Kinh tế học về chi phí giao dịch

Chia sẻ: Nguyễn Thị Giỏi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:29

0
220
lượt xem
80
download

Kinh tế học về chi phí giao dịch

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Các hãng, các thị trường, và việc thiết lập hợp đồng quan hệ (relational contracting) là những thể chế kinh tế quan trọng. Chúng cũng là sản phẩm tiến hóa của một chuỗi những đổi mới về tổ chức. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường chưa chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự về nghiên cứu khoa học xã hội. Việc xao lãng này được giải thích một phần bởi sự phức tạp vốn có của các thể chế đó. Nhưng sự phức tạp có thể và quả thật thường phục vụ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kinh tế học về chi phí giao dịch

  1. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Nieân khoùa 2005-2006 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH Các hãng, các thị trường, và việc thiết lập hợp đồng quan hệ (relational contracting) là những thể chế kinh tế quan trọng. Chúng cũng là sản phẩm tiến hóa của một chuỗi những đổi mới về tổ chức. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường chưa chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự về nghiên cứu khoa học xã hội. Việc xao lãng này được giải thích một phần bởi sự phức tạp vốn có của các thể chế đó. Nhưng sự phức tạp có thể và quả thật thường phục vụ như là một yếu tố thúc đẩy chứ không phải là yếu tố cản trở. Tình trạng ban sơ của kiến thức của chúng ta ít nhất cũng được giải thích với mức độ tương đương bởi sự miễn cưỡng trong việc thừa nhận rằng các chi tiết về tổ chức có tầm quan trọng. Khái niệm phổ biến về công ty hiện đại như là một “hộp đen” là một mẫu mực về truyền thống nghiên cứu phi thể chế (hay tiền- phân tích vi mô). Tuy nhiên, chỉ đơn thuần thừa nhận rằng các chi tiết về phân tích vi mô của tổ chức có tầm quan trọng thì chưa đủ. Cần phải xác định những đặc điểm về cấu trúc quan trọng nhất của các hình thức theo thị trường, theo hệ thống tầng nấc, tựa thị trường (quasi-market) của tổ chức và liên kết chúng với những kết quả kinh tế theo một cách thức có tính hệ thống. Việc thiếu sự đồng ý về (hay những khái niệm sai lầm liên quan đến) những mục đích chính của tổ chức kinh tế cũng là một yếu tố gây trở ngại cho tiến bộ trong nghiên cứu. Để giải quyết những vấn đề đó, sẽ cần đến một chương của lịch sử tư duy kinh tế nào đó chưa được viết ra. Bất kể sự giải thích cuối cùng là gì, sự thật là hoạt động nghiên cứu về các thể chế kinh tế đã chứng kiến sự hồi sinh. Theo đó, trong khi việc nghiên cứu về kinh tế học về thể chế đã đạt điểm sa sút nhất trong thời kỳ ngay sau chiến tranh thế giới, thì bình tâm nhìn lại chúng ta sẽ lần ra được rằng việc phục hồi sự quan tâm về các thể chế và việc tái xác nhận tầm quan trọng về kinh tế của chúng đã xảy ra từ đầu thập niên 1960.1 Nội dung hoạt động bắt đầu xuất hiện vào đầu thập niên 1970.2 Đặc điểm chung của lĩnh vực nghiên cứu mới là khái niệm hãng (công ty) như là một hàm sản xuất bị thay thế (hay được nâng cao) bởi khái niệm hãng như là một cấu trúc quản trị (governance structure). Nghiên cứu thuộc loại Kinh tế học mới về thể chế (New Institutional Economics) đã đạt khối lượng có tính quyết định trước năm 1975.3 Thập niên sau đó chứng kiến sự gia tăng theo cấp số nhân. Kinh tế học về chi phí giao dịch là một phần của truyền thống nghiên cứu Kinh tế học mới về thể chế. Mặc dù kinh tế học về chi phí giao dịch (và, tổng quát hơn, Kinh tế học mới về thể chế) áp dụng vào việc nghiên cứu tổ chức kinh tế thuộc tất cả các loại, nhưng cuốn sách này chủ yếu đặt trọng tâm vào các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt đề cập đến hãng, thị trường, và hợp đồng quan hệ (relational contracting). Trọng tâm đó trải qua trọn vẹn một khoảng biến thiên từ một đầu là sự trao đổi rời rạc trên thị trường đến đầu kia là tổ chức theo tầng nấc tập trung, với vô số phương thức hỗn hợp hay trung gian ở khoảng giữa. Đặc trưng thay đổi của tổ chức kinh tế theo thời gian – trong phạm vi và giữa các thị trường và các hệ thống tầng nấc – là điều được quan tâm đặc biệt. Oliver E. Williamson 1 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  2. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch Mặc dù những tính chất đáng lưu ý của các thị trường tân cổ điển, mà ở đó giá cả được dùng làm số liệu thống kê thỏa đáng, được thừa nhận rộng rãi – như Friedrich Hayek phát biểu, thị trường là “điều kỳ diệu” (1945, trang 525) – nhưng người ta có các ý kiến khác nhau trong việc đánh giá các giao dịch được thu xếp trong phạm vi các phương thức tổ chức phi thị trường và tựa thị trường. Bộ máy quản lý hành chính và những hỗ trợ theo cách thức “luật rừng” (hay trật tự tư, private ordering) đi kèm với những giao dịch này có tốt lắm thì cũng dẫn đến tình trạng rối ren. Một số học giả thậm chí từ chối bàn luận đến những giao dịch đó. Những học giả khác xem những sự lệch hướng này là bằng chứng cho thấy tình trạng tràn lan của “thất bại thị trường”. Cho đến rất gần đây, cách giải thích về kinh tế chủ yếu đối với những thông lệ kinh doanh xa lạ hay không thông thường vẫn dựa vào độc quyền.4 “[Nếu] một nhà kinh tế học phát hiện điều gì đó – một thông lệ kinh doanh thuộc loại này hay loại khác – mà nhà kinh tế học không hiểu, thì nhà kinh tế học này sẽ tìm một cách giải thích dựa theo độc quyền” (Coase, 1972, trang 67). Điều không làm ai ngạc nhiên là các nhà khoa học xã hội khác xem cùng các thể chế này là có hại cho xã hội. Việc cưỡng chế thi hành luật chống độc quyền từ năm 1945 đến hết năm 1970 thể hiện định hướng đó. Phải công nhận rằng, sự đánh giá tiêu cực về xã hội sau khi cân nhắc mọi mặt đôi khi được biện minh là xác đáng. Tuy thế, một sự hiểu biết sáng suốt và tinh tế hơn về các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường đã và đang phát triển dần dần. Nhiều thông lệ thực hành gây bối rối hay khác thường đã được làm nổi bật rõ rệt trong quá trình này. Cuốn sách này đưa ra nhận định rằng các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường có mục đích chính và tác dụng là tiết kiệm các chi phí giao dịch (giảm bớt các chi phí giao dịch). Tuy nhiên, không được lẫn lộn giữa một mục đích chính (trong số nhiều mục đích) và mục đích duy nhất. Các thể chế phức tạp thường đáp ứng nhiều mục tiêu khác nhau. Điều này cũng đúng ở đây. Tôi gán cho việc tiết kiệm chi phí giao dịch tầm quan trọng khác thường là có ý đồ uốn nắn lại tình trạng xao lãng và đánh giá chưa đủ trước đây. Theo phán đoán của tôi, chúng ta không thể đạt được sự đánh giá đúng đắn về các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường nếu chúng ta bác bỏ tầm quan trọng chính yếu của việc tiết kiệm chi phí giao dịch.5 Cần phải chú trọng nhiều hơn đến các đặc điểm về tổ chức (so với công nghệ) và các mục đích về hiệu quả (so với độc quyền). Chủ điểm này được lặp lại, với những biến thể khác nhau, trong suốt cuốn sách này. Tôi có ý kiến rằng toàn bộ một dãy các đổi mới về tổ chức đánh dấu sự phát triển của các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường trên thế giới trong 150 năm qua cần được đánh giá lại xét theo chi phí giao dịch. Phương pháp được đề xuất ở đây là định hướng hợp đồng (contracting orientation) và khẳng định rằng bất cứ vấn đề nào có thể được giải thích một cách có hệ thống như một vấn đề về thiết lập hợp đồng (contracting problem) đều có thể được nghiên cứu, để đem lại kết quả tốt, xét về phương diện tiết kiệm chi phí giao dịch. Mọi quan hệ trao đổi hay giao dịch đều đủ tiêu chuẩn để có thể được nghiên cứu xét theo việc tiết kiệm chi phí giao dịch. Nhiều vấn đề khác, mà lúc ban đầu có vẻ không liên quan tới việc thiết lập hợp đồng, nhưng sau khi xem xét kỹ lưỡng, thì hóa ra là có tính chất thiết lập hợp đồng ngầm ẩn. (Vấn đề các-ten là một thí dụ). Kết Oliver E. Williamson 2 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  3. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch quả cuối cùng là phạm vi thực sự và tiềm năng của kinh tế học về chi phí giao dịch rất rộng. So sánh với các phương pháp khác về nghiên cứu tổ chức kinh tế, kinh tế học về chi phí giao dịch (1) có tính phân tích vi mô hơn, (2) tự ý thức hơn về các giả định về hành vi của mình, (3) giới thiệu và phát triển tầm quan trọng về kinh tế của tính chuyên dụng hay đặc thù của tài sản (asset specificity), (4) dựa nhiều hơn vào phân tích so sánh về thể chế, (5) xem hãng (công ty) kinh doanh như là một cấu trúc quản trị chứ không phải là một hàm sản xuất đơn thuần, và (6) gắn tầm quan trọng lớn hơn cho các thể chế hậu nghiệm (ex post) của hợp đồng, với sự nhấn mạnh đặc biệt đến các trật tự tư (so với trật tự theo tòa án). Nhiều ý nghĩa bổ sung phát sinh khi giải quyết các vấn đề về tổ chức kinh tế theo cách này. Nghiên cứu về các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường, như được đề xuất trong bài này, khẳng định rằng giao dịch là một đơn vị cơ bản của phép phân tích và nhấn mạnh rằng hình thức tổ chức có tầm quan trọng. Quan điểm nền tảng ảnh hưởng đến nghiên cứu so sánh về các vấn đề của tổ chức kinh tế là: Người ta tiết kiệm được các chi phí giao dịch bằng cách gán các giao dịch (mà các giao dịch này có các thuộc tính khác nhau) cho các cấu trúc quản trị (mà khả năng thích ứng và các chi phí đi kèm của chúng khác nhau – theo một cách thức có phân biệt sáng suốt.6 Với tính phức tạp của những hiện tượng được xem xét lại, kinh tế học về chi phí giao dịch thường được sử dụng bổ sung cho các phương pháp khác chứ không phải loại trừ hết các phương pháp khác. Tuy nhiên, không phải mọi phương pháp đều mang lại nhiều kiến thức bổ ích như nhau, và đôi khi các phương thức khác nhau là đối thủ chứ không phải bổ trợ cho nhau. Bản chất của các chi phí giao dịch được phát triển trong phần 1. Phần 2 trình bày sơ đồ nhận thức về hợp đồng, trong sơ đồ này các phương pháp thay thế khác nhau về tổ chức kinh tế được mô tả và liên quan đến sơ đồ này kinh tế học về chi phí giao dịch được xác định vị trí. Phần 3 trình bày quan hệ giữa các giả định về hành vi và các khái niệm về hợp đồng khác nhau. Phần 4 phát triển một giản đồ cơ bản về thiết lập hợp đồng mà lập luận trong sách này dựa vào một cách lặp đi lặp lại. Phần 5 xem xét các vấn đề về hợp đồng nảy sinh trong việc tổ chức thành phố công ty (company town). Những áp dụng khác được phác thảo trong phần 6. Phần cuối cùng là những nhận xét để kết luận. 1. Chi phí giao dịch 1.1 Tính không ma sát (Frictionlessness) Kenneth Arrow đã định nghĩa các chi phí giao dịch là “các chi phí vận hành hệ thống kinh tế” (1969, trang 48). Cần phải phân biệt các chi phí đó với chi phí sản xuất, vốn là loại chi phí mà phân tích tân cổ điển luôn luôn quá bận tâm đến. Chi phí giao dịch là yếu tố kinh tế tương đương với sức ma sát trong các hệ thống vật lý. Nhiều thành công của ngành vật lý trong việc xác định các thuộc tính của những hệ thống phức tạp bằng cách giả định không có sức ma sát trong các hệ thống đó chắc chắn không cần phải thuật lại tỉ mỉ ở đây. Một chiến lược như thế có sự hấp dẫn rõ ràng đối với các ngành khoa học xã hội. Điều không có gì đáng ngạc nhiên là, việc không có sức ma sát trong các hệ thống Oliver E. Williamson 3 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  4. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch vật lý được dẫn chứng để minh họa cho sức mạnh về phân tích gắn liền với các giả định “không thực tế” (Friedman, 1953, các trang 16 đến 19). Nhưng trong khi các nhà vật lý học đã được nhắc nhở một cách nhanh chóng bởi các dụng cụ trong phòng thí nghiệm và thế giới quanh họ rằng sức ma sát có mặt khắp nơi và thường cần phải được tính đến một cách rõ ràng, thì các nhà kinh tế học đã không có được sự hiểu biết và đánh giá tương ứng về các chi phí của việc vận hành hệ thống kinh tế. Thí dụ, hầu như không hề đề cập đến chi phí giao dịch, lại càng không đề cập đến các chi phí giao dịch như là yếu tố tương đương của sức ma sát, trong bài tiểu luận về phương pháp luận nổi tiếng của Milton Friedman (1953) hay trong các bài bàn luận thời hậu chiến khác về kinh tế học thực chứng.7 Như thế, mặc dù kinh tế học thực chứng thừa nhận rằng trên nguyên tắc các sức ma sát là quan trọng, nhưng kinh tế học thực chứng đã không có ngôn ngữ mô tả sức ma sát trên thực tế.8 Việc thiếu quan tâm đến các chi phí giao dịch đã có nhiều ảnh hưởng, đặc biệt trong số các ảnh hưởng này là cách thức mà theo đó các phương thức không thông thường về tổ chức kinh tế đã được giải thích. Cho đến khi người ta đưa ra qui định dự liệu rõ ràng cho các chi phí giao dịch, khả năng các phương thức tổ chức không thông thường – các biện pháp hạn chế về khách hàng và địa bàn hoạt động, các mối quan hệ ràng buộc, việc đặt mua trước cả khối lượng lớn, việc nhượng quyền kinh tiêu (franchising), sự liên kết theo hàng dọc và những phương thức tương tự – vận hành để giúp tiết kiệm chi phí giao dịch đã hầu như không được hiểu rõ và đánh giá cao. Thay vào đó, hầu hết các nhà kinh tế học viện dẫn những cách giải thích theo độc quyền – những cách giải thích thuộc loại như sức mạnh, sự phân biệt đối xử về giá cả, hay các rào cản nhập ngành – khi đối diện với những cách thiết lập hợp đồng không thông thường (Coase, 1972, trang 67). Các quan điểm của Donald Turner là tiêu biểu: “Tôi tiếp cận các biện pháp hạn chế về khách hàng và địa bàn hoạt động không phải một cách thân thiện theo truyền thống thông luật, mà một cách không thân thiện theo truyền thống chống độc quyền.9 Như sẽ được thảo luận dưới đây, chương trình nghị sự về nghiên cứu và chính sách công đối với hoạt động kinh doanh đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi khuynh hướng thiên về độc quyền đó. Quan điểm thịnh hành về hãng (công ty) như là một hàm sản xuất là nguyên nhân chính dẫn đến tình hình đó. 1.2 Phân tính và giải thích tỉ mỉ Kinh tế học về chi phí giao dịch đặt vấn đề về tổ chức kinh tế thành vấn đề về thiết lập hợp đồng (problem of contracting). Một nhiệm vụ cụ thể phải được hoàn thành. Nó có thể được tổ chức theo bất cứ cách nào trong nhiều cách khác nhau. Hợp đồng rõ ràng hay ngầm ẩn và bộ máy hỗ trợ gắn với mỗi hợp đồng. Các chi phí là gì? Các chi phí giao dịch thuộc loại tiền suy hay xảy ra trước khi ký kết hợp đồng (ex ante) và loại hậu suy hay xảy ra sau khi ký kết hợp đồng (ex post) được phân biệt một cách hữu ích. Các chi phí giao dịch tiền suy (ex ante) là các chi phí soạn thảo, thương lượng, và bảo vệ một hợp đồng. Điều này có thể được thực hiện hết sức cẩn thận, trong trường hợp này một văn kiện phức tạp được soạn thảo trong đó nhiều tình huống bất ngờ (tình huống bất trắc) được công nhận, và những sự điều chỉnh thích hợp bởi các bên được qui định rõ và được thỏa thuận trước. Hoặc văn kiện có thể rất không hoàn chỉnh, những khoảng Oliver E. Williamson 4 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  5. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch trống sẽ được các bên lấp đầy khi tình huống bất ngờ phát sinh. Vì thế cho nên, thay vì dự liệu trước tất cả những cách giải quyết tình huống khó khăn có thể tưởng tượng ra, mà đây là một việc làm đầy tham vọng, thì chỉ những phương án giải quyết tình huống khó khăn thật sự được dàn xếp khi tình huống đó xuất hiện. Các biện pháp bảo vệ có thể dưới vài hình thức, hình thức hiển nhiên nhất là quyền sở hữu chung. Đối mặt với triển vọng những người mua bán độc lập sẽ trải qua những tình huống khó khăn về thiết lập hợp đồng, các bên có thể thay thế thị trường bằng tổ chức nội bộ. Phải thừa nhận rằng, cách này không phải là không có những vấn đề khó khăn riêng (hãy xem Chương 6). Hơn nữa, những biện pháp bảo vệ giữa các hãng thuộc loại tiền suy (ex ante) đôi khi có thể được định hình để báo hiệu những cam kết đáng tin cậy và phục hồi tính toàn vẹn cho các giao dịch. Nghiên cứu về việc thiết lập hợp đồng “không thông thường” quan tâm chủ yếu đến những vấn đề như thế. Hầu hết các nghiên cứu về giao dịch giả định rằng các qui phạm pháp luật có hiệu lực liên quan đến những vụ tranh chấp về hợp đồng có sẵn đâu vào đó rồi và được áp dụng bởi các tòa án theo cách thức có cơ sở thông tin, tinh vi và với chi phí thấp. Những giả định đó thật thuận tiện, theo nghĩa là các luật sư và các nhà kinh tế học không cần xem xét nhiều cách thức khác nhau mà bằng những cách đó các bên trong một vụ giao dịch “chính thức đồng ý không theo đúng hay xa rời” các cấu trúc quản trị của nhà nước bằng cách nghĩ ra những trật tự tư. Như thế, sự phân công để phấn đấu xuất hiện, nhờ đó mà các nhà kinh tế học luôn luôn quá bận tâm với các lợi ích kinh tế đổ dồn về sự chuyên môn hóa và giao dịch trao đổi, trong khi các chuyên gia pháp lý tập trung vào những chi tiết chuyên môn của luật hợp đồng. Truyền thống “chủ nghĩa trọng pháp” (“legal centralism”) thể hiện định hướng sau (định hướng tập trung vào luật hợp đồng). Truyền thống này khẳng định rằng “các vụ tranh chấp đòi hỏi ‘tiếp cận’ một diễn đàn ở bên ngoài bối cảnh xã hội ban đầu của vụ tranh chấp đó [và rằng] các biện pháp sửa chữa (khắc phục) sẽ được cung cấp theo đúng qui định của một cơ quan có kiến thức đáng tin cậy và được đưa ra bởi các chuyên gia hoạt động dưới sự che chở của nhà nước” (Galanter, 1981, trang 1). Tuy nhiên, thực tế cho thấy điều ngược lại. Hầu hết các vụ tranh chấp, bao gồm nhiều vụ tranh chấp mà dưới các qui phạm pháp luật hiện hành có thể được đưa ra tòa án, đều được giải quyết bằng biện pháp né tránh pháp luật, biện pháp tự lực, và những cách tương tự (Galanter, 1981, trang 2). Tính không thực tế của các giả định của chủ nghĩa trọng pháp có thể được biện hộ bằng cách đề cập đến kết quả tốt của mô hình trao đổi thuần túy. Ở đây không tranh luận về điều đó. Mối quan tâm của tôi là luật pháp và kinh tế học về trật tự tư (economics of private ordering) đã bị đẩy vào hậu trường do những giả định không thực tế nói trên. Điều đó thật đáng tiếc, bởi vì trong “nhiều trường hợp, các thành phần tham gia có thể sáng tạo ra được những giải pháp thỏa đáng hơn đối với các vụ tranh chấp của họ so với các nhà chuyên môn có thể, các nhà chuyên môn này bị gò bó vào việc áp dụng các qui tắc tổng quát trên cơ sở sự hiểu biết hạn chế về vụ tranh chấp đang được xem xét: (Galanter, 1981, trang 4).10 Oliver E. Williamson 5 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  6. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch Các vấn đề ở đây tương tự với các vấn đề mà Karl Llewellyn đã quan tâm khi ông thảo luận về hợp đồng vào năm 1931, nhưng kể từ đó đã bị tránh né một cách có hệ thống.11 Nhưng đối với những sự hạn chế của chủ nghĩa tập trung về pháp lý, người ta có thể không để ý đến phía hậu suy của hợp đồng. Tuy nhiên, trong điều kiện có những điều hạn chế rất thực tế tác động không tốt đến cách thức sắp xếp của tòa án (court ordering), thì các chi phí hậu suy (ex post) của hợp đồng sẽ phát sinh và xen vào. Kinh tế học về chi phí giao dịch nhấn mạnh rằng tất cả các loại chi phí của hợp đồng đều được chấp nhận ngang nhau. Các chi phí hậu suy (ex post) của việc thiết lập hợp đồng có vài hình thức. Các hình thức này bao gồm (1) các chi phí về sự thích nghi sai lầm phát sinh khi các giao dịch chuyển dịch dần dần khỏi tình trạng liên kết phù hợp so với đường biểu diễn mà Masahiko Aoki gọi là “đường hợp đồng dịch chuyển” (1983)12 (2) các chi phí mặc cả phát sinh khi thực hiện các nỗ lực song phương để chỉnh sửa những tình trạng liên kết sai lầm xảy ra sau khi ký kết hợp đồng (3) các chi phí thành lập và điều hành gắn liền với các cấu trúc quản trị (thường không phải là các tòa án) mà các vụ tranh chấp được đưa ra để giải quyết, và (4) các chi phí về cam kết (bonding costs), đó là chi phí thực hiện các cam kết chắc chắn. Như thế, giả sử rằng hợp đồng qui định x nhưng, nhìn lại vấn đề sau khi sự việc đã xảy ra (hay khi có hiểu biết đầy đủ), các bên nhận thức rõ rằng lẽ ra họ phải làm y. Tuy nhiên, dịch chuyển từ x sang y có thể không dễ dàng. Cách thức phân chia các lợi ích đi kèm với sự dịch chuyển đó có khuynh hướng dẫn đến việc mặc cả căng thẳng vì lợi ích riêng. Hành vi mang tính chiến lược và phức tạp có thể được khơi gợi ra. Việc đưa vụ tranh chấp ra trước một diễn đàn khác có thể hữu ích nhưng điều đó sẽ thay đổi tùy theo tình huống. Một sự thích nghi không đầy đủ sẽ được thực hiện nếu, do kết quả của các nỗ lực của cả hai loại, các bên không dịch chuyển đến y mà đến y’. Yếu tố gây phức tạp trong tất cả quá trình này là các chi phí tiền suy và hậu suy của hợp đồng phụ thuộc lẫn nhau. Nói cách khác, chúng phải được giải quyết đồng thời chứ không phải theo trình tự. Ngoài ra, các chi phí thuộc cả hai loại đều thường khó định lượng. Tuy nhiên, khó khăn được giảm nhẹ do sự thật là các chi phí giao dịch luôn luôn được đánh giá theo cách thức so sánh về thể chế, trong đó một phương thức thiết lập hợp đồng được so sánh với một phương thức thiết lập hợp đồng khác. Do đó, chênh lệch giữa độ lớn của các chi phí giao dịch, chứ không phải độ lớn tuyệt đối của chúng, có tầm quan trọng. Như Herbert Simon nhận xét, việc so sánh các giải pháp thay thế về cấu trúc riêng rẽ có thể sử dụng công cụ khá thô sơ – “những phân tích như thế thường có thể được thực hiện mà không cần công cụ toán học tỉ mỉ hay sự tính toán cận biên. Nói chung, những lập luận đơn giản và thô thiển hơn nhiều sẽ đủ để chứng minh sự không bằng nhau giữa hai số lượng so với những lập luận cần thiết để chứng tỏ những điều kiện mà trong đó các số lượng này được làm cho bằng nhau ở cận biên.” (1978, trang 6). Nghiên cứu thực nghiệm về các vấn đề chi phí giao dịch hầu như không bao giờ cố gắng đo lường các chi phí như thế một cách trực tiếp. Thay vào đó, câu hỏi là liệu các quan hệ về tổ chức (thông lệ thiết lập hợp đồng; các cấu trúc quản trị) có phù hợp với các thuộc tính của các giao dịch như được tiên đoán bởi việc lý giải về chi phí giao dịch hay không. 1.3 Bối cảnh Rộng Lớn hơn Oliver E. Williamson 6 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  7. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch Cuốn sách này tập trung thảo luận về sự tiết kiệm chi phí giao dịch, nhưng các chi phí giao dịch cần được đặt vào một bối cảnh rộng lớn hơn mà các chi phí này là một phần của bối cảnh đó. Sau đây là một số trong các yếu tố phù hợp – mà tôi thỉnh thoảng (nhưng không liên tục) đề cập đến: 1. Khi giữ bản chất của hàng hóa hay dịch vụ sẽ được giao không đổi, sự tiết kiệm xảy ra khi tổng số các chi phí sản xuất và giao dịch được thiểu hóa, do đó phải công nhận có những sự đánh đổi về phương diện này. 2. Tổng quát hơn, thiết kế của hàng hóa hay dịch vụ là biến số quyết định ảnh hưởng đến cầu cũng như cả hai loại chi phí sản xuất và giao dịch, do đó việc thiết kế được xem một cách phù hợp là một phần trong hệ thống tính toán. 3. Bối cảnh xã hội của các giao dịch – phong tục, tập quán, thói quen, và v.v – có ảnh hưởng, và vì thế cần phải được tính đến, khi chuyển từ một nền văn hóa này sang một nền văn hóa khác.13 4. Lập luận về chi phí giao dịch dựa một cách tổng quát và kín đáo vào hiệu lực của cạnh tranh trong việc tiến hành sự chọn lựa, tách biệt các phương thức hiệu quả hơn ra khỏi các phương thức kém hiệu quả hơn và chuyển các nguồn lực vào các phương thức hiệu quả hơn. Điều này xem ra hợp lý, đặc biệt khi các kết quả liên quan là các kết quả xuất hiện trong những khoảng thời gian năm năm và mười năm trong tương lai, chứ không phải trong thời gian rất gần.14 Tuy nhiên, nhận định trực quan này chắc được thuận lợi nhờ một lý thuyết được xây dựng đầy đủ hơn về quá trình chọn lựa nói trên. Như thế, các lập luận về chi phí giao dịch được để ngỏ cho một số ý kiến phản bác giống như những ý kiến phản bác quan điểm chính thống mà các nhà kinh tế học về tiến hóa đã đưa ra (Nelson và Winter, 1982, các trang 356-70), mặc dù trong các khía cạnh khác có sự bổ trợ mạnh mẽ (các trang 34-38) 5. Bất cứ khi nào các lợi ích và các chi phí xã hội và tư nhân khác nhau, thì phép tính chi phí xã hội sẽ chiếm ưu thế khi cố gắng tiến hành việc xử lý dựa trên qui định của pháp luật. 2. Sơ đồ Nhận thức về Hợp đồng Lĩnh vực chuyên môn hóa mà kinh tế học về chi phí giao dịch gắn chặt vào là tổ chức công nghiệp (tổ chức ngành). Một số cách tiếp cận dẫn đạo đối với nghiên cứu tổ chức công nghiệp và quan hệ giữa kinh tế học về chi phí giao dịch và các cách tiếp cận đó được xem xét ở đây. Lĩnh vực tổ chức công nghiệp (industrial organization) nghiên cứu hợp đồng xét theo các mục đích mà hợp đồng đáp ứng. Các bên đang cố gắng hoàn thành những điều gì? Ở đây cũng như ở những nơi khác trong lĩnh vực tổ chức công nghiệp, các mục đích về độc quyền và hiệu quả được phân biệt một cách hữu ích. Sơ đồ nhận thức được trình bày trong Hình 1-1 bắt đầu với sự phân biệt này. Oliver E. Williamson 7 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  8. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch 2.1 Nhánh Độc quyền Tất cả các cách tiếp cận đối với hợp đồng được trình bày trong Hình 1-1, cách tiếp cận theo độc quyền cũng như cách tiếp cận theo hiệu quả, đều đề cập đến cùng một vấn đề hóc búa: Những mục đích nào được đáp ứng bằng cách thay thế sự trao đổi trên thị trường cổ điển – qua đó sản phẩm được bán với giá đồng nhất cho tất cả người đến mua không có hạn chế gì – bằng những hình thức thiết lập hợp đồng phức tạp hơn (bao gồm các phương thức phi thị trường về tổ chức kinh tế)? Những cách tiếp cận theo độc quyền qui cho những sự tách rời khỏi chuẩn mực cổ điển là do mục đích độc quyền. Thay vào đó, những cách tiếp cận theo hiệu quả cho rằng những sự tách rời khỏi chuẩn mực cổ điển đáp ứng các mục đích tiết kiệm chi phí. Bốn cách tiếp cận theo độc quyền đối với hợp đồng được xếp thành hai nhóm dưới hai tiêu đề. Tiêu đề thứ nhất xem xét những cách sử dụng các biện pháp hạn chế về khách hàng và địa bàn hoạt động, việc duy trì mức giá bán lại, kinh doanh (đại lý) độc quyền, liên kết dọc, và những phương thức tương tự trong quan hệ với những người mua. Tiêu đề thứ hai đề cập đến tác động của những thông lệ thực hành như thế đối với các đối thủ cạnh tranh. Lý thuyết về “thế lực” (“leverage”) về hợp đồng và cách giải thích theo sự phân biệt giá về việc thiết lập hợp đồng không thông thường đều tập trung vào những người mua. Richard Posner (1979) kết hợp lý thuyết về thế lực (leverage theory) với cách tiếp cận của “Trường phái Harvard” (trước đó) và sự phân biệt giá cả với cách tiếp cận của “Trường phái Chicago” đối với kinh tế học về chống độc quyền. Lý thuyết về thế lực khẳng định rằng quyền lực độc quyền ban đầu có thể được mở rộng và rằng những cách thiết lập hợp đồng không thông thường hoàn thành việc mở rộng này. Mặc dù lý thuyết về thế lực gần như không được tin tưởng trong giới các nhà kinh tế học,15 nhưng lý thuyết này vẫn giữ được sức hấp dẫn đối với nhiều luật sư và tiếp tục đi vào được các bản tóm tắt về pháp lý16 và các ý kiến của tòa án.17 Cách tiếp cận theo sự phân biệt giá cả đối với việc thiết lập hợp đồng không thông thường khẳng định rằng quyền lực độc quyền ban đầu không thay đổi. Sự phân biệt giá cả chỉ đơn thuần là một phương tiện qua đó quyền lực độc quyền tiềm ẩn được biến thành hiện thực. Cách giải thích này về việc thiết lập hợp đồng không thông thường đã được đưa ra bởi Aaron Director và Edward Levi (1956) cùng với phương thức bán kèm (tie-in sales) và bởi George Stigler (1963) liên quan đến phương thức đặt mua trước cả khối lượng lớn. Bán kèm và đặt mua trước cả khối lượng lớn được coi như là những công cụ, mà bằng những công cụ này những người bán có thể biết được những chênh lệch về định giá trị sản phẩm nền tảng giữa những người tiêu dùng và có thể chuyển đổi thặng dư của người tiêu dùng (thặng dư tiêu dùng) thành tiền. Oliver E. Williamson 8 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  9. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch Thế lực Khách hàng Khách hàng Phân biệt giá cả Các Rào cản Nhập ngành Đối thủ cạnh tranh Độc quyền Hành vi Mang tính Chiến lược Hiệu quả Quy nS h u Tài s n Các Động cơ Khuyến khích Ủy quyền – tác nghiệp Quản trị Chi phí giao dịch Hình 1 –1 Sơ đồ Nhận thức về Hợp đồng Đo lường Hai cách tiếp cận theo độc quyền khác xem xét những thông lệ lập hợp đồng không thông thường liên quan đến đối thủ cạnh tranh. Các cách tiếp cận này đề cập một cách rõ ràng đến việc mở rộng quyền lực độc quyền của những hãng lớn đã tồn tại lâu dài và có tiếng tăm so với những đối thủ cạnh tranh thực sự hay tiềm năng. Tài liệu về rào Oliver E. Williamson 9 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  10. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch cản nhập ngành, gắn liền một cách nổi bật với công trình nghiên cứu của Joe Brain (1956), là nằm trong truyền thống đó. Công trình nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực này là công trình bị chỉ trích dữ dội, phần lớn sự chỉ trích xuất phát từ Trường phái Chicago. Các vấn đề khó khăn chính của công trình ban đầu này là nó có tính tĩnh và không xác định cẩn thận những điều kiện tiên quyết để cho các lập luận về rào cản nhập ngành được chấp nhận. Tài liệu gần đây hơn về hành vi mang tính chiến lược giảm bớt được nhiều trong số những sự phản bác nói trên18. Những bất cân xứng về thông tin và đầu tư được đưa ra bàn luận một cách rõ ràng. Những thuộc tính liên thời gian được công nhận; và những đặc điểm về hiệu ứng uy tín (reputation effect features) được phát triển. Việc sử dụng phương thức thiết lập hợp đồng không thông thường làm một phương tiện để “làm tăng các chi phí của đối thủ cạnh tranh” (Salop và Scheffman, 1983) là một khả năng đặc biệt hấp dẫn. Ngoại trừ tài liệu nghiên cứu gần đây về hành vi mang tính chiến lược, tất cả các cách tiếp cận theo độc quyền đối với hợp đồng hoạt động trong khuôn khổ tân cổ điển, trong đó hãng (công ty) được xem là một hàm sản xuất. Bởi vì những biên giới tự nhiên của hãng trong khuôn khổ đó được xác định bởi công nghệ, nên bất cứ nỗ lực nào của hãng nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng hay hoạt động của mình bằng cách dựa vào việc thiết lập hợp đồng không thông thường đều được cho là có mục đích và ảnh hưởng độc quyền.19 Cách tiếp cận theo “lý thuyết giá cả ứng dụng” đối với tổ chức công nghiệp là định hướng thịnh hành thời hậu chiến. Như Coase nhận xét (1972, trang 61), định hướng này ảnh hưởng đến nội dung cả hai cuốn sách hàng đầu về tổ chức công nghiệp – một cuốn của Joe Brain (1958); cuốn kia của George Stigler (1968). Cách tiếp cận không thân thiện đối với việc cưỡng chế thi hành luật chống độc quyền, mà tôi đã đề cập ở mục 1.1, có định hướng tương tự. Ngược lại, phần lớn tài liệu về hành vi mang tính chiến lược kết hợp chặt chẽ hơn với khái niệm cấu trúc quản trị về doanh nghiệp (hãy xem Chương 14). Nhằm mục đích nêu bật sự phân biệt về độc quyền quan trọng này, đường cong đứt khoảng (được ký hiệu là PF) trong Hình 1-1 tách biệt các cách tiếp cận theo hàm sản xuất trước đây với khái niệm mang tính chiến lược về hợp đồng gần đây hơn. 2.2 Nhánh Hiệu quả Hầu hết những gì tôi đề cập đến như là Kinh tế học mới về thể chế nằm trên nhánh hiệu quả của hợp đồng. Nhánh hiệu quả về hợp đồng phân biệt giữa những cách tiếp cận mà trong đó nhấn mạnh đến những liên kết về khuyến khích (incentive alignments) và những cách tiếp cận dành vai trò nổi bật cho lợi thế kinh tế do chi phí giao dịch (economies of transaction costs). Tài liệu về liên kết động cơ khuyến khích tập trung vào phía tiền suy (ex ante) của hợp đồng. Theo đó, những hình thức mới của quyền sở hữu tài sản và việc thiết lập hợp đồng phức tạp được giải thích như là các nỗ lực để khắc phục những khiếm khuyết về động cơ khuyến khích của những quyền sở hữu tài sản đơn giản hơn và những truyền thống thiết lập hợp đồng đơn giản hơn. Ronald Coase (1960), Armen Alchian (1961; 1965), và Harold Demsetz (1967; 1969) liên quan một cách nổi bật với tài liệu về quyền sở hữu tài sản.20 Leonid Hurwicz (1972; 1973), Michael Spence và Richard Zeckhauser (!971), Stephen Ross (1973), Michael Jensen và William Meckling (1976), và James Mirrlees (1976) mở ra cách tiếp cận ủy quyền – tác nghiệp (agency approach)21 Oliver E. Williamson 10 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  11. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch Tài liệu về quyền sở hữu tài sản nhấn mạnh rằng quyền sở hữu có tầm quan trọng, trong đó các quyền sở hữu một tài sản có ba phần: quyền sử dụng tài sản đó, quyền chiếm giữ làm của riêng thu nhập từ tài sản đó, và quyền thay đổi hình thức và/hoặc nội dung (thực chất) của một tài sản (Furubotn và Pejovich, 1974, trang 4). Ngay sau khi xác định chính xác các quyền sở hữu tài sản, người ta thường giả định (thường là ngầm ẩn, đôi khi rõ ràng) rằng việc sử dụng tài sản sau đó sẽ phù hợp với các mục đích của chủ sở hữu. Điều này sẽ tồn tại nếu (1) cấu trúc quyền sở hữu tài sản đã được chấp thuận một cách hợp pháp được mọi người tôn trọng và (2) những người đại diện pháp luật thi hành nhiệm vụ của mình phù hợp với những chỉ thị, hướng dẫn.22 Như thế, trong khi nhánh độc quyền của hợp đồng giải thích những hình thức giao dịch không thông thường là có mục đích và hậu quả về độc quyền, thì tài liệu về quyền sở hữu tài sản nêu câu hỏi liệu những sự xác định sai lầm quyền sở hữu tài sản có phải là nguyên nhân của những sự phân bổ sai lầm nguồn lực hay không. Việc mô tả lại các quyền sở hữu tài sản, có lẽ theo những cách thức phức tạp (không thông thường), là điều giải thích cho những điểm không bình thường về hợp đồng. Nói cách khác, việc thiết lập hợp đồng rời rạc trên thị trường được thay thế bởi những hình thức thiết lập hợp đồng phức tạp hơn, bởi vì đó là cách thức có thể đặt các quyền kiểm soát còn lại (residual rights to control) vào tay của những người có thể sử dụng các quyền đó một cách hiệu quả nhất về mặt sản xuất. Tài liệu về ủy quyền-tác nghiệp (agency), đặc biệt là tài liệu về ủy quyền-tác nghiệp ban đầu, nhấn mạnh rằng những người ủy quyền (principals) ký hợp đồng với sự nhận biết đầy đủ về những rủi ro (hazards) mà việc thực thi hợp đồng của những người thừa hành (agents) gây ra. Như thế, mặc dù sự tách rời quyền sở hữu khỏi quyền kiểm soát làm suy giảm các động cơ khuyến khích về lợi nhuận, nhưng điều đó được dự kiến vào thời điểm sự tách rời xảy ra và được thể hiện đầy đủ trong giá của các cổ phần mới (Jensen và Meckling, 1976). Vì thế cho nên tương lai không có điều gì bất ngờ; toàn bộ hành động về hợp đồng liên quan được tập hợp lại thành những liên kết về động cơ khuyến khích tiền suy (ex ante incentive alignments). Thật ra, như công trình nghiên cứu điều tra có tính thuyết phục của Michael Jensen (1983) chỉ ra, tài liệu về ủy quyền-tác nghiệp đã phát triển thành hai phần. Ông đề cập đến một nhánh như là lý thuyết thực chứng về ủy quyền-tác nghiệp (positive theory of agency). Ở đây, “sự thâm dụng vốn, mức độ chuyên môn hóa của tài sản, các chi phí thông tin, các thị trường vốn, và các thị trường lao động bên trong và bên ngoài là những thí dụ về các nhân tố trong môi trường thiết lập hợp đồng, mà chúng tương tác với các chi phí của các cách thực hành giám sát và xây dựng mối quan hệ ràng buộc để xác định các hình thức hợp đồng” (Jensen, 1983, các trang 334-335). Nhánh thực chứng (positive branch) khẳng định lặp đi lặp lại rằng các quá trình chọn lọc tự nhiên hiệu nghiệm một cách đáng tin (Fama, 1980; Jensen, 1983, trang 331; Fama và Jensen, 1983, các trang 301, 327) – lời phát biểu tuy cổ điển nhưng có sắc thái khác nhiều và rất thận trọng về cách tiếp cận có tính tiến hóa đối với kinh tế học (1950) được trích dẫn như là căn cứ chính. Jensen đề cập đến loại tài liệu về ủy quyền-tác nghiệp (agency) thứ hai như là loại “người ủy quyền-người thừa hành” (“principal-agent”) (1983, trang 334). Tài liệu tương Oliver E. Williamson 11 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  12. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch đối có tính chính xác làm nổi bật vai trò của những liên kết về động cơ khuyến khích tiền suy với mức độ cao nhất. Gần đây hơn, nó được biết đến như là cách tiếp cận thiết kế cơ chế (mechanism design). Lĩnh vực nghiên cứu này tương tự với tài liệu nghiên cứu về thiết lập hợp đồng theo yêu sách tùy thuộc (contingent claims contracting)23, nhưng đi xa hơn bằng cách thừa nhận những điều phức tạp về thiết lập hợp đồng dưới hình thức thông tin riêng tư (thông tin có tính chất cá nhân). Những vấn đề phức tạp về sự liên kết động cơ khuyến khích được đặt ra (mà trứơc đó tài liệu nghiên cứu về thiết lập hợp đồng theo các yêu sách tùy thuộc đã bỏ qua) nếu không thể giả định sự tiết lộ thành thật và đầy đủ thông tin riêng tư. Tuy nhiên, trong các khía cạnh khác, các tài liệu nghiên cứu về thiết kế cơ chế và thiết lập hợp đồng theo yêu sách tùy thuộc rất tương tự với nhau: cả hai đều giải quyết tất cả các vấn đề về thiết lập hợp đồng liên quan trong một thỏa thuận tiền suy toàn diện24; và cả hai đều giả định cách thức sắp xếp của tòa án là có hiệu quả.25 Một lần nữa, mục đích hiệu quả chứ không phải mục đích về độc quyền thúc đẩy lập luận nói trên. Tài liệu nghiên cứu về chi phí giao dịch cũng duy trì giả định có thể bị bác bỏ rằng những hình thức thiết lập hợp đồng không thông thường có những mục đích về hiệu quả. Tuy nhiên, giai đoạn thực thi hợp đồng được chú ý nhiều hơn. Như Hình 1-1 cho thấy, cách tiếp cận theo chi phí giao dịch được chia ra thành hai nhánh, đó là nhánh quản trị và nhánh đo lường. Trong hai nhánh nói trên, cuốn sách này nhấn mạnh nhiều hơn đến nhánh quản trị. Tuy nhiên, cả hai nhánh quản trị và đo lường đều quan trọng và thực ra là phụ thuộc lẫn nhau. Cùng một cách như tài liệu nghiên cứu về quyền sở hữu tài sản, kinh tế học về chi phí giao dịch đồng ý rằng quyền sở hữu có tầm quan trọng. Kinh tế học về chi phí giao dịch còn thừa nhận thêm rằng những liên kết về động cơ khuyến khích tiền suy có tầm quan trọng. Nhưng trong khi các cách tiếp cận theo quyền sở hữu tài sản và thiết kế cơ chế hoạt động trong phạm vi truyền thống chủ nghĩa tập trung về pháp lý, kinh tế học về chi phí giao dịch hoài nghi ý kiến cho rằng trật tự của tòa án (court ordering) là hiệu nghiệm. Thay vào đó, sự chú ý được chuyển sang trật tự tư (private ordering). Những thể chế (thể chế) nào được tạo ra với những đặc tính gì về quá trình dàn xếp tranh chấp và đưa ra quyết định theo trình tự và có tính thích nghi? Vì thế cho nên, ngoài quyền sở hữu và sự liên kết động cơ khuyến khích, kinh tế học về chi phí giao dịch bổ sung thêm lời nhận định rằng các thể chế (thể chế) hỗ trợ hậu suy của hợp đồng có tầm quan trọng James Buchanan đã lập luận rằng “kinh tế học đạt gần tình trạng là một “khoa học về hợp đồng” hơn là một “khoa học về sự chọn lựa” [vì lý do đó] người tối đa hóa lợi nhuận phải được thay thế bởi trọng tài viên, đó là người bên ngoài cố gắng tìm ra những sự dung hòa (thỏa hiệp) giữa các yêu sách xung đột nhau”. (1975, trang 229). Cách tiếp cận theo sự quản trị (governance approach) chấp nhận định hướng khoa học về hợp đồng nhưng kết hợp trọng tài viên với một chuyên viên thiết kế thể chế. Mục đích không phải chỉ đơn thuần giải quyết xung đột đang diễn tiến mà còn nhận thức trước xung đột tiềm tàng và nghĩ ra những cấu trúc quản trị để chặn trước hoặc làm giảm bớt xung đột đó. Kinh tế học về chi phí giao dịch khẳng định rằng việc tập trung tất cả hành động mặc cả phù hợp vào giai đoạn trước khi ký kết hợp đồng (ex ante) là điều không thể thực hiện. Thay vào đó, quá trình mặc cả dàn trải từ đầu đến cuối – vì lý do đó các thể chế (thể chế) về cách thức trật tự tư và việc nghiên cứu toàn bộ quá trình hợp đồng bắt đầu có Oliver E. Williamson 12 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  13. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch ý nghĩa kinh tế có tính quyết định. Những thuộc tính về hành vi của những tác nhân con người, qua đó mà những điều kiện về tính duy lý hạn chế (bounded nationality) và chủ nghĩa cơ hội được kết hợp, và những thuộc tính phức tạp của các giao dịch (đặc biệt liên quan đến điều kiện về tính chuyên dụng của tài sản) là nguyên nhân của tình trạng đó. Nhánh đo lường của kinh tế học về chi phí giao dịch đề cập đến những điều mơ hồ về việc thực hiện hay về đặc tính gắn liền với việc cung cấp một hàng hóa hay dịch vụ. Thí dụ như bài thảo luận của Alchian – Demsetz (1972) về tính không thể tách biệt về công nghệ (sự tổ chức theo nhóm). Các vấn đề nói trên kể từ đó đã được William Ouchi (1980b) xử lý trong bối cảnh sự tổ chức công việc và Joram Barzel (1983) về sự tổ chức các thị trường. Một ứng dụng thú vị gần đây là nghiên cứu của Roy Kenney và Benjamin Klein (1983) về điều họ gọi là “oversearching” (“tìm kiếm quá mức”). Họ phản đối quan điểm của Stigler cho rằng phương thức đặt mua trước cả khối lượng lớn có những mục đích về độc quyền (sự phân biệt giá cả) và thay vào đó họ cho rằng phương thức này dùng để tiết kiệm các chi phí về đo lường. Như đã chỉ ra trên đây, cuốn sách này chủ yếu đề cập đến nhánh quản trị của kinh tế học về chi phí giao dịch. Tuy nhiên, các khía cạnh về đo lường cũng được thảo luận – khi các khía cạnh này quả thực cần phải được thảo luận, bởi vì quản trị và đo lường phụ thuộc lẫn nhau. 3. Thế giới Hợp đồng Thế giới hợp đồng được mô tả theo nhiều cách khác nhau như là một thế giới về (1) lập kế hoạch, (2) hứa hẹn, (3) cạnh tranh, và (4) quản trị (hay trật tự tư). Cách mô tả nào trong những cách mô tả nói trên thích hợp nhất phụ thuộc vào các giả định về hành vi liên quan đến một giao dịch và vào những đặc tính kinh tế của hàng hóa hay dịch vụ được xem xét. Như được phát triển đầy đủ hơn trong Chương 2, nghiên cứu về tổ chức kinh tế có kết quả hay không phụ thuộc một cách cốt yếu vào hai giả định về hành vi. Những năng lực về nhận thức nào và những thiên hướng tìm kiếm lợi ích riêng nào được gán cho các tác nhân con người tham gia vào giao dịch? Kinh tế học về chi phí giao dịch giả định rằng các tác nhân là con người phụ thuộc vào tính duy lý hạn chế, do đó hành vi là “duy lý một cách chủ ý, nhưng chỉ duy lý một cách có giới hạn” (Simon, 1961, trang xxiv), và được cho là cơ hội chủ nghĩa, đó là điều kiện tìm kiếm lợi ích riêng với sự láu cá. Kinh tế học về chi phí giao dịch khẳng định thêm rằng khía cạnh có tính quyết định nhất đối với việc mô tả các giao dịch là điều kiện về tính chuyên dụng hay đặc thù của tài sản. Các bên tham gia vào một giao dịch thương mại được hỗ trợ bởi những đầu tư đáng kể vào các tài sản chuyên dụng cho giao dịch (transaction – specific assets) hoạt động một cách hiệu quả trong quan hệ thương mại song phương với nhau. Việc làm cho hài hòa điểm chung và tương tác theo hợp đồng kết nối các bên với nhau, qua đó tác động đến khả năng thích nghi và thúc đẩy tính liên tục, trở thành nguồn gốc của giá trị kinh tế thực sự. Nhưng đối với tình trạng không chắc chắn, thì các vấn đề về tổ chức kinh tế tương đối không có gì thú vị. Vì thế, giả định rằng tình trạng không chắc chắn hiện diện với mức độ đáng kể và xét những ảnh hưởng phức tạp đối với hợp đồng của những khác biệt Oliver E. Williamson 13 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  14. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch về tính duy lý hạn chế, tính cơ hội chủ nghĩa, và tính chuyên dụng của tài sản. Đặc biệt giả định rằng mỗi điều kiện trong những điều kiện nói trên có thể nhận một trong hai giá trị sau đây: Hoặc yếu tố đó hiện diện với mức độ đáng kể (ký hiệu là +) hoặc yếu tố đó được cho là không hiện diện (ký hiệu là 0). Hãy xét ba trường hợp trong đó chỉ có một trong ba yếu tố nói trên được cho là không hiện diện và sau đó xét trường hợp trong đó tất cả ba yếu tố được kết hợp. Bảng 1-1 cho thấy bốn tình trạng sẽ được so sánh và mô hình về thiết lập hợp đồng gắn liền với mỗi tình trạng đó. Trường hợp mà trong đó các bên có tính cơ hội chủ nghĩa và các tài sản có tính chuyên dụng, nhưng các tác nhân kinh tế có năng lực nhận thức không hạn chế thực chất là thể hiện nội dung tài liệu về thiết kế cơ chế (Hurwicz, 1972, 1973; Meyerson, 1979; Harris và Townsend, 1981). Mặc dù điều kiện về cơ hội chủ nghĩa đòi hỏi phải viết các hợp đồng theo cách thế nào để tôn trọng thông tin cá nhân, do đó các vấn đề liên kết động cơ khuyến khích phức tạp được đặt ra, nhưng tất cả các vấn đề liên quan của hợp đồng đều được giải quyết ở giai đoạn mặc cả trước khi ký kết hợp đồng (ex ante). Với tính duy lý hạn chế cho trước, sau khi mặc cả người ta đi đến một thỏa thuận toàn diện ngay từ ban đầu, mà dựa theo thỏa thuận này những sự thích nghi phù hợp đối với những sự kiện bất ngờ (có thể quan sát được một cách công khai) sẽ xảy ra sau đó được mô tả một cách đầy đủ. Như thế, các vấn đề khó khăn về thực thi hợp đồng không bao giờ phát sinh (hay sự từ bỏ các hợp đồng như thế bị ngăn cản bởi vì việc tòa án xét xử giải quyết tất cả các vụ tranh chấp được cho là hiệu nghiệm (Baiman, 1982, trang 168). Vì thế cho nên, trong bối cảnh tính duy lý hạn chế, hợp đồng được mô tả như là thế giới về lập kế hoạch . Bảng 1-1. Các Đặc tính của Quá trình Thiết lập Hợp đồng. Giả định về Hành vi Tính Chuyên dụng Quá trình Thiết lập Hợp Tính duy lý Tính cơ hội của Tài sản đồng được cho thấy hạn chế chủ nghĩa một cách gián tiếp 0 + + Lập kế hoạch + 0 + Hứa hẹn + + 0 Cạnh tranh + + + Quản trị Hãy xét một tình huống khác, trong đó các tác nhân (agents) có tính duy lý hạn chế và các giao dịch được hỗ trợ bởi các tài sản chuyên dụng, nhưng điều kiện về cơ hội chủ nghĩa được giả định là không hiện diện, điều này có ý nghĩa là lời hứa của một tác nhân hoàn toàn tin cậy được. Mặc dù những khoảng trống sẽ xuất hiện trong các hợp đồng này, do tính duy lý hạn chế, nhưng chúng không gây ra những rủi ro về thực thi hợp đồng nếu các bên sử dụng đến một điều khoản tổng quát về tự cưỡng chế thực thi (tự bảo đảm tuân thủ). Mỗi bên trong hợp đồng chỉ đơn giản cam kết ngay từ đầu sẽ thực hiện hợp đồng một cách hiệu quả (theo cách thức tối đa hóa lợi nhuận kết hợp (lợi nhuận tổng cộng của các bên)) và chỉ cố gắng đạt suất sinh lợi hợp lý ở những thời điểm tái tục hợp đồng cách khoảng nhau. Bằng cách đó, loại bỏ được hành vi mang tính chiến lược. Như thế, các bên trong hợp đồng thu nhận được tất cả những lợi ích đúng như những lợi ích họ được thừa hưởng khi đạt được thỏa thuận ban đầu. Sau đó, việc thực hiện hợp đồng tiến hành một cách hiệu quả đến lúc hoàn tất bởi vì những lời hứa hẹn thuộc loại được mô tả trên Oliver E. Williamson 14 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  15. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch đây, khi không có tính cơ hội chủ nghĩa, mang tính tự cưỡng chế thực thi (tự bảo đảm tuân thủ). Trong bối cảnh cảnh này, hợp đồng chỉ là thế giới về hứa hẹn. Kế tiếp, chúng ta hãy xét đến tình huống mà trong đó các tác nhân chịu tính duy lý hạn chế và được cho là cơ hội chủ nghĩa, nhưng tính chuyên dụng của tài sản được coi là không có. Các bên tham gia các hợp đồng như thế không có những mối quan tâm liên tục đến nhận dạng đặc trưng (identity) của nhau. Điều này mô tả thế giới mà ở đó việc thiết lập hợp đồng rời rạc trên thị trường là hiệu nghiệm, ở đó các thị trường mang tính có thể tranh giành một cách hoàn toàn,26 và ở đó việc đấu giá mua nhượng quyền kinh tiêu (franchise bidding) để có độc quyền tự nhiên được chấp nhận. Bởi vì sự gian lận và những hành động lừa dối quá mức bị ngăn cản bởi cách thức sắp xếp của tòa án,27 nên trong bối cảnh này, hợp đồng được mô tả bởi thế giới về cạnh tranh. Mỗi công cụ trong ba công cụ nói trên sẽ thất bại khi tính duy lý hạn chế, tính cơ hội chủ nghĩa, và tính chuyên dụng của tài sản được kết hợp. Việc lập kế hoạch nhất thiết là không hoàn chỉnh (do tính duy lý hạn chế), sự hứa hẹn có thể tiên đoán là sẽ đổ vỡ (do chủ nghĩa cơ hội), và nhận dạng đặc trưng từng cặp của các bên bây giờ có tầm quan trọng (do tính chuyên dụng của tài sản). Đây là thế giới về quản trị. Bởi vì sự hiệu nghiệm của cách thức sắp xếp của tòa án còn bấp bênh, nên việc thực hiện hợp đồng phần lớn là nhiệm vụ của các thể chế về trật tự tư. Đây là thế giới mà kinh tế học về chi phí giao dịch đề cập đến. Mệnh lệnh (điều quan trọng và cấp bách) về tổ chức nổi lên trong những tình huống đó là: Tổ chức các giao dịch nhằm mục đích giảm bớt được tính duy lý hạn chế trong khi đồng thời bảo vệ các giao dịch này khỏi những rủi ro của tính cơ hội chủ nghĩa. Lời phát biểu như thế ủng hộ một khái niệm khác biệt và rộng lớn hơn về vấn đề kinh tế so với mệnh lệnh “Tối đa hóa lợi nhuận” ủng hộ. 4. Giản đồ Đơn giản về Thiết lập Hợp đồng Giả định rằng một hàng hóa hay dịch vụ nào đó có thể được cung cấp bởi một trong hai công nghệ thay thế khác nhau. Một công nghệ là công nghệ đa năng (general purpose technology), công nghệ kia là công nghệ đặc dụng hay chuyên năng (special purpose technology). Công nghệ đặc dụng đòi hỏi đầu tư nhiều hơn vào các tài sản lâu bền chuyên dụng theo giao dịch (transaction – specific durable assets) và có hiệu quả hơn cho việc đáp ứng những nhu cầu ở trạng thái dừng. Bằng cách sử dụng k làm một thước đo về các tài sản chuyên dụng (đặc định) theo giao dịch, các giao dịch sử dụng công nghệ đa năng là các giao dịch mà đối với chúng k=1. Ngược lại, khi các giao dịch sử dụng công nghệ đặc dụng, thì điều kiện k>0 hiện hữu. Các tài sản ở đây được chuyên biệt hóa theo các yêu cầu đặc biệt của các bên. Các giá trị về sản xuất vì thế sẽ bị mất đi khi các giao dịch thuộc loại này được chấm dứt sớm trước thời hạn. Điều kiện độc quyền song phương (tay đôi) được mô tả ở trên và được trình bày chi tiết trong Chương 2 áp dụng cho các giao dịch như thế. Trong khi việc thiết lập hợp đồng trên thị trường cổ điển – “vào nhanh bằng sự thỏa thuận dứt khoát, ra nhanh bằng sự thực hiện dứt khoát” (Macneil, 1974, trang 738) – là đủ cho các giao dịch thuộc loại k=0, thì sự quản trị theo thị trường không được trợ giúp đặt ra những rủi ro bất cứ khi nào các tài sản chuyên dụng theo giao dịch quan trọng bị Oliver E. Williamson 15 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  16. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch đặt vào tình trạng có nguy cơ thất bại. Các bên có động cơ khuyến khích nghĩ ra những biện pháp bảo vệ an toàn để bảo vệ các đầu tư vào những giao dịch thuộc loại sau. Hãy gọi S là ký hiệu của tầm mức của biện pháp bảo vệ an toàn như thế. Điều kiện S=0 là điều kiện trong đó không có biện pháp bảo vệ an toàn nào được cung cấp; quyết định cung cấp các biện pháp bảo vệ an toàn được thể hiện bởi kết quả S>0. Hình 1-2 Giản đồ Đơn giản về Thiết lập Hợp đồng Hình 1-2 trình bày ba kết cục về thiết lập hợp đồng phù hợp với sự mô tả như thế. Gắn liền với mỗi điểm nút (điểm A, B, C trên hình 1-2) là một mức giá. Nhằm mục đích tạo thuận lợi cho việc so sánh giữa các điểm nút này, giả định rằng các nhà cung cấp (1) trung tính (trung dung) với rủi ro, (2) sẵn sàng cung cấp sản phẩm với công nghệ nào cũng được, và (3) sẽ chấp nhận bất cứ điều kiện bảo vệ an toàn nào, trong chừng mực có thể dự phóng được kết quả hòa vốn kỳ vọng. Như thế, điểm nút A là quan hệ cung với công nghệ đa năng (k=0), đối với quan hệ cung này, mức giá hòa vốn là P1 được dự phóng. Oliver E. Williamson 16 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  17. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch Hợp đồng ở điểm nút B được hỗ trợ bởi các tài sản chuyên dụng (đặc định) theo giao dịch (k>0), mà đối với hợp đồng này không có điều kiện bảo vệ an toàn nào được đưa ra (S=0). Ở đây, giá hòa vốn kỳ vọng là p . Hợp đồng ở điểm nút C cũng sử dụng công nghệ đặc dụng. Nhưng vì người mua ở điểm nút này đưa ra cho nhà cung cấp một điều kiện bảo vệ an toàn, (S>0), nên giá hòa vốn, p, ở điểm nút C thấp hơn p . Những biện pháp bảo vệ an toàn mà tôi đề cập thường dưới một hay hơn một hình thức trong ba hình thức sau đây. Hình thức thứ nhất là tái liên kết các động cơ khuyến khích, mà thường bao hàm một loại trợ cấp kết thúc hợp đồng (severance payment) hay một khoản tiền phạt đối với việc kết thúc sớm trước thời hạn nào đó. Hình thức thứ hai là tạo ra và sử dụng một cấu trúc quản trị chuyên biệt, để đưa ra và giải quyết các vụ tranh chấp trước các cấu trúc này. Như thế, việc sử dụng trọng tài, thay vì kiện tụng tại các tòa án, là một đặc điểm của sự quản trị ở điểm nút C. Hình thức thứ ba là đưa ra những mô thức đều đặn về thương mại hỗ trợ và báo hiệu những dự định về tính liên tục của hợp đồng. Việc mở rộng quan hệ thương mại từ trao đổi đơn phương sang trao đổi song phương – thông qua việc sử dụng có phối hợp, thí dụ, nguyên tắc có qua có lại – qua đó thực hiện sự cân bằng các rủi ro thương mại là một thí dụ về hình thức cuối đó. Giản đồ đơn giản về thiết lập hợp đồng này, mà sẽ được trình bày chi tiết sau này, áp dụng cho nhiều vấn đề khác nhau về thiết lập hợp đồng. Giản đồ này làm cho phân tích so sánh về thể chế (thể chế) dễ dàng bằng cách nhấn mạnh rằng công nghệ (k), những biện pháp bảo vệ an toàn/quản trị theo hợp đồng (S) và mức giá (p) có tính tương tác hoàn toàn và được xác định đồng thời. Trong suốt cuốn sách này, giản đồ nói trên sẽ được tham chiếu lặp đi lặp lại nhiều lần. Quả nhiên, thật là hài lòng khi thấy rằng nhiều áp dụng đến thế hóa ra là những biến thể dựa trên một chủ đề. Như Hayek đã nhận xét, “Bất cứ khi nào người ra đã có được năng lực nhận thức về qui tắc trừu tượng, mà sự sắp xếp các đặc tính này tuân theo, trong một lĩnh vực, thì cùng một khuôn mẫu gốc này sẽ áp dụng khi dấu hiệu về các đặc tính trừu tượng đó được tạo ra bởi những yếu tố hoàn toàn khác” (1967, trang 50).28 Để tóm tắt, các điểm nút A, B, và C trong giản đồ về hợp đồng được trình bày ở Hình 1-2 có những đặc tính sau đây. 1. Các giao dịch được hỗ trợ một cách hiệu quả bởi các tài sản đa năng (k=0) nằm ở điểm nút A và không cần các cấu trúc quản trị bảo vệ. Việc thiết lập hợp đồng rời rạc trên thị trường là đủ. Thế giới về cạnh tranh tồn tại. 2. Các giao dịch đòi hỏi những đầu tư đáng kể thuộc loại chuyên dụng theo giao dịch (k>0) là những giao dịch mà đối với chúng các bên tham gia một cách hiệu quả và thương mại song phương (tay đôi) 3. Các giao dịch nằm ở điểm nút B không cần có biện pháp bảo vệ an toàn (S=0), vì lý do đó mức giá cung hòa vốn dự phóng là cao ( p > p). Những giao dịch như thế có khuynh hướng không ổn định về mặt hợp đồng. Chúng có thể trở lại điểm nút A (trong trường hợp đó công nghệ đặc dụng sẽ được thay thế bởi công nghệ đa năng (k=0)) hay được chuyển sang điểm nút C (bằng cách đưa ra các biện pháp bảo vệ an toàn theo hợp đồng mà sẽ khuyến khích việc tiếp tục sử dụng công nghệ đặc dụng (k>0)). Oliver E. Williamson 17 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  18. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch 4. Các giao dịch nằm ở điểm nút C có kết hợp các biện pháp bảo vệ an toàn (S>0) và như thế các giao dịch này được bảo vệ chống lại các rủi ro về chiếm đoạt. 5. Trong chừng mực giá cả và quản trị được liên kết với nhau, các bên tham gia hợp đồng không nên trông đợi sẽ được hưởng lợi cả đôi đường, mà thực ra là được cái này (giá thấp) thì mất cái kia (không có biện pháp bảo vệ an toàn) và ngược lại. Tổng quát hơn, điều quan trọng là phải nghiên cứu toàn bộ quá trình hợp đồng. Cả những điều khoản tiền suy (ex ante) lẫn cách thức thực hiện hợp đồng sau đó đều thay đổi theo các đặc điểm về đầu tư và các cấu trúc quản trị liên quan mà trong đó các giao dịch gắn chặt vào. 5. Tổ chức Kinh tế của Thành phố Công ty (Company Town) Thành phố Công ty (Company Town) chủ yếu được xem là một điều nhắc nhở đến những sự lạm dụng lao động gắn với thời đại trước đây. Chắc chắn là không thể nói điều gì thuận lợi, càng không thể bào chữa gì về một tình trạng như thế. Tuy nhiên, các thành phố công ty là ngoại lệ chứ không phải là thông lệ (thành phố công ty là điều bất thường). Hơn nữa, câu hỏi cần được nêu lên là, tại sao lại có người chấp nhận làm việc với những điều kiện không thuận lợi một cách hiển nhiên? Tổng quát hơn, những giải pháp thay thế về mặt hợp đồng phù hợp, mà đối với chúng cần có sự đánh giá so sánh, là những giải pháp nào? Vì nghiên cứu về các trường hợp thái cực thường giúp làm sáng tỏ những điều cơ bản của một tình huống (Behaviorial Sciences Subpanel (Tiểu nhóm Các Khoa học về Hành vi), 1962, trang 5), nên sự nghiên cứu xem xét các vấn đề khó khăn về tổ chức mà thành phố công ty đối mặt có thể mang lại nhiều thông tin hữu ích. Các vấn đề được xử lý theo hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất minh họa những ưu điểm và giai đoạn thứ hai minh họa những giới hạn của việc nghiên cứu tổ chức kinh tế trên quan điểm “toàn bộ quá trình thiết lập hợp đồng” 5.1 Phân tích Hợp đồng Giả định những điều sau đây: (1) Người ta đã xác định vị trí một nguồn khoáng sản ở một nơi hẻo lánh, việc khai thác nguồn khoáng sản này được cho là có lợi; (2) người ta chỉ có thể khai thác nguồn khoáng sản này sau khi thực hiện những đầu tư đáng kể vào tài sản vật chất lâu bền mà về sau không thể chuyển đi chỗ khác; (3) các kỹ năng cần thiết của lao động không có tính chuyên biệt theo hãng ở mức độ đáng kể, nhưng có các chi phí bố trí sản xuất liên quan đến việc chuyển lao động đến nơi sản xuất mới; (4) thời tiết ở vùng có khoáng sản này rất khắc nghiệt, điều này đòi hỏi phải cung cấp nhà ở lâu bền để bảo vệ khỏi tác động của thời tiết; (5) cộng đồng những người thợ mỏ quá nhỏ đến nổi không thể đủ khách hàng cho hơn một cửa hàng bách hóa tổng hợp; và (6) thành phố gần nhất cách xa vùng khoáng sản này bốn mươi dặm. Tôi muốn tập trung vào hai vấn đề: Các công nhân hay hãng khai thác mỏ nên sở hữu nhà ở trong cộng đồng? Cửa hàng bách hóa tổng hợp nên được sở hữu và điều hành như thế nào? Nhằm mục đích trình bày các đặc điểm liên quan rõ ràng hơn, hai kịch bản khác nhau về tính di động (mobility scenarios) sẽ được xem xét. Oliver E. Williamson 18 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  19. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch a. XÃ HỘI BẤT ĐỘNG Đây là thời đại trước khi có xe ô tô. Hãng quảng cáo để tìm công nhân và mô tả các điều khoản về tuyển dụng lao động. Với địa điểm xa xôi hẻo lánh, các công nhân sẽ quan tâm đến không chỉ tiền công mà còn nhà ở và cơ sở hạ tầng về kinh tế. Nếu hãng quyết định tự mình xây dựng nhà ở, thì hãng có thể (1) bán các căn nhà đó cho công nhân, (2) cho công nhân thuê các căn nhà đó với hợp đồng thuê ngắn hạn, (3) viết những hợp đồng thuê dài hạn với những khoản phạt nghiêm ngặt đối với việc chấm dứt sớm trước thời hạn của người thuê, hay (4) viết những hợp đồng thuê dài hạn ràng buộc hãng, nhưng cho phép người thuê được chấm dứt hợp đồng dễ dàng. Hoặc một cách khác là hãng có thể (5) yêu cầu các công nhân tự xây dựng nhà ở của riêng họ. Với thị trường mỏng như nói trên, các công nhân tự xây dựng nhà ở riêng của họ thực ra là thực hiện những đầu tư chuyên biệt theo hãng. Thiếu các biện pháp bảo vệ an toàn theo hợp đồng – các điều khoản về mua lại (nhờ đó mà công ty hay hãng bảo đảm thị trường trong trường hợp tạm cho nghỉ việc hay chấm dứt hợp đồng), những điều khoản bảo đảm công ăn việc làm dài hạn, những khoản trợ cấp thôi việc gộp, những khoản trợ cấp tử vong, và những điều tương tự – nên công nhân sẽ chỉ đồng ý thực hiện những đầu tư như thế khi họ được đề nghị một khoản tiền thưởng ký hợp đồng làm việc và/hoặc một khoản chênh lệnh cao hơn về tiền công. Thể hiện theo giản đồ cơ bản về hợp đồng trong Hình 1-1, phương án cuối cùng đó tương ứng với một kết quả ở điểm nút B chứ không phải một kết quả ở điểm nút C (nghĩa là, một kết cục w > w) Tuy nhiên, các kết cục ở điểm nút B nổi tiếng là không hiệu quả. Các chi phí cận biên của hãng sẽ bị đẩy lên cao do thỏa thuận về tiền công w, do đó hãng sẽ thực hiện việc tạm cho nghỉ việc (giãn thợ) dựa theo một tiêu chí không hiệu quả. Tương tự, những kế hoạch về nhà ở được các công nhân chọn có nguy cơ bị tác hại do những rủi ro nói trên. Như thế, những ưu điểm của việc tập trung tất cả những đầu tư chuyên biệt vào tay hãng khai thác mỏ có khuynh hướng là hiển nhiên đối với cả hai bên ngay từ đầu (hoặc sẽ trở nên hiển nhiên trong suốt các cuộc đàm phán giữa hai bên). Vì thế, quyền sở hữu nhà ở (cho công nhân) của hãng khai thác mỏ cùng với các điều khoản hợp đồng thuê hiệu quả phải được chấp nhận. Phương án 4 – các hợp đồng thuê dài hạn ràng buộc bên cho thuê nhưng cho phép bên thuê được chấm dứt hợp đồng dễ dàng – có những điểm hấp dẫn rõ ràng.29 Hãy xét đến cửa hàng bách hóa. Ở đây, những khả năng hàng đầu là: (1) Cửa hàng bách hóa này được sở hữu bởi hãng khai thác mỏ và (a) được điều hành như một độc quyền, (b) được đặt dưới một giới hạn về suất sinh lợi hợp lý, hay (c) được đặt dưới một giới hạn rổ hàng hóa tiêu biểu trên thị trường (số chỉ số); (2) một nhượng quyền kinh tiêu (franchise) nhiều năm được cấp cho người đặt giá cao nhất, số tiền thu được từ cuộc bán đấu giá cạnh tranh này (a) được trả cho quỹ của công ty, (b) được phân chia trong nhóm công nhân ban đầu, hay (c) được đưa vào một quỹ thị trường vốn ngắn hạn và chi trả cho các khách hàng trong suốt tuổi thọ của hợp đồng nhượng quyền kinh tiêu tỷ lệ với số tiền mua hàng; và (3) cửa hàng bách hóa được sở hữu và điều hành bởi các công nhân như một hợp tác xã. Mặc dù không có phương án nào trong các phương án nói trên là Oliver E. Williamson 19 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh
  20. Chöông trình giaûng daïy kinh teá Fulbright Taøi chính Phaùt trieån Chöông 1 Baøi ñoïc Kinh teá hoïc veà Chi phí Giao dòch không có vấn đề rắc rối, nhưng các phương án 2c và 3 có nhiều điều xứng đáng đề xuất chúng.30 Dù sự quyết định thế nào đi nữa, điểm tổng quát hơn là: Thỏa thuận về tiền công mà các công nhân đồng ý sẽ phụ thuộc vào, chứ không phải độc lập với, cách thức sở hữu và điều hành cửa hàng bách hóa nếu, theo như đã giả định, những nhận thức trong hợp đồng phản ảnh tất cả đặc điểm nổi bật nhất – mà quyền sở hữu và sự quản trị cửa hàng bách hóa phù hợp với chúng một cách rõ ràng. b. XÃ HỘI DI ĐỘNG Sự xuất hiện của xe ô tô, nhà ở lưu động, tủ đông lạnh dùng trong nhà, các cơ sở kinh doanh hàng hóa mua bán bằng đường bưu điện, và những phương tiện tương tự làm giảm bớt rất nhiều những khó khăn về thiết lập hợp đồng của thời đại trước khi xã hội có tính di động. Yêu cầu phải đầu tư vào nhà ở chuyên biệt theo địa điểm được giảm nhẹ nhờ việc phát minh ra những tài sản phù hợp trên các bánh xe, đó là điều mà phương án nhà ở lưu động biểu hiện. Người ta không còn phải dựa một cách độc nhất vào cửa hàng bách hóa nhờ khả năng mua hàng ở cách xa, mà giao thông vận tải ít tốn kém đến thành phố kế cận và việc mua hàng từ những cơ sở kinh doanh mua bán hàng qua đường bưu điện cho phép. Như thế, những thay đổi về thị trường và công nghệ có những ảnh hưởng về hợp đồng rất rộng. Thực ra, một giải pháp thay thế có thể tồn tại và phát triển ở điểm nút A được đưa vào tập hợp chọn lựa mà trước đây đã là một tập hợp chọn lựa phức tạp về mặt hợp đồng ở điểm nút B/điểm nút C. Phải công nhận là, các cộng đồng khai thác mỏ xa xôi hẻo lánh có thể vẫn biểu hiện các vấn đề khác mà đối với những vấn đề này sẽ cần đến những đánh giá so sánh về thể chế cẩn thận. Tuy nhiên, rõ ràng là những sự căng thẳng về hợp đồng của thời đại trước đây được giảm bớt nhiều nhờ tính di động mà các tài sản trên các bánh xe và sự cạnh tranh cho phép. 5.1 Một vài bảo lưu Nếu toàn bộ quá trình thiết lập hợp đồng tồn tại và có hiệu lực, thì một cơ cấu hiệu quả của tiền công, quyền sở hữu nhà ở, những hoạt động của cửa hàng bách hóa của công ty, và những thứ tương tự sẽ xuất hiện, bất kể điều kiện về tính di động của dân cư ra sao. Thế thì điều gì giải thích cho sự bất mãn phổ biến đối với tổ chức của các thành phố công ty (company towns) trong thời đại trước khi xã hội có tính di động? Có hai khả năng hàng đầu. Một là những người nghiên cứu về các thành phố công ty đã không tiến hành những kiểm định so sánh về thể chế phù hợp. Thay vì mô tả và đánh giá tập hợp phương án chọn lựa về hợp đồng thực sự mà từ đó tổ chức thành phố công ty bắt buộc phải chọn, người ta lại so sánh các thành phố công ty với các thành phố không phải là thành phố công ty (noncompany towns). Điều chẳng có gì đáng ngạc nhiên là, các thành phố công ty đạt kết quả yếu kém khi so sánh như thế. Tuy nhiên, vì sự so sánh như thế là không phù hợp về mặt hoạt động, nên so sánh như thế hoàn toàn không giúp ích gì cho việc hiểu biết các vấn đề khó khăn về tổ chức mà thành phố công ty phải đương đầu. Oliver E. Williamson 20 Bieân dòch: Nguyeãn Thò Xinh Xinh Hieäu ñính: Vuõ Thaønh Töï Anh

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản