Kiến thức về Tỷ giá hối đoái

Chia sẻ: Thoanhien Hien | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:9

0
176
lượt xem
42
download

Kiến thức về Tỷ giá hối đoái

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kiến thức về Tỷ giá hối đoái

  1. Tỷ giá hối đoái Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới: menu, tìm kiếm Tỷ giá hối đoái (thường được gọi tắt là tỷ giá) là sự so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của hai nước khác nhau. Cũng có thể gọi tỷ giá hối đoái là giá của một đồng tiền này tính bằng giá của một đồng tiền khác. M ụ c lụ c [ẩn] • 1 Khái quát • 2 Các loại tỷ giá hối đoái o 2.1 Tỷ giá hối đoái chính thức và Tỷ giá hối đoái song song o 2.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và Tỷ giá hối đoái thực tế o 2.3 Tỷ giá hối đoái song phương và Tỷ giá hối đoái hiệu lực • 3 Lên giá và Xuống giá • 4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái: • 5 Các chế độ tỷ giá hối đoái • 6 Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái • 7 Tài liệu tham khảo • 8 Liên kết ngoài [sửa] Khái quát Thông thường tỷ giá hối đoái được biểu diễn thông qua tỷ lệ bao nhiêu đơn vị đồng tiền nước này (nhiều hơn một đơn vị) bằng một đơn vị đồng tiền của nước kia. Ví dụ: tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ là 16045 VND/USD hay giữa Yen Nhật và Dollar Mỹ là 116,729 JPY/USD hay giữa Dollar Mỹ và Euro là 1,28262 USD/Euro. Đồng tiền để ở số lượng một đơn vị trong các tỷ lệ như những ví dụ trên gọi là đồng tiền định danh hay đồng tiền cơ sở. Vì thế, khi cần thể hiện một cách nghiêm ngặt và chính xác, người ta thường nói: "Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằng Dollar Mỹ là 16015 Đồng bằng 1 Dollar" hoặc "Tỷ giá hối đoái giữa Đồng Việt Nam và Dollar Mỹ trên thị trường ngoại hối định danh bằng Đồng Việt Nam là 0,0000624 Dollar bằng 1 Đồng". [sửa] Các loại tỷ giá hối đoái [sửa] Tỷ giá hối đoái chính thức và Tỷ giá hối đoái song song Tỷ giá hối đoái có thể được quy định bởi thị trường trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, và được gọi là tỷ giá thị trường. Tỷ giá hối đoái cũng có thể được quy định bởi các cơ quan hữu trách trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Ở nhiều nước, cả thị trường lẫn cơ quan hữu trách cùng tham gia quy định tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái khi đổi tại ngân hàng thương mại và quầy giao dịch ngoại hối phục vụ khách hàng lẻ thường chênh lệch so với tỷ giá công bố có thể vì một trong hai lý do sau: (1) đã được tính gộp cả phí dịch vụ; (2) có hai tỷ giá đồng thời, một tỷ giá hối đoái chính thức (có thể do cơ quan hữu trách qui định, hoặc do cả thị trường
  2. lẫn cơ quan hữu trách quy định) và một tỷ giá không chính thức (còn gọi là tỷ giá hối đoái song song hay tỷ giá chợ đen) do thị trường quyết định. Ở Việt Nam, ngay cả tỷ giá hối đoái chính thức cũng có vài loại: tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại, và tỷ giá hạch toán. Tỷ giá mua vào và bán ra ngoại tệ niêm yết tại một số ngân hàng để phục vụ khách đổi tiền là tỷ giá giao dịch của ngân hàng thương mại có tính thêm phí dịch vụ. Còn tỷ giá đổi tiền tại các cửa hàng kinh doanh vàng bạc ngoại tệ của tư nhân hay khi đổi tiền trong nhân dân chính là tỷ giá hối đoái song song. [sửa] Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và Tỷ giá hối đoái thực tế • Tỷ giá hối đoái danh nghĩa : là mức giá thị trường của một đồng tiền này tính bằng đồng tiền khác vào một thời điểm nhất định. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa không xét đến tương quan giá cả, tương quan lạm phát và các nhân tố khác giữa hai nước. • Tỷ giá hối đoái thực tế :là tỷ giá phản ánh sức mua tương quan của hai đồng tiền,phản ánh trong tỷ giá. Tỷ giá hối đoái thực tế có xét đến tương quan giá cả, tương quan tỷ lệ lạm phát giữa hai nước. Quan hệ giữa hai loại tỷ giá này được thể hiện qua cách tính sau: Tỷ giá hối đoái thực tế = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Giá nước ngoài / Giá nội địa = Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Tỷ lệ lạm phát nước ngoài / Tỷ lệ lạm phát trong nước. [sửa] Tỷ giá hối đoái song phương và Tỷ giá hối đoái hiệu lực • Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được gọi là tỷ giá hối đoái song phương. • Tỷ giá hối đoái hiệu lực là tỷ lệ trao đổi giữa một đồng tiền X với nhiều đồng tiền khác cùng lúc (thông thường là đồng tiền của các bạn hàng thương mại lớn). Tỷ giá này được tính dựa trên giá trị bình quân gia quyền của các tỷ giá song phương giữa đồng tiền X với từng đồng tiền kia. Tỷ giá hối đoái hiệu lực cũng có loại danh nghĩa và loại thực tế. [sửa] Lên giá và Xuống giá Khi đồng tiền X lên giá so với đồng tiền Y (cũng tức là Y mất giá so với X) thì tỷ giá hối đoái giữa X và Y trên thị trường ngoại hối định danh bằng Y sẽ giảm đi, nhưng tỷ giá hối đoái giữa X và Y trên thị trường ngoại hối định danh bằng X lại tăng lên. [sửa] Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái: • Mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước. • Mức độ tăng (giảm)thu nhập quốc dân giữa hai nước. • Mức chênh lệch lãi suất giữa hai nước. • Những kỳ vọng về tỷ giá hối đoái trong tương lai. • Sự can thiệp của chính phủ. [sửa] Các chế độ tỷ giá hối đoái • Tỷ giá hối đoái cố định. • Tỷ giá hối đoái thả nổi,tự do. • Tỷ giá hối đoái thả nổi có sự kiểm soát của chính phủ.
  3. [sửa] Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái • Mức chênh lệch lạm phát giữa các quốc gia. • Mức độ tăng hay giảm thu nhập quốc dân giữa các nước • Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước. • Những dự đoán về tỷ giá hối đoái. • Tình trạng cán cân thanh toán quốc tế. • Sự can thiệp của chính phủ. o Can thiệp vào thương mại quốc tế. o Can thiệp vào đầu tư quốc tế. o Can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối. • Các nhân tố khác:Khủng hoảng kinh tế, xã hội, đình công,thiên tai... [sửa] Tài liệu tham khảo • Krugman, Paul R. and Obstfeld, Maurice (2005), International Economics: Policy and Theory, Seventh Edition, Addison Wesley. • Oliver, Blanchard(2007) Macroeconomics, Fourth Edition • ĐCSVN) - Trong cuộc sống hàng ngày, trên sách báo, trong ngân hàng hay trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụm từ “Tỷ giá hối đoái” h ẳn không còn xa l ạ v ới mỗi người dân. Vậy tỷ giá hối đoái là gì, nó được hình thành trên cơ s ở nào và ảnh h ưởng bởi các nhân tố kinh tế vĩ mô tới nó ra sao? Bài viết này xin được tr ả l ời ph ần nào nh ững câu hỏi trên. • Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về tỷ giá h ối đoái, do cách ti ếp c ận v ấn đ ề khác nhau, đôi khi do cách diễn đạt khác nhau. Tỷ giá h ối đoái là giá c ủa đ ồng ti ền này đ ược tính theo m ột đồng tiền khác. Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là t ỉ lệ trao đổi gi ữa hai đ ồng ti ền c ủa hai qu ốc gia khác nhau. Tỷ giá hối đoái xuất hiện và phát tri ển cùng v ới s ự ra đ ời, phát tri ển c ủa th ương mại quốc tế, nó được giải thích bởi một hiện t ượng đơn gi ản, hàng hoá không có biên gi ới qu ốc gia trong khi tiền chỉ được chấp nhận trên lãnh thổ quốc gia phát hành ra nó. • Tỷ giá hối đoái, tức tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền cao hay th ấp đ ựơc quy ết đ ịnh b ởi các l ực lượng thị trường, cung và cầu. Cung ngoại tệ là lượng ngoại t ệ mà th ị tr ường mu ốn bán ra đ ể thu về nội tệ. Cầu ngoại tệ là lượng ngoại tệ mà thị trường muốn mua vào b ằng các đ ồng n ội t ệ. Giá cả ngoại tệ, tỷ giá hối đoái cũng được xác định theo quy luật cung c ầu nh ư đ ối v ới các hàng hoá thông thường. Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại t ệ s ẽ làm cho giá ngo ại t ệ gi ảm, t ức t ỷ giá hối đoái tăng. Ngược lại, khi cầu ngoại tệ l ớn h ơn cung ngo ại t ệ giá ngo ại t ệ s ẽ tăng, t ức t ỷ giá giảm. ở vị trí cung ngoại tệ bằng cầu ngoại tệ xác định trạng thái cân b ằng, không có áp l ực làm cho tỷ giá thay đổi. Ta có thể hình dung cơ chế hình thành t ỷ giá đ ược hi ểu th ị r ừ khi cú s ự khỏc nhau về cung và cầu ngoại tệ. Khi cung ngoại tệ lớn hơn c ầu ngoại t ệ, l ượng ngo ại t ệ mà thị trường cần bán ra nhiều hơn lượng ngoại tệ cần mua vào, khi đó có m ột s ố ng ười không bán được sẽ sẵn sàng bán với mức giá thấp hơn và làm cho giá ngoại t ệ trên th ị tr ường gi ảm. T ư duy tương tự, khi cầu lớn hơn cung, một s ố ng ười không mua đ ược ngoại t ệ s ẵn sàng tr ả giá cao hơn và gây sức ép làm giá ngoại tệ trên th ị trường tăng. Khi cung ngo ại t ệ b ằng c ầu ngo ại tệ, lượng ngoại tệ mà thị trường cần mua đúng bằng l ượng ngo ại t ệ c ần bán làm cho giá ngo ại tệ không đổi, thị trường cân bằng. Chúng ta có thể th ấy, t ỷ giá h ối đoái trên th ị tr ường luôn thay đổi. Có rất nhiều nhân tố tác động gây ra sự bi ến động của t ỷ giá hối đoái v ới nh ững m ức đ ộ và cơ chế khác nhau. • Cán cân thương mại ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cấn cân th ương m ại c ủa m ột n ước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu. Một nền kinh t ế khi xu ất kh ẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại tệ. Để tiếp t ục công vi ệc kinh doanh, các nhà xu ất kh ẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua hàng hoá dịch vụ trong n ước xuất kh ẩu ra nước ngoài. Trên th ị trường cung ngoại tệ sẽ tăng, làm tỷ giá hối đoái gi ảm. Ng ược lại, khi nh ập kh ẩu hàng hoá d ịch vụ, các nhà nhập khẩu cần ngoại tệ để thanh toán cho đối tác và đi mua ngo ại t ệ trên th ị
  4. trường. Hành động này làm cầu ngoại tệ tăng, t ỷ giá h ối đoái tăng. Tác đ ộng c ủa hai hi ện t ượng trên là ngược chiều trong việc hình thành t ỷ giá h ối đoái. T ỷ giá h ối đoái cu ối cùng s ẽ tăng hay giảm phụ thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân t ố, đó chính là cán cân th ương mại. Nếu một nước có thặng dư thương mại, cung ngoại tệ lớn h ơn c ầu ngoại t ệ, t ỷ giá h ối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm hụt thương mại, t ỷ giá h ối đoái s ẽ tăng, đ ồng n ội t ệ gi ảm giá. • Đầu tư ra nước ngoài, cú ảnh hưởng tới t ủ giỏ hối đoỏi cư dân trong n ước dùng ti ền mua tài s ản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng nhà máy, thành l ập các doang nghi ệp...) hay đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu, trái phiếu...). Những nhà đ ầu t ư này mu ốn th ực hi ện ho ạt đ ộng kinh doanh trên cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại t ệ trên th ị tr ường, lu ồng v ốn ngo ại t ệ ch ảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng. Ng ược l ại một nước nh ận đ ầu t ư t ừ n ước ngoài, lu ồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại t ệ tăng, t ỷ giá h ối đoái gi ảm. Đ ầu t ư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng v ốn ch ảy vào m ột n ước. Khi đ ầu t ư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong n ước nh ỏ h ơn dòng v ốn ch ảy ra n ước ngoài,tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ gi ảm trong trường hợp ng ược l ại, đ ầu t ư ra n ước ngoài ròng âm. Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ ch ảy đ ến nơi nào có l ợi nh ất, t ức là hi ệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh tế sẽ thu hút đ ược các luồng v ốn đ ến đ ầu t ư nhi ều h ơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền chính trị ổn đ ịnh, các đ ầu vào s ẵn có v ới giá r ẻ, ngu ồn lao động dồi dào có tay nghề, thị trường tiêu thụ rộng lớn, lãi su ất cao và s ự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ. • Lạm phát ảnh hưỏng đến tỷ giá hối đoái. Khi m ột nước có lạm phát, s ức mua đ ồng n ội t ệ gi ảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đ ắt h ơn trên th ị tr ường n ứơc ngoài trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên th ị trường trong n ứơc. Theo quy lu ật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhi ều h ơn vì giá rẻ h ơn, nh ập kh ẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. T ương t ự vì tăng giá, c ư dân n ước ngoài s ẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút, cung ngoại t ệ trên th ị tr ường gi ảm, t ỷ giá hối đoái tăng. Như vậy lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và c ầu ngoại t ệ theo h ướng tăng giá ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh h ơn. Trên th ị tr ưòng ti ền t ệ, l ạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm gi ữ các tài s ản n ước ngoài nhi ều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy t ỷ giá hối đoái tăng. Trong tr ường h ợp các qu ốc gia đ ều có l ạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc vào t ỷ lệ l ạm phát t ương đ ối gi ữa các qu ốc gia. Qu ốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn, đồng nội tệ quốc gia đó s ẽ m ất giá m ột cách t ương đ ối và t ỷ giá hối đoái tăng. • Nhân tố cuối cùng và cũng là nhân tố quan trọng nh ất tác đ ộng đ ến t ỷ giá h ối đoái đó là tâm lý số đông. Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các t ổ ch ức kinh doanh ngo ại t ệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngo ại h ối. Hoạt đ ộng mua bán c ủa h ọ t ạo nên cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Các hoạt động đó l ại b ị chi ph ối b ởi yếu t ố tâm lý, các tin đ ồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai. Điều này giải thích t ại sao, giá ngo ại t ệ hi ện t ại l ại ph ản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong tương lai. Nếu m ọi ng ưòi kỳ v ọng r ằng t ỷ giá h ối đoái s ẽ tăng trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua ngoại tệ thì t ỷ giá s ẽ tăng ngay trong hi ện t ại; M ặt khác, giá ngoại tệ rất nhậy cảm với thông tin cũng như các chính sách c ủa chính ph ủ. N ếu có tin đ ồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để gi ảm thâm h ụt th ương m ại, m ọi người sẽ đồng loạt bán ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng. • Trong thực tế, tỷ giá hối đoái bị chi phối đồng th ời b ởi t ất c ả các yếu t ố trên v ới m ức đ ộ m ạnh yếu khác nhau của từng nhân tố, tuỳ vào thời gian và hoàn c ảnh nh ất đ ịnh. Vi ệc tách r ời và lượng hoá ảnh hưởng của từng nhân tố là việc làm không th ể. Các nhân t ố trên không tách r ời mà tác động tổng hợp, có thể tăng cường hay át chế l ẫn nhau, đến t ỷ giá h ối đoái làm cho t ỷ giá hối đoái luôn biến động không ngừng Ngoại hối Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới: menu, tìm kiếm
  5. Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng để thanh toán giữa các quốc gia. Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi nước mà khái niệm ngoại hối có thể là không giống nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, ngoại hối gồm có 5 loại: 1) Ngoại tệ (foreign currency): tiền của nước khác lưu thông trong một nước. Ngoại tệ bao gồm: ngoại tệ tiền mặt và ngoại tệ tín dụng. 2) Các phương tiện thanh toán quốc tế được ghi bằng ngoại tệ: hối phiếu, lệnh phiếu, séc, thư chuyển tiền (mail transfer), điện chuyển tiền (telegraphic transfer), thẻ tín dụng (credit card), thư tín dụng ngân hàng (bank letter of credit), là những chứng từ chi trả phát sinh từ quan hệ tín dụng, thể hiện một số tiền nhất định, được lưu thông dễ dàng từ người này sang người khác. Phần lớn các phương tiện thanh toán này hình thành trên cơ sở của sự phát triển tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng. Các phương tiện này không có giá trị nội tại của nó, mà nó chỉ là dấu hiệu của tiền tệ. Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá nào? (Theo Kinh tế đô thị ) Hanoinet- Ý kiến của bà Nguyễn Kim Thanh, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách ti ền t ệ (Ngân hàng Nhà nước) về định hướng điều hành chính sách tỷ giá trong thời gian tới. Trong bối cảnh lạm phát gia tăng mạnh, thâm hụt cán cân thương mại lớn và dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều, việc lựa chọn một cơ chế điều hành tỷ giá phù h ợp v ới tình hình và chính sách tiền tệ hiện tại có ý nghĩa quan trọng trong việc bình ổn kinh tế vĩ mô. Cũng như hầu hết các nước khi mở cửa hội nhập, Vi ệt Nam đang phải đ ối m ặt v ới hi ện tượng “bộ ba bất khả thi” gồm: dòng vốn chảy vào và chảy ra; tỷ giá h ối đoái; và l ạm phát. Đó là khi dòng vốn nước ngoài vào nhiều, để ổn định tỷ giá Ngân hàng Nhà n ước mua ngo ại tệ, qua đó gây áp lực lạm phát, việc kiểm soát dòng vốn theo quy đ ịnh c ủa Pháp l ệnh Ngo ại
  6. hối thì Việt Nam đã tự do hoá giao dịch vãng lai, cũng có giao d ịch v ốn ch ưa đ ược t ự do hoàn toàn nhưng đã nới lỏng một cách tương đối. Theo lý thuyết này, với một tài khoản vốn mở, một quốc gia không th ể đ ạt đ ược cùng m ột lúc hai mục tiêu ổn định lạm phát và ổn định tỉ giá (tỉ giá m ục tiêu). Đ ối v ới các th ị tr ường mới nổi, nơi mà thị trường tài chính và tiền tệ còn kém phát tri ển, thì hi ện t ượng b ộ ba b ất khả thi là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng. Việc giải quyết hợp lí ba mục tiêu vĩ mô này, đ ối với mỗi quốc gia khác nhau thì có các phản ứng khác nhau. Vấn đề đặt ra lúc này đối với Việt Nam là phải lựa chọn cơ chế đi ều hành t ỷ giá nào là thích hợp trong quá trình hội nhập kinh tế luôn là những vấn đ ề hóc búa. S ự l ựa ch ọn sai l ầm r ất có thể dẫn đến sự bất ổn tiền tệ, bất ổn kinh tế vĩ mô. Trong ba mục tiêu trên, kiểm soát lạm phát là m ục tiêu số m ột không th ể lo ại b ỏ, do đó v ấn đề tỷ giá và kiểm soát dòng vốn cần có sự lựa chọn cho phù hợp đ ể h ạn ch ế đ ến m ức th ấp nhất ảnh hưởng của “bộ ba bất khả thi”. Vậy cơ chế điều hành tỷ giá nào phù hợp với tình hình kinh tế và m ức đ ộ phát tri ển th ị trường tài chính hiện nay của Việt Nam? Có nhiều quan điểm khác nhau về việc áp dụng cơ chế tỷ giá hối đoái hiện nay, có ý ki ến cho rằng trong bối cảnh lạm phát cao, dòng vốn vào nhiều nên để VND lên giá theo cung c ầu th ị trường thì mới kiểm soát được lạm phát; có ý kiến ngược lại là phải can thi ệp để phá giá VND để giảm thâm hụt cán cân thương mại mà hiện nay đang thâm h ụt ở m ức báo đ ộng. Có hai vấn đề quan trọng cần được xem xét khi lựa chọn c ơ chế điều hành t ỷ giá, đó là xem xét tác động chính sách tỷ giá trên khía cạnh vĩ mô và vi mô. Xét v ề khía c ạnh vĩ mô, m ột chính sách tỷ giá cần phải được nhấn mạnh đến tầm quan trọng c ủa vi ệc thi ết l ập m ột cái neo rõ ràng và đáng tin cậy như một nhân tố của chiến lược chính sách nhằm ổn định m ức giá trong nước và ổn định thị trường tài chính. Về khía cạnh vi mô, chính sách tỷ giá cần phải được nhấn m ạnh tầm quan tr ọng c ủa vi ệc duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế, đảm bảo m ột v ị th ế cán cân thanh toán mạnh, theo đó chính sách tỷ giá gắn với cả biến số kinh tế thực. Từ tình hình và đặc điểm kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và lạm phát đang gia tăng
  7. như hiện nay, việc lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá để đạt được mục tiêu kiềm chế l ạm phát và ổn định thị trường tiền tệ là không đơn giản với tình trạng đôla hoá nh ư hi ện nay. Điều đó cũng cho thấy không thể lựa chọn cơ chế tỷ giá thả n ổi ngay lập t ức mà c ần ph ải có lộ trình cụ thể để đảm bảo ổn định thị trường tài chính. Mặc dù ki ềm ch ế l ạm phát là m ục tiêu quan trọng hàng đầu, song do tính tác động yếu c ủa t ỷ giá đ ến l ạm phát và tăng tr ưởng kinh tế, vì vậy nên lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá h ướng t ới bình ổn th ị tr ường tài chính hơn là hướng tới kiềm chế lạm phát cũng như tăng trưởng kinh t ế. Với thực trạng về mức độ phát triển thị trường ngo ại hối, thị trường ti ền t ệ như hi ện nay thì cơ chế điều hành tỷ giá khống chế biên độ như hiện nay là hợp lý. Chính vì v ậy, trong l ựa chọn chính sách vĩ mô để kiểm soát lạm phát cần hướng tới vi ệc kiểm soát dòng v ốn vào s ẽ hiệu quả hơn thông qua công cụ tỷ giá. Tuy nhiên, để chính sách tỷ giá hỗ trợ tích cực cho chính sách ti ền t ệ đạt đ ược m ục tiêu ki ềm chế lạm phát trong trung hạn, thì phải từng bLựa chọn chính sách tỷ giá (Theo ATPVietnam ) Khả năng cạnh tranh của xuất khẩu, trạng thái cán cân thương mại và thanh toán, dự trữ quốc gia, biến động cơ cấu sản xuất, niềm tin vào bản tệ, vào chính ph ủ, vào t ương lai - nghĩa là các nhân tố chủ yếu đo lường sức khoẻ và chi phối mạnh động lực phát tri ển nền kinh t ế đất nước - đều phụ thuộc sâu sắc vào tỷ giá hối đoái chính thức. Tỷ giá ổn định không phải bao giờ cũng giúp ổn định kinh tế Bảo đảm và duy trì sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô luôn là mục tiêu hàng đ ầu và t ập trung của tổ hợp các chính sách kinh tế - xã hội của chính phủ, trong đó có chính sách t ỷ giá. Có th ể có ổn định và tăng trưởng kinh tế nhất định trong điều kiện tỷ giá không ổn đ ịnh do sự chi phối của các nhân tố thị trường, do tương quan giá trị giữa các đồng ti ền liên quan đ ến đ ồng bản tệ, do chính sách ưu tiên cho mục tiêu trước mắt nào đó của chính phủ... Song, điều ngược lại không phải bao giờ cũng đúng. Thực tiễn đã cho th ấy ổn đ ịnh t ỷ giá không phải bao giờ cũng giúp ổn định kinh tế (đặc biệt là vi ệc cố định tỷ giá m ột cách khiên cưỡng...). Đương nhiên, việc ổn định tỷ giá phù hợp với giá trị thực tế c ủa nó sẽ là đi ều ki ện lý t ưởng để góp phần ổn định nền kinh tế của một nước. Song, trong đa số tr ường h ợp, t ỷ giá ch ịu tác động khách quan của các nhân tố thị trường luôn biến động vượt ra khỏi tầm ki ểm soát, khống chế của các nhân tố chủ quan của các chính phủ, dù qu ốc gia đó có l ực l ượng d ự tr ữ tài chính mạnh đến đâu và cơ chế điều tiết thị trường hoàn thiện nhường nào. Đồng thời, thực tế cũng cho thấy, việc quy định tỷ giá chính thức thường có xu hướng thoát ly giá trị thực tế của đồng bản tệ bởi sự phản ứng chậm tr ễ v ề chính sách, c ơ ch ế đi ều ti ết, s ự bảo thủ hoặc thiên lệch trong ưu tiên một vài mục tiêu kinh tế - xã hội trước mắt nào đó.
  8. Thành thử, dưới bề mặt của sự ổn định tỷ giá luôn có sự tích t ụ l ớn dần các vòng xoáy ng ầm của các xung lực phát sinh từ sự định giá quá cao hoặc quá th ấp đ ồng b ản t ệ; các vòng xoáy này sẽ tăng lên theo thời gian và đến lúc nào đó sẽ bộc phát và đủ sức phá vỡ sự ổn đ ịnh c ủa nền kinh tế và do đó, phá vỡ sự ổn định của chính tỷ giá với tư cách là mục tiêu mà chính sách tỷ giá hướng tới. Định giá cao đồng bản tệ: giảm sức cạnh tranh hàng xuất khẩu Khi định giá cao đồng bản tệ, các nước thường kỳ vọng vào cái lợi sẽ thu được nhờ làm giảm giá hàng nhập khẩu để giảm chi phí sản xuất, giảm sức ép lạm phát và giảm đ ược chi phí dịch vụ nợ nước ngoài... Tuy nhiên, việc đồng bản tệ được định giá quá cao và kéo dài s ẽ tr ở thành nguyên nhân quan trọng làm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, dẫn đến hạn chế xuất khẩu, kích thích nhập khẩu, làm tăng nhập siêu. Hơn nữa, khi định giá bản tệ cao, thường kéo theo sự gia tăng lãi su ất tín d ụng trong n ước, cũng như khoảng cách chênh lệch lớn giữa lãi suất trong n ước và n ước ngoài, kích thích vay nợ nước ngoài dễ dãi, nhất là các khoản vay thương mại ngắn hạn theo lãi suất cao. Hậu quả nặng nề và lâu dài hơn cả chính là ở chỗ, việc định giá quá cao và kéo dài đ ồng b ản tệ sẽ làm triệt tiêu các động lực phát tri ển sản xuất trong n ước, tr ước h ết là s ản xu ất và kinh doanh xuất khẩu, làm tăng buôn lậu và tham nhũng, kích thích sử dụng lãng phí ngo ại t ệ, không coi trọng các nguồn lực trong nước, kích thích nền kinh tế “bong bóng” phát tri ển, làm gia tăng mức thâm hụt cán cân thương mại, cán cân thanh toán tài kho ản vãng lai và hao h ụt nhanh chóng nguồn dự trữ quốc gia để giữ giá bản tệ. Định giá thấp đồng bản tệ: tăng sức ép lạm phát Ngược lại, khi định giá quá thấp đồng bản tệ (dù do sự ch ủ đ ộng c ủa chính ph ủ v ới hy v ọng kích thích xuất khẩu, hoặc do sự bị động gắn với việc buộc phải gia tăng phát hành bản tệ bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước hay để mua ngo ại tệ trên th ị tr ường n ội đ ịa cho nhu c ầu tr ả nợ của chính phủ...) thì tác hại cũng không kém: sức ép lạm phát gia tăng, chi phí d ịch v ụ n ợ bằng ngoại tệ tăng nhanh. Ngoài ra, giá hàng nhập khẩu cũng b ị đ ẩy lên cùng chi ều v ới t ốc độ mất giá bản tệ, làm thu hẹp nguồn vốn chảy vào và bẻ ghi dòng v ốn đ ầu t ư ch ảy ra n ước ngoài, làm tổn hại đời sống nhân dân... từ đó làm tăng nguy c ơ phá sản các doanh nghi ệp, làm tăng nạn thất nghiệp và sự bất ổn của xã hội. Ngoài ra, nếu không cân nhắc đến cơ cấu nợ của nhà nước (bằng bản tệ và ngoại tệ) thì việc điều chỉnh tỷ giá bản tệ còn có thể dẫn đến làm tăng thiệt hại từ các khoản n ợ bằng ngoại tệ của nhà nước, do phải trả nợ bằng những đồng ngoại tệ trở nên đắt đỏ hơn so với khi vay. Hơn nữa, do phá giá bản tệ thường dẫn đến tăng giá hàng n ội địa và giảm giá tr ị tài sản tính bằng bản tệ, tác dụng xấu tới cán cân vãng lai, để tránh hiện tượng chảy máu t ư bản, ng ười ta thường phải tăng lãi suất sau khi tăng tỷ giá. Việc tăng lãi suất dẫn đ ến hậu qu ả gi ảm kh ả năng đầu tư trong nước, giá hàng nội địa tăng, kém cạnh tranh hơn so với hàng nhập khẩu. Việc phá giá bản tệ còn làm giảm lương, thu nhập và mức sống của người lao đ ộng. Vi ệc kéo dài mức sống thực tế nghèo đói của người lao động sẽ làm gi ảm cầu, thu hẹp th ị tr ường tiêu thụ, giảm sản xuất. Nếu tăng lương danh nghĩa để bù đắp thiệt hại v ề thu nh ập này s ẽ lại đẩy giá tăng, lạm phát và khủng hoảng kinh tế. Chính tình thế lưỡng nan này khẳng đ ịnh tính chất “con dao hai lưỡi” của biện pháp phá giá bản tệ và sự c ần thi ết phải th ận tr ọng khi sử dụng nó.
  9. Tỷ giá thả nổi - dễ gây mất ổn định Tỷ giá thả nổi là công cụ của nền kinh tế thị trường phát triển, t ự nó là m ột nhân t ố gây m ất ổn định mạnh trong bối cảnh nền kinh tế chưa phát tri ển đầy đ ủ các quan h ệ th ị tr ường. Đây chính là tình cảnh “trên đe dưới búa” lưỡng nan của đa số các n ước đang phát tri ển trong khi lựa chọn chính sách tỷ giá. Việc nhấn mạnh một chiều các lợi ích của việc ấn định giá tr ị đ ồng b ản t ệ quá cao ho ặc quá thấp, cũng như của việc thả nổi hoàn toàn tỷ giá, là ch ỉ tính đ ến nh ững l ợi ích ng ắn h ạn và chứa đựng những hiểm hoạ sẽ bùng nổ trong tương lai, khiến n ền kinh tế phải tr ả giá đắt hơn so với những lợi ích cục bộ thu được. Cái giá phải trả càng cao nếu mức độ chênh lệch gi ữa giá tr ị th ực t ế và giá tr ị “ ảo” c ủa đ ồng bản tệ càng lớn và được duy trì càng lâu, cũng như nếu cơ chế và các thể chế thị trường trong nước càng sơ khai và thiếu đồng bộ... Hơn nữa, sự đầu cơ quốc tế sẽ làm cho cái giá phải trả này càng trở nên khổng lồ và khó lường trước được. Lựa chọn chính sách tỷ giá nào? Không có một cơ chế tỷ giá hối đoái nào là tối ưu trong mọi tr ường h ợp. Nh ưng th ực t ế cho thấy, giữ được tỷ giá ổn định dựa trên việc tìm kiếm thường xuyên sự cân đối tối ưu gi ữa tính chất tự thân thị trường với sự can thiệp nhà nước là điều kiện tốt cho tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Vì vậy, ngày càng có nhiều nước lựa chọn một chính sách tỷ giá có tính m ềm d ẻo, linh ho ạt một cách thận trọng, thích ứng với những biến động dựa trên quan hệ cung c ầu và có sự đi ều tiết tích cực của nhà nước. Có hai phương thức xác định xu h ướng và m ức v ận đ ộng c ủa t ỷ giá danh nghĩa ổn định thường được dùng là: - Xác định một hoặc một số ngoại tệ mạnh mà tỷ giá bản tệ biến đ ộng gắn v ới chúng. Đó có thể là ngoại tệ thường dùng trong thanh toán quốc tế, ho ặc đ ồng ti ền c ủa n ước b ạn hàng chính. Phương thức này đặt cược “số phận” bản tệ vào các nhân tố bên ngoài, và do đó d ễ gây ra tình trạng “lạm phát hoặc thiểu phát nhập khẩu”, đột bi ến giá cả ngoài t ầm qu ản lý của chính phủ, tăng tính bị động của chính sách vĩ mô. - Định kỳ điều chỉnh tỷ giá bản tệ. Ngân hàng Trung ương dự kiến trước m ức điều chỉnh giá bản tệ trong khoảng thời gian xác định trên c ơ sở cân nhắc và d ự báo cung - c ầu v ề ngo ại t ệ, tình hình kinh tế - xã hội cụ thể trong, ngoài nước và xu thế vận động của chúng. Tuy vậy, nếu khoảng cách của các chu kỳ điều chỉnh tỷ giá không được cân nhắc kỹ sẽ gây ra tình trạng hỗn loạn, bất an trong tâm lý và hoạt động kinh t ế; s ẽ làm gia tăng n ạn đ ầu c ơ hoặc thái độ “nghe ngóng” chờ thời của các chủ đầu tư (đặc bi ệt là khi chính ph ủ t ạo ra “quy luật” chỉ điều chỉnh tỷ giá một chiều - tức chỉ tăng hay giảm). Hơn nữa, nếu “chốt” tỷ giá quá lâu, hoặc mức điều chỉnh tỷ giá bản tệ nếu thái quá sẽ gây tình tr ạng tăng ho ặc gi ảm quá mức giá trị bản tệ, từ đó kéo theo các hệ quả c ủa vi ệc định giá quá cao ho ặc quá th ấp đ ồng bản tệ như đã phân tích ở trên...(Nguồn: TBKTSG, 20/4) ước tạo ra sự linh hoạt trong cơ chế điều hành tỷ giá.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản