Vui lòng download xuống để xem tài liệu đầy đủ.

KỸ THUẬT NUÔI CÁ QUẢ

Chia sẻ: | Ngày: | Loại File: doc | 14 trang

0
363
lượt xem
55
download

Cá quả thường gặp và phân bố rộng có 2 loài là : Ophiocephalus maculatus và Ophiocephalus arbus, nhưng đối tượng nuôi quan trọng nhất là loài O.maculatus thuộc Bộ cá quả, họ cá quả, giống cá quả.

KỸ THUẬT NUÔI CÁ QUẢ
Nội dung Text

  1. KỸ THUẬT NUÔI CÁ QUẢ (CÁ LÓC) 1. Ðặc điểm sinh học và sinh sản Cá quả thường gặp và phân bố rộng có 2 loài là : Ophiocephalus maculatus và Ophiocephalus arbus, nhưng đối tượng nuôi quan trọng nhất là loài O.maculatus thuộc Bộ cá quả, họ cá quả, giống cá quả. 1.1 Ðặc điểm hình thái : Vây lưng có 40 - 46 vây; vây hậu môn có 28 - 30 tia vây, vảy đường bên 41 - 55 cái. Ðầu cá quả O.maculatus có đường vân giống như chữ "nhất" và 2 chữ bát còn đầu cá O.arbus tương đối nhọn và dài giống như đầu rắn. 1.2 Tập tính sinh học : Thích sống ở vùng nước đục có nhiều rong cỏ, thường nằm phục ở dưới đáy vùng nước nông có nhiều cỏ. Tính thích nghi với môi trường xung quanh rất mạnh, nhờ có cơ quan hô hấp phụ nên nó có thể hít thở được O 2 trong không khí. ở vùng nước hàm lượng O2 thấp cũng vẫn sống được, có khi không cần nước chỉ cần da và mang cá có độ ẩm nhất định vẫn có thể sống được thời gian khá lâu. 1.3 Tính ăn : Cá quả thuộc loại cá dữ. Thức ăn là chân chèo và râu ngành; thân dài 3 - 8cm ăn côn trùng, cá con và tôm con; thân dài trên 8cm ăn cá con. Khi trọng lượng nặng 0,5 kg có thể ăn 100 - g cá. Trong điều kiện nuôi nó cũng ăn thức ăn chế biến. Mùa đông không bắt mồi. 1.4 Sinh trưởng : Tương đối nhanh. Con lớn nhất đến 5 kg, nhìn chung cá 1 tuổi thân dài 19 - 39cm nặng 95 - 760g; Cá 2 tuổi thân dài 38,5-40cm, nặng 625 - 1.395g; cá 3 tuổi thân dài 45-59cm, nặng 1.467 - 2.031g (con đực và cái chênh lệch lớn); khi nhiệt độ trên 20oC sinh trưởng nhanh, dưới 15oC sinh trưởng chậm. 1.5 Tập tính sinh sản : Mùa vụ đẻ trứng từ tháng 4 - 7, rộ nhất trung tuần tháng 4 - 5. Cá tròn 1 tuổi, thân dài 20cm nặng 130g đã thành thục đẻ trứng. Số lượng trứng tuỳ theo cơ thể to nhỏ mà thay đổi. Cá nặng 0,5 kg số lượng trứng 8.000 - 10.000 cái, cá nặng 0,25 kg, số lượng trứng 4.000 - 6.000 cái. a) Ðẻ tự nhiên : Diện tích ao đẻ từ 190 - 200m2. Ðáy ao chia làm 2 phần : Phần sâu 1m, phần nông 0,3m. Trong ao nên trồng một ít cây thực vật thuỷ sinh như rong, bèo bờ ao đầm nện chặt và cứ để cho cỏ mọc tự nhiên. Xung quanh ao rào cao 30 - 40cm đề phòng cá phóng ra ngoài. Thức ăn là cá con, lượng cho ăn 25g/ con, hằng ngày cho ăn 1 lần, không nên cho ăn quá nhiều phòng cá quá béo. Mỗi m3
  2. nước thả 1 con đực và 2 - 3 con cái. Những con cá đực thành thục thì thân dưới có màu tím hồng, bụng béo mềm, lỗ sinh dục có màu phấn hồng. Con cái thành thục có bụng to, phần ngực căng tròn vẩy trắng, mồm hơi vàng, lỗ sinh dục to và lồi ra có hình tam giác. ở chỗ có nhiều rong cỏ cá cái dùng cỏ làm ổ, sau đó cá cái và cá đực kéo đến đẻ trứng và thụ tinh ở đây (đẻ trứng vào sáng sớm). Ðẻ xong cả con đực và cái không rời khỏi ổ mà nằm phục dưới đáy bảo vệ trứng cho đến khi nở thành con mới rời ổ và dẫn đàn con đi kiếm ăn, lúc này cũng là lúc mà cá bố mẹ ăn cả thịt những con cá con khác đã tách đàn, cho nên đến mùa sinh sản sáng sớm thăm ao hễ phát hiện thấy có cá con là vớt đem ương sang ao khác. b) Sinh sản nhân tạo : Dùng não thuỳ cá chép, cá mè và prolan B để tiêm cho cá. Số lượng thuốc tiêm là 14 não cá mè/kg cá mẹ (1 não cá chép bằng 2,7 - 3 não mè). Tiêm lần thứ nhất 2/5 số lượng, lần thứ 2 tiêm số còn lại. Dùng prolan B thì 1.600 - 2.000 UI/kg cá mẹ, tiêm lần 1 là 1/3 số thuốc, lần 2 : số còn lại. Cá đực tiêm bằng 1/2 cá cái. Tiêm xong ghép cá cái và đực vào bể đẻ, sau 14 tiếng cá động hớn và đẻ trứng, trứng thụ tinh mới đầu chìm dưới đáy bể sau khi hút nước trương lên nổi lơ lửng trong nước. Vớt trứng thụ tinh cho vào bình ấp hoặc bể ấp. Dụng cụ ấp trước khi cho ấp phải tiêu độc bằng 0,1 ppm xanhmêtylen, tiêu độc xong lấy nước vào một đầu, đầu kia tháo nước ra giữ mức nước không thay đổi, trong thời gian ấp giữ nhiệt độ nước ít thay đổi, biên độ thay đổi chỉ dưới 2oC nếu không sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ nở. Nhiệt độ nước 25oC thời gian ấp nở là 36 tiếng, nhiệt độ 26 - 27oC thời gian 25 tiếng. 2. Phương pháp nuôi 2.1 Nuôi cá bột và giống : Cũng giống như ương nuôi các loài cá bột khác, trước khi thả cá phải tẩy dọn ao sạch, gây nuôi thức ăn tự nhiên sẵn trong ao. Mật độ nuôi 5 - 10 vạn/666m2, thông thường là 6 - 7 vạn. Trong 7 - 8 ngày đầu chưa cần cho ăn, sau đó vừa cho ăn vừa bón phân, mỗi vạn cá bột cho ăn 3 - 4kg tảo trần, nuôi như vậy 18 - 20 ngày khi toàn thân cá biến thành màu vàng bắt đầu xuất hiện vảy, sau đó biến thành màu đen, thân dài 3 - 6 cm, tỉ lệ sống 60 - 65%. Nuôi tiếp 20 ngày nữa, thân dài 6 cm, lúc này có thể cho ăn cá con, tôm con hoặc thức ăn chế biến giàu đạm. Sau 2 tháng nuôi cá đạt 9 - 12cm, lúc này có thể thả vào ao to để nuôi thành cá thịt. 2.2 Nuôi cá thịt : a) Nuôi thô : Nuôi ghép trong các ao cá khác để tận dụng hết tiểm năng của vực nước và lợi dụng cá quả để tiêu diệt các loài cá tạp khác cạnh tranh thức ăn,
  3. không gian và dưỡng khí làm cho cá nuôi phát triển tốt. Ao có nuôi ghép cá quả bờ phải cao hơn mặt nước 30 - 40 cm, không có lỗ rò. Mỗi ao 666 m2 nuôi ghép 50 - 300 cá quả cỡ từ 3 cm hoặc cỡ 12cm. Sau 5 - 6 tháng nuôi cá lớn được 0,2 - 0,6 kg, tỉ lệ sống 80%. b) Nuôi tinh (nuôi đơn) : - Ao nuôi : Diện tích ao 600 - 1.300m2 để dễ quản lý. Xung quanh ao thả bèo tây hoặc bèo cái, dùng tre, nứa chắn giữ cá quả không nhảy ra ngoài ao, đồng thời cũng tạo được nơi nghỉ ngơi kín đáo cho cá. Ao sâu 2 - 1,5m, nguồn nước phong phú. - Mật độ nuôi : Cần dựa vào nguồn thức ăn và chất nước để quyết định, nhìn chung thả 10 con/m2 (cá 3 cm), sau đó xem tình hình sinh trưởng của cá, dùng lưới đánh bắt những con sinh trưởng quá nhanh để tránh tình trạng cá lớn nuốt cá bé, mật độ cuối cùng là 2 - 3 con/m2, nếu nguồn nước phong phú cũng có thể tăng thêm mật độ. Nếu thả cá cỡ 12 - 18 cm nuôi đến cuối năm có thể đạt 0,6 kg/con. Ngoài ra có thể thả ghép vào một ít cá mè để khống chế chất nước. - Luyện cho ăn : Thức ăn sống và thức ăn chế biến cá đều có thể ăn được. Thức ăn sống gồm : tảo trần, cá rôphi con, tôm con, giun, dòi Khi cho ăn cá con cần khống chế lượng thức ăn, quá nhiều dễ sinh ra hiện tượng nổi đầu. Nếu cho ăn thức ăn chế biến phải luyện ngay từ nhỏ (cỡ 2 cm) tốt nhất nuôi trong ao xi măng có nước chảy, mỗi m2 thả 500 con, bắt đầu cho ăn giun ít tơ, thức ăn cho vào sàn đặt cách mặt nước 10 cm khi cá đã quen ăn rồi dần dần giảm số lượng giun ít tơ tăng số lượng cá tạp nghiền nát cho đến khi cá quả quen với thức ăn chế biến thì thôi, lúc này cá đã đạt 4 - 5 cm (tỉ lệ sống 20%). Không được đang luyện cho ăn thức ăn chế biến lại cho thức ăn sống. Thức ăn chế biến thường dùng 70% cá tạp nghiền nát; bột đậu tương hay bánh khô dầu 20%, men tiêu hoá 5%, một ít vi lượng và chất kháng sinh, vitamin. Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng và tối. Số lượng cho ăn 5 - 7% trọng lượng thân. Mùa sinh trưởng nhanh cũng không cho ăn quá 10%. Nuôi 1 năm cá đạt 0,5 kg/con, sản lượng 300 kg/666m2. - Quản lý chăm sóc : Cá quả có khả năng nhảy phóng rất cao (nhảy cao khỏi mặt nước 1,5m); nếu nước ở ngoài ao thấp hơn nước trong ao thì cá nhảy qua ao có nước thấp, nước chảy hoặc trời mưa càng kích thích cá quả nhảy đi. Vì vậy nhất là khi có mưa rào phải thăm ao. Cá quả cần thức ăn phải tươi và sạch, cho nên trước khi cho ăn phải dọn rửa sàn ăn. Tuy cá quả có khả năng chịu được môi trường nước kém 02, nhưng không phải vì thế mà để nước bẩn. Phải thường xuyên bổ sung thêm nước mới, bảo đảm nước trong sạch, tốt nhất có giòng chảy.
  4. Minh Dung (Theo Thông tin KHCN Thuỷ Sản) Chú ý khi nuôi cá lóc con và cá lóc thịt (NTNN, 31/10/2003 & 6/11/2003) Căn cứ vào tính ăn của cá lóc có thể nuôi ghép với cá nuôi như cá mè, trôi, chép, trắm cỏ, rô phi, diếc để khống chế mật độ của những loài cá tạp và những cá sinh đẻ nhiều như cá rô phi, cá diếc nhằm đảm bảo thức ăn cho các loài cá kinh tế chủ yếu, cải tạo và nâng cao sức sản xuất các vùng nước. Tuy vậy, khi nuôi, cần tính cẩn trọng chú ý tỉ lệ, mật độ, kích cỡ cá thả. Nuôi cá lóc con Trước khi nuôi cá lóc phải dọn tẩy ao sạch sẽ để cho sinh vật phù du phát triển mạnh mới thả cá bột vào ao. Mật độ ương 5-10 vạn con/mẫu. Sau khi thả 7- 8 ngày chưa cần cho cá ăn, sau đó một mặt vừa bón phân vào ao, mặt khác vớt động vật phù du bổ sung vào cho cá ăn (3-4 kg động vật phù du cho một vạn cá). Nuôi như vậy 18-20 ngày thấy cá có màu vàng, trên thân xuất hiện vảy, sau đó chuyển sang màu đen, thân dài 3-6cm, tỉ lệ sống khoảng 60-65%, nuôi tiếp 20 ngày nữa cá đạt 6cm, lúc này bắt đầu cho cá ăn tôm, tép, cá con hay thức ăn chế biến có đạm cao. Nuôi trong 2 tháng cá đạt cỡ 9-12cm thành cá giống đưa ra ao lớn nuôi thành cá thịt. Nuôi cá thịt ở ao Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I đã nuôi thử nghiệm cá lóc với cá rô phi (dùng cá rô phi làm thức ăn cho cá lóc). Diện tích ao: 35m2. Độ sâu: 70-80cm. Mật độ thả: 0,5-1con/m2. Qua 4 tháng nuôi cỡ cá lóc 80-100g/con, lớn được 350g/con. Tính ra cứ 4 kg cá rô phi con được 1kg cá lóc thịt.
  5. Nuôi cá lóc ghép với cá nuôi khác Diện tích ao: 200m2. Trên bờ ao bằng phên nứa cao 0,4m, thả bèo tây chiếm 5% diện tích ao nuôi. Nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, chép, rô phi, diếc. Thức ăn bằng phân lợn ủ, mỗi tuần bón 2 lần. Mỗi lần 0,1-0,15kg/m3 nước. Kết quả qua 3 tháng nuôi sản lượng nuôi ghép cá lóc tốt hơn ao nuôi khác và khống chế được sự sinh sản của cá rô phi, cá diếc, chưa thấy ảnh hưởng đến sinh trưởng cá khác. Tốc độ lớn của các loài cá nuôi trong ao là: cá lóc 147g/con, cá mè 120g/con, cá trôi 40g/con, cá rô phi 70g/con. Kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất I. Kỹ thuật ương nuôi cá lóc: 1. Ương cá bột 5 ngày tuổi (chiều dài khoảng 6 cm) thành cá giống 60 ngày tuổi (chiều dài khoảng 6-12 cm). a. Điều kiện ao ương: - Diện tích 200-1000 m2, giữ nước được trong mùa kiệt và không bị nậgp trong mùa lũ. Nguồn nước không bị nhiễm bẩn, nhiễm phèn. Cấp thoát nước chủ động, độ sâu 1,2-1,5 m. - Bón vôi để diệt tạp, diệt mầm bệnh và tăng pH (không bị phèn). Liều lượng vôi: 10-15 kg/100 m2 ao (ao mới đào). b. Bón phân tạo thức ăn tự nhiên: - Bón phân chuồng (phân gà, bò, heo....) ủ cho hoai, liều lượng 10-15kg/ 100 m2 ao. - Bón phân đạm (phân urê) 300 gram/100 m2 ao, phân lân 100 gr/ 100 m2 ao. Khi phân bón lót đã phân hủy hết (6-7 ngày) nước có màu xanh đọt chuối thì tiến hành thả cá vào ương. c. Mật độ thả ương: Mật độ thả cá ương từ 5.000- 10.000 con cá bột/100m 2 ao. Nếu ương cá bằng vèo đặt trong ao (có những điều kiện như trên) mật độ ương là 800- 1000 con/ 1 m2 vèo. d. Cho ăn và chăm sóc: - Giai đoạn cá 5-15 ngày tuổi: Chủ yếu cho ăn động vật phù du (trứng nước), kết hợp với bón phân tạo màu nước xanh đọt trước. Trong trường hợp thiếu hợp những loại thức ăn trên có thể cho cá ăn cua, cá tạp xay nhuyễn: 1 kg cua, cá tạp/ 10.000 cá con/ngày. - Giai đoạn cá 18-25 ngày tuổi: Vẫn sử dụng những loại thức ăn trên và bổ sung thêm Vitamin C, Vitamin ADE. Lúc này cá đã có màu vàng, trên thân xuất hiện vẫy, cá mẹ không còn quanh quẩn bên cá con và cá con cũng bắt đầu tách đàn sống độc lập.
  6. - Giai đoạn cá 25-35 ngày tuổi: Cá đã có màu đen giống cá trưởng thành, chiều dài 2-6 cm. Ăn được cá tạp xay nhuyễn, lượng cho ăn khoảng 10% trọng lượng thân cá. Tỉ lệ sống đến giai đoạn này khoảng 80%. - Giai đoạn cá 35- 60 ngày tuổi: Thân dài 6-12 cm đạt tiêu chuẩn cá giống. Cho cá ăn các loại cá tạp, tôm tép, liều lượng 8% trọng lượng cá. Tỉ lệ sống trong giai đoạn này khoảng 60%. Lúc này đã có thể tuyển lựa cá đồng cở đưa ra ao lớn nuôi thành cá thịt. 2. Nuôi cá lóc thương phẩm: - Vì là loài cá dữ chuyên bắt mồi sống nên giai đoạn nuôi thịt không cần bón phân gây màu nước. Trong ao nuôi, ngoài sử dụng các loại cá tạp, cá còn có thể ăn các thức ăn chế biến có hàm lượng đạm cao, lượng cho ăn chiếm từ 5-6% trọng lượng cá. - Mật độ thả nuôi: 8-10 con/1m2 ao. - Nuôi 8 tháng cá đạt trọng lượng trung bình 600 gr/con. - Hệ số thức ăn của cá lóc là 5-6 kg thức ăn/1 kg cá. 3. Nuôi cá lóc trong bè: Chọn những nơi có chất nước tốt, không bị ô nhiễm có mực nước sâu. Cần tránh nững nơi có tàu bè qua lại, đặc biệt cần tránh xa nguồn nước thải của các nhà máy công nghiệp hóa chất, nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu..... Để giảm hao hụt và thuận tiện khi nuôi nên thả cá lớn (15-30 gr/con đối với cá lóc bông, 10-15 gr/con đối với cá lóc thường) và cá đã quên sử dụng thức ăn chế biến. Nếu cá nhỏ hơn cần có bè nuôi riêng cho đến khi cá đạt kích thước trên. Mật độ thả nuôi trung bình từ 120-130 con/m 3. Kích cở cá đều nhau, khỏe mạnh, cơ thể cân đối. Về vấn đề lâu dài cần phải dùng thức ăn chế biến hoặc thức ăn tự chế để nuôi cá lóc trong bè. Bởi vì loại thức ăn này dễ bảo quản, chuyên chở thuận tiện và tận dụng được nguồn phế liệu phụ phẩm của nhà máy chế biến. Khả năng sử dụng thức ăn của cá thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể cá. Lúc cá còn nhỏ cần cho ăn nhiều hơn cá lớn, có thể tham khảo theo bảng sau: Kích cở cá giống (gr/con) Khẩu phần ăn (%)/ trọng lượng cá <10 10-12 10-20 8-10 20-30 5-8 30-50 5-8 50-100 5-8 >100 3-5
  7. Cần thường xuyên kiểm tra bè nuôi nhất là nơi có đặt “ mặt đục” bằng lưới, dây neo. Đồng thời tiến hành làm vệ sinh bè để được thông thoáng, không thả cá mật độ quá dày. II. Phòng trị bệnh cá lóc - Cá ương ở giai đoạn dưới 25 ngày tuổi, bệnh thường gặp là bệnh do ký sinh trùng gây nên, phòng bệnh này bằng cách định kỳ 10-15 ngày bón vôi bột (CaCO3) liều lượng 3-4kg/100m 2 hòa với nước, lóng trong, sau đó lấy nước trong đó tạt vào ao (làm nhiều lần), đối với bè treo túi vôi thì liều lượng khoảng từ 2-4kg/10m3. Giữ cho nước có màu vàng lợt hoặc xanh đọt chuối. Cấp, thay nước và tạo dòng chảy để đảm bảo đủ lượng oxy cho ao, tránh ương mật độ dày. Thường xuyên dùng muối ăn tưới ao, liều lượng 1-2 kg/m 3 nước ao. - Cá ương ở giai đoạn lớn hơn 25 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi: Ở giai đoạn này cá hao hụt nhiều nhất. Bệnh thường gặp là viêm ruột do cá chuyển loại thức ăn. Biện pháp phòng: Thường xuyên trộn muối ăn vào cá mồi trước khi xay nhuyễn, bón vôi bột 3-4 kg/100m 2 ao (hòa nước lóng trong, lấy nước trong tạt ao). Trộn thuốc Sunfadimezin: 2gr + Vitamine C: 1 gr vào 1kg cá mồi, mỗi tháng cho ăn liên tục 3 ngày. - Giai đoạn nuôi cá thịt: Thường gặp bệnh viêm ruột, ghẻ lở, rận cá. + Phòng bệnh: Giữ vệ sinh ao, thường xuyên bón vôi như trên. + Trị bệnh: (Sunfa 20gr + Oxytetra 5gr)/100 kg cá. Liên tục 6 ngày. Lưu ý:P trộn thuốc vào bột gòn, sau đó rắc lên thức ăn đã xay nhuyễn. trong quá trình nuôi nên xổ giun cho cá (có thể dùng thuốc xổ giun cho heo, liều sử dụng bằng ½). Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh An Giang. CÁ LÓC Cập nhật từ www.longdinh.com.vn a) Cá chuối Ophiocephalus maculatus Lacép b) Cá sộp Ophiocephalus striatus Bloch c) Cá lóc bông Ophiocephalus micropeltes Các loại cá lóc Cá lóc là loài cá sống phổ biến ở đồng ruộng, kênh, rạch, ao, hồ, đầm, tốc độ sinh trưởng  nhanh, thích nghi với mọi môi trường nước (đục, tù, nóng) có thể chịu đựng được ở nhiệt độ  39 ­ 40oC. Ở Miền Nam, Cá lóc bông được nuôi trong lồng (bè).
  8. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ LÓC 1. Là loài cá dữ, phàm ăn, tính ăn rộng: Cá nhỏ ăn : giáp xác, chân chèo, ấu trùng bọ  gậy, ấu trùng côn trùng, tôm con, nòng nọc, các loại cá nhỏ khác. Cá  trưởng thành ăn tạp: cá, ếch, nhái, tôm... Chúng ăn mạnh vào mùa hè, khi nhiệt độ giảm xuống dưới 12oC cá ngừng  kiếm ăn. Cá béo vào trước mùa đẻ,  cá ở vùng nước lợ béo hơn ở vùng nước ngọt. 2. Sinh sản: Cá 1 ­ 2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, có thể đẻ 5 lần/năm. Sau khi đẻ, cá mẹ bảo vệ  cá con khoảng một tháng rồi tiếp tục đẻ lần khác. Mùa đẻ ở miền Bắc vào tháng 5 ­ 8, tập  trung vào tháng 4 ­ 5. Cá đẻ ở nơi yên tĩnh, có nhiều cây cỏ thực vật thủy sinh, đẻ vào sáng sớm, sau mỗi trận  mưa rào 1 ­ 2 ngày. Trước lúc đẻ, cá làm tổ hình tròn, đường kính tổ khoảng 40 ­ 50 cm.  Ở  nhiệt độ 20 ­ 35oC sau ba ngày nở thành con. Trong môi trường tự nhiên, sau 3 ngày cá con  tiêu hết noãn hoàng, lớn dài 4 ­ 5 cm bắt đầu tách khỏi đàn sống độc lập.  3. Sinh trưởng: Cá lớn nhanh vào mùa xuân hè. Cá lóc 1 tuổi dài 19 ­ 39 cm, nặng 100 ­  750 g. Cá hai tuổi thân dài 38 ­ 45 cm, nặng 600 ­ 1400 g. Cá ba tuổi dài 45 ­ 59 cm, nặng  1.200 ­  2.000 g. Cá có thể sống trên 10 năm dài 67 ­  85 cm, nặng 7000 ­ 8000 g.  Cá thích ở nơi có rong đuôi chó, cỏ dừa, tóc tiên, vì nơi này chúng dễ ẩn mình để rình mồi.  Mùa hè thường sống ở trên tầng mặt, mùa đông khi nhiệt độ dưới 8oC cá thường xuống sâu  hơn, ở nhiệt độ 6oC cá ít hoạt động. KỸ THUẬT NUÔI CÁ LÓC 1. Phân biệt cá đực, cá cái: ­ Cá đực: thân dài, thon, đầu to, bụng nhỏ rắn chắc, lỗ sinh dục và lỗ hậu  môn riêng biệt. ­ Cá cái: thân ngắn, đầu nhỏ, bụng to, mềm sệ xuống, lỗ sinh dục to, lồi gần  sát lỗ hậu môn. 2. Kỹ thuật nuôi cá: Dựa vào tính ăn của cá lóc, có thể nuôi ghép với cá mè, trôi, chép,  trắm cỏ, rô phi, diếc để diệt cá tạp đảm bảo hợp lý nguồn thức ăn, cải tạo và nâng cao sức  sản xuất của vùng nước. Tuy nhiên, cần chú ý tỉ lệ, mật độ kích cỡ cá thả. Nuôi cá lóc con: Trước khi thả cá bột vào, phải dọn tẩy ao để sinh vật phù du phát triển  mạnh. Mật độ: 6 ­ 7 vạn con/mẫu. Sau khi thả 7 ­  8 ngày chưa cho ăn, có thể vừa bón phân  vừa vớt động vật phù du bổ sung vào ao (3 ­ 4 kg động vật phù du / một vạn cá). 18 ­ 20  ngày sau cá có màu vàng, trên thân xuất hiện vảy, sau đó cá chuyển màu đen, dài 3 ­ 6 cm,  tỉ lệ sống khoảng 60 ­ 65%, nuôi tiếp 20 ngày, cá đạt 6 cm, bắt đầu cho ăn tôm, tép, cá con  hay thức ăn chế biến có đạm cao. Nuôi trong 2 tháng, cá giống được 9 ­ 12 cm, đưa ra ao lớn nuôi thành cá thịt.
  9. Nuôi cá thịt ở ao: Trạm Nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng, Tiên Sơn, Hà Bắc (nay là  Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I) đã thí nghiệm nuôi cá lóc với cá rô phi (dùng cá rô  phi làm thức ăn cho cá lóc). Ao diện tích: 35 m2. Độ sâu: 70 ­ 80 cm. Mật độ thả: 0,5 ­ 1 con/m2. Sau 4 tháng nuôi, cá  đạt 80 ­ 100 g/con,  con lớn  đạt 350 g/con. Tính ra cứ 4 kg cá rô phi con được 1 kg cá lóc thịt. Nuôi cá lóc ghép với cá nuôi khác: Nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, chép, rô phi, diếc. Diện  tích ao: 200 m2. Trên bờ ao rào bằng phên nứa cao 0,4 m, thả bèo tây chiếm 5% diện tích  ao nuôi. Thức ăn bằng phân lợn ủ, mỗi tuần bón 2 lần. Mỗi lần 0,1 ­ 0,15 kg/m3 nước. Sau 3  tháng nuôi, cá lóc đạt 147 g/con, cá mè : 120 g/con, cá trôi:  40 g/con, cá rô phi : 70 g/con. Nuôi cá lóc thịt ở Trung Quốc a. Nuôi ghép với cá khác: Nuôi ghép cá lóc với cá mè, trôi, trắm, chép trong ao để tạo điều  kiện tốt cho các loài cá nuôi sinh trưởng nhanh. Ao phải có bờ cao (bờ cao hơn mặt nước ao 30 ­ 40 cm), nước ở ao không rò rỉ, cá lóc cỡ 3  cm, ghép 50 ­ 300 con/mẫu. Sau 5 ­ 6 tháng nuôi cá lớn được 0,2 ­ 0,6 kg/con, tỉ lệ sống  80%. Năng suất cá lóc 20 ­  50 kg/mẫu. b. Nuôi cá lóc là chính: Diện tích ao: 1 ­ 2 mẫu; Độ sâu: 1,5 ­ 2 m. Xung quanh ao thả bèo Nhật Bản rộng 0,8 ­ 1 m (dùng cọc và sào ngăn lại) để phòng cá  nhảy đi, tạo môi trường cho cá lóc lớn nhanh. Mật độ thả: Dựa  vào nguồn thức ăn và chất nước để quyết định. Có thể thả 10 con/m 2 (cỡ 3  cm). Để tránh tình trạng cá lớn ăn cá bé, bắt cá lớn chuyển sang ao khác , mật độ 2 ­ 3 con/ m2. Nếu nguồn thức ăn phong phú, mật độ có thể dầy hơn. Nuôi cỡ cá giống 12 ­ 18 cm/con, cuối năm đạt 0,5 ­ 0,6 kg/con. Ngoài ra có thể ghép một ít  cá mè trắng, mè hoa để cải thiện chất nước. * Luyện cho cá ăn: Thức ăn gồm: ­ Thức ăn sống như: động vật phù du, tôm, tép con, cá con, giun, dòi..... ­ Thức ăn chế biến: phối hợp 70% cá tạp nghiền nát, 20% bột đậu khô lạc... 5% men, còn lại  là các vitamin, muối khoáng, thuốc kháng sinh. Cho ăn 2 lần/ngày,  sáng và chiều. Số lượng cho ăn bằng 5 ­ 7% trọng lượng cá, mùa cá  sinh trưởng nhanh không cho ăn quá 10% trọng lượng cá. Nếu cho cá ăn thức ăn chế biến,  phải tập luyện cho cá ngay từ còn nhỏ. Trong thời gian luyện cho ăn thức ăn chế biến,  không được cho ăn thức ăn sống. Nuôi 1 năm cá đạt 0,5 kg/con. Năng suất 300 kg/mẫu. * Quản lý ao nuôi: Cá lóc thịt có thể nhảy cao đến 1,5 m nhất là khi  trời mưa hay có dòng  nước chảy. Vì vậy phải thăm ao thường xuyên. Thức ăn phải tươi, trước lúc cho ăn phải vệ sinh sàn cho ăn. Để đảm bảo nước luôn sạch,  tốt nhất nên có dòng chảy. Nuôi ở ao có diện tích 3,5 mẫu năng suất đạt 300 kg/mẫu và 50  kg cá mè, là đạt hiệu quả kinh tế cao.
  10. Nuôi cá lóc ở bè Ở miền Nam, cá lóc con cỡ 3 ­ 4 cm đem ương, nuôi ở bè rộng 1,5 (1,5 ­ 1 m) thả 5.000 con,  cho ăn bằng cá linh băm nhỏ, phế phẩm ở các chợ,  đầu, ruột cá… xay nhuyễn đặt lên tấm  vỉ bằng tre. Nuôi đến cỡ 10 ­ 12 cm chuyển sang bè có kích thước lớn hơn. Thường nuôi 3  tháng đạt 1,2 kg/con. (Trích “ Kỹ thuật nuôi lươn, ếch, baba, cá lóc” của KS NGÔ TRỌNG LƯ­ Nhà xuất bản Nông nghiệp 2003). SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI CÁ QUẢ Ở ẤN ĐỘ L   oài cá quả (Channa striatus) (còn gọi là cá lóc bông) là loài luôn phải hít thở không  khí. ở ấn Ðộ loài này được gọi là cá lịch sọc (striped murrel). Ðã từ lâu, cá quả được  nuôi thương phẩm ở Thái Lan, Ðài Loan và Philippin. Cá quả được biết đến nhờ vị  ngon tuyệt vời và giá cả cao trên thị trường. Ngoài ra, độ béo của thịt cá thấp, có ít xương  răm và có khả năng chữa bệnh. Loài cá quả có khả năng hít thở không khí qua các bộ phận  hô hấp phụ, phù hợp với điều kiện nuôi trong môi trường nước thiếu ôxy như các đầm lầy và  các ao bị ôxy hoá. ở những nơi này, các quần thể cá bình thường khác có thể không phát  triển được. Loài cá quả có thể sống ở môi trường khắc nghiệt với lượng ôxy hoà tan thấp và lượng  amôniắc cao và chúng thường được nuôi ở các ao nuôi tăng trưởng với mật độ 40 ­ 80 con/ m2, năng suất cá hằng năm đạt từ 7 ­ 156 tấn/ha. Tuy nhiên, ở ấn Ðộ chưa áp dụng một  cách chính thức quy trình nuôi cá quả. Hằng năm, lượng cá quả bán trên thị trường đang  ngày càng giảm sút, mặc dù vẫn có giá cao (100 ­ 120 Rubi /kg). Nguyên nhân chính là do  thiếu một trung tâm cung cấp cá giống, việc nuôi cá không được thúc đẩy và do tình trạng  phổ biến nuôi cá chép ở các nông trại của ấn Ðộ. Channa striatus là loài cá quả phổ biến nhất và có sự phân bố tự nhiên rộng nhất ở các  vùng nước ngọt của ấn Ðộ, XriLanka, Pakistan, Bănglađét, Mianma, Malaixia, Thái Lan, Việt  Nam, Campuchia, Philippin và Inđônêxia. Cá quả có rất nhiều ở các vùng đồng bằng của ấn  Ðộ. Cá quả được tìm thấy ở hầu hết các vùng cư trú của thuỷ sinh vật nhiệt đới như trong ao,  đầm lầy, ruộng lúa, sông, hồ và các kênh rạch và thậm chí là các ao bị ôxy hoá cao. Loài cá  này cũng ưa những vùng nước nông có nhiều cây bụi và cỏ dại. Chúng có thể phát triển tốt ở  bất kỳ vùng nước lầy trũng hoang sơ nào nhờ vào cơ quan hô hấp phụ. Các loại thức ăn của cá quả Trong điều kiện tự nhiên, ở giai đoạn cá quả bắt đầu ăn các thức ăn ngoài thì thức ăn chủ yếu  của cá bột là động vật nguyên sinh và tảo. Trong khi đó, cá quả hương lại ăn các loại giáp xác phù  du, còn cá giống thì ăn các loại động vật như tôm, côn trùng thuỷ sinh, cá nhỏ và nòng nọc. Cá quả  lớn thể hiện rõ đặc tính của động vật ăn thịt, thức ăn của chúng là các động vật thuỷ sinh lớn như  ếch và các lọai cá nhỏ khác. Loài cá này là động vật ăn cả thịt đồng loại. Quan sát chúng ở giai  đoạn cá bột và cá nhỏ cho thấy những con cá lớn và khoẻ hơn thường ăn những con nhỏ và yếu  hơn.  sinh sản
  11. Nhìn chung, cá quả bắt đầu sinh sản trước khi có gió mùa một thời gian ngắn ở các ao  và sông và mùa sinh sản được kéo dài trong suốt thời kỳ gió mùa. Loài cá này đạt đến giai  đoạn thành thục trong khoảng 11 tháng, khi chúng đạt được chiều dài từ 25 ­ 30cm. Cá quả lớn lên một cách tự nhiên trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 12. Ðàn cá bố mẹ  ở giai đoạn trưởng thành cần được giám sát vào các tuần đầu hằng tháng. Ðể đánh giá được  giai đoạn trưởng thành của cá cái, nên xét nghiệm buồng trứng bằng cách ép nhẹ lên phần  bụng của cá để cho trứng cá rỉ ra tự do. Các đặc điểm về hình thái học bên ngoài (như bụng  cá tròn hơn, lỗ sinh dục tròn hơi đỏ, cơ quan núm sinh dục nở rộng, hơi đỏ, hơi nhọn và có  các dấu chấm đỏ nhạt), có thể giúp xác định được đó là cá cái khi nó đã trưởng thành. Ðối  với cá đực khi ép nhẹ lên bụng cá, không thấy tinh dịch chảy ra như loài cá chép. Trong thời  gian không phải mùa sinh sản của cá rất khó nhận biết bằng mắt và xác định được giới tính  của cá bố mẹ. Sức sinh sản của loài này ít hơn nhiều so với loài cá chép ấn Ðộ, lượng sinh  sản thông thường đạt khoảng 18.000 trứng cá thể. Công nghệ sản xuất giống Sản xuất giống cá quả quy mô nhỏ đòi hỏi các yêu cầu sau: ­ - Cá bố mẹ phải khoẻ ­ - Ao nuôi vỗ cá bố mẹ (15 x 10 x 1m) ­ - Bể cho cá đẻ ( 3 x 3 x 1m ) ­ - Bể ương ấu trùng (3 x 1 x 0,8m ) ­ - Ao nuôi (15 x 10 x 1m) Các yêu cầu chi tiết khác bao gồm lưới sinh vật phù du, máng nhựa; các ống nghiệm;  hoócmôn và bơm nước v..v Nguồn nước có thể được bơm từ giếng khoan hoặc từ một con  kênh hoặc sông gần đó. Chăm sóc và quản lý cá bố mẹ Ao nuôi cá bố mẹ có hình chữ nhật và diện tích từ 75 ­ 160m2, trang bị các máy móc phù  hợp để duy trì sự sống cho đàn cá bố mẹ. Ðộ sâu của ao từ 1 ­ 1,5m. Nền đáy của ao không  được thấm nước để tạo điều kiện cho quá trình khoáng hoá các chất hữu cơ và hấp phụ chất  dinh dưỡng. Nhìn chung đất sét, đất thịt pha sét và đất mùn đều có thể làm nền ao tốt. Các  vùng đất đá, cát, và đá vôi không nên dùng làm ao nuôi. Nguồn cá bố mẹ có thể từ khai thác  tự nhiên hoặc nguồn nuôi. Khi cá bố mẹ đạt cỡ từ 0,5 ­ 1,2 kg là phù hợp để kích thích cho  đẻ. Mật độ nuôi cá bố mẹ từ 16.000 ­ 20.000 kg/ha là thích hợp. Loài cá quả này có thể sống ở điều kiện nước thiếu ôxy, nhưng đối với cá nuôi thương  phẩm thì đòi hỏi điều kiện sống phải tốt và giàu thức ăn để phát triển. Tổng số một ao nuôi  bằng đất có thể thả 120 con/ao (80 cá cái; 40 cá đực) loại này đã được nuôi trong bể từ 2 ­ 3  tháng trước mùa sinh sản. Yêu cầu chất lượng và số lượng nước phù hợp là quan trọng nhất 
  12. đối với ao nuôi vỗ cá bố mẹ. Nguồn nước tốt nhất là nước sông, độ pH từ 7,5 ­ 8 và nhiệt độ  từ 29 ­31oC. Hằng tháng cần thay nước ở bể, khi thay nước nên để lại khoảng 50% số nước  và nên thay hằng tháng. Tuy nhiên, mỗi tuần cần bổ sung để duy trì mức nước. Phương pháp cho ăn và sinh sản Chất thải hữu cơ như ruột gà và chất thải của cá có thể được tìm thấy ở các chợ tại địa  phương, sau đó được làm sạch và cho vào những chiếc xô và giữ lạnh. Khi cho cá ăn, thức  ăn được nghiền nhỏ thành một loại có tên gọi là ad libitum. Thức ăn còn thừa phải được loại  bỏ ngay vì nó sẽ gây ô nhiễm môi trường nước. Kích thích cá quả sinh sản bằng các kích tố cho rụng trứng tự nhiên và nhân tạo. Có thể sử dụng  các loại hoócmôn như dịch não thuỳ, HCG, Ovaprim và Ovatide để kích thích cá sinh sản. Trong số  các loại hoócmôn này, Ovaprim là một sản phẩm nhân tạo, có công thức là SgnRHa được dùng với  liều lượng 0,5ml/kg cân nặng thì sẽ đạt được kết quả tốt. Mỗi lứa sinh sản cần 1 con cái và 2 con đực  được xử lý hoócmôn. Lựa chọn cá bố mẹ cho đẻ Chọn cá cái có bụng mềm và căng phồng. Tuy nhiên, quá trình thành thục của cá cần  được kiểm tra bằng cách ép, vuốt nhẹ lên bụng cá, để cho buồng trứng hơi lộ ra qua núm  sinh dục. Lấy một ít trứng đặt trên tiêu bản kính và kiểm tra bằng kính hiển vi. Nếu trứng có  kích cỡ theo quy định (khoảng 1 ­ 1,2 mm), là thời điểm thích hợp cho cá cái đẻ, nếu trứng  có hình thức chưa đạt theo quy định hoặc hình dạng khác thường thì không nên cho con cá  cái đó đẻ. Ðối với cá đực, có thể đánh giá bằng cách kiểm tra núm sinh dục lộ rất rõ bên  ngoài. Cá được tiêm hoócmôn vào cơ ở vùng lưng với tỉ lệ 0,5 ml/kg cá vào buổi tối. Ngay sau khi tiêm hoócmôn, cá được đưa vào một bể để đẻ. Các loại rong thuỷ sinh như  Eichornia crassipes được đưa vào bể để cho cá ẩn náu. Hoạt động sinh sản diễn ra sau khi  cá được tiêm 6 ­ 10 giờ. Các hoạt động phóng giao tử hoàn thành sau thời gian từ 24 ­ 30  giờ. Sự thụ tinh diễn ra ở bên ngoài, những trứng đã thụ tinh thường nổi lên. Một khối trứng  có đường kính khoảng 6 ­ 14cm chứa từ 5.000 ­ 10.000 trứng. Trứng chưa thụ tinh thường  mất khả năng kết dính và vướng vào rong cỏ ở mép ao. Tỷ lệ thụ tinh biến động từ 70 ­  95%. Cả cá bố và cá mẹ đều bảo vệ trứng và cá bột, tuy nhiên cá đực thường tham gia vào  công đoạn chăm sóc tích cực hơn so với cá cái. Giai đoạn ấp và ương trứng Có thể vớt trứng đã thụ tinh nổi từ các ao cá đẻ bằng các chậu nhựa và nuôi giữ trong bể  kính hoặc có thể để trong môi trường bể cá đẻ, để trứng nở ra tiếp tục phát triển trong sự  chăm sóc của cá bố mẹ. Ðường kính của các loại trứng từ 1,3 ­ 1,5mm. Sau khi thụ tinh, thời  gian ương trứng kéo dài từ 24 ­ 30 giờ. Tỷ lệ ương trứng đạt từ 60 ­ 90%. Những ấu trùng mới  được ương có chiều dài từ 2,8 ­ 3,2mm. Từ một cá cái mẹ có thể sinh sản được từ 4.000 ­  8.000 con cá giống. ương nuôi ấu trùng  Vào ngày thứ ba, túi noãn hoàng đã được hút đầy và miệng cá được hình thành rõ. Từ  ngày thứ 3 trở đi, ấu trùng được nuôi giữ trong bể xi măng với tỷ lệ 5.000 ­ 10.000 với tỷ lệ  3x1x1m hoặc nuôi trong bể kính (500­1000 ấu trùng trong 1 bể hoặc dung tích là 40 lít). Cho  những ấu trùng 3 ngày tuổi ăn sinh vật phù du nhỏ (trùng bánh xe rotifer) trong vòng 15  ngày. Kể từ ngày 16 trở đi, thay vì cho ăn thức ăn sống, cho ấu trùng ăn cá và ruột gà đã  được luộc chín và xay nhuyễn. Vào ngày thứ 30, cá bột có kích cỡ từ 13 ­ 17mm và có màu 
  13. đỏ. Cá bột được nuôi trong các bể xi măng với tỷ lệ 500 con /m2 (3x1x1m). Loại viên thức ăn chế từ ruột gà được nấu chín và xay nhỏ được dùng làm thức ăn cho cá. Tốt  nhất nên chia thức ăn làm hai lần trong một ngày. Cá nuôi nên có cùng kích cỡ để tránh việc ăn  thịt lẫn nhau. Tỷ lệ sống của cá đạt khoảng 65­80% khi nuôi trong bể xi măng trong thời gian 30  ngày. Thức ăn và phân của cá bột không được xử lý sẽ dẫn đến sự tích tụ các chất chuyển hoá  vào môi trường. Vì vậy, hằng ngày nên dùng ống xi phông để hút khoảng 50% nước của các bể  nuôi cùng với thức ăn thừa và phân ra ngoài, sau đó lại làm đầy bể bằng nước sạch để giảm sự  tích tụ các chất cặn bã. Nuôi cá thịt  Có thể nuôi cá hương (khoảng 4 ­ 5 cm) trong các ao đất với mật độ 4 cá hương/m 2 và  nuôi trong thời gian 10 tháng. Trong thời kỳ nuôi cá thịt, cho cá ăn ruột gà cắt khúc hoặc chất  thải của cá. Khẩu phần ăn cho cá đạt tỷ lệ từ 5 ­10% sinh khối mỗi ngày. Ðể nuôi cá đạt kích  cỡ thương phẩm 800 ­ 1000g trung bình cần thời gian từ 8 ­ 10 tháng. Kỹ thuật sản xuất giống  nhân tạo bằng phương pháp kích thích đẻ, nuôi ấu trùng đã được chứng minh trong điều kiện  thí nghiệm, xong cần có thêm những nghiên cứu để cải tiến quá trình nuôi cá quả ở quy mô  lớn hơnắ D.L ­ Infofish International Số 2/2004
  14.   14
Đồng bộ tài khoản