Kinh tế lao động - Phần 6

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:9

0
85
lượt xem
49
download

Kinh tế lao động - Phần 6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo tài liệu 'kinh tế lao động - phần 6', kinh tế - quản lý, kinh tế học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kinh tế lao động - Phần 6

  1. Kinh tế học thông tin và lao động Giáo sư: Bryan Caplan George Mason University I.Xác suất A. Mọi người quen với xác suất ở mức độ nào đó ví dụ như chơi xúc sắc, chơi bài? B. Những giả định cơ bản của thuyết xác suất: các sự kiện được xếp hạng từ không thể xẩy ra (xác suất p=0) đến chắc chắn xẩy ra (xác suất p=1) C. Ngôn ngữ của xác suất cho phép chúng ta ước tính khả năng không xẩy ra. D. Thậm chí mọi người ít khi có con số chính xác của từng sự kiện, hầu hết mọi người luôn biết một vài xác suất. E. Khi mọi người bị hỏi những câu hỏi khó, họ thường nói "Tôi không biết". Nhưng điều gì xẩy ra nếu họ phải suy đoán? Chú ý: Trong đời sống thực tế, lúc nào bạn cũng phải suy đoán. F. Lý lẽ nguỵ biện thông dụng là: Không ai có thể biết X? 1. Nếu có nghĩa là "Không ai có thể biết X với xác suất chắc chắn", sau đó rõ ràng chẳng còn gì thú vị nữa. 2. Nếu có nghĩa là "Chẳng ai biết gì về X cả" thì rõ ràng rằng đã thất bại II.Thuyết tìm kiếm
  2. A. Các nhà kinh tế học phải giả định "thông tin là hoàn hảo" Không hẳn như vậy: có một thuyết hành động kinh tế hoàn toàn chung là không chắc chắn, được biết đến là "Thuyết tìm kiếm" B. Giả định cơ bản của thuyết này như sau: 1. Dành nhiều thời gian và nỗ lực hơn cho việc "tìm kiếm" sẽ tăng khả năng dự đoán xác suất của bạn 2. Tìm kiếm khả năng khác với mọi người 3. Mọi người có thể đưa ra suy đoán hợp lý về xác suất các sự kiện khác nhau C. Kết luận chính: Mọi người tìm kiếm để chi phí cận biên của việc tìm kiếm cân bằng với khoản lời cận biên kỳ vọng của việc tìm kiếm. 1. Trình độ: bạn có thể cần phải điều chỉnh với mức độ căm ghét rủi ro của các nhà tìm kiếm nếu họ đặt cược rất nhiều của cải. D. Đơn xin việc không ngừng: 1. Triển vọng của vàng 2. Tìm kiếm việc làm 3. Hò hẹn 4. Chứng hay quên có lý trí E.Kết luận chính: Nếu kinh tế học với giả định thông tin hoàn hảo không có ý nghĩa, hãy thử thuyết tìm kiếm. Nó có thể giải thích hầu hết mọi sự việc. III.Thuyết tìm kiếm và Thất nghiệp
  3. A. Bất chấp sự sáng suốt mà thuyết này đem lại, mô hình cung cầu trên thị trường lao động quá đơn giản. Nó giả định rằng đặc trưng của các ông chủ và công nhân đều được biết đến. B. Thực tế, mọi người phải tìm kiếm "những điều phù hợp" tốt, là nơi mà kỹ năng của các công nhân phù hợp với yêu cầu công việc. Những "yêu cầu" này thường chẳng dễ gì mà xác định; và thậm chí khi chúng được xác định thì mọi người có thể giả vờ (hoặc tự thuyết phục) rằng họ có kỹ năng nhiều hơn là họ có thể làm được trong thực tế. C. Những tìm kiếm này có thể mất thời gian: phỏng vấn, so sánh các cơ hội, đọc các quảng cáo tuyển người, và thậm chí phải phân bổ lại. D. Những tìm kiếm này có thể là một kinh nghiệm làm nản lòng cho cả công nhân và ông chủ: công nhân không muốn công việc, đối mặt với sự sa thải; các ông chủ dành hàng tiếng để tìm kiếm các đơn xin việc, phỏng vấn các ứng cử viên, không sử dụng sự lựa chọn đầu tiên? E. Khi cung và cầu gặp nhau điều gì xẩy ra trên thị trường lao động, bạn cần thuyết tìm kiếm để giải thích tại sao "tìm kiếm một công việc" dường như khó hơn là "mua một ổ bánh mỳ". Kết hợp con người với công việc là một thủ thuật kinh doanh không chắc chắn, kết hợp con người với ổ bánh mỳ thì không phải như vậy. F. Chức năng tích cực của tìm kiếm công việc là gì? Càng "phù hợp" giữa công việc và tài năng thì năng suất càng cao. (Tưởng tượng bổ nhiệm tạm thời ai đó vài những công việc khác nhau!) G. Một người công nhân nên tìm kiếm bao nhiêu? Bạn cân bằng giữa khoản tiền công mất do tìm kiếm và mức tiền công tiềm năng cao hơn nếu bạn tìm được một công việc phù hợp. Các ông chủ cũng tìm cách cân bằng giống như vậy
  4. H. Để là một công nhân thất nghiệp bạn phải cam kết những hoạt động tìm kiếm hữu ích cho những cơ hội không biết đến, điều này có ý nghĩa khi coi họ là những người thất nghiệp tự nguyện. I. Sẽ là một mớ hỗn độn lớn nếu sự phù hợp tốt nhất của công nhân rõ ràng, nhưng thất nghiệp lại luôn thường trực. Với mức tiền công linh hoạt, điều này không thể xẩy ra -- công nhân thất nghiệp có thể trả tiền công thấp. IV.Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên A. Thất nghiệp luôn luôn tồn tại bởi vì mọi người phải dành thời gian tìm kiếm công việc phù hợp. B. Vào bất kỳ thời điểm nào, một số người vẫn đang tìm kiếm việc làm, những người khác đang từ bỏ việc làm. C. Điều gì xác định mức đặc trưng, hay "tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên" điểm mà mọi người nhận được việc và mất việc xấp xỉ cân bằng nhau? D. Dân số học đóng một vai trò quan trọng. Những người trẻ thường ít chắc chắn về cái mà họ muốn làm, và nhanh chóng thay đổi hơn. Phụ nữ dường như rời bỏ hay bắt đầu công việc vì lí do có liên quan đến gia đình. Tương tự, càng nhiều người trẻ và nhiều phụ nữ như vậy thì sẽ dẫn đến một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cao hơn. 1. Đó không phải là điều tồi tệ, mà nên nhớ rằng tìm kiếm phục vụ cho một chức năng kinh tế sống còn. E. Tương tự, càng nhiều công nhân có trình độ cao hơn thay đổi công việc ít hơn. Để có được chuyên môn cao như vậy họ có thể đã tìm kiếm được một công việc phù hợp rồi. Những công nhân có trình độ thấp hơn thay đổi công việc nhiều hơn, sự sử dụng tốt nhất của họ ít chắc chắn hơn nên thay đổi công việc nhiều hơn.
  5. F. Quy tắc có thể làm tăng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. V. An toàn công việc: Bảo hiểm là một hàng hóa thông thường A. Một khía cạnh quan trọng của công việc là "an toàn". Một công việc càng an toàn thì chắc chắn bạn ít cơ hội mất đi công việc đó. 1. Chú ý đến mối quan hệ mật thiết với thông tin không hoàn hảo. B. Tại sao một vài người có công việc an toàn hơn so với những người khác? Chúng ta có thể hiểu việc sử dụng khái niệm tiêu chuẩn của "những khác biệt trong bồi thường" C. An toàn trong công việc cơ bản là một hình thức bảo hiểm mà ông chủ chào mời công nhân để đổi lấy mức tiền công thấp hơn D. Công việc được trả tiền công cao hơn luôn làm hài lòng trong mọi trường hợp (thường là những công việc ở các nước giầu có hơn). Giải thích đơn giản: phúc lợi là một hàng hóa thông thường, càng giầu thì người ta càng muốn phúc lợi cao hơn. E. Công việc này có phải là an toàn nghề nghiệp? Vâng! thực tế thì những người có thu nhập cao có an toàn nghề nghiệp hơn là những người có thu nhập thấp. F. Bạn có thể khiến mọi người khấm khá hơn bằng cách mang lại cho họ an toàn nghề nghiệp hơn một cách hợp pháp không? Nhìn chung, là không. Điều này chỉ khiến họ chi tiêu nhiều hơn cho an toàn nghề nghiệp hơn là họ muốn. V.Tín hiệu và Giáo dục A. Thỉnh thoảng, trường học dậy kỹ năng mà mọi người rốt cuộc sử dụng trong công việc như đọc và viết. Nói cách khác, một số trường đào tạo công nhân làm việc có hiệu quả hơn.
  6. B. Nhưng rất nhiều thứ mà trường dậy lại không dùng đến, ít nhất là theo quan điểm của các ông chủ. (Trường học phải làm gì trong đời sống thực này??) Tại sao họ nên quan tâm nếu bạn nghiên cứu triết học Aristotle? C. Và tuy nhiên, trung bình các ông chủ trả cho bạn nhiều hơn để hoàn thành khoá học rõ ràng là không hữu ích này. Điều này có khả năng bao nhiêu? D. Có thể quan điểm của các trường không đòi hỏi kỹ năng, nhưng biểu diễn hay ra tín hiệu, thuộc tính tồn tại trước của bạn. Lý giải tín hiệu của hành vi rõ ràng lãng phí trở nên ngày càng phổ biến trong kinh tế học. E. Mô hình tín hiệu xây dựng trên 2 giả định cơ bản sau: 1. Có "các loại" người và công ty khác nhau: có năng lực và không có năng lực, thông minh và ngu ngốc, trung thực và không trung thực, chăm chỉ và lười biếng,? 2. Rất khó quan sát trực tiếp "các loại" này 3. Tuy nhiên: các loại khác nhau (có thể) có chi phí khác nhau (hạ thấp tính không tận dụng) của việc thực hiện các hành vi giống nhau có thể quan sát được. F. Do đó tại sao các ông chủ trả tiền nhiều hơn cho công nhân những người hoàn thành các công việc không hữu ích ở trường? 1. Các ông chủ muốn những người thông minh, chăm chỉ và/hoặc tuân theo "các luật lệ" 2. Những người thông minh, chăm chỉ và/hoặc tuân theo "các luật lệ" sẽ thấy dễ dàng/rẻ hơn khi học qua các trường này. G. Học vấn không cải tiến họ, tuy nhiên khả năng tốt nghiệp ra trường là "dấu hiệu" họ là con người tốt và dễ thích ứng với hoàn cảnh.
  7. 1. Tương tự, những người ngu ngốc, lười biếng và hoặc không tuân theo pháp luật sẽ gặp phải rắc rối khi ra trường. Họ rất khó khăn khi ra trường, do đó họ không tốt nghiệp. H. Vậy thì chính xác giáo dục ra tín hiệu gì? Có thể bí mật, nhưng có thể đánh giá bằng các bài kiểm tra không tốn nhiều tiền. I. Suy đoán của tôi là: Giáo dục chủ yếu ra tín hiệu đặc điểm nhân cách mà các nhà tâm lý học gọi đó là sự chu đáo. J. Trong một bài kiểm tra, khó mà giả vờ thông minh, nhưng dễ dàng giả vờ tính chu đáo. Để loại trừ những người lười biếng, bạn phải thực sự thấy họ đã vượt qua được trường học. VI.Tính hiệu và Trợ cấp Giáo dục A. Tôi đã phân tích những tranh luận rằng giáo dục có mặt tích cực và chưa được cung cấp đầy đủ. B. Các lý luận đó có vẻ yếu. Nhưng một điểm mà lúc đó tôi đã không tranh luận là những tranh cãi này giả định rằng giáo dục có hiệu suất. C. Nếu giáo dục ở một chừng mực nào đó có tín hiệu, thì tranh luận về trợ cấp thậm chí yếu hơn thế. Tranh luận tín hiệu cho rằng bề ngoài giáo dục thực sự là tiêu cực! D. Tại sao? 1. Nếu giáo dục chỉ đơn thuần là "tín hiệu", thì năng suất lao động trung bình cộng không phụ thuộc vào sự giáo dục.
  8. 2. Nếu các ông chủ trả tiền công nhân vì năng suất lao động của họ, nếu trình độ giáo dục của họ tăng lên thì cũng không tăng thu nhập của họ. 3. Vậy thì tại sao giáo dục có thể tăng thu nhập của một công nhân? Bằng cách giảm thu nhập của những công nhân khác theo đúng khoản tăng đó! E. Điều này có nghĩa là để coi giáo dục có tín hiệu, giáo dục phải mặt ngoài tiêu cực F. Tại sao? Nếu giáo dục chỉ có tín hiệu, sau đó ít nhất ở mức độ an toàn, phúc lợi giáo dục xã hội là số không. Lợi ích đối với công nhân nhận được nhiều bằng cách cân bằng những khoản mất đi của công nhân khác - những người không nhận được lợi ích. Nếu năng suất không thay đổi, ông chủ và khách hàng không thể tốt lên được. 1. Tôi nói "ở mức độ an toàn" bởi vì có những lợi ích xã hội rõ ràng của những phù hợp công việc tốt hơn. Một số tín hiệu phục vụ một chức năng xã hội có ích. Nhưng một khi người ta thực sự phù hợp với công việc của họ, việc nâng cao mức độ giáo dục cao hơn không có thêm phúc lợi xã hội gia tăng nào. G. Mô hình tín hiệu cung cấp một cấu trúc chính thức để phàn nàn về "uỷ quyền". Khi mức độ giáo dục tăng lên, các ông chủ thắt chặt các yêu cầu công việc. Do đó quan điểm tăng vốn cho giáo dục là gì? H. Ủng hộ cho trợ cấp giáo dục có thể bắt nguồn từ "ảo tưởng của cấu trúc". Nếu bạn bỏ trợ cấp cho giáo dục, bạn có thể không chi trả được một bằng học trong 4 năm, nhưng bạn có thể không cần một bằng cấp như thể để tiến lên phía trước. I. Nếu giáo dục có 100% tín hiệu, có thể có một trường hợp kinh tế mạnh để đóng thuế. Chúng ta có thể có vị trí tương tự tương đối, nhưng dành ít thời gian và tiền bạc vào trường học.
  9. J. Bởi vì giáo dục trong thế giới hiện tại là một sự pha trộn đào tạo nghề nghiệp và tín hiệu, đặt các khoản thuế đặc biệt về giáo dục có thể không phải là ý tưởng hay. Nhưng hiện tại chúng ta có lý lẽ tán thành về đóng thuế hơn là trợ cấp giáo dục. TQ hiệu đính: Giáo dục Đại Học hay học vị có hai mặt: nó nói lên sự thông minh và tính cần cù của đương sự. Ví dụ, chỉ có những người thông minh mới có học vị, vì họ đã thông minh cho nên thầy giảng họ hiểu bài và làm bài được. Bằng chứng rằng, đố các vị giáo sư dạy 1 người khờ thành một bác sĩ hay tiến sĩ. Tuy nhiên, trong một lớp học hay một khoá học, có các học sinh khác nhau với sự thông minh khác nhau. Và ngược lại, ngoài đời cũng có rất nhiều người thông minh, nhưng không có học vị. Vì lẽ đó, học vị cũng nói lên tính cần cù của đương sự: chịu khó dậy sớm đi học, thức đêm làm bài. Bất luận lợi ích của Giáo dục Đại Học là gì, tài trợ giáo dục Đại Học để người thông minh có thêm học vị, hay người cần cù có thêm học vị là chuyện vô lý, phí phạm nguồn tài nguyên của Quốc Gia. Tài trợ giáo dục căn bản: Tiểu Học và Trung Học, là điều cần thiết để các em bé sinh ra bất luận trong gia đình nghèo hay giàu đều có được 1 kiến thức căn bản. Còn việc mưu cầu lương cao, quyền trọng trong đời sống là sự chọn lựa cá nhân. Tuy nhiên, tài trợ giáo dục Đại Học qua hình thức học bổng có lợi cho quốc gia, nếu nó được thi hành như một hợp đồng. Ví dụ, có những vùng nông thôn cần bác sĩ và giáo viên. Cũng có nhiều em sinh viên miền quê rất thông minh nhưng không có tiền đi học. Cấp học bổng toàn phần để sau khi tốt nghiệp, đương sự sẽ đi làm tại nới mà cơ quan cấp học bổng chỉ định. Ví dụ, cấp học bổng toàn phần cho đương sự đi học ngành sư phạm 4 năm, và khi ra trường đương sự sẽ đi làm tại nơi nào đó 4 năm. Sau đó, hợp đồng hết hạn; đương sự muốn về thành phố hay đi đâu là chuyện cá nhân của đương sự.
Đồng bộ tài khoản