Lá ngón

Chia sẻ: Nguyen Phuonganh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
94
lượt xem
6
download

Lá ngón

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cây Lá ngón thuộc loại cây bụi, thân gỗ nhỏ thẳng, dựa vào cây khác dài 10-12m. Cành non màu xanh lục nhạt không có lông. Cành già màu xám nâu nhạt. Lá mọc đối không có lông, xanh bóng, lá nguyên, hình trứng, thuôn dài về hai phía, mũi lá nhọn. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá hoặc đầu cành, hoa màu vàng, mùa hoa từ tháng 6 - 10. Quả nang thon dài 1cm x 0,5cm, màu nâu xỉn. Hạt nhỏ, hình thận, màu nâu nhạt, có diềm mỏng giúp phát tán theo gió. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lá ngón

  1. Lá ngón Lá ngón Phân loại khoa học Giới Plantae (regnum): (không Angiospermae phân hạng): (không Eudicots phân hạng) (không Asterids phân hạng)
  2. Bộ Gentianales (ordo): Họ Gelsemiaceae (familia): Chi Gelsemium (genus): Loài G. elegans (species): Tên hai phần Gelsemium elegans Benth. Cây Lá ngón còn có tên là Co ngón, Thuốc rút ruột, Hồ mạn trường, Hồ mạn đằng, Đại trà đằng, Hoàng đằng, Câu vẫn, Đoạn trường thảo... Tên khoa học là Gelsemium elegans Benth (Medica elegans Gardn) thuộc họ Mã tiền (LOGANIACEAE) Mục lục  1 Đặc điểm
  3.  2 Độc tính  3 Triệu chứng ngộ độc  4 Giải độc  5 Sử dụng y học  6 Đọc thêm  7 Ghi chú  8 Liên kết ngoài Đặc điểm Cây Lá ngón thuộc loại cây bụi, thân gỗ nhỏ thẳng, dựa vào cây khác dài 10-12m. Cành non màu xanh lục nhạt không có lông. Cành già màu xám nâu nhạt. Lá mọc đối không có lông, xanh bóng, lá nguyên, hình trứng, thuôn dài về hai phía, mũi lá nhọn. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá hoặc đầu cành, hoa màu vàng, mùa hoa từ tháng 6 - 10. Quả nang thon dài 1cm x 0,5cm, màu nâu xỉn. Hạt nhỏ, hình thận, màu nâu nhạt, có diềm mỏng giúp phát tán theo gió. (Xem hình) Ở Việt Nam và Trung Quốc, cây lá ngón được coi là một trong 4 loại cây có độc tính cao nhất (thuốc độc bảng A). Là một loại cây dây leo khá
  4. phổ biến ở miền rừng núi Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, miền Bắc Myanmar, Bắc Thái Lan, cũng như các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hồ Nam, Giang Tây, Vân Nam, Chiết Giang (Trung Quốc) và Đài Loan. Nó được tìm thấy trong các cánh rừng rậm và dày ở cao độ từ 200 m đến 2.000 m. Độc tính Độc tính của lá ngón là do các ancaloit chứa trong toàn bộ cây, trật tự độc giảm từ rễ, lá, hoa, quả và thân cây. Tới 17 đơn phân ancaloit đã được chiết ra từ lá ngón như koumin[1], gelsenicin[1], gelsamydin I[2], gelsemoxonin[3], 19α-hydroxygelsamydin[4], trong đó hàm lượng koumin là cao nhất còn độc tính của gelsenicin tính theo LD50 trên chuột là cao nhất[1]. Ở Việt Nam và Trung Quốc, nó được coi là một trong 4 loại cây có độc tính hàng cao nhất (thuốc độc bảng A), một số người cho rằng chỉ cần ăn ba lá là đủ chết người[5].
  5. Triệu chứng ngộ độc Người bị ngộ độc lá ngón có các triệu chứng khát nước, đau họng, chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn… sau đó bị mỏi cơ, thân nhiệt hạ, huyết áp hạ, răng cắn chặt, sùi bọt mép, đau bụng dữ dội, tim đập yếu, khó thở, đồng tử giãn và chết rất nhanh do ngừng hô hấp[6]. Giải độc Biện pháp cấp cứu cho những người ăn phải lá ngón là dùng nước xà phòng, bột ngọt, phân trâu cho nạn nhân uống để nôn lá ngón ra, rồi dùng nước súc ruột. Có thể lấy nước lá rau má hay lấy rau muống giã nhỏ cho người ăn lá ngón uống để giải độc, rồi chuyển ngay bệnh nhân đến cơ sở y tế. Sử dụng y học Tại Trung Quốc, nó được sử dụng để điều trị eczema, bệnh trĩ, nhiễm trùng răng, phong (hủi)[1], nhọt ngoài da, chống tổn thương và co
  6. thắt[2], nhưng do độc tính cao nên chỉ hạn chế trong các ứng dụng ngoài da[1].
Đồng bộ tài khoản