Kỹ thuật gieo trồng đậu tương giống ĐVN6

Chia sẻ: Hatmit Xinhtuoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:4

0
192
lượt xem
44
download

Kỹ thuật gieo trồng đậu tương giống ĐVN6

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

ĐVN6 là giống đậu tương do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo từ tổ hợp lai hữu tính AK03 và DT96. ĐVN6 thuộc nhóm trung bình sớm có thời gian sinh trưởng ở vụ xuân là 90 - 92 ngày vụ hè và vụ đông là 80 - 84 ngày, có thể trồng được cả 3 vụ xuân, hè và đông. Giống sinh trưởng khoẻ, cứng cây, chiều cao từ 40-60 cm, chống đổ và chống bệnh tốt, khối lượng 1000 hạt 170 -180g, ĐVN6 nổi bật ở hàm lượng protein trong hạt rất cao, đạt 41,69%. Năng suất...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kỹ thuật gieo trồng đậu tương giống ĐVN6

  1. Kỹ thuật gieo trồng đậu tương giống ĐVN6 ĐVN6 là giống đậu tương do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo từ tổ hợp lai hữu tính AK03 và DT96. ĐVN6 thuộc nhóm trung bình sớm có thời gian sinh trưởng ở vụ xuân là 90 - 92 ngày vụ hè và vụ đông là 80 - 84 ngày, có thể trồng được cả 3 vụ xuân, hè và đông. Giống sinh trưởng khoẻ, cứng cây, chiều cao từ 40-60 cm, chống đổ và chống bệnh tốt, khối lượng 1000 hạt 170 -180g, ĐVN6 nổi bật ở hàm lượng protein trong hạt rất cao, đạt 41,69%. Năng suất của giống đạt từ 22-30 tạ/ha. Khi trồng cày
  2. bừa kỹ, đất tơi xốp, sạch cỏ dại. Ở vụ đông trên đất sau lúa có thể làm đất tối thiểu, gieo vãi hoặc gieo máy. Khi gieo hạt nhất thiết phải đủ ẩm. Thời vụ tốt nhất ở 3 vụ sau: Vụ xuân từ 15/2–10/3. Vụ hè từ 25/5 –10/6. Vụ đông trước 5/10. Tuỳ thuộc vào độ phì của đất mà xác định mật độ gieo thích hợp, đất tốt gieo thưa hơn. Vụ xuân: 35 - 40 cây/m2, khoảng cách là 35 x 7- 8cm; vụ hè: 25 - 30 cây/m2, khoảng cách là 35 x 10–12cm (chân đất tốt có thể giữ mật độ 19/20 cây/m2, khoảng cách là 35 x 14–15cm; - Vụ đông: 40- 45 cây/m2, khoảng cách là 35 x 6–7cm; Lượng giống cần gieo cho 1 ha từ 55 – 60 kg/ ha (tùy theo thời vụ). Trên đất có độ phì trung bình bón cho 1 ha: 500kg vôi bột, 6–7 tấn phân chuồng, 100–110 kg phân đạm urê, 300–350 kg lân supe, 100 - 110 kg kali clorua. Tương ứng cho 1 sào Bắc Bộ: 18–20 kg vôi bột; 2,2–2,5 tạ phân chuồng; 3,5 – 4 kg urê; 11–13 kg lân; 3,5 – 4kg kg kali. Vụ hè ở những chân đất trung bình và tốt không cần bón phân đạm. Cách bón: Đối với đất bãi và đất màu cao, bón lót toàn bộ phân chuồng, vôi, lân, 1/2 lượng đạm, 1/2 lượng ka li. Phân chuồng và vôi có thể rải đều trên mặt ruộng trước khi bừa lượt cuối. Lân, đạm, kali được bón theo hàng trước khi gieo. Lượng phân còn lại bón khi cây có 2 – 3 lá thật. Đối với đất 2 vụ lúa, bón lót toàn bộ phân chuồng, vôi và lân bằng cách rải đều trên mặt ruộng trước khi gieo.
  3. Bón thúc lần 1: Bón 1/2 lượng đạm, 1/2 lượng kali khi đậu có 1 – 2 lá thật, rải đều trên mặt ruộng lúc trời tạnh ráo, lá khô. Bón thúc lần 2: Bón nốt số phân còn lại khi đạm 4 lá thật. (Chú ý không bón đạm muộn khi đậu sắp ra hoa) Chăm sóc: Tỉa cây kết hợp xới nhẹ khi đậu có 2- 3 lá thật. Vun cây khi đậu có 5 – 6 lá thật. Ngoài 2 đợt sới trên chú ý phá váng sau khi có mưa lớn. Không ngắt lá đậu kể cả cây đậu phát triển tốt. Giống đậu tương ĐVN6 có bộ lá tương đối dầy, bản lá to, sâu cuốn lá dễ ẩn náu và phát triển dưới tán lá nên cần chú ý thường xuyên kiểm tra phát hiện kịp thời. Trừ giòi đục thân dùng Sagontion (20- 25 ml/bình 8 lít), trừ sâu ăn lá, đục quả, sâu xanh, sâu khoang dùng Peran 50EC (10 ml/ bình 8 lít) hoặc Regent (10ml/bình 8 lít). Chú ý: Trước khi đậu ra hoa: Phun thuốc ướt toàn bộ thân lá; khi cây đậu vào quả phun ướt toàn bộ thân lá và phun trực tiếp vào quả. Đối với sâu khoang có thể dùng bả chua ngọt (mật, dấm Peran, Regent gói trong dẻ buộc rơm bên ngoài) mỗi sào cắm 10 bả. Trừ bọ xít Dipterex 25 g/ bình bơm 8 lít. Tổ chức diệt chuột bằng bẫy hoặc bắt thủ công từ khi gieo đến khi thu hoạch. Thu hoạch khi cây rụng lá, quả khô. Tranh thủ lúc trời tạnh ráo, cắt đậu sát gốc, phơi tại ruộng, dùng mấy tuốt lúa để tách hạt. Phần thân, cành, vỏ quả nên cày, vùi ngay tại ruộng bổ xung nguồn phân hữu cơ cho đất. Hạt dùng làm giống nên phơi thật khô cây trước khi đập hoặc tuốt. Sau khi làm sạch hạt được phân loại hoặc được sấy khô, bảo quản trong kho lạnh. Nông dân có thể tự để giống bằng cách phơi khô trên bạt vải hoặc nong nia đến khô kiệt (cắn bong vỏ).
  4. Tránh phơi trực tiếp lên sân gạch, xi măng khi trời nắng to (vụ xuân và vụ hè). Hạt khô bảo quản trong chum vại đậy kín hoặc bao nilon buộc kín.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản