “bướm ong lả lơi” (so sánh: nếu sử dụng đúng
thành ngữ này, ý nghĩa vẫn đảm bảo song không có sự nhấn

mạnh). N.Du đã đảo thành hai hình ảnh đối nhằm tô đậm hoàn

cảnh của Kiều. Đó là hoàn cảnh không được tốt đẹp và lặp đi lặp

lại nhiều lần.



+ Tiểu đối trong câu, đối 2 cặp câu (1-2 với 3-4):



“Cuộc say…suốt đêm”, “Sớm đưa…TK”: mô tả chân thực quãng

thời gian Kiều ở lầu xanh. Biện pháp đối làm quãng thời gian dài

vô tận, ở thời điểm nào người kĩ nữ cũng phải tiếp khách và phải

tiếp nhiều loại người.



- Biện pháp đảo ngữ: “Biết bao…lơi”, “Dập dìu…chim”



-> nhấn mạnh tình cảnh, nỗi đau của TK. Từ “biết bao” nhấn

mạnh số lượng, từ “dập dìu” nhấn mạnh tình cảnh tiếp khách liên

miên của Kiều.
-> Qua đó, ta thấy tình cảnh trớ trêu của TK. Nàng phải sống ở

nơi ồn ào, hỗn tạp, lơi lả trái với con người nàng. TK phải tiếp

khách liên miên, tưởng như trong hoàn cảnh ấy nàng sẽ quên đi

con người thực của mình.



2. Phần 2 (16 câu tiếp)



- Hai câu đầu: Hoàn cảnh thương thân của Kiều



+ Sau những lúc tiếp khách, có thời điểm TK ở một mình. Đó là

lúc đã gần sáng, khi đã tỉnh rượu và cảm thấy mỏi mệt vì những

cuộc truy hoan. Lúc đó, K mới chợt giật mình nhận rõ tình cảnh

bản thân. Thời gian đêm gần sáng là lúc con người ý thức rõ về

bản thân. Trong thơ HXH, “CPN”, TX, các tác giả cũng dùng thời

gian này để gợi tâm tình.



+ Trong thời điểm đó, chỉ có một mình bản thân NVTT tự đối

diện. TK cũng vậy. Một câu thơ có ba chữ “mình” càng nhấn
mạnh sự cô đơn của TK, cho thấy ý thức về bản thân đang trỗi

dậy trong K. Câu thơ cũng thay đổi cách ngắt nhịp: 2/4/2 nhằm

diễn tả sự thay đổi trong bài thơ: thay đổi từ khung cảnh ồn ào

sang yên lặng, thay đổi trong tâm trạng NVTT: từ vô thức sang có

ý thức về bản thân. Chứng tỏ, trong cảnh sống lầu xanh, K vẫn

không quên đi nỗi khổ nhục của bản thân. Nếu quên đi thì TK sẽ

không đau khổ nhưng còn ý thức được điều đó thì nỗi đau càng

tăng lên.



- Bốn câu tiếp: Tâm sự của Kiều



“Phong gấm rủ là” là hình ảnh ẩn dụ chỉ sự yên ấm, trinh bạch,

đầy đủ. Nó >< với “hoa giữa đường”. Hai câu thơ sử dụng phép

nghịch đối nhằm nhấn mạnh sự thay đổi chóng mặt về thân phận

TK.



Từ “khi”, “giờ” chỉ khoảng thời gian không xác định, gần với thời

điểm NVTT đang nói. Dường như mọi việc vẫn ở trước mắt, quá
khứ tươi đẹp mới thoáng qua chứ chưa xa xôi.



Câu thơ sử dụng biện pháp so sánh “Giờ…đường” cho thấy hoàn

cảnh bơ vơ, bị coi thường của TK.



Hai câu 9, 10 sử dụng phép đối và tiểu đối trong cụm từ: dày gió

– dạn sương, bướm chán – ong chường để nhấn mạnh sự chán

chường, đau khổ đến chai lì cảm xúc của nàng.



Câu 10 là câu cảm thán với kết cấu vòng tròn, điệp lại chữ “thân”

ở đầu và cuối câu như sự day dứt, khinh ghét chính bản thân

mình. Từ“sao” điệp lại 4 lần làm tâm trạng TK như trải dài qua

các dòng thơ, mỗi dòng thơ là mỗi lời chất vấn số phận thấm đầy

nước mắt.



-> Tiếc nuối quá khứ tươi đẹp, chua chát cho thân phận và khinh

ghét chính bản thân mình.
- Mười câu cuối: Thái độ của Kiều trước thú vui lầu xanh



+ Tình cảnh : Nhiều lần TK phải chịu sự lả lơi của khách làng

chơi trong khung cảnh đầy chất lãng mạn với nhiều thú vui.



+ Tâm trạng: Với sự vui thú ở lầu xanh, TK tỏ thái độ thờ ơ. Để

khách vui, người kĩ nữ nhận về mình nỗi buồn. “Mưa Sở mây

Tần” là thành ngữ chỉ quan hệ thân xác nam nữ. Trước sự việc

đó, TK “nào biết có xuân là gì”, nàng không quan tâm và cũng

không thấy vui. Không thấy vui thú thì sự gần gũi biến thành cực

hình, nó như con dao hai lưỡi mà TK là nạn nhân.



Mặc dù cảnh TN rất đẹp song nàng không thấy vui thú. Câu hỏi tu

từ “Người…bao giờ” nhằm khẳng định ảnh hưởng của tâm trạng

TK với cảnh vật. Đây cũng là qui luật tất yếu về mối liên hệ giữa

tâm trạng với cái nhìn cảnh vật của con người. Cái vui chỉ là

gượng gạo. Trong “Chinh phụ ngâm” khi miêu tả người thiếu phụ

đánh đàn, tác giả cũng dùng chữ “gượng”. TK và người chinh
phụ đã gặp nhau ở tâm trạng chán chường trước những thú vui

quen thuộc. Nàng chán chường vì không có ai tri âm. Câu hỏi đặt

ra cuối đoạn để tìm người tri âm mà cũng để khẳng định: chẳng

có ai cả. Từ “ai” xuất hiện hai lần. “Ai” ở đầu câu là sự tìm kiếm

nhưng khi nó xuất hiện ở cuối câu thì là sự phủ định hoàn toàn.



III. Tổng kết



1.Nội dung



- TK rơi vào tình cảnh trớ trêu, dễ làm con người đánh mất nhân

phẩm. K ý thức rõ thân phận khổ đau của mình, tiếc nuối quá

khứ, khinh ghét bản thân và thờ ơ với những thú vui ở lầu xanh.



-> Nhân phẩm: dù ở môi trường vẩn đục, TK vẫn không đánh mất

nhân phẩm. Còn ý thức về bản thân, còn khinh ghét cuộc sống

đồi bại thì con người chưa đánh mất nhân phẩm.
- N.Du không chỉ thương xót chung chung mà ông chú ý đến nỗi

đau cá nhân của con người. Sau lối xưng “ta” đặc trưng của văn

học trung đại, ta chợt nghe thấy một giọng ca riêng cùng nỗi

thương thân của cái “tôi”. Thương mình là nền tảng vững chắc

cho lòng thương người. Với đoạn trích này, ND đã kế thừa được

tư tưởng tiến bộ của VHDG.



Hơn nữa, đây là “nỗi thương mình” của con người dưới đáy xã

hội nên nó càng mới lạ và giàu tính nhân đạo. Nó cho thấy, N.Du

quan tâm tới mọi loại người chứ không chỉ những người ở tầng

lớp trên. Không phải những người ở hoàn cảnh xấu đều xấu cả.



Nó còn cho thấy ý thức bản thân và sự phản kháng của con

người bị đè nén với xã hội đặc biệt là của người phụ nữ



2.Nghệ thuật



Sử dụng tối đa phép đối để nhấn mạnh tình cảnh – tâm trạng TK
và nhiều hình ảnh tượng trưng, ước lệ nhằm miêu tả chân thực

cuộc sống lầu xanh mà vẫn đảm bảo sự tôn trọng TK.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản