Kinh tế vĩ mô - Chương 2: Xác định Hoạt động Kinh tế

Chia sẻ: Nguyen Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

0
112
lượt xem
11
download

Kinh tế vĩ mô - Chương 2: Xác định Hoạt động Kinh tế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu tham khảo về kinh tế vĩ mô dành cho sinh viên khoa Kinh tế học chuyên đề " Xác định hoạt động của kinh tế "

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kinh tế vĩ mô - Chương 2: Xác định Hoạt động Kinh tế

  1. Chương 2: Xác định Hoạt động Kinh tế Harvey B. King Trong phần này, chúng ta sẽ đi lướt qua về quan điểm có tính chất mô tả về nền kinh tế - nhiều trong số này được tổng hợp từ cuốn Kinh tế học 100. 1. Một số định nghĩa quan trọng. Có một số khái niệm chúng ta cần nhắc đến khi nghiên cứu chương này: ● Dòng (lưu lượng) là một biến xác định tỷ lệ trong một khoảng thời gian - ví dụ như lưu lượng nước chảy qua một vòi nước trong một giờ đồng hồ. ● Số lượng (vốn) là một biến xác định tổng số trong một khoảng thời gian cụ thể - ví dụ như tổng lượng nước có trong bồn nước sau khi đóng vòi. ● Như trong ví dụ của tôi đã chỉ ra, lưu lượng và số lượng có mối liên qua như sau: một lưu lượng = D số lượng. Ví dụ kinh điển về kinh tế của mối quan hệ này là mối quan hệ giữa số lượng tài sản và dòng đầu tư. ● Tài sản là vốn bao gồm nhà xưởng, công trình, trang thiết bị, hàng tồn kho, v.v.. ● Đầu tư là việc mua mới những tài sản trên - điều này đôi khi còn được gọi là tổng đầu tư. ● Một số tài sản này bị hao mòn đi qua từng năm, hay là khấu hao. ● Đầu tư ròng = Tổng đầu tư - Khấu hao = thay đổi trong vốn tài sản.
  2. Có một số dòng (luồng tài sản) kinh tế vĩ mô quan trọng mà chúng ta sẽ xem xét trong chương này. ● Sản lượng là tổng giá trị các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nền kinh tế tính theo một năm - chúng ta thường chú ý đến như là Tổng sản phẩm Quốc nội (GDP). ● Thu nhập là tổng thanh toán được thực hiện cho các dịch vụ của các yếu tố của sản phẩm tính trong một năm. ● Chi phí là giá trị của việc mua hàng hoá và dịch vụ cuối cùng trong một năm của các hộ gia đình, doanh nghiệp, cũng như xuất khẩu trừ đi nhập khẩu. Chúng ta cú ý đến những giao dịch cuối cùng - sản xuất/chi tiêu của hàng hoá và dịch vụ cho việc sử dụng sau cùng. ● Những giao dịch trung gian là việc mua hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho việc sử dụng ở giai đoạn sau đó của quá trình sản xuất. ● Ví dụ như công ty Ford có thể mua cần gạt kính từ một nhà sản xuất lẻ để sử dụng cho việc sản xuất một chiếc xe tải. ● Việc sản xuất/ bán các xe tải sẽ là giao dịch cuối cùng, nhưng không phải là việc mua các cần gạt kính - chúng tôi không muốn đưa cần gạt kính vào những tính toán này, bởi vì như thế sẽ tính giá trị của nó đến hai lần, lần thứ nhất với tư cách là một giao dịch trung gian, và lần thứ hai khi nó là một phần của xe tải. 2) Vòng luân chuyển của Thu nhập và Chi tiêu. Để bắt đầu, chúng ta sẽ có một mô tả về nền kinh tế, và mô tả về cách thức trong đó dòng đầu tư và tiết kiệm tương tác với dòng thu nhập và tiêu dùng trong vòng luân chuyển để xác định tổng sản phẩm = tổng thu nhập = tổng chi tiêu.
  3. Có bốn yếu tố kinh tế (các doanh nghiệp, các hộ gia đình, chính phủ, và phần còn lại của thế giới), hoạt động trong ba thị trường chính (thị trường hàng hoá, thị trường yếu tố sản xuất, và thị trường tài chính). Những hoạt động kinh tế này liên quan đến dòng vốn thực và dòng tiền tệ. Hình 1 dưới đây, một mô hình của vòng luân chuyển của thu nhập và chi tiêu, chỉ ra dòng tiền tệ từ những giao hoạt động này. Các hộ gia đình Các hộ gia đình sở hữu các tài nguyên của nền kinh tế (các yếu tố sản xuất) - lao động, vốn, đất đai, khả năng kinh doanh - và bán hoặc cho thuê những tài nguyên này trong thị trường tài nguyên, và sẽ nhận được một khoản thu nhập (Y) từ những doanh nghiệp. ● Họ sử dụng một phần thu nhập để mua các hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ (C) từ các doanh nghiệp trong thị trường hàng hoá. ● Họ tiết kiệm (S) một phần thu nhập của họ để chi tiêu trong tương lai, hưu trí. v.v. bằng cách gửi tiền của họ vào ngân hàng, thị trường chứng khoán,v. v trong thị trường tài chính.[1] ● Họ trả thuế (T) cho chính phủ, lượng ròng của những khoản thanh toán chuyển đổi từ chính phủ (như bảo hiểm công việc, v.v..)
  4. Các doanh nghiệp Doanh nghiệp phải trả thu nhập (lương và tiền công, thuê tài sản, thanh toán lãi suất, cổ tức, v.v.) cho các hộ gia đình vì các yếu tố sản xuất trong thị trường tài nguyên. ● Họ nhận được khoản thu từ bán hàng hoá và dịch vụ: Hàng tiêu dùng (C) cho các hộ gia đình, Đầu tư hàng hoá (I) cho các doanh nghiệp, Chính phủ mua các hàng hoá và dịch vụ (G) cho chính phủ Xuất khẩu cho phần còn lại của thế giới (EX), Cộng với việc họ nhập khẩu từ phần còn lại của thế giới (IM). ● Họ mua từ thị trường tài chính để hỗ trợ cho việc mua hàng hoá đầu tư như là nhà máy, phương tiện vận tải, máy tính,v.v. ● Những doanh nghiệp cũng phải trả các khoản thuế, nhưng chúng ta đặt ra ngoài mô hình trên để cho đơn giản. Chính phủ Yếu tố này bao gồm chính phủ liên bang, chính quyền cấp tỉnh, cũng như cấp đô thị. ● Chính phủ thu các khoản thuế từ hộ gia đình và doanh nghiệp. ● Chính phủ thanh toán các khoản trợ cấp cho doanh nghiệp và các khoản thanh toán chuyển đổi (như là trợ cấp người cao tuổi hoặc bảo hiểm nghề nghiệp hoặc phúc lợi) cho các cá nhân.[2] Chúng ta tách những khoản thanh toán này từ khoản thu thuế để có một khái niệm thuế ròng (T), với nó chúng ta có thể thấy được dòng tiền từ các hộ gia đình đến chính phủ.
  5. ● Chính phủ mua hàng hoá và dịch vụ từ các doanh nghiệp, chúng ta thường gọi là mua sắm chính phủ (G), điều này dẫn đến một dòng tiền chảy vào các doanh nghiệp. ● Nếu chính phủ chi tiêu nhiều hơn số thuế thu được, thì họ sẽ bị thâm hụt ngân sách, và như vậy họ phải mượn tiền từ thị trường tài chính. Do đó chúng ta thấy có một dòng tiền chảy từ thị trường tài chính vào chính phủ.[3] Phần còn lại của thế giới Những người nước ngoài mua hàng hoá và dịch vụ của chúng ta, số lượng xuất khẩu (EX). Họ phải trả cho chúng ta một khoản tiền, dẫn đến một dòng tiền được chỉ ra trong hình vẽ. ● Những người nước ngoài bán cho chúng ta các hàng hoá và dịch vụ, nhập khẩu của chúng ta (IM). Do đó chúng ta phải trả cho hẹ, dẫn đến có một dòng tiền như trong hình vẽ. ● Nếu như có một sự không cân bằng trong xuất khẩu và nhập khẩu, thì một trong hai bên phải đi vay. Ví dụ về dòng luân chuyển ở đây chỉ ra một trường hợp trong đó chúng ta bán ra cho người nước ngoài nhiều hơn chúng ta mua của họ. Trong trường hợp này, người nước ngoài phải mượn từ thị trường tài chính của chúng ta để thanh toán cho khoản xuất khẩu dôi ra. Chúng ta có thể chú ý rằng tiền đang luân chuyển liên tục trong nền kinh tế, khi các tác nhân thực hiện các hoạt động của họ. Bạn sẽ nghĩ rằng làm sao những hoạt động của các bạn trong một năm nào đó có nằm trong dòng vốn này hay không: ● Ngay bây giờ bạn đang mua một dịch vụ giáo dục trong thị trường hàng hoá và dịch vụ. ● Cuối ngày hôm này, bạn sẽ đến nơi làm việc bán thời gian và bán tài nguyên sức lao động của bạn vào thị trường tài nguyên. ● Trong năm trước đó, bạn có thể đã vay một khoản vốn từ thị trường tài chính để trang trải cho việc học tập của các bạn.
  6. Một số biểu thức kinh tế quan trọng Dòng luân chuyển giúp chúng ta hiểu làm sao để nhận thấy và xác định tổng sản phẩm hay GDP của một nền kinh tế. ● Việc sản xuất diễn ra trong các doanh nghiệp, những người trả thu nhập cho các yếu tố sản xuất (Y) để sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ để bán cho người tiêu dùgn (tiêu dùng (C)), cho các doanh nghiệp khác (chi phí đầu tư (I)), cho chính phủ (G) và cho phần còn lại của thế giới (EX - IM). ● Doanh số bán ra của doanh nghiệp bằng với tổng chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, bởi vì chúng là hai vế của cùng một giao dịch.[4] ● Toàn bộ chi tiêu này được gọi là Tổng chi tiêu (E), và trong dòng luân chuyển (1) E = C +I+G IM. ● NHƯNG giá trị của tổng bán hàng (E)chỉ là giá thị trường của tổng sản phẩm, hay GDP, hay GDP = E = C + I + G + EX - IM.[5] ● Nếu chúng ta nhận ra rằng các doanh nghiệp phải dùng tất cả các khoản thu từ bán hàng và phân phối nó cho các yếu tố sản xuất (bao gồm cả lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp), thì chúng ta có thể thấy tổng thu nhập trong nước (Y) sẽ bằng với số thu của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là Y=E. ● Điều này cho phép chúng ta có được đẳng thức cơ bản từ dòng luân chuyển: (2) Y=E=C+I+G IM. Chúng ta sẽ sử dụng đẳng thức này trong phần II. A trong khi xem xét chi tiết về hàng hoá và dịch vụ. Chúng ta có thể suy ra rằng những khoản rò rỉ bằng với những khoản được đưa vào:
  7. ● Từ khu vực hộ gia đình, chúng ta có thể thấy rằng các hộ gia đình phân bổ thu nhập của họ vào tiêu dùng, thuế và tiết kiệm: (3) Y = C + S + T. ● Do đó chúng ta có thể lưu ý từ đẳng thức (2) và (3): C + S + T = C + I + G + EX - IM, hay (4) S + T + IM = I + G + EX. ● Điều này có nghĩa là tổng giá trị của các khoản rò rỉ từ dòng luân chuyển (S+T+IM) bằng với tổng giá trị của các khoản đưa vào trong dòng luân chuyển (I+G+EX). ● Chúng ta sẽ dùng những đẳng thức (2), (3) và (4) trong những phân tích sau này. 3) Xác định hiện trạng của nền kinh tế Các nhà thống kê ở Canada cố gắng xác định GDP ở Canada như là một phương pháp xác định hiện trạng của nền kinh tế. ● Họ muốn thực tế xác định sản xuất một các trực tiếp, nhưng điều này thường khó thực hiện, do đó họ xác định GDp theo hai cách khác nhau, dựa trên ý tưởng từ dòng luân chuyển rằng thu nhập = tổng sản phẩm = tổng chi tiêu. ● Các nhà thống kê Canada xác định GDP bằng cách sử dụng phương pháp thu nhập yếu tố, bằng cách sử dụng tổng thu nhập nội địa bởi các yếu tố sản xuất (bao gồm chủ doanh nghiệp) trong một năm - đây là một ước đoán về tổng số của dòng thu nhập yếu tố của hộ gia đình từ doanh nghiệp. ● Các nhà Thống kê ở Canada cũng xác định GDP bằng phương pháp chi tiêu, bằng cách dự tính tổng lượng tiền chảy vào doanh nghiệp từ việc bán hàng hoá và dịch vụ của họ (C + I + G + EX - IM).
  8. Sử dụng hai phương pháp này, và thực hiện việc sửa chữa các lỗi trong quá trình xác định, các nhà Thống kê Canada có được một ước đoán khả quan về tổng sản phẩm thực tế trong nước trong một năm. ● Sau đó họ tiến hành chỉnh sửa lại theo mức lạm phát, để đạt đến GDP thực tế. ● Nếu chúng ta quan tâm đến hiện trạng kinh tế của người dân Canada nói chung, thì chúng ta có thể chia GDP thực tế theo dân số để có được giá trị GDP thực tế theo đồng vốn. Bảng dưới đây trình bày các tính toán GDP thực tế theo đồng vốn ở Canada từ 1926 đến 1994. Năm GDP thực tế theo đồng vốn 1926 4654 1936 4332 1966 11,567 1986 19,945 1994 22,074 Tỷ lệ 1994/1926 47 và 1 Nghiên cứu tình huống: Có phải cuộc sống của chúng ta tốt hơn cách đây 30 năm?
  9. Mặc dù chúng ta thường nói rằng, cuộc sống ngày nay kém hơn một thế hệ trước đây, sử dụng GDP theo đầu người như là một cách thức để xác định hiện trạng kinh tế, bảng trên cho thấy rằng cuộc sống đã được cải thiện đáng kể so với trước đây. Ví dụ như, chúng ta có thể thấy rằng GDP thực tế theo đầu người gần gấp đôi so với năm 1966! Để giúp các bạn hiểu được vấn đề này, hãy xem xét dữ liệu sau đây so sánh Canada năm 1997 với 1971:[6] ● Tuổi thọ của nam tăng 6.5 năm, tuổi thọ của nữ tăng 5.1 năm. ● Tỷ lệ tử vong trẻ em thấp hơn rất nhiều, 5.6 trên 1,000 so với 7.9 trên 1,000 năm 1986. ● Số lượng trung bình nhà mới xây cao gấp đôi. ● 78% gia đình có máy giặt, so với 38% năm 1971. ● 98% các gia đình có TV màu, so với 15%. ● 32% các gia đình có máy vi tính, so với 0 năm 1971. ● 85% các gia đình có lò vi sóng so với 0 năm 1971. ● Chúng ta có thể bổ sung vào rất nhiều các sản phẩm tiêu dùng khác (dàn CD, túi khí, du lịch, v.v.). Một loạt những luận điểm đáng lưu ý được đưa ra bởi J. B. DeLong của Trường Đại học California (Berkeley) trong một bài viết tựa đề "Tăng trưởng Kinh tế tăng nhanh như thế nào?", bạn có thể xem tại http://econ161.berkeley.edu/Comments/FRBSFJune1.html. ● Ông lập luận rằng biện pháp tin tưởng để xác định sự tăng trưởng kinh tế ở Hoa Kỳ chỉ ra một mức độ khá chắc chắn của tăng trưởng kinh tế được xác định bởi GDP thực trên mỗi đồng vốn. ● Tuy nhiên, tuy nhiên ông lập luận rằng phương pháp này không xác định hết biện pháp chân thực để xác định tăng trưởng kinh tế, bởi vì nó không tính đến một thực tế là có tồn
  10. tại nhiều loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau, thường là giá thấp, mà mọi người trong quá khứ không muốn sử dụng. ● Ví dụ như, thuốc kháng sinh cứu hàng nghìn mạng sống người dân Canada, nhưng những người sống trước năm 1955 không có cơ hội tiếp cận với loại thuốc này. ● Cách đây 25 năm, nếu bạn muốn xem phim tại gia đình, bạn sẽ phải sao chép lại toàn bộ thước phim đó với một chi phí cực lớn - nhưng hiện nay bạn có thể mua một VCR với giá 200 đô la. ● Chúng ta có thể tiếp tục bổ sung rất nhiều thứ vào danh sách này - máy điều hoà, bộ lò sưởi, TV, máy tính, máy fax, v.v., những hàng hoá không có cách đây 50 năm, hoặc thậm chí trong một vài trường hợp là 20 năm. ● DeLong giới thiệu một số luận điểm thú vị và những ví dụ mà tôi nghĩ là các bạn nên đọc. Chúng ta nên lưu ý rằng có rất nhiều vấn đề tiềm tàng khác sử dụng đến GDP thực tế như là một biện pháp để xác định hiện trạng của nền kinh tế, đặc biệt là khi chúng ta muốn thực hiện những sự so sánh quốc tế. ● Tìm ra một chỉ số giá chuẩn đối với GDP danh nghĩa có thể rất khó khăn giữa những nước không mua những loại hàng hoá dịch vụ giốn nhau. Ví dụ như, ở Trung Quốc nhiều loại hàng hoá như là chăm sóc y tế, nhà cửa, trường học được doanh nghiệp cung cấp miễn phí, và không thể hiện được một cách trực tiếp chỉ số thu nhập. ● Hơn nữa, GDP nhấn mạnh đến các hoạt động thị trường, và do đó bỏ qua nhiều hoạt động không có trên thị trường, hoặc bị ẩn dấu trong thị trường. ● Cơ sở của nền kinh tế bao gồm những hoạt động có tính tội phạm và những hoạt động không được phản ánh trong báo cáo thuế để trốn thuế - những hoạt động này có thể chiếm đến 10% GDP thực tế.
  11. ● Công việc ở nhà như chăm sóc gia đình.v.v, thường không được tính đến, ngay cả khi công việc này chiếm khoảng 1/3 tổng thời gian làm việc! ● Các hoạt động nghỉ ngơi cũng không được tính đến, mặc dù những hoạt động này đáng giá đối với mọi người. Ví dụ, thời gian làm việc trung bình của mỗi người Canada là 58.6 giờ trên tuần, so với 35 giờ ngày nay. Sự tăng lên đáng kể về thời gian nghỉ ngơi này cũng KHÔNG được xác định trong GDP thực tế. Bổ sung vào cơ sở của nền kinh tế, thời gian làm việc gia đình và hoạt động nghỉ ngơi đã làm tăng lên những cách thức của chúng ta để xác định hiện trạng của nền kinh tế. Tuy nhiên, ở khía cạnh ngược lại (tiêu cực) chúng ta sẽ xem xét thấy rằng những hoạt động tạo ra GDP thực tế thường gây ra ô nhiễm, suy giảm tài nguyên. ● Thực tế, nếu chúng ta cho phép một nhà phát triển đốn tất cả các cây trong Công viên Quốc gia Banff, điều này sẽ được ghi nhận như là sự tăng lên về GDP thực tế. Tuy nhiên hầu hết mọi người đều đồng ý rằng hành động này sẽ làm cho Canada trở nên tồi tệ hơn. ● Các nhà hoạt động môi trường lâu nay không hài lòng với cách thức mà GDP thực tế được sử dụng để xác định hiện trạng của nền kinh tế, bởi vì nó bỏ qua những yếu tố làm ngăn trở sự phát triển đó. ● Một ví dụ có thể được nhìn thấy trong ví dụ về thảm hoạ môi trường là sự cố tràn dầu - những chi phí cho việc khắc phục sự cố đó lại làm tăng GDP thực tế! ● Một bài báo đăng trên Nhà kinh tế, với tựa đề "Một môi trường vô giá trị," ngày 18 tháng Tư năm 1998, bàn đến một số nỗ lực để tạo nên một "GDP xanh". Cuối cùng, rõ ràng tăng trưởng kinh tế làm cho cuộc sống của con người trở nên tốt hơn. Tuy nhiên, nó cũng đồng nghĩa với một cái giá mà chúng ta phải trả cho việc làm nguy hại đến môi trường, cũng như những chi phí khác như là sự thay đổi không chắc chắn và nhanh chóng trong nghề nghiệp và văn hoá mà sẽ có tác động đến những lợi ích. 5) Xác định lạm phát.
  12. Như chúng tôi đã lưu ý ở trên, chúng ta quan tâm đến sức mua thực tế trong thu nhập của người dân, chúng ta quan tâm đến GDP thực tế. ● Chúng ta có được GDP thực tế bằng cách tính toán GDP danh nghĩa, và sau đó xác định bằng cách sử dụng chỉ số giảm phát GDP. ● Chỉ số giảm phát GDP cho chúng ta biết giá cả của hàng hoá và dịch vụ được sản xuất tăng lên như thế nào. ● Chúng ta cũng quan tâm đến ảnh hưởng của lạm phát đối với chi phí sinh hoạt của các hộ gia đình - chúng ta sử dung Chỉ số Giá Tiêu dùng (Consumer Price Index CPI), chỉ số này xác định giá trung bình của hàng hoá. ● So với chỉ số giảm phát GDP, CPI cho chúng ta mốt cái nhìn tốt hơn về chi phí sinh hoạt của gia đình. Tuy nhiên, chỉ số giảm phát GDP là cái mà chúng ta nên lưu ý, khi chúng ta muốn giải thích GDP thực tế và nền kinh tế. Tại sao lạm phát lại làm tổn hại đến nền kinh tế? ● Lạm phát gây ra những vấn đề bởi vì nó tạo nên sự thay đổi không thể dự đoán được trong giá trị của đồng tiên. ● Giá trị của đồng tiền là số lượng hàng hoá và dịch vụ có thể mua được với một lượng tiền xác định. ● Khi nền kinh tế trải qua lạm phát, giá trị của đồng tiền giảm xuống - bạn sẽ phải mua hàng hoá với số lượng ít hơn với cùng một số tiền so với năm trước đó. ● Để minh hoạ điều này, hãy xem xét những dữ liệu dưới đây về giá cả của một thanh sô cô la trong vòng 46 năm qua:[7] Năm Giá một thanh Sô cô la (Cent): Số thanh mà một đô la mua
  13. được 1950 10 10.00 1966 15 6.67 1976 30 3.33 1986 75 1.33 1996 100 1.00 ● Bảng trên cho thẩy rằng tác động cộng dồn của lạm phát trong giai đoạn này, cũng như hệ quả là đồng đô la giảm trị tương ứng - sức mua của nó ở năm 1996 đã giảm đi 1/10 so với năm 1950. Nếu ông của bạn nói với bạn rằng "một đô la không có được giá trị như nó đã từng có," thì ông bạn đang nói đến sự thật! ● Sự thay đổi về giá trị của đồng tiền sẽ gây ra những rắc rối đặc biệt nếu nó là không thể dự đoán - nếu nó biến động từ năm này qua năm khác. ở Canada trong hai mươi năm qua, tỷ lệ lạm phát biến động từ 12.4% đến 0.2%. ● Sự biến động này gây nên việc lợi và lỗ ngẫu nhiên đối với mọi người. ● Sự ngẫu nhiên này có xu hướng gây bất công - ví dụ như, những người hưu trí sẽ bị lỗ trong trường hợp này. ● Hơn nữa, sự ngẫu nhiên này buộc mọi người phải cố gắng bảo vệ chính họ từ lạm phát - có một sự thay đổi về các nguồn lực như là lao động và vốn từ sản xuất đối với dự báo về lạm phát.
  14. ● Sự thay đổi này là vô hiệu. Ví dụ mà tôi thường đưa ra là hệ quả của lạm phát rất cao ở Đức trong những năm 1920, người lao động được trả lương hai lần mỗi ngày, và họ sử dụng thời gian nghỉ để tiêu những tờ séc lương. Việc mất giá của đồng tiền rất nghiêm trọng, bạn không muốn giữ nó trong túi thậm chí chỉ trong vài giờ. Tuy nhiên, hệ quả là sự mất mát lớn về những nguồn lực sản xuất. Hiện nay chúng ta đã đưa ra một số biến số cơ bản đáng quan tâm, và xem xét cách chúng được xác định, và những lý do khiến chúng ta quan tâm. Bây giờ, chúng ta quay lại việc xây dựng những mô hình kinh tế để giải thích điều gì quyết định đến những biến này. Chúng ta sẽ bắt đầu với mô hình tổng cầu, tổng cung. [1] Các hộ gia đình thường đi vay và cho vay, phụ thuộc vào họ ở giai đoạn nào trong vòng đời. Tuy nhiên về tổng thể, các hộ gia đình được xem là những người tiết kiệm. [2] Một số khoản chi phí chuyển đổi được thực hiện từ cấp chính quyền này sang cấp khác, và xuống các cá nhân. Ví dụ, chính quyền liên bang chuyển tiền xuống cho cấp tỉnh để chi tiêu vào giáo dục, y tế và những trợ cấp xã hội.. Các tỉnh lại chuyển tiền xuống cấp dưới hơn (đô thị) để trợ cấp xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng. [3] Nếu chính phủ thặng dư ngân sách, họ sẽ thanh toán một số khoản nợ chưa thanh toán, điều này dẫn đến có một dòng vốn chảy từ chính phủ vào thị trường tài chính. [4] Một hộ gia đình mua hàng hoá (chi tiêu), và doanh nghiệp nhận được tiền (doanh số). [5] Nếu một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nào đó, nhưng lại giữ nó trong kho thay vì bán đi, điều này làm thay đổi trong nắm giữ hàng hoá được xem như là một phần của đầu tư. [6] Trích từ bài viết của William Watson "Nếu tiền bạc có thể mua được hạnh phúc, thì người Canada đang hưởng thụ nó," Báo Bưu điện Quốc gia, tháng Mười một, ngày 4, 1998
  15. [7] Nguồn: Thống kê Canada, Chỉ số Giá Tiêu dùng, với tính toán và ngoại suy từ năm 1989 do H. King thực hiện.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản