KINH TẾ TP. HCM TỪ 1991 ĐẾN NAY

Chia sẻ: Anviet Canh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:52

0
215
lượt xem
89
download

KINH TẾ TP. HCM TỪ 1991 ĐẾN NAY

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đầu thập niên 1990, thành phố Hồ Chí Minh cùng cả n¬ớc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 1991-1995 với trọng tâm là tiếp tục thực hiện đ¬ờng lối đổi mới của Đảng và Nhà n¬ớc. Để tạo điều kiện cho cơ chế thị tr¬ờng hoạt động hiệu quả, những nổ lực xây dựng cơ chế-chính sách đ¬ợc tập trung vào hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô và khung pháp lý. Trong giai đoạn này, thành phố đã có b¬ớc tăng tr¬ởng nhanh chóng và khá ổn định. Hầu hết...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: KINH TẾ TP. HCM TỪ 1991 ĐẾN NAY

  1. KINH TẾ TP. HCM TỪ 1991 ĐẾN NAY Đầu thập niên 1990, thành phố Hồ Chí Minh cùng cả n ớc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 1991-1995 với trọng tâm là tiếp tục thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc. Để tạo điều kiện cho cơ chế thị trờng hoạt động hiệu quả, những nổ lực xây dựng cơ chế-chính sách đợc tập trung vào hệ thống các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô và khung pháp lý. Trong giai đoạn này, thành phố đã có bớc tăng trởng nhanh chóng và khá ổn định. Hầu hết các chỉ số kinh tế đều đã đ ợc cải thiện. GDP trên địa bàn thành phố tăng lên liên tục và đều ở mức hai chữ số (ngoại trừ 1991). Đặc biệt, tốt độ tăng trởng năm sau đều cao hơn năm trớc và đạt đỉnh cao vào năm 1995 với mức 15,4%. Bình quân giai đoạn 1991-1995, GDT tăng 12,6%/năm, trong đó công nghiệp đóng góp 7,1% vào tốc độ tăng trởng này, dịch vụ đóng góp 5,3% và nông-lâm-ng nghiệp đóng góp 0,2% Song song với mức độ tăng trởng cao, lạm phát đã dần dần đợc duy trì ở mức kiểm soát đợc. Tốc độ tăng chỉ số giá bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ở Thành phố Hồ Chí Minh giảm từ 58% năm 1990 xuống còn 23% năm 1992 và 13% năm 1995. Đây là một thành công rất lớn trong công tác quản lý vĩ mô, góp phần làm ổn định tình hình kinh tế-xã hội. Từ đầu thập niên 1990, chính sách thuế luôn đợc thay đổi để phù hợp với thực trạng kinh tế. Mặc dù còn nhiều thiếu sót, nhng những cải cách thuế đã góp phần làm tỷ lệ thu ngân sách nội địa trên địa bàn thành phố so với GDP tăng lên từ 15% năm 1990 lên 20% năm 1993 và 25% năm 1995. Việc cải thiện công tác thu thuế cũng cho phép ngân sách không còn hoàn toàn phải dựa vào đóng góp của các doanh nghiệp nhà nớc. Trên thực tế, tỷ lệ thu từ các doanh nghiệp nhà nớc trên tổng thu nội địa trên địa bàn thành phố giảm từ mức 69% năm 1990 xuống chỉ còn 51% năm 1995. Trong khi đó, tỷ lệ đóng góp ngân sách của khu vực ngoài quốc doanh (bao gồm t nhân trong và ngoài nớc và doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài) tăng lên từ 19% năm 1990 lên 27% năm 1995. Chỉ ngân sách của Thành phố cũng có chuyển biến tích cực. Tỷ lệ thờng xuyên trong tổng chi tăng lên từ 14% năm 1990 lên 16% năm 1995. Trong các khu vực kinh tế, công nghiệp có tốc độ tăng trởng cao nhất. Các chính sách cải cách kinh tế trong giai đoạn 1986-1989 về giá cả, thuế, tài chính và ngoại thơng đã bắt đầu phát huy tác dụng. Tốc độ tăng trởng GDP công nghiệp bình quân thời kỳ 1991-1995 là 16,6%/năm. Chiếm tỷ trọng 42% trong cơ cấu GDP vào năm 1995. Thế mạnh của công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh là công nghiệp chế biến, tăng trởng với tốc độ 17%/năm trong cùng giai đoạn và cùng với ngành sản xuất và phân phối điện, nớc, khí đốt chiếm gần 30% giá trị tổng sản lợng công nghiệp của cả nớc. Trong giai đoạn này, các sản phẩm công nghiệp của thành phố ngày càng đợc đa dạng hóa với mẫu mã, bao bì và chất lợng trở nên tốt hơn. Nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến không những đáp ứng nhu cầu của thành phố mà còn đ ợc tiêu thụ ở khắp các tỉnh, thành trong cả nớc và phục vụ xuất khẩu. Tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến trong xuất khẩu tăng từ 20,4% năm 1991 lên 48.4% năm 1995. 1
  2. Việc chuyển đội trọng tâm trong chính sách công nghiệp sang sản xuất hàng tiêu dùng và hàng phục vụ xuất khẩu đã tạo chuyển biến trong cơ cấu nội bộ của ngành công nghiệp chế biến. Các ngành công nghiệp nhẹ và sản xuất hàng tiêu dùng chiếm 84% giá trị sản lợng công nghiệp chế biến. Những ngành có tốc độ tăng tr ởng nhanh nhất trong giai đoạn 1991-1995 là may mặc (22%/năm), da giầy (21%/năm), in (29%), cao su và plastic (27%), sản xuất xe có động cơ (271%/năm). Tuy diện tích canh tác bị thu hẹp do phát triển đô thị, sản xuất nông, lâm và ng nghiệp vẫn duy trì đợc nhịp độ tăng trởng bình quân 4,7%/năm. Tuy nhiên, do có tốc độ tăng trởng thấp hơn các khu vực kinh tế khác nên tỷ trọng trong GDP của khu vực này giảm dần và đến năm 1995 chỉ còn 3%. Trong thời gian từ 1991 đến 1995, nhiều vùng chuyên canh tập trung nh lúa, rau đậu cây công nghiệp hàng năm, hoa cây kiểng.. đợc hình thành. Tỷ trọng chăn nuôi tăng dần từ 32% năm 1991 lên 35% vào năm 1995. Các công trình thủy lợi kênh Đông, Hóc Môn-Bắc Bình Chánh bớc đầu đa vào khai thác đã có hiệu quả. 25.000 ha rừng phòng hộ Cần Giờ, rừng lịch sử Củ Chi đợc bảo vệ và phát triển. Theo tinh thần Nghị quyết Trung ơng V, phát triển nông nghiệp đợc gắn kết với quá trình xây dựng nông thôn mới với việc triển khai các chơng trình xóa đói giảm nghèo, điện khí hóa nông thôn và cung cấp nớc sạch. Cùng với đà tăng trởng của các ngành sản xuất vật chất, hoạt động dịch vụ cũng phát triển mạnh, GDP dịch vụ tăng trởng với mức bình quân 10,1%/năm trong giai đoạn 1991-1995. Đến năm 1995, khu vực này chiếm tới 56% GDP. Nh đã đợc đề cập, ngay từ khi khởi đầu cơ chế thị tr ờng Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đầu trong việc thơng mại hóa nhiều yếu tố "đầu vào" và "đầu ra" của quá trình sản xuất. Các hoạt động kinh doanh phát triển mạnh, nâng cao vai trò trung tâm th ơng mại quan trọng của cả nớc. Thành phố có một mạng lới chợ đầu mối mà từ đó hàng hoá đ- ợc đa về tất cả các tỉnh, thành trong nớc và các quốc gia lân cận. Sản xuất phát triển, dân số và mức sống dân c gia tăng đã làm cho tổng mức hàng hóa bán ra tăng lên nhanh chóng (bình quân 55%/năm), trong đó bán buôn chiếm tới 61% tổng mức hàng bán ra. Hoạt động ngoại thơng trong giai đoạn này có rất nhiều đóng góp cho tăng trởng kinh tế của thành phố. Có thể nói năm 1990, xuất khẩu của thành phố và của cả n ớc gặp phải thách thức rất lớn khi thị trờng Đông Âu không còn nữa. Nhng ngay sau đó, thành phố và cả nớc đã chuyển nhanh chóng sang thị trờng châu á và Tây Âu. Sự chuyển h- ớng này cùng với các chính sách khuyến khích xuất khẩu đã góp phần làm cho kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 19%/năm trong giai đoạn 1991-1995. Năm 1995, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2,6 tỉ USD. Là một nhập l ợng quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, nhập khẩu trên địa bàn cùng kỳ tăng lên rất nhanh, bình quân 24%/năm trong cùng giai đoạn. Giá trị kim ngạch nhập khẩu năm 1995 đạt 2,9 tỷ USD, trong đó thiết bị và nguyên liệu phục vụ cho sản xuất chiếm trên 80% Rút kinh nghiệm từ sự sụp đổ của các tổ chức tín dụng trong các năm 1987-1989, thành phố đã sớm chấn chỉnh thị trờng tài chính-tiền tệ, giải quyết các tồn tại ở các hợp tác xã tín dụng và mạnh dạn thành lập các ngân hàng thơng mại cổ phần. Với chủ trơng chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống hai cấp của Trung ơng 2
  3. vào giữa năm 1988 và việc thiết lập nhiều loại định chế tài chính, công ty bảo hiểm,.., hoạt động tài chính tín dụng ngày một đa dạng và đã đáp ứng đ ợc phần nào yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Tốc độ tăng trởng của ngành rất cao, bình quân 16% trong giai đoạn 1991-1995. Đây là xu hớng tích cực trong sự chuyển dịch cơ cấu nội tại của khu vực dịch vụ nhằm phát triển các ngành dịch vụ cao cấp, phục vụ cho sự lớn mạnh của các ngành kinh tế khác và nâng cao đời sống xã hội. Ngoài việc nhìn nhận từ sự đóng góp của các khu vực kinh tế, sự tăng tr ởng kinh tế của thành phố trong giai đoạn này cũng có thể đợc xem xét trên khía cạnh đầu t. Có thể nói, huy động và sử dụng vốn đầu t là một giải pháp lớn, mang tính chiến lợc cho công cuộc phát triển lâu dài. Vốn đầu t trên địa bàn thành phố gia tăng từ hai nguồn chính: tích lũy nội bộ bao gồm ngân sách, tích lũy của các doanh nghiệp, tiết kiệm trong dân và nguồn vốn từ bên ngoài bao gồm các khoản đầu t trực tiếp theo Luật đầu t nớc ngoài, các khoản vay quốc tế và các khoản viện trợ.. Năm 1995, đầu t nớc ngoài chiếm đến 42% tổng đầu t, trong khi đầu t t nhân chỉ chiếm 21%. Cũng trong năm 1995, đầu t từ ngân sách và đầu t của doanh nghiệp nhà nớc chiếm tơng ứng 8% và 29% tổng đầu t. Tỷ trọng đầu t XDCB trong GDP tăng từ 21% năm 1991 lên 33% năm 1995. Đầu t vào ngành công nghiệp chế biến chiếm 44% tổng đầu t Nhìn nhận từ góc độ các thành phần kinh tế, chúng ta cũng thấy đợc tính chất của sự tăng trởng kinh tế thành phố trong giai đoạn này. Từ khi có chính sách kinh tế mới, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ba khu vực kinh tế là kinh tế quốc doanh, kinh tế t nhân trong nớc và khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đã đợc hình thành. Tốc độ tăng trởng GDP bình quân của khu vực kinh tế quốc doanh trong giai đoạn 1991-1995 là 10%/năm. Đến năm 1995, khu vực này vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu GDP nhng đã giảm dần từ 55% năm 1991 xuống còn 49% năm 1995. Trong công nghiệp, tỷ trọng kinh tế quốc doanh trong giá trị sản xuất công nghiệp cũng giảm từ 72% năm 1990 xuống còn 60% năm 1995. Những năm 1991-1995 là giai đoạn mà các doanh nghiệp nhà nớc đợc sắp xếp và củng cố với mục tiêu nắm giữ các vị trí then chốt trong nền kinh tế. Số lợng đợc giảm bớt thông qua sáp nhập và giải thể từ khoảng 1.200 năm 1991 xuống còn 826 đơn vị năm 1995. Trong khu vực quốc doanh, các doanh nghiệp do Trung ơng quản lý vẫn có tỷ trọng cao, chiếm khoảng 59% GDP của khu vực này vào năm 1995. Tốc độ tăng trởng của quốc doanh Trung ơng cũng cao hơn quốc doanh địa phơng (11,5% so với 9,5% trong năm 1995). Nguyên nhân là do trong giai đoạn này các doanh nghiệp quốc doanh Trung ơng đợc đầu t chiều sâu về vốn kỹ thuật và nhân lực. Khu vực kinh tế t nhân trong nớc đã có những bớc phát triển rất ấn tợng từ khi các ch- ơng trình cải cách kinh tế đợc thực hiện vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Trong giai đoạn 1991-1995, GDP của khu vực t nhân thành phố Hồ Chí Minh tăng trởng với tốc độ bình quân 10,8%/năm, cao hơn tốc độ tăng trởng của khu vực quốc doanh. Đến năm 1995, tỷ trọng của khu vực này chiếm tới 76% lao động đang làm việc của thành phố. 3
  4. Có thể nói mặc dù có nhiều trở ngại đã đợc tháo gỡ nhng vào năm 1990 khu vực ngoài quốc doanh vẫn còn rất nhiều các đơn vị kinh tế tập thể kém hiệu quả và các đơn vị kinh tế cá thể dù năng động những thiếu vốn hoạt động một cách trầm trọng. Việc ban hành Luật công ty và Luật doanh nghiệp t nhân vào cuối năm 1990 đã cho ra đời hàng loạt doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Các công ty cổ pần đợc thành lập chủ yếu trong năm 1991-1992 còn công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp t nhân phát triển mạnh từ năm 1993 trở đi. Đến năm 1995, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có trên 4.400 đơn vị hoạt động theo các loại hình trên, trong đó số lợng công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tới 57%. Tuy nhiên, mặc dù các loại hình doanh nghiệp mới này tăng lên nhanh chóng, nhng các đơn vị kinh tế hộ gia đình vẫn chiếm tới 74% GDP của khu vực t nhân. Điều đó cho thấy sự phát triển của khu vực t nhân phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả hoạt động của các đơn vị sản xuất nhỏ này. Sự tăng trởng kinh tế nhanh chóng của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1991- 1995 có sự đóng góp rất lớn của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài. Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trong giai đoạn này đều ở dới hình thức liên doanh với các doanh nghiệp nhà nớc hay là 100% vốn nớc ngoài. Không những phát triển nhanh mà các doanh nghiệp này còn kéo theo sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Từ năm 1991 đến 1995, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài tăng trởng với tốc độ bình quân 68%/năm. Đến năm 195, khu vực này đã chiếm 11% GDP và 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố. Phân tích kinh tế cho thấy "mức tăng GDP của thành phố Hồ Chí Minh sẽ thấp hơn nhiều so với mức tăng GDP đã đạt đ ợc nếu nh không có đầu t nớc ngoài". Trong tốc độ tăng GDP bình quân 12,6%/năm trong giai đoạn 1991-1995, 4,3% là do khu vực có vốn đầu t nớc ngoài đóng góp. Nh vậy, có thể nói những năm 1991-1995 là giai đoạn hoàng kim về tăng trởng kinh tế của thành phố. Mặc dù trong thập niên 1980, thành phố Hồ Chí Minh có những năm thành công, tăng trởng mạnh, nhng cha bao giờ đạt tốc độ cao nh trong nửa đầu thập niên 1990. Thành phố và cả nớc đã thoát ra khỏi những khó khăn kinh tế trong các năm 1989-1991. Gần nh mọi hoạt động kinh tế đều sử dụng giá cả thị tr ờng. Không những khu vực t nhân mà cả khu vực quốc doanh cũng ngày càng phải tuân theo các tín hiệu của thị trờng. Tốc độ tăng trởng kinh tế năm sau cao hơn năm trớc, đồng thời lạm phát đợc duy trì ở mức thấp. Xuất khẩu và đầu t nớc ngoài cũng tăng nhanh, trở thành những động lực quan trọng cho tăng trởng kinh tế. Nhịp độ tăng trởng kinh tế nhanh chóng đã làm cho đời sống của đại bộ phận nhân dân đã đ ợc nâng lên trong giai đoạn này. GDP bình quân đầu ngời của Thành phố tăng từ 777 USD năm 1994 lên 1147 USD năm 1998 và đạt mức 1230 USD năm 1999. Tuy xét về mặt chính sách kinh tế, thì giai đoạn 1991-1995 không còn những quyết sách "xé rào" mang tính đột phá nh thời kỳ trớc đó, nhng vẫn xuất hiện nhiều nhân tố tích cực của quan hệ kinh tế thị trờng. Tuy nhiên, sự tăng trởng kinh tế với tốc độ cao, nhng cha thật sự vững chắc. Lạm phát tuy có đợc kiềm chế nhng vẫn xảy ra những cơn sốt giá, kể cả đối với những loại vật t , hàng hóa thiết yếu cho sản xuất và đời sống nh: phân bón, xi măng, sắt thép, đờng.. Hệ thống tỷ giá hối đoái, lãi suất tiết kiệm và cho vay còn nhiều bất hợp lý cha khuyến khích đầu t phát triển sản xuất. 4
  5. Cải cách thuế cha đợc tiến hành đồng bộ với cải cách cơ chế bộ máy hành tu. Phần lớn khoản thu của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là dựa trên phơng pháp thỏa thuận mức thuế giữa cơ quan thuế vụ với ngời chịu thuế. Phơng pháp tính thuế vẫn là "phơng pháp tiền kiểm", trong khi nếu áp dụng "phơng pháp hậu kiểm" thì sẽ hiệu quả hơn nhiều. Thực tế phát triển kinh tế trong giai đoạn này cho thấy sự tăng trởng của công nghiệp thành phố vẫn chủ yếu theo chiều rộng, ch a chú trọng đến đầu t chiều sâu, nâng cao chất lợng sản phẩm. Vì vậy, sức cạnh tranh hầu nh không đợc cải thiện nhiều. Hơn thế nữa, trên phạm vi của cả vùng KTTĐPN, chính sách bố trí công nghiệp cha hợp lý; mối liên kết với các hệ thống cung ứng nhập lợng còn lỏng lẻo, mạng lới kinh doanh, hợp tác chiến lợc và chia sẻ thông tin giữa thành phố và các tỉnh trong vùng còn yếu kém. Có thể nói các ngành kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn ch a thật sự phát huy đợc lợi thế so sánh và cạnh tranh của thành phố trong tổng thể sự phát triển kinh tế của vùng KTTĐPN. Các ngành dịch vụ cao cấp dù đợc đề cập nhiều trên văn kiện, tài liệu nhng thực tế vẫn cha có chuyển biến mạnh mẽ. Các lĩnh vực tài chính-tín dụng, bu chính viễn thông, khoa học-công nghệ.. vẫn còn chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn, trong khi các dịch vụ buôn bán nhỏ và không chính thức lại có xu hớng tăng lên. Cũng chính vì những yếu kém mang tính cơ cấu này mà khi bị tác động của các yếu tố kinh tế bất lợi trong những năm sau, đà tăng trởng kinh tế của thành phố đã giảm mạnh, thậm chí còn giảm nhanh hơn so với mức bình quân của cả nớc. Năm 1996, tốc độ tăng trởng GDP của thành phố vẫn ở mức cao nhng đã giảm sút so với năm 1995 tuy rằng không nhiều (14,7% so với 15,3%). Tốc độ tăng trởng tiếp tục giảm xuống 12,1% năm 1997, 9,2% năm 1998 và ớc tính 6,2% năm 1999. Những hiện tợng này cho thấy kinh tế thành phố Hồ Chí Minh có chiều suy giảm tr ớc cả khi có tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Bắc và Đông Nam á vào cuối năm 1997 và đầu năm 1998. Điều đó cũng khẳng định rằng việc tăng trởng kinh tế chững lại trớc hết là xuất phát từ những yếu kém trong nội bộ nền kinh tế. Sự suy giảm thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động xuất khẩu và đầu t nớc ngoài. Trong năm 1998, hai lĩnh vực này bị tác động nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực. Xuất khẩu năm 1997 không tăng, còn năm 1998 giảm 1,9%. Trong khi đó, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu những năm 1995 và 1996 đều trên 40%. Tuy nhiên, một phần của sự giảm sút về tốc độ này là do xuất gạo và dầu thô giảm mạnh, chứ không phải là các sản phẩm công nghiệp chế biến. Đầu t nớc ngoài bắt đầu giảm từ năm 1996 và đến năm 1998, tổng số vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đăng ký trên địa bàn thành phố chỉ còn 906 triệu USD so với con số 2,3 tỷ USD trongnăm 1995. Do trong giai đoạn 1991-1995, xuất khẩu và đầu t nớc ngoài đóng góp rất lớn vào tăng tr- ởng kinh tế nên sự suy giảm của hai khu vực này trong những năm gần đây là một trong những tác động chủ yếu làm giảm tăng trởng kinh tế. Nhập khẩu trong năm 1998 cũng giảm 8,6%. Do máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu chiếm tới 88% kim 5
  6. ngạch xuất nhập khẩu, nhập khẩu giảm, ngoài nguyên nhân của việc áp dụng các biện pháp hạn chế, cũng là biểu hiện của sự trì trệ trong sản xuất công nghiệp. Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố giảm từ 17,8% năm 1996 xuống 13,1% năm 1997 và 12,5% năm 1998. Năm 1999, ớc tính tốc độ này chỉ còn khoảng 10,2% trong năm 1999. Chỉ số giá tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng chậm lại. Tại thành phố Hồ Chí Minh, mức lạm phát năm 1997 chỉ bằng 2,4%. Năm 1997 con số này tăng lên 9% nh ng dự kiến năm 1999 chỉ ở mức 1,6%. Đặc biệt là chỉ số giá lại giảm đi trong những tháng cuối năm 1999. Tuy nhiên, lạm phát thấp chủ yếu là do giá l ơng thực giảm. Trong khi giá các hạng mục không giảm và vẫn tăng. Giá lơng thực ớc tính giảm 10% trong năm 1999. Sức mua của nông dân vì vậy bị giảm mạnh làm cho nhu cầu đối với hàng công nghệ phẩm và dịch vụ của thành phố cũng bị suy yếu đi. Lạm phát thấp và cung vợt cầu còn đợc thể hiện ở tổng mức hàng hóa bán ra. Tốc độ tăng mức hàng hóa bán ra sau khi đã điều chỉnh lạm phát giảm từ 15,9% năm 1996 xuống 5,6% năm 1997 và -2,4% năm 1998. Tổng vốn đầu t trên địa bàn năm 1999 ớc tính cũng giảm đến 21% so với năm 1998. Sự giảm sút đầu t này, ngoài một phần là do đầu t nớc ngoài giảm mạnh (giảm 47%), còn do các doanh nghiệp cha mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất khi triển vọng kinh tế cha chắc chắn. Hơn thế nữa, nhiều doanh nghiệp ch a chọn đợc hớng đầu t hiệu quả và cha tìm đợc thị trờng. Lãi suất danh nghĩa đã đợc điều chỉnh xuống nhiều lần, nhng do lạm phát giảm mạnh hơn nên lãi suất thực vẫn cao hơn so với mức năm 1998. Những năm gần đây cũng là thời kỳ khu vực quốc doanh ngày càng bộc lộ nhiều yếu kém. Các doanh nghiệp nhà nớc, mặc dù có nhiều vốn và lao động có trình độ chuyên môn cao hơn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nớc nhng lại có tỷ lệ làm ăn thua lỗ cao. Trong năm 1999, công nghiệp quốc doanh đợc ớc tính có tốc độ tăng trởng thấp nhất (7,5% so với mức 8,2% của khu vực ngoài quốc doanh và 23% của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài). Sự hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp không những trực tiếp làm giảm tăng trởng kinh tế chung mà còn tác động xấu đến các khu vực kinh tế khác. Ví dụ nh làm tăng tỷ lệ nợ quá hạn trong hệ thống ngân hàng và chiếm lợng lớn tín dụng trong nền kinh tế, mà đáng lý ra có thể đ ợc cung cấp cho khu vực t nhân có hiệu quả hơn. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong củng cố và sắp xếp lại doanh nghiệp, cổ phần hóa và sắ xếp lại doanh nghiệp nhà nớc, những hoạt động này còn tiến triển chậm. Từ khi chơng trình cổ phần hóa đợc thí điểm tại thành phố vào năm 1993, đến cuối năm 1999 thành phố mới chuyển đợc 38 doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần. Việc bán, khoán và cho thuê doanh nghiệp nhà n ớc vẫn cha đợc triển khai thực hiện. Trong những năm 1996-1999, khu vực kinh tế t nhân, mặc dù đợc hoạt động trong môi trờng pháp lý thuận lợi hơn so với giai đoạn tr ớc lại gặp phải môi trờng kinh tế không thuận lợi. Do nhu cầu nội địa giảm nên doanh thu và lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp t nhân tại thành phố hầu nh không tăng và trong nhiều trờng hợp còn giảm đi. Đặc biệt trong thời gian này đã diễn ra các vụ án chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa 6
  7. rất nghiêm trọng liên quan đến các doanh nghiệp t nhân có quy lớn của thành phố Hồ Chí Minh Chức năng trung gian tài chính các ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn cha đợc thực hiện một cách có hiệu quả. Tình hình chung là vốn bị ứ đọng trong ngân hàng, không cho vay đợc. Tỷ lê nợ quá hạn trong cơ cấu cho vay của ngân hàng thơng mại gia tăng liên tục tính từ năm 1993 đến 1998. Một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là tỷ trọng các khoản cho vay của các ngân hàng thơng mại quốc doanh đợc dành cho các doanh nghiệp nhà nớc vẫn ở mức rất cao (67% năm 1998), trong khi nhiều doanh nghiệp nhà nớc đang làm ăn thua lỗ, không có khả năng thanh toán nợ đáo hạn. Điều đó cho thấy cải cách hệ thống ngân hàng quốc doanh cần phải đợc tiến hành song với cải cách doanh nghiệp nhà nớc. Các ngân hàng cổ phần nói chung đều có quy mô hoạt động nhỏ và sức cạnh tranh yếu. Ngợc lại các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng n ớc ngoài có hoạt động và khá ổn định với tỷ lệ quá hạn luôn dới mức 4% tổng d nợ. Tỷ lệ cho vay trung hạn của các ngân hàng này cũng cao hơn nhiều so với các ngân hàng th ơng mại quốc doanh và cổ phần. Những biện pháp kích cầu đầu t thực hiện trong thời gian này vẫn cha phát huy tác dụng. Thực tế cho thấy khó có thể thực hiện đợc những khối lợng đầu t lớn trong thời gian ngắn mà lại có hiệu quả cao. Ngay cả một số công trình trọng điểm về cơ sở hạ tầng đã đợc bố trí kế hoạch nhng triển khai chậm do gặp khó khăn vớng mắc về di dời, giải tỏa hoặc phát sinh khối lợng, thay đổi thiết kế phải trình duyệt lại. Trớc tình hình khó khăn trên, trong năm 1999 nhiều cải cách kinh tế mới đã đợc thực hiện và tình hình kinh tế đã có một số nét khả quan. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn năm 1999 tăng 23,7% theo ớc tính ban đầu. Nếu loại trừ kim ngạch xuất khẩu dầu thô và gạo thì tốc độ tăng chỉ còn 8,2%, nhng vẫn là một con số rất thuyết phục so với con số âm trong năm 1998. Sự gia tăng xuất khẩu này một phần là do các n ớc trong khu vực đã dần dần phục hồi sau khủng hoảng và nhu cầu đối với hàng xuất khẩu Việt Nam đã tăng trở lại, một phần là do quyền xuất khẩu trực tiếp của các doanh nghiệp đã đợc giải phóng. Các doanh nghiệp đã đợc xuất và nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng ghi trong giấy phép kinh doanh. Thậm chí các đơn vị xuất khẩu cũng có thể xuất khẩu các mặt hàng không ghi trong giấy phép kinh doanh Luật doanh nghiệp đợc Quốc hội thông qua thống nhất khuôn khổ pháp lý đối với nhiều loại hình doanh nghiệp, nhng có tác động nhiều nhất tới các doanh nghiệp t nhân. Luật đã đơn giản hóa rất nhiều thủ tục thành lập cho các doanh nghiệp t nhân đồng thời cũng cho phép các doanh nghiệp đợc linh hoạt hơn trong huy động vốn và kinh doanh. Tuy nhiên, việc Luật này có thật sự tạo động lực cho sự phát triển của khu vực t nhân tại thành phố Hồ Chí Minh hay không còn phụ thuộc vào hiệu quả của việc thi hành trên thực tế. Các doanh nghiệp nhà nớc tiếp tục đợc phân loại làm cơ sở để đa ra các biện pháp tái cơ cấu vốn và cải cách lề lối quản lý kinh doanh. Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 7
  8. 1999 đã thành lập Quỹ hỗ trợ cổ phần hóa nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp cổ phần hóa và đẩy nhanh quá trình này. Bên cạnh các nỗ lực cổ phần hóa, khuôn khổ pháp lý cho việc giao, bán khoán và cho thuê doanh nghiệp nhà n ớc cũng đang đợc Chính phủ hoàn thiện. Hệ thống ngân hàng cũng là một trọng tâm của cải cách trong các năm 1998-1999. Các nỗ lực tái cơ cấu ngân hàng đợc tập trung vào các ngân hàng thơng mại cổ phần của thành phố Hồ Chí Minh. Một số ngân hàng đã đợc sát nhập, giải thể hay đợc đặt dới sự kiểm soát hay giám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nớc. Các ngân hàng thơng mại quốc doanh cũng đợc rà soát lại về tình hình tài chính. Các quy định về quản lý rủi ro cũng đã đợc ban hành. Xu hớng sắp tới là hạn chế và dần tới loại bỏ hoạt động cho vay theo chỉ đạo hành chính và hớng tới mục tiêu thơng mại. XUAÂT NHAÄP KHAÅU Mở rộng ngoại thơng Sau ngày giải phóng, thống nhất đất nớc, thực hiện cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, hoạt động ngoại thơng là do Nhà nớc độc quyền. Trong thời kỳ này quan hệ ngoại thơng chủ yếu đợc tiến hành với các nớc XHCN. Quan hệ ngoại thơng này mang tính trao đổi nội bộ trong khối SEV (Hội đồng Tơng trợ Kinh tế của các nớc XHCN), nhằm giúp đỡ lẫn nhau giữa các nớc XHCN và chủ yếu thực hiện thông qua các hiệp định ký kết giữa các chính phủ. Mặc dù trong thời kỳ này, Thành phố đã có nhiều cố gắng để sản xuất và thu mua phục vụ xuất khẩu nhng do tình trạng khó khăn của nền kinh tế lúc bấy giờ nên kim ngạch xuất khẩu còn rất nhỏ bé. Do xuất khẩu khó khăn nên nhập khẩu cũng hạn chế, một phần lớn là nhận viện trợ từ các nớc XHCN. Hàng xuất khẩu trong thời kỳ này chủ yếu là một số loại nông sản và một số hàng thủ công mỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp. Nhìn chung, giai đoạn những năm sau ngày giải phóng là thời kỳ mà hoạt động ngoại thơng của Thành phố trì trệ, thụ động do cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp tạo ra. Bớc vào đầu những năm 80, cùng với chính sách "bung sản xuất" của khu vực kinh tế trong nớc, thì trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại quan điểm về độc quyền ngoại thơng của Nhà nớc cũng có những thay đổi và đợc mở rộng. Số lợng các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu tăng lên và đặc biệt là bắt đầu mở rộng hoạt động ngoại thơng với thị trờng khu vực II (các nớc ngoài phe XHCN). Tại Thành phố, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần II (1980) đã xác định: "phát triển mạnh xuất khẩu tơng xứng với tiềm năng, vị trí và yêu cầu phát triển của thành phố là một trong những trung tâm giao dịch lớn của cả nớc... có chính sách huy động các nguồn vốn trong nớc... kể cả t bản nớc ngoài... để góp phần tham gia xuất nhập khẩu và xây dựng thành phố. Có chính sách sử dụng thỏa đáng lực lợng tại chỗ trớc đây có mối quan hệ chặt chẽ và có tín nhiệm với thị trờng t bản chủ nghĩa, có kinh nghiệm tổ chức sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu". Có thể nói, ngay từ đầu, các cấp lãnh đạo Thành phố đã nhận thấy thế mạnh giao dịch quốc tế của Thành phố, với những lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống hạ tầng, đội ngũ doanh nhân có kinh nghiệm giao dịch quốc tế... đã thể hiện quyết tâm phát triển Thành phố thành một trong những trung tâm giao dịch quốc tế 8
  9. quan trọng nhất nớc. Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị (năm 1982) đã khẳng định vai trò trung tâm về giao dịch quốc tế của Thành phố và nhấn mạnh tiềm năng to lớn về xuất nhập khẩu của Thành phố đã tạo điều kiện hơn nữa cho Thành phố chủ động, sáng tạo trong việc thúc đẩy phát triển lĩnh vực này. Từ năm 1980 đến năm 1986, hoạt động ngoại thơng của Thành phố bắt đầu khởi sắc. Từ năm 1980, thực hiện chủ trơng cho phép các địa phơng tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp, Thành phố đã tiến hành thành lập một số công ty chuyên về xuất nhập khẩu và ngoài nghĩa vụ giao nộp hàng xuất khẩu cho Trung ơng, Thành phố đã chủ động mở rộng hoạt động xuất khẩu của mình. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 24,7 triệu rúp/USD năm 1979 lên 130,8 triệu rúp/USD năm 1982. Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh góp phần tăng khả năng nhập khẩu đáp ứng nhu cầu nhập khẩu vật tự, máy móc, thiết bị mà Thành phố đang rất cần. Thành phố bắt tăng cờng hợp tác với các tỉnh để tạo nguồn hàng xuất khẩu. Trong quan hệ ngoại thơng, ngoài các nớc XNCH anh em truyền thống, Thanh phố đã bắt đầu có quan hệ ngoại thơng với các nớc khác nh ấn Độ, Châu Phi, Châu Mỹ- Latinh. Cùng với hoạt động ngoại thơng, các hoạt động về vận tải biển, kiều hối... có bớc phát triển mạnh. Nhìn chung hoạt động ngoại thơng trên địa bàn đã có bớc khởi sắc nhng hoạt động này chỉ thực sự phát triển mạnh sau Đại hội Đảng lần thứ VI với chính đổi mới kinh tế toàn diện, trong đó có lĩnh vực ngoại thơng. Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, với nhiều chính sách mới thể hiện bằng các nghị định, quyết định của Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) đã tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vị kinh tế có khả năng chủ động đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Khái niệm "Nhà nớc độc quyền ngoại thơng" đã dần dần mờ nhạt. Các thành phần kinh tế đã từng bớc có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các hoạt động ngoại thơng. Một lần nữa thành phố là nơi đi đầu trong việc thực hiện chính sách này. Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IV (1986) đã xác định xuất nhập khẩu là mũi nhọn chiến lợc của kinh tế Thành phố. Đầu tiên là thực hiện các chơng trình sản xuất lớn (sản xuất lơng thực thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, và sản xuất hàng xuất khẩu). Có thể nói sản xuất hàng xuất khẩu đã tăng rất nhanh sau năm 1986. Mặc dù vào cuối những năm 80 đầu 90, thị trờng khu vực I (các nớc XHCN) đã giảm đột ngột nhng nhờ sự chuyển hớng sang quan hệ với thị trờng các nớc khu vực II (ngoài XHCN) nên kim ngạch xuất khẩu của thành phố chẳng những không giảm mà còn tăng. Kim ngạch xuất khẩu năm 1987 tăng 50% so với năm 1986, kim ngạch năm 1989 tăng 102% so với năm 1988 và các năm sau 1990 có tốc độ tăng rất cao. Chỉ tính riêng kim ngạch xuất khẩu địa phơng thì kim ngạch xuất khẩu của Thành phố năm 1990 là 372 triệu rúp/USD, năm 1992 là 464 triệu rúp/USD (nếu tính trên địa bàn thì năm 1992 xuất khẩu của Thành phố là 1.550 triệu USD, chiếm 41,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc). Từ chỗ chỉ có quan hệ với các nớc thuộc khối XHCN, các doanh nghiệp của thành phố đã thiết lập quan hệ buôn bán với nhiều nớc và vùng lãnh thổ khác nh: Singapore, Hongkong, Pháp, Nhật, Đài Loan, Thái Lan... và đây là những nớc trở thành đối tác quan trọng về thơng mại và đầu t sau này. Đến đầu những năm 90, hơn 60-70% kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp Thành phố là xuất khẩu sang các thị trờng này. Nhập khẩu trong thời kỳ này cũng tăng mạnh để đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nớc đang tăng nhanh. 9
  10. Kể từ năm 1992, Trung ơng đã ban hành một số chính sách khuyến khích hơn nữa hoạt động ngoại thơng. Trớc hết là Nghị định 114/HĐBT ngày 7/4/1992 và sau đó là Nghị định 33/CP ngày 19/4/1994 tạo ra sự thông thoáng, mở rộng quyền trực tiếp xuất khẩu của các doanh nghiệp. Gần đây nhất Chính phủ đã ban hành Nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 về việc quy định chi tiết thi hành Luật thơng mại, theo đó cho phép tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia xuất khẩu trực tiếp (theo ngành hàng đã đăng ký trong giấy phép kinh doanh mà không cần xin phép Bộ Thơng mại mới có chức năng xuất nhập khẩu nh trớc đây). Những chính sách mới này đã thúc đẩy rất lớn hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn. Chẳng hạn nh trong năm 1999, mặc dù chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế các nớc khu vực, nhng một phần do tác động của chính sách mới nên kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Thành phố tăng 23,7% so với năm 1998. Hoạt động xuất nhập khẩu của Thành phố đến cuối năm 1999, có thể đợc tổng kết nh sau: Tốc độ tăng trởng xuất khẩu thời kỳ 1993 - 1999 trên địa bàn là 18,4%/năm. Đây là tốc độ tăng trởng khá cao nếu so với cả nớc và so với các nớc phát triển hớng vào xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 1.655 triệu USD năm 1993 lên 4.599 triệu USD vào năm 1999. Tuy nhiên cũng cần nhìn nhận là một lợng lớn hàng xuất khẩu trên địa bàn thực chất là do các địa phơng khác sản xuất. Thành phố Hồ Chí Minh với lợi thế về cảng quốc tế nên là nơi trung chuyển hàng hóa cho các địa phơng khác. Rất nhiều các mặt hàng nông sản và khoáng sản xuất khẩu Thành phố đóng góp rất ít vào giá trị gia tăng của các mặt hàng này. Tốc độ tăng trởng nhập khẩu thời kỳ 1993 - 1999 trên địa bàn là 20,7%/năm. Mặc dù có tốc độ tăng cao ở những năm trớc đây, nhng thời gian gần đây nhập khẩu trên địa bàn có xu hớng tăng thấp hơn xuất khẩu. Nếu xét trên địa bàn thì kim ngạch xuất khẩu hiện nay đã vợt kim ngạch nhập khẩu (năm 1999, xuất: 4.599 triệu USD, nhập: 3.368 triệu USD). Về cơ cấu kim ngạch xuất nhập khẩu, cũng đã có sự chuyển dịch đáng kể trong thời gian hơn 10 năm qua. Nếu trớc đây xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng nông sản thô và nông sản chế biến, và một số hàng thủ công, mỹ nghệ thì nay xuất khẩu của Thành phố chủ yếu là hàng công nghiệp. Theo số liệu thống kê thì đến năm 1999, xuất khẩu hàng công nghiệp, không kể dầu khí, chiếm khoảng 60% tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn. Còn lại là các hàng nông sản, hải sản, và lâm sản. Việc thay đổi cơ cấu này là tích cực, nó phản ánh đúng lợi thế so sánh của Thành phố. Nếu nh thời kỳ đầu đổi mới, thành phố chủ yếu là đầu mối xuất khẩu cho các tỉnh về các mặt hàng nông sản, hải sản, là lâm sản thì nay các tỉnh có khả năng tự chế biến và xuất khẩu và nh vậy thành phố cần phải đi vào phát triển các ngành công nghiệp khác dựa trên u thế về kỷ thuật, lao động có kỹ năng, hạ tầng kỹ thuật tốt, ... Tuy nhiên hiện nay xuất khẩu hàng công nghiệp của Thành phố chủ yếu tập trung vào các ngành thâm dụng lao động nh may mặc (585 triệu USD năm 1999), giày dép (219 triệu USD năm 1999)... Xuất khẩu xác sản phẩm có hàm lợng công ngệ cao bớc đầu đã xuất hiện nhng chủ yếu là ở các khu chế xuất vàmột số công ty có vốn đầu t nớc ngoài. Nhng sản xuất của các đơn vị có vốn đầu t nớc ngoài này phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu cung cấp từ công ty mẹ ở nớc ngoài, phần giá trị gia tăng trong nớc chủ yếu là công lao động. Hiện 10
  11. nay thành phố đang cố gắng khuyến khích sự liên kết nhiều hơn nữa giữa các đơn vị trong và ngoài khu chế xuất, khu công nghiệp để thúc đẩy sự khuyếch tán về công nghệ, quản lý... vào nền kinh tế nội địa. Về nhập khẩu, thì hiện nay phần lớn nhập khẩu là máy móc, thiết bị và nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất. Nhập khẩu để tiêu dùng trực tiếp hiện chiếm tỉ lệ rất thấp (5,6% năm 1999). Do vậy, với xu hớng giảm nhập khẩu gần đây do một số chính sách thắt chặt nhập khẩu (nh tín dụng, ngoại hố...) cha phải là tích cực. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận là một lợng lớn nhập khẩu dới dạng nguyên nhiên vật liệu thực chất là nhập khẩu tiêu dùng (bởi vì chỉ cần thêm một vài thao tác lắp ráp trong nớc là có thể tiêu dùng). Nhìn chung thì địa bàn TP Hồ Chí Minh là một địa bàn nhạy cảm về các loại hàng hóa, ngoại hối... nhng trong thời gian qua do xuất khẩu tăng trởng nhanh nên đã góp phần ổn định đợc thị trờng, đáp ứng cơ bản nhu cầu ngoại tệ để phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nớc, đã không còn xảy ra những thiếu hụt nghiêm trọng, gây đột biến về giá cả nh trớc đây. Về cơ cấu thị trờng xuất nhập khẩu, nếu trớc đây quan hệ ngoại thơng chủ yếu là với các nớc thuộc khối SEV thì sang những năm 90 này quan hệ ngoại thơng phần lớn là với các nớc công nghiệp phát triển và với các nớc ở khu vực Đông Bắc á và Đông Nam á. Việc mở rộng nhanh chóng thị trờng Liên Xô cũ và Đông Âu trớc đây. Trong những năm qua, hai thị trờng Đông Bắc á và Đông Nam á luôn chiếm khoảng 60-70% kim ngạch xuất khẩu cũng nh nhập khẩu của Thành phố. Nhật là thị trờng quan trọng nhất của TP Hồ Chí Minh hiện nay, trung bình chiếm khoản 30% kim ngạch xuất khẩu của thành phố. Hiện tại, xuất khẩu của thành phố vẫn cha vào nhiều ở thị trờng Bắc Mỹ, một phần là do giữa Việt Nam và Mỹ cha ký hiệp định thơng mại nên hàng hóa Việt Nam còn phải chịu những bất lợi thế so với hàng hóa các nớc khác. Thị trờng Mỹ là thị trờng còn nhiều tiềm năng mà xuất khẩu của thành phố có thể khai thác một khi mà hiệp định thơng mại Việt - Mỹ đợc ký kết. Qua hiện trạng xuất khẩu trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thời gian qua, mặc dù đã đợc một số thành tựu nhất định nhng cũng đã bộc lộ vấn đề cần phải giải quyết để thúc đẩy tăng trởng xuất khẩu bền vững nói riêng, và thúc đẩy tăng trởng kinh tế và tiến trình công nghiệp hóa thành phố trong thời gian tới nói chung: Thứ nhất, cần đa dạng hóa hơn nữa các mặt hàng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn hiện thời chủ yếu tập trung một số mặt hàng nh: gạo, cà phê, cao su, dầu thô, hàng may mặc, giày dép... Sự phụ thuộc vào một số ít mặt hàng làm cho thu nhập xuất khẩu không ổn định, nhất là đối với hàng nông sản và khoáng sản do giá cả thờng biến động lớn. Thứ hai, cần đa dạng hóa thị trờng xuất khẩu. Xuất khẩu tập trung vào một số nớc Đông á nh hiện nay sẽ dễ gặp bất lợi khi các nớc này xảy ra các biến động kinh tế hay chính sách mậu dịch của họ thay đổi. Một tác động rõ nét là cuộc khủng hoảng kinh ế khu vực làm cho thị trờng xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh thu hẹp lại, nhu cầu nhập khẩu các nớc trong khu vực giảm mạnh trong năm 1998. Thứ ba, cần có sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang lĩnh vực công nghiệp chế biến. Ngoài các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, xuất khẩu trên địa bàn TP Hồ Chí Minh 11
  12. hiện nay chủ yếu vẫn là nông sản, khoáng sản, và một số mặt hàng công nghiệp thâm dụng lao động. Với vị trí trung tâm về nhiều mặt, nhất là thế mạnh về khoa học - kỹ thuật, đội ngũ lao động chất xám... Thành phố cần đi tiên phong vào các ngành kỹ thuật cao, các ngành công nghiệp hiện đại, mà mục tiêu phát triển là làm sao có thể cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Điều này có ý nghĩa quyết định trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của TP, trong điều kiện khu vực hóa và toàn cầu hóa nhanh chóng nh hiện nay. Yừu tố chính quyết định sự thành công của chiến lợc công nghiệp hóa hớng vào xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến. Thứ t, cần có sự liên kết giữa các khu vực kinh tế để đẩy mạnh xuất khẩu. Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu t nớc ngoài trên địa bàn đang gia tăng nhanh chóng. Đây là một thuận lợi lớn cho kinh tế thành phố. Tuy nhiên, hiện nay sự liên kết (backward linkages) giữa khu vực kinh tế này với khu vực kinh tế trong nớc còn thấp. Các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài sản xuất hàng xuất khẩu chủ yếu khai thác lao động rẽ, còn hầu hết các loại nguyên vật liệu... là nhập khẩu. Nếu các đơn vị kinh tế trong nớc gắn kết đợc với các đơn vị đầu t nớc ngoài để cung cấp nguyên vật liệu, dịch vụ cho họ thì đây sẽ là một hình thức xuất khẩu tại chỗ. Theo "mô hình đàn sếu bay" về kinh tế Đông á thì thực chất của đầu t nớc ngoài trong khu vực Đông á hiện nay là quá trình tái phân công lao động từ phạm vi quốc gia ra phạm vi khu vực, bằng cách dịch chuyển các ngành công nghiệp không còn lợi thế cạnh tranh ở các nớc có trình độ cao hơn sang nớc có trình độ thấp hơn để khai thác chi phí (lao động, tài nguyên...) còn rẻ hơn. Do đó, đầu t nớc ngoài tại TP Hồ Chí Minh là một chuỗi trong mắt xích phân công lao động khu vực hiện nay, và xu hớng này sẽ tăng lên mạnh khi mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đợc hình thành một cách hoàn chỉnh. Sự liên kết giữa khu vực kinh tế trong nớc với khu vực có vốn đầu t nớc ngoài để chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động khu vực và quốc tế là một xu hớng cần đợc khuyến khích và đẩy mạnh. Về nhập khẩu có một số điểm sau: Thứ nhất, cơ cấu nhập khẩu hiện tại là tích cực, chủ yếu nhập cho sản xuất, nhập cho tiêu dùng rất ít. Tuy nhiên, nhập khẩu cho sản xuất chủ yếu là nhập nguyên nhiên vật liệu, nhập máy móc, thiết bị còn ít. Trong tình trạng ngoại tệ cha dồi dào, việc khuyến khích nhập máy móc, thiết bị nhằm khuyến khích đầu t cần đợc chú trọng. Qua khảo sát tình hình nhập khẩu thiết bị để hiện đại hóa ở các ngành công nghiệp chủ lực của TP nh cơ khí, điện tử - tin học, chế biến thực phẩm... cho thấy mức đầu t này còn rất thấp. Thứ hai, với việc gia nhập AFTA, APEC, và WTO trong tơng lai, các hàng rào thuế quan và phi thuế của Việt Nam sẽ đợc bãi bỏ. Do đó, áp lực cạnh tranh của hàng nhập khẩu đối với các doanh nghiệp trong nớc sẽ tăng lên rất lớn. Trớc mắt, thực hiện các cam kết AFTA, Việt Nam phải giảm thuế suất các mặt hàng nhập khẩu xuống còn 0,5% từ nay đến năm 2006. Các doanh nghiệp ngay từ bây giờ phải đề ra một kế hoạch phối phó thích hợp, mà tiêu chí quan trọng nhất là có thể cạnh tranh đợc khi các hàng rào thuế quan bị bãi bỏ. Về phía nhà nớc, cần có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách đối với những ngành mà khả năng cạnh tranh còn kém, nhng có khả năng vơn lên phát 12
  13. triển. Việc giúp đỡ này là có giới hạn và có điều kiện (chủ yếu dựa trên các tiêu chí hiệu quả). Thứ ba, việc thực hiện các cam kết tự do hóa mậu dịch nh trên sẽ gây khó khăn rất lớn cho việc hình thành các ngành công nghiệp mới trong tơng lai của thành phố. Kinh nghiệm các nớc cho thấy là để hình thành các ngành công nghiệp mới (các ngành công nghiệp non trẻ) lúc đầy cần có sự bảo hộ và sự giúp đỡ của Nhà nớc. Nếu không có sự bảo và giúp đỡ của Nhà nớc lúc ban đầu thì không thể cạnh tranh đợc với các đối thủ nớc ngoài đã lớn mạnh. Đây là vấn đề của các ngành công nghiệp mũi nhọn của thành phố hiện nay. Tuy vậy, sự bảo hộ và giúp đỡ của Nhà nớc sẽ giảm dần theo thời gian khi mà các doanh nghiệp trong nớc đã lớn mạnh, đồng thời tạo áp lực để tăng tính hiệu quả của các doanh nghiệp này. Tóm lại, có thể nói sau hơn một thập niên đổi mới và phát triển kinh tế, TP Hồ Chí Minh là địa phơng đi đầu trong cả nớc để thực hiện chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nớc. Nếu chúng ta nhớ lại thời kỳ cuối những năm 80 và đầu 90 là những năm mà kinh tế nớc ta còn gặp nhiều khó khăn, viện trợ và quan hệ thơng mại với các nớc XHCN trớc đây giảm đột ngột, Mỹ và nhiều nớc khác vẫn còn thực hiện chính sách bao vây, cấm vận đối với Việt Nam. Những bớc khác mặc dù có thiện chí đối với Việt Nam nhng vẫn còn dè dặt trong quan hệ làm ăn với Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực đầu t trực tiếp. Trong tình hình đó, việc thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại nhằm phá vỡ bị bao vây, cấm vận cô lập là một điều cực kỳ quan trọng nhằm để ổn định và phát triển đất nớc. Sau gần 15 năm thực hiện, có thể nói TP Hồ Chí Minh đã cùng với cả nớc hoàn thành tốt nhiệm vụ này. Hơn thế nữa, vợt qua những mục tiêu ban đầu, giờ đây đầu t nớc ngoài và ngoại thơng đã trở thành những động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế, và trong thời gian qua đã góp phần không nhỏ vào thành tựu của thành phố trong thời kỳ đổi mới. Bớc vào thế kỷ 21, mặc dù còn nhiều vấn đề phải tiếp tục giải quyết, nhng TP Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục giữ vững và phát huy thế mạnh về hoạt động kinh tế đối ngoại, phấn đấu để đa thành phố trở thành một trong những trung tâm của hoạt động kinh tế khu vực Đông Nam á ở thế kỷ 21, đáp ứng đợc mong đợi của nhân dân thành phố và kỳ vọng của cả nớc. http://www.cinet.vnnews.com/hcmc/25nam/phan4/xnk.htm 13
  14. Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng phát triển, trong đó sản xuất công nghiệp là một thế mạnh và đang giữ vai trò quan trọng cơ cấu kinh tế thành phố. Theo đánh giá chung, kinh tế công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh trong 25 năm qua có tốc độ tăng trởng cao, đặc biệt 10 năm gần đây tăng từ 12,2%- 14%, đóng góp gần 50% giá trị công nghiệp của cả n ớc, sản xuất ra nhiều mặt hàng có giá trị lớn, phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. 1. Tiếp thu nguyên vẹn năng lực sản xuất ban đầu Những cơ sở công nghiệp lớn đầu tiên ở Sài Gòn đã đợc ngời Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhằm phục vụ việc cai trị, khai thác tài nguyên và bóc lột nhân dân ta. Đó là nhà máy điện Chợ Quán, Nhà máy nớc, Xởng Ba Son (1864), nhà máy rợu Bình Tây (1901), nhà máy bia nớc ngọt BGI (1929), các nhà máy thuốc lá MIC (1929) và BASTOS (1936), Xởng cơ khí CARIC sửa chữa tàu (1938)... Thời kỳ 1945- 1954 hầu nh ngời Pháp không xây dựng gì thêm đáng kể vì cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã đẩy Pháp vào thế lúng túng và nguy cơ thất bại ngày càng lộ rõ. Trong vòng 20 năm (1955-1975) năng lực sản xuất công nghiệp ở Sài Gòn tăng lên 4 lần so với thời kỳ 1945-1954. Thành phố có nhiều xí nghiệp quy mô t ơng đối lớn (trên 2000-3000 công nhân) và trang thiết bị khá hiện đại nh Vimytex, Vinatexco, Sicovina, xí nghiệp dợc phẩm Roussel, Vina-Spécia, xí nghiệp bóng đèn Coteco, Pin-accu Videco.. .. Năng lực sản xuất một số ngành tơng đối khá nh dệt (240 triệu mét vải/năm), giấy (50.000 tấn/năm), sơn và nhựa tổng hợp (20.000 tấn/năm), nớc ngọt, bia (250 triệu lít/năm), sữa (170 triệu hộp/năm), xà bông và bột giặt (88.000 tấn/năm), thuốc lá (500 triệu bao/năm), đờng kết tinh (160.000 tấn/năm). Tuy nhiên, nền công nghiệp ấy phát triển chủ yếu dựa vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập, mất cân đối nghiêm trọng giữa sản xuất t liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng (90% sản lợng là vật phẩm tiêu dùng), mất cân đối giữa năng lực sản xuất và nguồn nguyên, nhiên liệu. Trong từng ngành công nghiệp, thờng chỉ xây dựng những công đoạn cuối, cho phép đa vào sản xuất nhanh và sớm thu hồi vốn. Do vậy khi tiếp thu toàn bộ cơ sở công nghiệp đó, Thành phố đứng tr ớc sự thử thách rất lớn về sự lệ thuộc nguồn vật t nguyên liệu ngoại nhập để xây dựng nền sản xuất. 2. Phát triển sản xuất, ổn định đời sống - nhiệm vụ trọng tâm Khi tiếp quản Thành phố, chính quyền cách mạng tiếp quản nguyên vẹn cơ sở vật chất quý giá nêu trên với những đặc điểm vốn có của nó. Thành phố cùng cả nớc bắt tay ngay vào việc ổn định đời sống, ổn định kinh tế xã hội và xây dựng đất nớc dới sự lãnh đạo của Đảng theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị ban chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ24 (khóa III) tháng 9/1975 "Nhiệm vụ hàng đầu của n ớc ta là ra sức khôi phục và phát triển sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, tích cực đa nền kinh tế nớc ta tiến nhanh lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa". Chấp hành các nghị quyết của Đảng và Chính phủ, Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ Thành phố tháng 4 năm 1977 đã đề ra nhiệm vụ hàng đầu là: "Tập trung lực l ợng, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm tạo điều kiện và mở đ ờng cho sản xuất phát triển theo hớng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ổn định và cải thiện đời sống nhân 14
  15. dân". Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất Đảng bộ Thành phố nhấn mạnh: "Cải tạo phải đảm bảo sản xuất phát triển không ngừng và cải thiện đời sống nhân dân, phải gắn liền với xây dựng mà xây dựng là chủ yếu, gắn liền với tổ chức lại sản xuất, phân bố lại lực lợng lao động xã hội nhằm tăng cờng mạnh mẽ các thành phần kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, tạo điều kiện cho kinh tế quốc doanh thực sự đóng vai trò chủ đạo, hớng dẫn các thành phần kinh tế khác". Chính nhờ sự chỉ đạo trực tiếp và sáng suốt nh vậy mà Thành phố đã giảm tối đa những thiệt hại do nóng vội, duy ý chí, cải tạo tràn lan tạo ra. Qua hai đợt cải tạo công thơng nghiệp, Thành phố đã quốc hữu hóa tài sản của 171 nhà t sản mại bản và 59 tên gian thơng lớn, hình thành 400 xí nghiệp quốc doanh, khôi phục 14.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, tạo việc làm cho 270.000 công nhân và thợ thủ công. Sau cải tạo, 70% tài sản của giai cấp bóc lột đã thuộc sở hữu toàn dân. Sau những lúng túng ban đầu nhiều ngành công nghiệp đã trở lại hoạt động bình thờng với nguồn nguyên liệu dự trữ khá lớn. Mặt khác Thành phố lại đ ợc Trung ơng chi viện rất nhiều về vật t nguyên liệu thiết yếu nên sản lợng công nghiệp thành phố trong những năm 1976-1978 tăng khá nhanh, nhất là công nghiệp quốc doanh. Giá trị sản lợng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 1977 tăng 31,2% so với năm 1976. Số ngời thất nghiệp giảm đi một nửa so với trớc ngày giải phóng. Thành quả này góp phần quan trọng vào việc ổn định đời sống của nhân dân những năm đầu sau giải phóng. 3. Những năm tháng đối đầu với khó khăn Khi tiến hành cải tạo, chúng ta mới quan tâm đến việc chuyển đổi hình thức sở hữu mà cha chú ý tới yếu tố quản lý. Do phân công, phân cấp cha rõ ràng giữa các Bộ, Ngành, giữa Trung ơng và địa phơng nên nhiều lúc, nhiều nơi khi thực hiện cải tạo đã phá vỡ tính hợp lý của quy trình sản xuất, thậm chí xé lẻ xí nghiệp vốn đợc xây dựng đồng bộ theo một quy trình công nghệ nhất định. Chính sách công t hợp doanh không khuyến khích đợc mặt tích cực của nhà t sản về vốn liếng, khả năng quản lý và hiểu biết về kỹ thuật mà thực chất các doanh nghiệp này hoạt động theo cơ chế quốc doanh, chịu tác động mạnh mẽ của nền kinh tế kế hoạch hóa bao cấp. Những khuyết điểm chủ quan, cộng vớitính chất phụ thuộc nguồn vật t nguyên liệu, thiết bị, phụ tùng máy móc nớc ngoài, khiến ngành công nghiệp thành phố đã nhanh chóng bộc lộ sự suy yếu và đứng trớc thử thách nghiêm trọng. Chúng ta không có đủ ngoại tệ để nhập nguyên liệu, vật t và phụ tùng phục vụ sản xuất. Đặc biệt với chính sách cấm vận, bao vây kinh tế của Mỹ đã làm trầm trọng thêm những khó khăn vốn có của nền công nghiệp phụ thuộc và nớc ngoài. Nếu năm 1975 sản lợng điện của Thành phố là 1 tỷ Kwh, thì những năm 1981-1982 chỉ còn 0,5 tỷ Kwh do thiếu nguồn dầu chạy máy và hệ thống máy móc, thiết bị điện sau nhiều năm hoạt động đã bắt đầu xuống cấp và h hỏng lớn. Trong khi đó nhu cầu điện của Thành phố ở mức khiêm tốn cũng phải 1,3- 1,4 Kwh, trong đó nhu cầu cho công nghiệp là 0,9 tỷ Kwh và sinh hoạt 0,4-0,5 tỷ Kwh. Muốn nâng sảnlợng điện của Thành phố lên 1 tỷ Kwh cần khoảng 15-20 triệu USD và hàng năm phải nhập 30 vạn tấn dầu. Do vậy cắt điện luân phiên đã trở thành việc bình thờng hàng ngày. Số ngời thiếu việc làm tăng lên rất nhanh. Nhiều công nhân có 15
  16. tay nghề cao, cán bộ quản lý có nhiều kinh nghiệm và cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi bỏ xí nghiệp ra ngoài làm riêng, chạy chợ hoặc đi nớc ngoài. Thiếu điện, thiếu vật t nguyên liệu cộng với cơ chế quản lý giò bó đã làm cho công nghiệp Thành phố giảm sút nghiêm trọng. Bên cạnh đó chiến tranh biên giới Tây Nam ngày càng ác liệt, biên giới phía Bắc bị đe dọa nên những năm 1979-1980 là thời kỳ cực kỳ khó khăn cho công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1978 những ngành là thế mạnh của Thành phố lucỏ đó nh chế biến lơng thực – thực phẩm, dệt – da – may – nhuộm đã bắt đầu giảm sút và xu thế đó tiếp tục kéo dài qua các năm 1979, 1980. 4. Những tháo gỡ cấp bách Trớc tình hình khó khăn đó, dới sự chỉ đạo của Trung ơng Đảng, Thành ủy đã có Nghị quyết 9 (8/1979) nhằm tháo gỡ khó khăn khắc phục tình trạng sản xuất bị sa sút bằng các chủ động đề ra kế hoạch sản xuất bổ sung cho công nghiệp quốc doanh trên tinh thần tự lực, tự cờng không ỷ lại vào hoặc trông chờ cấp trên, doanh nghiệp phải tự tạo nguồn vật t, nguyên liệu bằng cách liên kết với các tỉnh trong khu vực. Từ năm 1979 ở Thành phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện nhiều mô hình tháo gỡ trong sản xuất công nghiệp nh Công ty Bột giặt Miền Nam (VISO), Xí nghiệp Thuốc lá, Nhà máy Bia Sài Gòn, các Xí nghiệp Dệt Thành Công, Phớc Long, Phong Phú, Thắng Lợi, Dệt 3, các xí nghiệp cơ khí Caric, Sinco... Các xí nghiệp này liên kết với các tỉnh để khai thác nguyên liệu, trao đổi thành phẩm, thực hiện kế hoạch sản xuất phụ ngoài chỉ tiêu pháp lệnh, tăng thu nhập cho ngời lao động bằng lơng khoán. Xí nghiệp Thành Công chỉ vay Thành phố một ít ngoại tệ để mua nguyên liệu và với ph ơng thức liên kết làm ăn nh trên chỉ sau một năm không những đã trả hết nợ, mà còn tạo thêm vốn mới. Hiểu đợc tình hình sa sút của công nghiệp Thành phố, Bộ Chính trị (khóa 4) đã có Nghị quyết 6 và Hội Đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ) đã có Quyết định 25-26/CP về kế hoạch ba phần (A – kế hoạch pháp lệnh, B – Kế hoạch sản xuất phụ, C – Kế hoạch ngoài sản phẩm chính) và trả lơng khoán, lơng sản phẩm trong xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, Quyết định 182/CP về phát huy quyền làm chủ tập thể của công nhân viên chức đã tháo gỡ nhiều khó khăn cho Thành phố. Thành phố đã mạnh dạng thử nghiệm và đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp với vốn tự có để chủ động nhập vật t nguyên liệu tự cân đối bổ sung cho nhu cầu sản xuất của địa phơng và hổ trợ cho một xí nghiệp Trung ơng trên địa bàn Thành phố. Việc liên doanh, liên kết giữa công-nông nghiệp và ngoại thơng cũng nh giữa Thành phố và các tỉnh trong vùng đã từng bớc tạo ra "chân" hàng xuất khẩu lớn từ thế mạnh nông-lâm-ng nghiệp của Thành phố và khu vực. Nhờ kết hợp hài hòa "3 lợi ích" mà khó khăn đợc khắc phục, ngăn chặn đợc đà sa sút cuớa 2 năm 1979-1980 và sản xuất tiếp tục phát triển. Cũng chính trong thời kỳ này nhiều xí nghiệp đợc khôi phục, tài sản cố định đợc sử dụng hợp lý hơn. Sự năng động và sáng tạo của Thành phố trong nhận thức về xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ không ít ngời hiểu nh sự làm trái với nguyên lý quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa... Tuy nhiên, lãnhđạo Thành phố vẫn kiên trì "bằng thực tiễn sinh 16
  17. động của mình, Thành phố phải cố gắng báo cáo đầy đủ, tỉ mỉ với các đồng chí lãnh đạo cao nhất ở Trung ơng về hớng đổi mới xuất hiện từ thực tiễn, vì chỉ có sự chuyển động từ cấp cao nhất thì mới chuyển động đợc toàn cục; nếu chỉ một số địa phơng làm thì hiệu quả cũng chỉ có ý nghĩa cục bộ, không thống nhất, và cũng không xoay chuyển đợc tình thế" (Võ Trần Chí, Bớc ngoặt của một chặng đờng, trong quyển Thành phố hai mơi năm 1975-1995, NXB Thành phố Hồ Chí Minh). Rõ ràng thực tiễn sinh động của Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần tạo nên những nội dung mới của Nghị Quyết Ban chấp hành trung ơng lần thứ 6, lần thứ 7 (khóa V). Đó cũng là giai đoạn mở đầu cho những t duy mới của quan điểm đổi mới. Nghị quyết 01/NQ-TW ngày 14.9.1982 của Bộ Chính trị về công tác của Thành phố đã xác định vị trí, vai trò của Thành phố cùng với phơng hớng phát triển và nhiệm vụ của nó. Một trong những nhiệm vụ của Thành phố là phát triển công nghiệp phục vụ cho sản xuất nông lâm ng nghiệp nhằm tạo ra mối liên kết gắn bó giữa nông thôn và thành thị, giữa công nghiệp và nông nghiệp trên phạm vi toàn khu vực. Có nh vậy mới phát huy thế mạnh của Thành phố về Công nghiệp và khoa học kỹ thuật góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm khai thác hết tiềm năng về nông lâm ng nghiệp của cả vùng. Đây là hớng phát triển quan trọng của Thành phố bởi vì trong lúc năng lực sản xuất công nghiệp của Thành phố mới sử dụng đợc khoảng 50%, thì ở nhiều tỉnh trong vùng lại phát triển các cơ sở tiểu thủ công nghiệp với trình độ kỹ thuật kém hơn, năng suất thấp, chất lợng hàng hóa kém. Hình thành cơ cấu công – nông nghiệp trong toàn vùng giữa Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh Miền Đông Nam Bộ là yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hóa từ nền sản xuất nông nghiệp. Đây chính là cơ sở thực tiễn để chuyển thành các chơng trình kinh tế Miền Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Từ năm 1981 đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến về sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong công nghiệp. Nhiều thiết bị, nguyên liệu, phụ tùng tr ớc đây phải dùng ngoại tệ và nhập từ các nớc phơng Tây thì nay đã thay bằng hàng sản xuất trong n ớc hoặc dùng hàng của các nớc xã hội chủ nghĩa. Một trong những hớng phát triển công nghiệp của Thành phố trong thời gian này là công nghiệp phục vụ nông nghiệp. Ngày 30.1.1983 Ban Thờng vụ Thành ủy đã ra Nghị Quyết 18/NQ-TU về "Công nghiệp và khoa học kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh phục vụ ngoài thành và ven nội". Trên tinh thần này, ngành cơ khí Thành phố đã sản xuất đợc nhiều máy cho các khâu làm đất (máy cày, máy xới... ) làm thủy lợi (máy bơm nớc), thu hoạch (máy tuốt lúa, máy lảy bắp, máy xay... ), chế biến nông sản (thiết bị chế biến đ ờng, máy nghiền, máy trộn, xay xát, thái khoai...) và nhiều loại nông cụ khác. Nhiều ngành công nghiệp khác của Thành phố cũng có những chuyển biến quan trọng. Chất lơng sản phẩm đợc nâng cao. Đó là những tiến bộ rất khởi sắc của thời kỳ này. Cơ cấu công nghiệp b ớc đầu đã chuyển dịch theo hớng sản xuất t liệu sản xuất. Nếu năm 1976 giá trị sản lợng công nghiệp của Thành phố chỉ chiếm 16,8% của cả nớc thì đến năm 1983 con số đó là 38%. Đầu năm 1984 tại Hội chợ triển lãm toàn quốc lần thứ nhất ở Hà Nội, có 60 cơ sở sản xuất của Thành phố Hồ Chí Minh đợc khen thởng huy chơng các loại, cao nhất trong 50 đơn vị tham dự. 17
  18. Tuy nhiên từ tháng 5.1985 do có những thiếu sót trong quản lý kinh tế nhất là việc thực hiện chính sách giá – lơng – tiền và lạm phát "phi mã" trong những năm tiếp theo đã làm cho công nghiệp Thành phố gặp muôn vàn khó khăn. Thiếu điện, vật t , tiền vốn, sản phẩm lại tiêu thụ chậm nên sản xuất công nghiệp Thành phố có nguy cơ sa sút. Lãnh đạo Thành phố một mặt tìm mọi cách giải quyết khó khăn ổn định sản xuất, mặt khác phát hiện các nhân tố mới trong sản xuất kinh doanh để nhân rộng. Nhiều phong trào thi đua xuất hiện nh "Năng suất – Chất lợng – Hiệu quả", "thi đua phục vụ nông nghiệp", "Thi thợ giỏi"... đã góp phần giảm nhẹ khó khăn cho sản xuất công nghiệp. Từ thực tiễn Thành phố có thể thấy rằng nếu không phá vỡ cơ chế hành chính, quan liêu bao cấp chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh thì công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp quốc doanh khó lòng phát triển. Muốn tháo gỡ đ ợc cơ chế cũ thì các ngành tổng hợp nh tài chính, ngân hàng, ngoại thơng phải có bớc đột phá nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở chủ động tự cân đối. Trong nhiều lần làm việc với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nớc, lãnh đạo Thành phố đã đề xuất nhiều biện pháp tháo gỡ từ thực tiễn của Thành phố. 5. Đổi mới toàn diện Tháng 12.1986 Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp đã "khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học". Từ sau Đại hội VI của Đảng quan điểm đổi mới trong quản lý kinh tế đã trở thành chủ trơng lớn của Nhà nớc. Đảng ta khẳng định rằng nền kinh tế nhiều thành phần có ý nghiợa chiến lợc lâu dài ở Việt Nam. Từ đây nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung từng b ớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Quyết định 217/HĐBT (14.11.1987) ra đời đã giao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh cho kinh tế quốc doanh, Nghị Quyết 16 của Bột Chính trị (khóa VI), các Nghị định 27, 28, 29 và Quyết định 146 của Hội đồng Bộ Trởng (1988) khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã thay đổi luống gió mới vào sản xuất công nghiệp Thành phố, đã tháo gỡ một phần những trói buộc của cơ chế quản lý cũ. Quyết Định 217/HĐBT và các văn bản thể chế hóa sau đó đã b ớc đầu khơi dậy nguồn tiềm năng nhiều mặt của các cơ sở công nghiệp. Kinh tế quốc doanh đã đợc trao quyền chủ động. Tình trạng sản xuất theo lệnh và mua bán theo giá cả cứng nhắc làm cho sản xuất tách khỏi thị trờng đã thay bằng kế hoạch kết hợp với thị trờng. Quyền tự chủ lập kế hoạch đợc giao cho các xí nghiệp, giảm chỉ tiêu pháp lệnh, mở rộng kế hoạch gián tiếp. Các xí nghiệp quốc doanh chỉ còn 1 đến 3 chỉ tiêu và từ năm 1989 chỉ còn 1 chỉ tiêu là các khoản nộp ngân sách. Từ đây công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh bớc sang giai đoạn phát triển mới. Phát triển kinh tế thành phần là điểm nổi bật của công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Trong khi chờ đợi Quốc hội ban hành Luật Công ty, căn cứ vào những văn bản pháp quy của Chính phủ, Uóy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Quyết định 639/QĐ-UB (20.10.1989) về Công ty t nhân sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng vận tải, nông lâm ng nghiệp và kinh doanh thơng mại dịch vụ. Kèm theo Quyết định này là Quy định hớng dẫn cụ thể việc thành lập doanh nghiệp t nhân. 18
  19. Nhờ vậy mà khí thế làm ăn ở Thành phố Hồ Chí Minh trở nên sôi động. Đến 21.12.1990 khi Quốc hội thông qua Luật doanh nghiệp t nhân và Luật Công ty thì kinh tế nhiều thành phần ở Thành phố đã có điều kiện pháp lý vững chắc để phát triển. Số lợng Công ty và doanh nghiệp t nhân trong sản xuất công nghiệp không ngừng tăng: nếu năm 1991 có 105 đơn vị, thì năm 1992: 235 đơn vị, năm 1995: 699 đơn vị, năm 1998 là 693 đơn vị và năm 1999 là 785 đơn vị. Năm 1999 giá trị sản xuất công nghiệp của khối ngoài quốc doanh chiếm 23,5% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố. Đầu t nớc ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng là một bớc đột phá có ý nghĩa đối với kinh tế Thành phố. Từ khi có Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam (cuối năm 1987), Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa bàn đợc phía nớc ngoài chú ý nhiều nhất. Tình đến cuối năm 1999 có 517 dự án với tổng vốn đầu t 3.974 triệu USD vào các ngành công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công nghiệp Thành phố. Đầu t nớc ngoài đã tạo ra việc làm thờng xuyên cho hàng trăm ngàn lao động đồng thời du nhập một số công nghệ và thiết bị mới, góp phần nâng cao kỹ năng quản lý, chất lợng lao động và kỷ luật lao động. Đầu t nớc ngoài vào Thành phố đã góp phần tăng yếu tố cạnh tranh, kích thích nền kinh tế phát triển theo hớng xuất khẩu, nâng cao chất lợng và hiệu quả sản phẩm. Đến cuối năm 1999 giá trị sản xuất công nghiệp của đầu t nớc ngoài chiếm gần 27% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Thành phố. Dù vậy, cũng cần thấy rằng đầu t nớc ngoài vào các ngành sản xuất công nghiệp cha đáp ứng đợc mong muốn của Thành phố. Dự án đầu t vào công nghiệp thờng có quy mô nhỏ, công nghệ trong giai đoạn lắp ráp. Nhiều dự án bị rút giấy phép do triển khai chậm hoặc không có khả năng tiếp tục đầu t. Từ năm 1996 tình hình đầu t nớc ngoài vào Thành phố có xu hớng chậm lại do cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Về phía chủ quan phải thấy rằng nhiều thủ tục hành chính quan liêu, phiền hà trong cấp phép, một số chính sách và u đãi không còn hấp dẫn các nhà đầu t. Vừa thu hút mạnh đầu t nớc ngoài vừa phát huy nội lực là phơng hớng chủ đạo trong phát triển công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Thực hiện chủ tr ơng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng, thành ủy đã có Nghị quyết 05-NQ/TU (16.10.1996) về hiện đại hóa và phát triển công nghiệp trên địa bàn Thành phố. Để xứng đáng với tầm vóc của Thành phố – trung tâm công nghiệp Nghị quyết đã xác định 4 ngành mũi nhọn là cơ khí (chế tạo máy động lực, chế tạo phụ tùng thay thế, cơ khí phục vụ nông nghiệp, cơ kim khí tiêu dùng), công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ mới. Nghị quyết 05-NQ/TU xác định các ngành mũi nhọn và các sản phẩm chủ lực là đúng đắn, vừa phù hợp với xu hớng của thời đại, vừa hợp lý với vai trò của Thành phố Hồ Chí Minh. Để biến Nghị quyết này thành hiện thực cần có thời gian và quá trình phấn đấu gian khổ, cần những chính sách khuyến khích hấp dẫn và l ợng vốn đầu t rất lớn. Hy vọng khi Khu công nghiệp kỹ thuật cao ra đời thì định h ớng phát triển công nghiệp nêu trên sẽ có tác dụng vào cuộc sống nhiều hơn. Mối quan tâm lớn của lãnh đạo Thành phố là hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nớc. Một trong những giải pháp quan trọng là một mặt tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp mặt khác đẩy nhanh cổ phần hóa một số doanh nghiệp xét thấy không cần thiết để vốn Nhà nớc chiếm 100%. Đến năm 1999 đã có 52 doanh nghiệp Nhà nớc đợc cổ phần hóa và nhiều doanh nghiệp đã đi vào 19
  20. hoạt động khá hiệu quả; có những Công ty giá trị cổ phần tăng lên gần 8 lần. Tiến trình cổ phần hóa ngày càng nhanh, những vớn mắc ban đầu đợc tháo gỡ từng bớc. Cho đến cuối năm 1999 Thành phố đã thành lập đợc 7 Tổng Công ty theo Quyết định 90-TTg (07.03.1994) của Thủ tớng Chính phủ, là lực lợng chủ yếu của doanh nghiệp Nhà nớc thuộc địa phơng quản lý. Đổi mới công nghệ là biện pháp cấp bách hàng đầu để nâng cao chất lợng sản phẩm và tăng cờng tính cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Thành phố. Nhiều sản phẩm công nghiệp Thành phố đợc ngời tiêu dùng cả nớc bình chọn là hàng Việt Nam chất l- ợng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong sản lợng của cả nớc, nh sữa hộp 72%, thốc lá 58%, xà phòng52%, vải lụa 51%, bia 41%, áo quần may sẵn 31%,.v.v.. Giá trị các mặt hàng công nghiệp đã chiếm đến 86% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong25 năm qua, đặc biệt là từ năm 1990 trở lại đây về mặt công nghệ, nhiều xí nghiệp trên địa bàn Thành phố gần nh "lột xác" - thay đổi hoàn toàn công nghệ. Nhiều xí nghiệp Dệt, May, Điện tử, Nhựa, Cao su, Giày - Dép... đã đầu t nhiều thiết bị và công nghệ hiện đại. Đặc biệt trong khu vực t nhân, nhiều chủ doanh nghiệp đã đầu t công nghệ mới hoàn toàn. Nhờ vậy mà chất lợng sản phẩm của công nghiệp Thành phố ngày càng đ- ợc nâng cao. Theo trình độ công nghệ thì các cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố có thể chi làm 3 loại: Các doanh nghiệp có công nghệ đang sử dụng thích hợp, sản phẩm ứng dụng • đợc nhu cầu của thị trờng và có khả năng cạnh tranh với sản phẩm nớc ngoài cùng loại. Số doanh nghiệp loại này mới chỉ chiếm khoảng 15-20%. Các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất bộc lộ nhiều yếu kém nhng sản • phẩm có nhu cầu thị trờng, cần đợc giúp đỡ để sớm đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lợng cao để có chổ đứng trên thị trờng. Số doanh nghiệp loại này chiếm khoảng trên 40%. Các doanh nghiệp còn sử dụng công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, chất lợng • sản phẩm kém nên kiên quyết giải thể. Nhìn chung về mặt công nghệ, dù có những tiến bộ rất đáng mừng trong 25 năm qua, nhng máy móc thiết bị đang sử dụng trong công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hầu hết lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ so với trình độ chung của thế giới. Mức lạc hậu khác nhau giữa các ngành và các doanh nghiệp trong cùng một ngành. Tuổi trung bình của thiết bị ở các doanh nghiệp là 10-20 năm. Chất lợng sản phẩm là yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Nhận thức rõ điều đó nên nhiều doanh nghiệp phấn đấu đạt tiêu chuẩn ISO (International Standardization Organization). Từ mấy năm gần đây số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO ngày càng tăng. Chính nhờ xây dựng đợc hệ thống quản lý chất lợng tốt làm cho uy tín sản phẩm công nghiệp Thành phố tăng cao. Đó là một trong những nguyên nhân thành đạt của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố. Hiện nay, sản phẩm công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh có mặt ở khắp các Châu lục, đặc biệt là hàng may mặc, giày dép và thực phẩm chế biến. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản