Kinh tế quốc tế_ Chương II

Chia sẻ: Nguyen The Phuong | Ngày: | Loại File: PPT | Số trang:38

0
770
lượt xem
381
download

Kinh tế quốc tế_ Chương II

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu tham khảo môn kinh tế quốc tế_ Chương " Các lý thuyết về thương mại thế giới" dành cho sinh viên cao đẳng- đại học đang theo học các ngành kinh tế.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kinh tế quốc tế_ Chương II

  1. CHƯƠNG II CÁC LÝ THUYẾT VỀ TMQT Adam Smith David Ricardo Sinh: 5 tháng 6[1] 1723 (baptism) Sinh: 14 tháng 4 năm 1772 (1772-04-14) Kirkcaldy, Scotland London, Anh Mất: 17 tháng 7 năm 1790 (67 tuổi) Mất: 11 tháng 9 năm 1823 (51 tuổi) Edinburgh, Scotland Gloucestershire, Anh
  2. Lý thuyết cổ điển về TMQT Tại sao các nước tham gia hoạt động ngoại thương ? Sự phân phối nguồn lực giữa các quốc gia là không đồng đều. Điều này có nghĩa là các quốc gia khác nhau về nguồn lực kinh tế sẵn có Việc sản xuất hiệu quả các hàng hoá khác nhau đòi hỏi công nghệ khác nhau hoặc kết hợp nguồn lực khác nhau.
  3. Lý thuyết cổ điển về TMQT Quan điểm của trường phái trọng thương về thương mại quốc tế: Một quốc gia được coi là giàu có và hùng mạnh hơn nếu như có được càng nhiều vàng bạc. Ngoại thương phải thực hiện xuất siêu Nhập khẩu là gánh nặng cho quốc gia Nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp…
  4. Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế tuyệt đối Adam Smith Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hoá vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Mô hình đơn giản nhất theo giả định sau: Thế giới có hai quốc gia và mỗi quốc gia sản xuất hai mặt hàng. Đồng nhất chi phí sản xuất với tiền lương cá nhân. Giá cả hoàn toàn do chi phí sản xuất quyết định. Từ đây rút ra kết luận: Quá trình trao đổi trên cơ sở lợi thế tuyệt đối làm khối lượng tổng sản phẩm toàn xã hội tăng lên, làm cho các nguồn lực trong nước được sử dụng một cách có hiệu quả hơn. Thương mại quốc tế sẽ tạo điều kiện để phát triển những ngành có lợi thế và thu hẹp những ngành bất lợi thế, là cơ sở lý luận sau này cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế giữa các quốc gia.
  5. Lý thuyết cổ điển về TMQT (Lợi thế tuyệt đối – Adam Smith) Nhật Bản Việt Nam Thép (LĐ/đvsp) 2 6 Vải (LĐ/đvsp) 5 3 Giá cả tương quan 1 thép = 0,4 vải 1 vải = 0,5 thép Tỷ lệ trao đổi 1 thép = 1 vải Lợi ích 0,6 vải 0,5 thép
  6. Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế tuyệt đối Adam Smith Ưu điểm : Khắc phục hạn chế của lý thuyết trọng thương đó là khẳng định cơ sở tạo ra giá trị là sản xuất chứ không phải là lưu thông. Chứng minh thương mại đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia. Tuy nhiên, lý thuyết này có một số điểm bất ổn, chẳng hạn: Không giải thích được hiện tượng chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế và TMQT sẽ xảy ra như thế nào đối với những nước không có lợi thế tuyệt dối nào. Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị,là đồng nhất và được sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá.
  7. Lý thuyết cổ điển về TMQT (Lợi thế tuyệt đối – Adam Smith) Nhật Bản Việt Nam Thép (LĐ/đvsp) 3 4 Vải (LĐ/đvsp) 9 4 Giá cả tương quan Tỷ lệ trao đổi 2 thép = 1 vải Lợi ích
  8. Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế so sánh David Ricardo Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nó nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác). Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa. Nguyên tắc lợi thế so sánh là khái niệm trọng yếu trong nghiên cứu thương mại quốc tế. Nhà kinh tế học được giải thưởng Nobel năm 1970 Paul Samuelson đã viết: "Mặc dù có những hạn chế, lý thuyết lợi thế so sánh vẫn là một trong những chân lý sâu sắc nhất của mọi môn kinh tế học. Các quốc gia không quan tâm đến lợi thế so sánh đều phải trả một cái giá rất đắt bằng mức sống và tăng trưởng kinh tế của chính mình."
  9. Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế so sánh David Ricardo Nhật Bản Việt Nam Thép (LĐ/đvsp) 2 10 Vải (LĐ/đvsp) 5 6 Giá cả tương quan 1 thép = 0,4 vải 1 vải = 0,6 thép Tỷ lệ trao đổi 1 thép = 1 vải Lợi ích 0,6 vải 0,4 thép
  10. Lý thuyết cổ điển về TMQT: Lợi thế so sánh David Ricardo Mở rộng phân tích lợi thế so sánh cho nhiều hàng hóa và nhiều quốc gia Trường hợp có nhiều hàng hoá với chi phí không đổi và có hai quốc gia thì lợi thế so sánh của từng hàng hoá sẽ được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ hàng hoá có lợi thế so sánh cao nhất đến hàng hoá có lợi thế so sánh thấp nhất. Trường hợp có nhiều nước thì có thể gộp chung tất cả các nước khác thành một nước gọi là phần còn lại của thế giới và những phân tích trên vẫn giữ nguyên tính đúng đắn của nó. Lợi thế so sánh không những áp dụng trong trường hợp thương mại quốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng trong một quốc gia một cách hoàn toàn tương tự.
  11. Lý thuyết cổ điển về TMQT Hạn chế? Giả thiết của lý thuyết? Vận dụng thực tiễn?
  12. Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh trong TMQT Quá trình thương mại quốc tế sẽ diễn ra và tất cả các thành viên tham gia đều tiết kiệm được chi phí sản xuất khi từng nước tập trung nguồn lực vào sản xuất các ngành hàng mà họ có chi phí "tương đối" thấp hơn. Một điểm chung thống nhất giữa Adam Smith và David Ricardo là đều ủng hộ cơ chế thị trường tự do và giảm thiểu can thiệp của Chính phủ trong điều tiết thương mại quốc tế.
  13. Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh trong TMQT Kinh tế học Tân cổ điển (thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) coi thị trường là công cụ điều tiết hiệu quả nhất để tối đa hóa lợi ích của người sản xuất (lợi nhuận) và người tiêu dùng (độ thoả dụng) thông qua điểm cân bằng giá trên thị trường. Can thiệp của Chính phủ sẽ làm lệch lạc tín hiệu giá trên thị trường và làm cho nguồn lực sản xuất không được phân bổ theo cách hiệu quả nhất
  14. Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh trong TMQT Trường phái Kinh tế học phát triển (Raul Prebisch và Hans Singer ): Lợi thế so sánh của các nước đang phát triển là hàng hóa nông sản và lợi thế so sánh của các nước phát triển là hàng hóa công nghiệp Nếu nền kinh tế thế giới chuyên môn hóa theo lợi thế so sánh, về dài hạn, lợi ích của các nước đang phát triển sẽ giảm dần và thậm chí có thể bằng không
  15. Can thiệp của Chính phủ và Lợi thế so sánh trong TMQT Nguyên nhân: • Việc giá hàng hóa nông sản liên tục giảm sẽ làm cho lợi thế so sánh ban đầu của các nước đang phát triển trong dài hạn sẽ mất đi • Chính sách bảo hộ CN không hợp lý
  16. Lý thuyết tân cổ điển về TMQT Lý thuyết chi phí cơ hội: Theo nhà kinh tế học Gottfield Harberler, chi phí cơ hội của mặt hàng X là số lượng mặt hàng Y cần được cắt giảm để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa X. Xét hai quốc gia thì quốc gia nào có chi phí cơ hội của X thấp hơn sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng này. Về thực chất, chi phí cơ hội chỉ là cách phát biểu khác của giá cả tương quan Ưu, nhược điểm của lý thuyết và vận dụng vào thực tiễn.
  17. Lý thuyết chi phí cơ hội T T Nhật Bản Việt Nam 50 A 25 20 A’ 15 10 20 V 10 40 V
  18. Lý thuyết chi phí cơ hội T T B Nhật Bản Việt Nam 50 A 25 20 A’ 15 B’ 10 20 V 10 40 V
  19. Lý thuyết chi phí cơ hội T T B Nhật Bản Việt Nam 50 30 C A 25 C’ 20 A’ 15 B’ 10 20 V 10 20 40 V
  20. Lý thuyết tân cổ điển về TMQT Lý thuyết Nguồn lực sản xuất vốn có ( Lý thuyết H – O ): Câu hỏi mà Heckscher và Ohlin muốn trả lời là "Tại sao năng suất lao động lại khác nhau giữa các nước?". Theo Ricardo thì lý do là công nghệ sản xuất ở các nước là khác nhau. Tuy nhiên, Heckscher và Ohlin lại cho rằng nguyên nhân là ở chổ các quốc gia có sự khác nhau về mức độ trang bị, cũng như về mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất. Cụ thể là, các quốc gia được trang bị với mức độ khác nhau các yếu tố như đất đai, lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên, và điều này dẫn đến sự hình thành lợi thế so sánh

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản